1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

112 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay được quy định tại Điều 69 Hiến pháp 1992 và trong một số văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Ngân sách nhà nướ

Trang 3

và nghiên cứu nghiêm túc của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của

TS Đỗ Minh Khôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, chính xác

Tác giả luận văn

Vũ Thị Tố Chinh

Trang 4

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA

CÔNG DÂN TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 7

1.1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 7

1.1.2 Đặc điểm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 11

1.2 Quyền tìm kiếm thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 16

1.2.1 Chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong quản lý nhà nước 16

1.2.2 Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin trong quản lý nhà nước 16

1.2.3 Hình thức và thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin trong quản lý nhà nước 17

1.2.4 Phạm vi thông tin được yêu cầu cung cấp và trường hợp miễn trừ cung cấp thông tin trong quản lý nhà nước 18

1.3 Quyền tiếp nhận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 20

1.3.1 Chủ thể có quyền tiếp nhận thông tin trong quản lý nhà nước 20

1.3.2 Chủ thể có trách nhiệm công khai thông tin trong quản lý nhà nước 21

1.3.3 Hình thức và thủ tục công khai thông tin trong quản lý nhà nước 21

1.3.4 Phạm vi thông tin được công khai và những thông tin không thuộc trường hợp nhà nước công bố công khai 22

1.4 Các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 24

1.4.1 Ban hành Luật Tiếp cận thông tin 24

1.4.2 Quy định trách nhiệm công khai thông tin trong quản lý nhà nước 26

1.4.3 Quy định cách thức, thủ tục thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin 26

1.4.4 Quy định việc khiếu nại, khởi kiện liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 27

1.4.5 Quy định các biện pháp xử lý hành vi vi phạm quyền tiếp cận thông tin của công dân 30

1.4.6 Quy định biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân 32

1.5 Vai trò của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 33

1.5.1 Đối với các quyền công dân khác 33

1.5.2 Đối với nền kinh tế 33

Trang 5

1.5.6 Đối với quá trình hội nhập quốc tế 37

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 40 2.1 Thực trạng quy định pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 40

2.1.1 Thực trạng quy định pháp luật về quyền tìm kiếm thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 40 2.1.2 Thực trạng quy định pháp luật về quyền tiếp nhận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 46 2.1.3 Thực trạng các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 54

2.2 Tình hình thực thi pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản

lý nhà nước 60

2.2.1 Tình hình thực thi pháp luật về quyền tìm kiếm thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 60 2.2.2 Tình hình thực thi pháp luật về quyền tiếp nhận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 62

2.3 Một số hạn chế về thực trạng pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 65 2.4 Phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 68

2.4.1 Quan điểm định hướng về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 68 2.4.2 Giải pháp nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước 71

KẾT LUẬN 80

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của con người, khái niệm quyền tiếp cận thông tin xuất hiện vào giữa thế kỷ XIII, trong Luật về tự do báo chí của Thụy Điển ban hành năm 1766, tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa

có khái niệm chung về quyền tiếp cận thông tin Tuyên ngôn Nhân quyền

Liên hợp quốc 1948 quy định: “Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do

phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia” Điều 3 Dự thảo lần 4 Luật Tiếp cận thông tin của Việt Nam quy định:

“Tiếp cận thông tin là đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp, trích dẫn nội dung của hồ sơ, tài liệu” Như vậy, nội hàm quyền tiếp cận thông tin của mỗi

quốc gia là khác nhau nhưng nhìn chung các nước đều thừa nhận quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của con người, cho phép công dân của nước đó

có quyền yêu cầu tiếp cận các văn bản của cơ quan nhà nước

Quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay được quy định tại Điều

69 Hiến pháp 1992 và trong một số văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trẻ em, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn… Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật này chỉ quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai, minh bạch tổ chức, hoạt động của ngành, lĩnh vực mình quản lý mà chưa quy định về trình tự, thủ tục để công dân thực hiện quyền tiếp cận hồ sơ, tài liệu do cơ quan nhà nước nắm giữ Do chưa có Luật Tiếp cận thông tin nên nhiều người dân chưa biết về quyền này,

họ chỉ tiếp nhận thông tin một cách thụ động khi nhà nước công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Về phía cán bộ, công chức khi nhận được yêu cầu cung cấp thông tin thì họ có tâm lý né tránh do không biết

Trang 7

quyền hạn của mình đến đâu và việc cung cấp thông tin có hợp pháp không Trong xã hội hiện đại, nhu cầu về thông tin là rất lớn, có thể so sánh với thức

ăn, nước uống hàng ngày của chúng ta Việc thông tin bị bưng bít, không công khai trước công chúng tạo ra hệ quả rất to lớn, đó là tình trạng lạc hậu, nghèo đói, bất bình đẳng, thiếu dân chủ của một quốc gia, nghiêm trọng hơn

là tình trạng tham nhũng, quan liêu, cửa quyền…dẫn đến khiếu nại, tố cáo, kiện tụng tràn lan, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chính quyền

Vì vậy, những quy định của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin là hết sức cần thiết và có vai trò to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần xây dựng Nhà nước dân chủ, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Quyền tiếp cận thông tin còn là cơ sở, điều kiện để thực hiện các quyền dân sự, chính trị, kinh tế khác như quyền học tập, quyền tự do kinh doanh, quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe…

Ngày 15/11/2008, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009, trong đó giao Chính phủ chủ trì soạn thảo dự án Luật Tiếp cận thông tin Tuy nhiên cho đến nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên Chính phủ vẫn chưa trình Dự án Luật Tiếp cận thông tin Do đó, việc nghiên cứu pháp luật về quyền tiếp cận thông tin trong bối cảnh hiện tại là hết sức cần thiết và có thể đóng góp một phần vào quá trình xây dựng Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin Từ những cơ

27/2008/NQ-sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về quyền tiếp

cận thông tin của công dân trong quản lý Nhà nước” để nghiên cứu một cách

có hệ thống và chuyên sâu ở cấp độ luận văn thạc sỹ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam quyền tiếp cận thông tin được quy định tại Điều 69 Hiến pháp 1992, nhưng cho đến nay quyền tiếp cận thông tin vẫn còn khá mới mẻ với nhiều người, các công trình nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin còn hạn chế, đa số là các bài viết trên tạp chí như: tạp chí Nghiên cứu lập pháp,

Khoa học pháp lý… Một số bài viết điển hình như: “Nội dung cơ bản của

Luật Tiếp cận thông tin một số nước” của TS Nguyễn Thị Kim Thoa,

Trang 8

“Quyền tiếp cận thông tin: Quy định quốc tế và đặc điểm chung của luật một

số nước” của TS Tường Duy Kiên, “Quyền được thông tin từ góc độ bảo đảm quyền con người và liên hệ với dự luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam”

của TS Vũ Văn Nhiêm, “Pháp luật về bảo đảm quyền được thông tin của

công dân và việc xây dựng Luật Tiếp cận thông tin” của GS.TS Nguyễn

Đăng Dung, “Quyền tiếp cận thông tin-điều kiện thực hiện các quyền con

người và quyền công dân” của PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với quyền được tiếp cận thông tin” của

GS.TS Trần Ngọc Đường… Ngoài ra, để chuẩn bị cho Dự thảo Luật Tiếp

cận thông tin, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội thảo quốc tế “Xây dựng Luật Tiếp

cận thông tin tại Việt Nam” vào ngày 6,7 tháng 5/2009 tại Hà Nội và Hội thảo

“Luật Tiếp cận thông tin – Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới” vào

tháng 8/2009 tại Nha Trang Ở cấp độ luận văn thạc sỹ, có đề tài “Bảo đảm

pháp lý về quyền được thông tin của công dân trong quản lý nhà nước về đất đai” của tác giả Lê Thị Hồng Nhung Các công trình, bài viết trên chỉ nghiên

cứu một khía cạnh hoặc vấn đề nào đó của quyền tiếp cận thông tin, ví dụ như nội hàm quyền tiếp cận thông tin, so sánh pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của một số nước, quyền tiếp cận thông tin trong quản lý đất đai, góp ý dự

thảo Luật Tiếp cận thông tin… Vì vậy, đề tài “Pháp luật về quyền tiếp cận

thông tin của công dân trong quản lý nhà nước” lần đầu tiên được nghiên cứu

một cách hệ thống, chuyên sâu dưới cấp độ luận văn thạc sỹ

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đề tài tập trung chủ yếu vào các mục đích sau:

- Xây dựng khái niệm, đặc điểm, nội dung của quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ

- Phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền tiếp cận thông tin của công dân nói chung và quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước nói riêng

- Phân tích vai trò của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước đối với các quyền công dân khác, trong hoạt động quản lý nhà nước, đối với xã hội và quá trình hội nhập quốc tế

- Phân tích thực trạng pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước thông qua một số văn bản pháp luật như: Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Quy hoạch đô thị

- Phân tích tình hình thực thi pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước Thực hiện khảo sát nhằm tìm hiểu đánh giá của người dân về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin

- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

4 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước, cụ thể

là quyền tìm kiếm và tiếp nhận thông tin liên quan đến hoạt động chấp hành, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

5 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, nghĩa là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Đề tài không nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin trong hoạt động của

cơ quan lập pháp, tư pháp, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác không phải là cơ quan hành chính nhà nước

Đề tài tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật của Việt Nam và so sánh với pháp luật một số nước về quyền tiếp cận thông tin của công dân

Trang 10

trong quản lý nhà nước (thông qua một số văn bản pháp luật: Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại, Luật Quy hoạch đô thị, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn…) không đi sâu nghiên cứu thực trạng thực hiện quyền tiếp cận thông tin

6 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp lịch sử, phân tích, chuyên gia, tổng hợp, so sánh, khảo sát, thống kê…

Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu các Công ước quốc tế và pháp luật của một số nước về quyền tiếp cận thông tin trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau để thấy một phần quá trình hình thành, phát triển của Luật Tiếp cận thông tin

Phân tích: Đây là phương pháp được sử dụng xuyên suốt luận văn, tác giả đặt vấn đề, đưa ra các khái niệm và tìm hiểu bản chất, thuộc tính của nó, ngoài ra, tác giả còn tìm ra những điểm hạn chế, nguyên nhân, tồn tại và đưa

ra giải pháp hoàn thiện

Phỏng vấn chuyên gia: Gặp gỡ, trao đổi và tiếp thu ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp, các tác giả đã từng nghiên cứu pháp luật về quyền tiếp cận thông tin

Điều tra bảng hỏi: Lập một danh sách câu hỏi và gửi đối tượng khảo sát

để nắm được nhận thức, nhu cầu và thái độ của họ đối với việc tìm kiếm thông tin tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

7 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Thông qua việc nghiên cứu “Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của

công dân trong quản lý nhà nước”, tác giả mong muốn đóng góp một phần

công sức vào việc nghiên cứu quyền con người, quyền công dân đặc biệt là quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Đề tài có thể làm nguồn tài liệu cho những ai có nhu cầu hoặc quan tâm đến quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước và đóng góp một phần vào việc hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin tại

Trang 11

Việt Nam mà cụ thể là Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin đang được Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo

8 Kết cấu của đề tài

Phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 2 chương

Chương 1 Những vấn đề chung về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước và giải pháp hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA

CÔNG DÂN TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

1.1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin của công dân

- Theo từ điển tiếng Việt, thông tin là “điều hoặc tin được truyền đi cho biết, sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó”1

Thông tin là một thuật ngữ khá trừu tượng, có nội hàm rộng và có thể phân thành nhiều loại, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau cả hữu hình lẫn vô hình như: sách, báo, tập tin, thẻ nhớ, băng, đĩa, cơ sở dữ liệu trên trang web, ý tưởng

Thông tin có thể được phân loại như sau:

+ Căn cứ vào nội dung, thông tin gồm: thông tin về kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật

+ Căn cứ vào người sở hữu, tạo ra, thông tin gồm: thông tin của Nhà nước, thông tin của cá nhân, thông tin của tổ chức

Tóm lại, thông tin là điều được truyền đi cho biết, có thể làm tăng thêm

sự hiểu biết, kiến thức của một người

- Thuật ngữ tiếp cận được hiểu là: “từng bước, bằng những phương pháp nhất định, tìm hiểu một vấn đề, công việc nào đó”2

1

Trung tâm từ điển học (2011), Từ điển tiếng Việt 2011, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Hà Nội, tr 1226

2 Trung tâm từ điển học (2011), Từ điển tiếng Việt 2011, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Hà Nội, tr 1269

Trang 13

Quyền tiếp cận thông tin xuất hiện lần đầu tiên trong Luật về tự do báo chí của Thụy Điển 1766 và sau đó, khi Tuyên ngôn thế giới về quyền con người ra đời thì quyền tiếp cận thông tin mới được biết đến rộng rãi như một trong những quyền cơ bản của con người Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về

quyền con người 1948 quy định “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và

bày tỏ ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng như

tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ

Đến năm

1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ra đời cũng quy định

“1 Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp 2 Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy

Tính đến năm 2009, đã có hơn 86 quốc gia trên

thế giới ban hành Luật tiếp cận thông tin hay Luật được thông tin5

Cho đến nay, các Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia chưa đưa ra một khái niệm thống nhất về quyền tiếp cận thông tin mà chỉ đề cập đến nội hàm, các nguyên tắc của quyền tiếp cận thông tin Có hai quan điểm khác nhau về nội hàm của quyền tiếp cận thông tin, cụ thể:

Quan điểm thứ nhất cho rằng nội hàm quyền tiếp cận thông tin bao

gồm ba quyền: quyền tiếp nhận thông tin, quyền tìm kiếm thông tin và quyền phổ biến thông tin6

Trong đó, tự do tìm kiếm thông tin thể hiện sự chủ động của mỗi cá nhân trong việc yêu cầu, đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị nắm

giữ thông tin cung cấp thông tin mà cá nhân, công dân đó quan tâm Ngược

lại, tự do tiếp nhận thông tin thể hiện sự chủ động của cơ quan nhà nước trong

việc cung cấp thông tin định kỳ cho công chúng kể cả khi công dân không có

yêu cầu Quyền tự do phổ biến thông tin là khả năng cá nhân, công dân được

3 Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.12.

4

Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.17.

Trang 14

truyền đạt thông tin mà mình đang nắm giữ cho mọi người mà không có bất

kỳ sự phân biệt nào về ranh giới hay các hình thức đưa tin7

Theo quan điểm thứ hai, nội hàm quyền tiếp cận thông tin chỉ bao gồm

hoạt động tìm kiếm và tiếp nhận thông tin8 Hoạt động phổ biến thông tin, tìm kiếm và tiếp nhận thông tin nằm trong một khái niệm rộng hơn, đó là quyền thông tin (hay tự do thông tin)

Theo quan điểm của tác giả, quyền tìm kiếm thông tin, tiếp nhận thông tin và phổ biến thông tin có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể hỗ trợ nhau Trong xã hội công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ hiện nay, hoạt động phổ biến thông tin rộng rãi cũng góp phần bảo đảm quyền tiếp nhận thông tin của công dân Ngược lại, nhờ bảo đảm quyền tìm kiếm thông tin và tiếp nhận thông tin mà cá nhân, công dân có được thông tin và truyền đạt, phổ biến lại cho những người khác Tuy nhiên, quyền phổ biến thông tin lại liên quan chặt chẽ và là một phần của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí Do

đó, tác giả chỉ nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin với nội hàm gồm quyền tìm kiếm thông tin và tiếp nhận thông tin

Tóm lại, quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của con người và của công dân, quyền này bao gồm quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin và quyền này chỉ được bảo đảm khi cơ quan Nhà nước thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc cung cấp thông tin khi có yêu cầu cũng như công khai thông tin ngay cả khi không có yêu cầu trừ những trường hợp ngoại lệ do pháp luật quy định

1.1.1.2 Phân biệt giữa quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin

Quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và hỗ trợ cho nhau Khi thông tin được công bố công khai rộng rãi để mọi người được biết thì không cần thiết phải yêu cầu cung cấp thông tin nữa, ngược lại, việc cung cấp thông tin cũng góp phần công khai thông tin ra công chúng Tuy nhiên, giữa quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin có những điểm khác biệt, cụ thể:

7

Tường Duy Kiên (2008), “Quyền tiếp cận thông tin: Qui định quốc tế và đặc điểm chung của Luật một số

nước”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (112 – 114)

8 Lê Thị Hồng Nhung (2011), “Tiếp cận quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ quyền con người”, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp (5), tr 22-27

Trang 15

Một là, tính chủ động, bị động của các chủ thể trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình Trong quyền tìm kiếm thông tin, người tìm kiếm

thông tin phải chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước nắm giữ thông tin cung cấp thông tin còn cơ quan nhà nước ở vị trí bị động, có nghĩa vụ cung cấp thông tin khi có yêu cầu Ngược lại, trong quyền tiếp nhận thông tin, cơ quan nhà nước phải chủ động công bố công khai thông tin ra công chúng còn người tiếp nhận thông tin chỉ tiếp nhận thông tin một cách bị động dù có nhu cầu hay không

Hai là, sự khác biệt về nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong quyền tiếp nhận thông tin và quyền tìm kiếm thông tin Trong quyền tiếp nhận thông tin,

cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực hiện các biện pháp khác nhau nhằm công khai thông tin đến công chúng (xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư công nghệ thông tin, xây dựng danh mục thông tin phải công khai ) Các biện pháp này rất chung chung, không tác động trực tiếp lên chủ thể tiếp nhận thông tin Ngược lại, quyền tìm kiếm thông tin thể hiện nghĩa vụ trực tiếp của cơ quan nhà nước, nghĩa là khi công dân yêu cầu cung cấp thông tin thì cơ quan nhà nước có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin cho công dân đó, nếu không cung cấp thì phải đưa ra lý do

Ba là, mối quan hệ giữa thông tin và chủ thể tìm kiếm, tiếp nhận thông tin Thông tin trong quyền tiếp nhận thông tin chủ yếu phát sinh trong quá

trình quản lý nhà nước nói chung, có thể liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức trong xã hội Ngược lại, thông tin trong quyền tìm kiếm thông tin thông thường liên quan đến đời sống xã hội của một cá nhân cụ thể, do đó, trong một số trường hợp chủ thể phải chứng minh mối quan hệ với thông tin yêu cầu cung cấp

1.1.1.3 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

- Quyền tiếp cận thông tin, trong các văn kiện quốc tế được ghi nhận là quyền con người, nghĩa là quyền tự nhiên của mỗi cá nhân từ khi họ sinh ra đến khi chết Nếu đặt trong mối quan hệ với Nhà nước thì quyền tiếp cận thông tin là quyền công dân, điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nước mình, có trách nhiệm ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế Ngược lại, công dân

Trang 16

cũng có phải đáp ứng một số điều kiện và có những nghĩa vụ nhất định khi thực hiện quyền này

- Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là “toàn bộ mọi hoạt động của Nhà

nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các

Theo nghĩa này, chủ thể của hoạt động

quản lý nhà nước bao gồm tất cả các cơ quan của bộ máy nhà nước gồm hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp

Hoạt động quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp hành hiến pháp, luật và điều hành trên cơ sở hiến pháp và các luật đó Chủ thể của quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp chủ yếu là toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ và các cơ quan phái sinh từ chúng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức trực thuộc10

Hoạt động quản lý nhà nước trong đề tài này được hiểu là hoạt động quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp

Hoạt động chấp hành, điều hành làm phát sinh nhiều thông tin liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân, một số thông tin còn đem lại lợi ích cho người sở hữu nó nhưng những thông tin này thường khó tiếp cận Ngoài ra, quá trình quản lý nhà nước dễ xảy ra tình trạng tham nhũng, lạm quyền, quan liêu… James Madison, Tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ đã nói:

“Một Chính phủ của đại chúng mà không có thông tin hoặc không có phương tiện nào để có được những thông tin đó thì chỉ là đoạn mở đầu của một tấn

Do đó, việc nghiên cứu quyền tiếp cận

thông tin trong quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là rất cần thiết

- Tóm lại, quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà

nước là một trong những quyền cơ bản của con người và của công dân, quyền này bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận thông tin liên quan đến hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước

1.1.2 Đặc điểm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

11 Nguyễn Đăng Dung (2010), “Pháp luật về bảo đảm quyền được thông tin của công dân và việc xây dựng

Luật Tiếp cận thông tin”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (3+4), tr 87-90

Trang 17

- Quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước là một trong những quyền cơ bản của con người và của công dân

Theo học thuyết về các quyền tự nhiên, quyền con người là quyền tự nhiên của mỗi người, đơn giản vì họ là con người, quyền này có từ khi sinh ra đến khi chết, không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, giới tính… và bình đẳng đối với tất cả mọi người Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc

về quyền con người thì “quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entilements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người”12

Tuy có nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau nhưng nhìn chung, quyền con người là giá trị chung của nhân loại, được cộng đồng quốc tế công nhận và bảo vệ So với khái niệm quyền con người, khái niệm quyền công dân có phạm vi hẹp hơn và xác định hơn, thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân Quyền công dân là khả năng công dân được thực hiện những hành vi nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của bản thân theo quy định của pháp luật

Quyền con người, quyền công dân có thể chia thành các nhóm: quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Quyền tiếp cận thông tin thuộc nhóm quyền chính trị, được ghi nhận tại Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị Quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của con người, của công dân và nó là một trong những quyền quan trọng nhất đối với cá nhân con người và công dân; được ghi nhận trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất (Hiến pháp) và các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng khác

- Quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân khác

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin với các quyền con người, quyền công dân khác là mối quan hệ tương hỗ, việc thực hiện quyền này sẽ thúc đẩy việc thực hiện các quyền còn lại Việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin giúp con người biết được các quyền, nghĩa vụ cơ bản của mình, đồng thời,

12 http://nhanquyen.vn/modules.php?name=News&op=detailsnews&mid=61&mcid=6

Trang 18

có những thông tin quan trọng, cần thiết để thực hiện các quyền con người, quyền công dân khác Các thông tin dù rất nhỏ nhưng đều có thể là tiền đề để thực hiện quyền con người, quyền công dân vì thông tin là một phần quan trọng, không thể thiếu trong cuộc sống Ví dụ, để thực hiện quyền bầu cử thì công dân phải có thông tin về điều kiện bầu cử, thời gian, địa điểm bầu cử, cách thức bỏ phiếu, quan trọng nhất là thông tin về các ứng cử viên để lựa chọn ra người phù hợp, đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình tại cơ quan nhà nước Để thực hiện quyền được học tập thì phải có thông tin về trường học, chương trình giảng dạy, đào tạo, tuyển sinh; để thực hiện quyền kinh doanh thì phải có thông tin về điều kiện kinh doanh, thủ tục đăng ký kinh doanh; chính sách thuế… Ngoài ra, thông tin còn mang lại kiến thức, sự hiểu biết cho con người, giúp họ có cách xử sự, hành vi thích hợp; đặc biệt, có những thông tin còn mang lại lợi ích cho người sở hữu nó, nếu họ biết cách tận dụng thông tin đó

Ngược lại, việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân khác cũng góp phần bảo đảm việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin Để thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trước hết công dân phải được học tập, giới thiệu và

có những hiểu biết nhất định về quyền tiếp cận thông tin Ngoài ra, họ phải được tự do đi lại, tự do cư trú, tự do ngôn luận, tự do báo chí để có điều kiện nói lên, phản ánh yêu cầu của mình cũng như tiếp xúc với các thông tin

do cơ quan Nhà nước công bố công khai Do đó, việc công nhận, thực hiện, bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của công dân phải gắn liền với các quyền dân

sự, chính trị khác

- Quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước bao gồm quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin phát sinh trong hoạt động chấp hành, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước

Quyền tìm kiếm thông tin thể hiện sự chủ động của công dân trong việc yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nắm giữ thông tin cung cấp thông tin họ mong muốn Quyền tiếp nhận thông tin thể hiện sự chủ động của cơ quan nhà nước trong việc công bố, công khai các thông tin, tài liệu không thuộc bí mật nhà nước và các trường hợp miễn trừ trước công chúng kể cả khi không có yêu cầu Giữa quyền tìm kiếm thông tin và tiếp nhận thông tin có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện quyền này sẽ góp phần thực hiện quyền kia

và ngược lại Cụ thể, khi nhà nước công khai các thông tin liên quan đến hoạt

Trang 19

động quản lý nhà nước đầy đủ, kịp thời cho công dân sẽ góp phần làm giảm lượng đơn thư, điện thoại yêu cầu cung cấp thông tin, qua đó, giảm gánh nặng cho cơ quan nhà nước Ngược lại, việc đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin

của công dân cũng là một hình thức công khai thông tin cho công dân

Thông tin công dân được tìm kiếm, tiếp nhận là những thông tin phát sinh trong hoạt động chấp hành, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước Trong đó, hoạt động chấp hành là hoạt động thực hiện trên thực tế các luật và các văn bản mang tính chất luật của Nhà nước, các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên nói chung Hoạt động điều hành là hoạt động dựa trên cơ sở luật để chỉ đạo trực tiếp các đối tượng bị quản lý13 Hoạt động chấp hành, điều hành diễn ra liên tục, hàng ngày, hàng giờ, có tác động sâu sắc và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội Những thông tin phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước rất phong phú, đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội, giáo dục, y tế, đất đai… và có liên quan chặt chẽ đến đời sống mỗi công dân từ khi sinh ra đến khi chết đi cũng như trong suốt quá trình sinh sống, học tập, lao động

Hoạt động lập pháp hay hoạt động làm luật cũng phát sinh những thông tin mà công dân quan tâm như: thông tin về hoạt động làm luật, sửa đổi luật; các dự thảo Luật cần lấy ý kiến; các văn bản Luật đã được thông qua Tuy nhiên, số lượng Luật, Pháp lệnh do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành hàng năm không nhiều, những thông tin này không ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của người dân như những thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước Đối với những thông tin phát sinh trong hoạt động xét

xử, kiểm sát thường ít được đông đảo người dân quan tâm vì nó gắn liền với những cá nhân cụ thể khi xảy ra tranh chấp hoặc có hành vi vi phạm pháp luật Do đó, nhu cầu tiếp cận thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước là nhu cầu thường xuyên của đại bộ phận cá nhân, tổ chức, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

- Quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý Nhà nước chỉ được bảo đảm khi cơ quan Nhà nước thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình

13 Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội,

tr.25

Trang 20

Quyền tiếp cận thông tin là quyền của công dân và gắn liền với nghĩa

vụ bảo đảm thực hiện của Nhà nước, nếu quyền không gắn liền với nghĩa vụ thì chỉ là quyền trên giấy Do đó, để đảm bảo thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, Nhà nước phải thực hiện trách nhiệm xây dựng các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân Đây là trách nhiệm hay nghĩa vụ gián tiếp của Nhà nước vì nó không trực tiếp mang lại thông tin cho công dân nhưng tạo ra các điều kiện thuận lợi để công dân được tìm kiếm, tiếp nhận các thông tin mình quan tâm Các biện pháp bảo đảm đó là: xây dựng cơ chế pháp lý (ban hành Luật hoặc các văn bản pháp lý có giá trị khác

để ghi nhận quyền tiếp cận thông tin của công dân), cơ sở vật chất (trụ sở cơ quan, bộ phận tiếp dân, trang thông tin điện tử, bảng niêm yết thông tin…), con người (bố trí, đào tạo nhân sự phụ trách các hoạt động liên quan đến quyền tiếp cận thông tin)… Ngoài ra, Nhà nước còn phải thực hiện một loại nghĩa vụ đặc biệt đó là cung cấp thông tin cho công dân Nghĩa vụ này đặc biệt vì Nhà nước, bằng một hành động cụ thể, trực tiếp đem lại thông tin cho người yêu cầu Ví dụ, trong quyền học tập của công dân, Nhà nước thực hiện các trách nhiệm bảo đảm như xây dựng trường học, đào tạo đội ngũ giáo viên, quản lý hoạt động xuất bản sách giáo khoa, chính sách miễn giảm học phí cho các đối tượng… chứ Nhà nước không trực tiếp mang kiến thức đến cho một người cụ thể nào đó Tuy nhiên, trong quyền tiếp cận thông tin, khi công dân gửi đơn yêu cầu cung cấp thông tin và yêu cầu đó là hợp pháp thì cơ quan Nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin cho công dân Nghĩa vụ này rất quan trọng vì nếu Nhà nước đã thực hiện trách nhiệm xây dựng các biện pháp bảo đảm nhưng một công chức Nhà nước hay một cơ quan Nhà nước bất kỳ không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin thì quyền tiếp cận thông tin của công dân cũng không được bảo đảm Ngược lại, nếu Nhà nước không thực hiện tốt các biện pháp bảo đảm thì quyền tiếp cận thông tin của công dân cũng bị khó khăn, cản trở Ví dụ, Nhà nước không quy định thủ tục, thời hạn cung cấp thông tin thì cơ quan Nhà nước có thể trì hoãn, chậm cung cấp thông tin cho công dân

Tóm lại, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ của Nhà nước Trong quyền tiếp cận thông tin, ngoài trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm chung như đối với các quyền công dân khác thì Nhà nước còn thực hiện nghĩa

vụ đặc biệt là cung cấp thông tin cho công dân khi có yêu cầu

Trang 21

1.2 Quyền tìm kiếm thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

Quyền tìm kiếm thông tin của công dân trong quản lý nhà nước là khả năng công dân được tìm kiếm, tiếp xúc các thông tin, tài liệu do cơ quan hành chính nhà nước tạo ra hoặc nắm giữ

1.2.1 Chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong quản lý nhà nước

Hầu hết các quốc gia đều công nhận chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin trước hết là công dân, tuy nhiên, một số nước cho phép người nước ngoài, người không có quốc tịch cũng được quyền yêu cầu cung cấp thông tin nhưng với phạm vi hạn chế hơn

Pháp luật một số nước cũng quy định điều kiện đối với chủ thể yêu cầu cung cấp thông tin là phải nêu rõ lý do hoặc chứng minh mối quan hệ với thông tin yêu cầu cung cấp; nộp đơn yêu cầu đến đúng cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trả phí cung cấp thông tin và tuân thủ những trình tự, thủ tục luật định Cụ thể, Luật về tự do tiếp cận các văn bản hành chính của Cộng hòa Pháp năm 1978 quy định về việc chỉ cung cấp tài liệu cho người có liên quan trong trường hợp tài liệu đó có thể gây ảnh hưởng đến sự riêng tư và bí mật của hồ sơ cá nhân, bí mật về y tế hoặc bí mật về thương mại, sản xuất14

Trong trường hợp này, chủ thể yêu cầu cung cấp thông tin phải chứng minh mối quan hệ với thông tin yêu cầu cung cấp

1.2.2 Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin trong quản lý nhà nước

Phạm vi chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin rất rộng, bao gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp, các cơ quan, tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước, thậm chí Nam Phi còn quy định nghĩa

vụ cung cấp thông tin của chủ thể tư nhân trong một số trường hợp Tuy nhiên, đối với thông tin trong quản lý nhà nước, chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin trước hết là cơ quan hành chính nhà nước nơi nắm giữ hoặc tạo ra thông tin mà công dân đang tìm kiếm Do đó, một trong những điều kiện để được cung cấp thông tin là chủ thể yêu cầu cung cấp thông tin phải nộp đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền Luật về tiếp cận thông tin của các cơ quan

hành chính của Nhật Bản quy định: “Khi có một yêu cầu cung cấp văn bản

14 Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.355

Trang 22

hành chính, ngoại trừ những trường hợp mà trong đó có bất kỳ thông tin nào

đề cập trong các mục dưới đây (sau đây gọi chung là “các thông tin không công khai hóa”) hàm chứa trong các văn bản hành chính được yêu cầu cung cấp, người đứng đầu cơ quan hành chính phải cung cấp những văn bản này

Cơ quan hành chính được giải thích bao gồm: cơ quan

thuộc Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, cơ quan quản trị Hoàng cung, Ủy ban Kiểm toán và một số cơ quan được thành lập theo các điều khoản của Luật về thành lập Văn phòng Chính phủ, Luật Tổ chức Chính quyền quốc gia, Luật về cơ quan quản trị Hoàng cung

1.2.3 Hình thức và thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin trong quản lý nhà nước

Hình thức yêu cầu cung cấp thông tin chủ yếu bằng văn bản và gửi trực tiếp đến cơ quan có thẩm quyền hoặc gửi qua đường bưu điện, fax, thư điện

tử Một số nước quy định yêu cầu cung cấp thông tin phải thể hiện dưới dạng văn bản (Úc, Canada…) còn một nước cho phép yêu cầu cung cấp thông tin bằng miệng, điện thoại Luật Thúc đẩy tiếp cận thông tin của Nam Phi quy

định yêu cầu cung cấp thông tin bằng miệng được thực hiện như sau: “quan

chức thông tin của một chủ thể công cộng phải biên soạn lại lời yêu cầu bằng miệng theo hình thức văn bản và phải cung cấp cho người yêu cầu một bản

Ngoài ra, Luật Thúc đẩy tiếp cận thông tin của Nam

Phi còn cho phép ủy quyền yêu cầu cung cấp thông tin nhưng phải có giấy từ chứng minh tư cách pháp lý của người được ủy quyền

Người yêu cầu cung cấp thông tin nộp yêu cầu cung cấp thông tin tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay cơ quan nhà nước nắm giữ thông tin Sau khi nhận được yêu cầu cung cấp thông tin, cơ quan được yêu cầu phải cung cấp thông tin cho người yêu cầu trong thời hạn do pháp luật quy định, nếu thông tin phức tạp, không có sẵn thì cơ quan được yêu cầu có thể gia hạn trong một khoảng thời gian nhất định Trường hợp thông tin được yêu cầu cung cấp thuộc trường hợp miễn trừ thì người được yêu cầu có quyền từ chối yêu cầu cung cấp thông tin nhưng phải thông báo cho người yêu cầu và nêu rõ

lý do

15

Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.275

16 Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 218.

Trang 23

Người yêu cầu cung cấp thông tin có thể được cung cấp thông tin miễn phí hoặc phải trả một khoản phí nhất định, đây là khoản chi phí cho việc in

ấn, sao chụp, tài liệu, tìm kiếm, xử lý thông tin, chuyển hồ sơ, tài liệu… Ví

dụ, Điều 29 Luật Tự do thông tin năm 1982 của Úc quy định về phí tiếp cận

thông tin như sau: “Nếu theo các quy định một cơ quan hoặc Bộ trưởng quyết

định rằng một người nộp đơn phải trả một khoản phí (không phải phí nộp đơn) liên quan tới việc tiếp cận hoặc được cung cấp tài liệu, cơ quan hoặc Bộ trưởng phải gửi cho người đó một thông báo bằng văn bản trong đó nêu rõ:

a) Rằng người nộp đơn có trách nhiệm phải trả một khoản phí cho việc đó;

b) Cơ quan hoặc Bộ trưởng đã ước tính số tiền phải trả, và cơ sở để tính số tiền đó;

c) Người nộp đơn có thể cho rằng khoản phí được ước tính là không

1.2.4 Phạm vi thông tin được yêu cầu cung cấp và trường hợp miễn trừ cung cấp thông tin trong quản lý nhà nước

- Thông tin được yêu cầu cung cấp là những thông tin đáp ứng các điều kiện sau đây:

+ Do cơ quan hành chính nhà nước ban hành hoặc tiếp nhận, ví dụ: thông tin của Chính phủ (Canada), tài liệu do cơ quan hành chính tiếp nhận hoặc ban hành trong quá trình hoạt động (Đan Mạch), văn bản hành chính (Nhật Bản, Pháp)…

+ Không phải là những thông tin có sẵn (thông tin đã được cơ quan hành chính nhà nước công bố công khai, có thể tìm thấy dễ dàng thông qua mạng internet, sách, báo…)

+ Không thuộc trường hợp miễn trừ cung cấp thông tin

Thông thường, Luật Tiếp cận thông tin không liệt kê cụ thể thông tin được yêu cầu cung cấp vì nếu sử dụng phương pháp liệt kê dễ dẫn đến thiếu sót và làm hạn chế quyền của công dân Tuy nhiên, trong một số trường hợp khó xác định thông tin có thuộc trường hợp miễn trừ cung cấp hay không hoặc thông tin dễ bị cơ quan hành chính nhà nước từ chối cung cấp thì Luật quy định cụ thể để dễ áp dụng Luật Tiếp cận thông tin của các cơ quan hành

17

Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.402.

Trang 24

chính (Nhật Bản) quy định: “Các thông tin dưới đây có thể được cung cấp: a)

Những thông tin được chuẩn bị để đưa ra công khai, theo quy định trong pháp luật hoặc tập quán b) Những thông tin được cho rằng cần thiết phải công khai hóa nhằm bảo vệ cuộc sống, sức khỏe, tài sản hoặc nghề nghiệp của một người c) Trong trường hợp cá nhân được nói đến là một quan chức

- Trường hợp miễn trừ cung cấp thông tin

Quyền tiếp cận thông tin cho phép công dân được tiếp cận các hồ sơ, tài liệu của cơ quan nhà nước nhưng không phải bất kỳ loại hồ sơ, tài liệu nào cũng được phép tiếp cận Mỗi quốc gia đều đặt ra các trường hợp ngoại lệ hay trường hợp miễn trừ mà khi rơi vào trường hợp này thì cơ quan nhà nước có quyền từ chối cung cấp thông tin Việc quy định các trường hợp miễn trừ cho thấy quyền tiếp cận thông tin chỉ bị giới hạn trong những trường hợp do pháp luật quy định, cơ quan nhà nước không được quyền từ chối cung cấp thông tin

mà không có lý do chính đáng Các trường hợp miễn trừ cụ thể:

+ Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác

Đây là trường hợp miễn trừ được pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế ghi nhận, theo đó, công dân có quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá thông tin nhưng không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác như: quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền bí mật đời tư, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở… Quy định này góp phần ngăn ngừa tình trạng lợi dụng quyền tiếp cận thông tin để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, hạ thấp uy tín của người khác

+ Bảo vệ an ninh quốc gia

Trường hợp việc kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin có thể gây mất

ổn định chính trị, rối loạn an ninh quốc gia thì cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin có quyền từ chối cung cấp thông tin, cá nhân, tổ chức nếu cố tình vi phạm thì có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật

Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 277.

Trang 25

Thông tin mà việc cung cấp sẽ gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn

xã hội, tính mạng, sức khỏe, môi trường… Ví dụ việc cung cấp địa điểm sinh sống của các loài động, thực vật quý hiếm có thể làm ảnh hưởng đến môi trường sống của chúng vì dựa trên thông tin đó người ta có thể tìm đến thăm quan, đánh bắt, chặt phá, hủy hoại môi trường

Thông tin mà việc cung cấp sẽ gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, chính sách tài chính, tiền tệ của quốc gia Điển hình của trường hợp này là việc rò rỉ thông tin xăng lên giá, kết quả là người dân đổ xô đi mua xăng về

dự trữ, gây tâm lý không hay trong xã hội và ảnh hưởng đến nền kinh tế do các cá nhân, tổ chức đầu cơ xăng, đợi lên giá bán ra kiếm lợi nhuận

Thông tin có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia với nhau và với các tổ chức quốc tế Vào giữa năm 2010, một nhà báo người Úc, người sáng lập trang web Wikileaks đã cho công bố các báo cáo liên quan đến cuộc chiến ở Afghanistan, Iraq cũng như những bức điện, công hàm, tài liệu mật của Mỹ trên website Wikileaks, đồng thời gửi đến một số tờ báo nổi tiếng của Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nhà Mặc

dù Mỹ đã tạo ra nhiều sức ép để ngăn chặn vụ việc này, tuy nhiên hậu quả của

nó là ảnh hưởng lâu dài đến mối quan hệ ngoại giao của Mỹ và các nước khác

Thông tin nếu tiết lộ sẽ ảnh hưởng đến công tác điều tra, truy tố, xét xử, thực thi pháp luật… Quy định này nhằm bảo đảm không cản trở hoạt động của cơ quan làm nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử và quá trình đấu tranh ngăn ngừa, phòng chống tội phạm, bảo đảm tội phạm phải được phát hiện, ngăn ngừa và xử lý theo quy định của pháp luật

1.3 Quyền tiếp nhận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

Quyền tiếp nhận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước là khả năng công dân nhận được những thông tin, tài liệu do cơ quan hành chính nhà nước tạo ra, nắm giữ trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước

1.3.1 Chủ thể có quyền tiếp nhận thông tin trong quản lý nhà nước

Chủ thể tiếp nhận thông tin trong quản lý nhà nước rất rộng, bao gồm

cá nhân (công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch), cơ quan, tổ chức Thông thường, pháp luật không quy định giới hạn cũng như điều kiện đối với chủ thể tiếp nhận thông tin Ngược lại, trong quyền tìm kiếm thông

Trang 26

tin, Nhà nước có thể đặt ra giới hạn, điều kiện đối với chủ thể yêu cầu cung cấp thông tin như: người yêu cầu cung cấp thông tin phải là công dân; có liên quan đến thông tin yêu cầu cung cấp; trình bày mục đích yêu cầu cung cấp… Trong quyền tiếp nhận thông tin, chủ thể tiếp nhận thông tin tương đối bị động và không đóng vai trò quan trọng vì dù họ có nhu cầu hay không thì cơ quan nhà nước vẫn phải công khai thông tin rộng rãi đến mọi chủ thể bằng

những hình thức phù hợp

1.3.2 Chủ thể có trách nhiệm công khai thông tin trong quản lý nhà nước

Chủ thể có trách nhiệm công khai thông tin trong quản lý nhà nước là

cơ quan hành chính nhà nước đã tạo ra thông tin hoặc có được thông tin trong quá trình hoạt động của mình Về nguyên tắc, tất cả các cơ quan hành chính nhà nước đều phải công khai thông tin, trừ một số trường hợp ngoại lệ liên quan đến thông tin mật, thông tin thuộc trường hợp miễn trừ Điều 3, nguyên tắc công khai thông tin trong Luật về công khai thông tin của các cơ quan

chính quyền của Hàn Quốc năm 1996 quy định: “Các cơ quan chính quyền

phải cung cấp cho công chúng các thông tin thuộc quyền sở hữu và quản lý

Luật cũng

giải thích các cơ quan chính quyền bao gồm: cơ quan nhà nước, chính quyền

địa phương, các cơ quan do chính phủ đầu tư

Ngoài ra, pháp luật có thể quy định nghĩa vụ công khai thông tin của một cá nhân cụ thể (người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, người đại diện theo pháp luật hoặc người phát ngôn…) nhằm xác định trách nhiệm khi không thực hiện công bố, công khai thông tin đầy đủ

1.3.3 Hình thức và thủ tục công khai thông tin trong quản lý nhà nước

Hình thức công khai thông tin khá đa dạng, bao gồm: thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, đưa lên trang thông tin điện tử, báo, tạp chí, ấn phẩm, niêm yết tại trụ sở của cơ quan, đơn vị, thông báo trong các cuộc họp… Tại Nam Phi, pháp luật còn quy định hình thức công khai thông tin trên danh bạ điện thoại; ở Trung Quốc, chính quyền nhân dân các cấp phải lập ra những khu vực riêng trong cơ quan lưu trữ và thư viện công cộng để công chúng có thể sử dụng nhằm tiếp cận thông tin; tại Anh, luật yêu cầu cơ

19

Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.186.

Trang 27

quan công quyền đưa ra kế hoạch công bố và kế hoạch này phải được Ủy viên thông tin độc lập phê chuẩn; ở Hoa Kỳ, ngoài thông tin được đăng trên Công báo, pháp luật còn yêu cầu thông tin phải “có sẵn” dưới dạng điện tử và ghi vào danh lục hồ sơ lưu trữ20…

Các cơ quan hành chính nhà nước tạo ra hoặc nắm giữ thông tin có trách nhiệm công khai thông tin trong một khoảng thời gian nhất định ngay cả khi không có yêu cầu Nếu kết thúc khoảng thời gian này mà cơ quan có trách nhiệm công khai thông tin không công khai thông tin hoặc công khai thông tin chậm trễ thì có thể bị khiếu nại hoặc chịu các hình thức xử lý kỷ luật Pháp lệnh về công khai thông tin của Chính quyền của Trung Quốc quy định:

“Trách nhiệm của cơ quan nhà nước là phải công bố thông tin do mình tạo ra; cơ quan nhà nước đang lưu giữ thông tin thu thập từ công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác có trách nhiệm công bố các thông tin dạng này theo quy định của pháp luật… Thông tin của chính quyền nằm trong phạm vi cần được công bố phải được công bố trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày được lập ra

Bên cạnh việc công khai thông tin, các cơ quan Nhà

nước còn phải thường xuyên cập nhật thông tin, đặc biệt là đối với những thông tin đã bị hủy bỏ hoặc sửa đổi Luật về minh bạch và tiếp cận thông tin

công của Peru năm 2003 quy định: “Trong trường hợp các quy định hiện

hành nói rằng các thông tin cần phải được công bố theo quy trình 3 lần/năm, thông tin này sẽ được công bố trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn 3 tháng Vì mục đích tương tự, thông tin từ hai giai đoạn trước cũng sẽ

Theo quy định này, thông tin sẽ được công bố theo từng giai

đoạn, trong thời gian 30 ngày cuối cùng của giai đoạn đó và thông tin của hai giai đoạn trước cũng được công bố cùng để so sánh

1.3.4 Phạm vi thông tin được công khai và những thông tin không thuộc trường hợp Nhà nước công bố công khai

- Thông tin được Nhà nước công bố công khai

20 mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi.aspx

http://www.vibonline.com.vn/Baiviet/1572/Phan-tich-so-sanh-phap-luat-ve-quyen-tiep-can-thong-tin-cua-21

Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.382

22 Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.318

Trang 28

Thông tin được Nhà nước công bố công khai rộng rãi thường là những thông tin có sẵn, do cơ quan nắm giữ hoặc tạo ra, có liên quan mật thiết đến quyền, lợi ích của công dân mà pháp luật quy định Nhà nước phải công bố công khai Loại thông tin này bao gồm: thông tin có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân; thông tin về việc thành lập, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước; các thủ tục hành chính; chương trình, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế, sức khỏe, môi trường, việc làm; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và những thông tin khác cần có sự tham gia, đóng góp ý kiến của công dân

Cách liệt kê những trường hợp phải công khai thông tin như trên có ưu điểm là rõ ràng, cụ thể, nếu thông tin thuộc một trong các trường hợp quy định thì cơ quan nhà nước bắt buộc phải công khai thông tin nhưng hạn chế của cách này là không thể liệt kê đầy đủ mọi trường hợp, cách này chỉ thích hợp đối với phạm vi nhỏ, hẹp, cụ thể Một số nước không liệt kê những trường hợp phải công khai thông tin mà quy định những thông tin không công khai, trường hợp miễn trừ, các trường hợp còn lại là trường hợp bắt buộc phải công khai cho công chúng Ưu điểm của cách này là quy định phạm vi công khai thông tin rộng nhưng hạn chế là không cụ thể, khó áp dụng, các cơ quan phải xem xét, cân nhắc trường hợp này có nên công khai không và công khai theo hình thức nào

- Thông tin không thuộc trường hợp Nhà nước công bố công khai, bao gồm:

+ Thông tin thuộc bí mật nhà nước: đây là những thông tin mà pháp

luật quy định không công khai đồng thời không cung cấp khi có yêu cầu Những thông tin này có thể quy định trực tiếp trong Luật Tiếp cận thông tin hoặc Luật về bí mật Nhà nước Trường hợp xảy ra xung đột, Luật Tiếp cận thông tin yêu cầu phải công khai còn Luật về bí mật Nhà nước quy định không được công khai thì thông thường Luật về bí mật Nhà nước sẽ được ưu tiên áp dụng (Trung Quốc, Nga…), một số ít trường hợp (Nam Phi) quy định Luật Tiếp cận thông tin được ưu tiên hơn Cụ thể, Luật Thúc đẩy tiếp cận thông tin Nam Phi quy định về việc áp dụng các văn bản pháp luật khác về

cấm hoặc hạn chế việc tiết lộ thông tin như sau: “Luật này bãi bỏ bất kỳ quy

định nào của các văn bản pháp luật khác trong đó cấm hoặc hạn chế việc

Trang 29

công bố một hồ sơ của một chủ thể công cộng hoặc tư nhân mà trái với các

+ Thông tin được cung cấp theo yêu cầu hoặc thỏa thuận là những

thông tin không thuộc trường hợp phải công bố công khai và khi công dân, tổ chức có yêu cầu thì cơ quan Nhà nước phải cung cấp Những thông tin này thường gắn với quyền, lợi ích hợp pháp của một cá nhân, tổ chức cụ thể, không mang tính đại chúng, không có sẵn và công dân không thể tìm thấy dễ dàng trên các phương tiện thông tin đại chúng Đối với loại thông tin này, công dân, tổ chức phải làm đơn yêu cầu theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và trả một khoản phí nhất định

+ Thông tin được cung cấp hạn chế: đây là loại thông tin không phổ

biến, chỉ một số nước cho phép tiếp cận loại thông tin này, đó là hồ sơ, thông tin của một cơ quan, tổ chức khác hoặc một chủ thể tư nhân

1.4 Các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

1.4.1 Ban hành Luật Tiếp cận thông tin

- Biện pháp này đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải ban hành Luật Tiếp cận thông tin, trong đó quy định các nội dung chủ yếu sau:

+ Xác định các loại chủ thể và quyền, nghĩa vụ của từng chủ thể;

+ Quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của công dân và nghĩa

vụ cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước;

+ Quy định về trách nhiệm công khai thông tin ngay cả khi không có yêu cầu;

+ Các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân;

+ Cơ chế kiểm tra, giám sát việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân

- Đây là biện pháp rất quan trọng vì nếu không có Luật Tiếp cận thông tin, cơ quan nhà nước không coi việc cung cấp thông tin, công khai thông tin

là nghĩa vụ mà là sự ban phát, đặc quyền và dễ dẫn đến vi phạm quyền tiếp cận thông tin của công dân Ngoài ra, nếu không có Luật Tiếp cận thông tin,

cơ quan nhà nước cũng gặp khó khăn, lúng túng trong việc xác định phạm vi

23 Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.209

Trang 30

thông tin được cung cấp, cách thức, trình tự, thủ tục cung cấp thông tin và căn

cứ từ chối khi yêu cầu đó không hợp pháp Về phía công dân, nếu chỉ quy định chung chung công dân có quyền tiếp cận thông tin mà không thể chế hóa thành Luật thì công dân không biết cách để thực hiện quyền của mình và họ tiếp nhận thông tin một cách thụ động, phụ thuộc vào trách nhiệm của cơ quan nhà nước

Mặt tích cực của việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin là giúp công dân cũng như cơ quan nhà nước thực hiện quyền này một cách có ý thức và chủ động hơn Ngoài ra, Luật Tiếp cận thông tin xây dựng quy trình, cách thức để công dân và cơ quan nhà nước có cơ sở thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; đồng thời, ràng buộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân

- Một số ý kiến cho rằng biện pháp này không cần thiết vì không ban hành Luật Tiếp cận thông tin thống nhất nhưng quy định rải rác trong các Luật khác thì vẫn bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân Theo tác giả, việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin thống nhất là cần thiết vì:

Nếu không có Luật Tiếp cận thông tin thì không thống nhất cách thức, quy trình thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, dẫn đến thiếu quy định, quy định không rõ ràng hoặc mâu thuẫn, gây khó khăn cho cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện, kết quả là quyền tiếp cận thông tin của công dân bị hạn chế

Nếu có Luật Tiếp cận thông tin thống nhất thì sẽ thống nhất cách thức, quy trình thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; việc quy định đầy

đủ, rõ ràng sẽ buộc cơ quan nhà nước phải thực hiện nghiêm chỉnh, đúng quy định pháp luật; tránh được tình trạng quy định chồng chéo, thiếu thống nhất, mâu thuẫn

Tóm lại, quan hệ giữa công dân và cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin là quan hệ xã hội có tổ chức, hệ thống, thống nhất, do đó, cần có một văn bản pháp luật thống nhất điều chỉnh Ngoài ra, việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin còn thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với các quyền công dân và ràng buộc trách nhiệm của Nhà nước một cách

rõ ràng, thống nhất

Trang 31

Đây được coi là biện pháp quan trọng nhất trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân nói chung, bao gồm quyền tìm kiếm thông tin

và tiếp nhận thông tin

1.4.2 Quy định trách nhiệm công khai thông tin trong quản lý nhà nước

Đây là biện pháp bảo đảm quyền tiếp nhận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước Yêu cầu của biện pháp này là:

- Ghi nhận nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước vào các văn bản pháp luật, đặc biệt là các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao (Hiến pháp, Luật) Khi nguyên tắc này trở thành nguyên tắc luật định thì các cơ quan nhà nước bắt buộc phải cụ thể hóa và triển khai thực hiện trên thực tế bằng cách công khai thông tin để mọi người biết và bảo đảm không có gì mờ ám, khuất tất trong quá trình quản lý nhà nước

- Quy định trình tự, thủ tục công khai thông tin, các thông tin phải công khai; chủ thể có trách nhiệm công khai thông tin, hình thức, thời hạn công khai thông tin và trường hợp miễn trừ

- Tổ chức công bố, cung cấp các thông tin thuộc trường hợp phải công khai bằng những hình thức phù hợp

Biện pháp này giúp cơ quan nhà nước chủ động và có trách nhiệm hơn trong việc công khai thông tin; về phía công dân, họ có thể tiếp cận những thông tin đơn giản, có sẵn dễ dàng hơn, từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân tham gia quản lý nhà nước và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước

1.4.3 Quy định cách thức, thủ tục thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin

Đây là biện pháp quan trọng nhằm bảo đảm quyền tìm kiếm thông tin của công dân Đối với những thông tin không được nhà nước công khai, không dễ dàng tìm kiếm hoặc thông tin liên quan đến cá nhân cụ thể thì thì công dân phải trực tiếp liên hệ cơ quan nhà nước và thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin Do đó, cơ quan nhà nước có trách nhiệm xây dựng cách thức, thủ tục để công dân thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin của mình

Nội dung thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin bao gồm: xác định người

có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin, phạm vi thông tin được cung cấp, trường hợp miễn trừ, hình thức yêu cầu cung cấp thông tin; trình tự thủ tục cung cấp thông tin, vấn đề phí, lệ phí cung

Trang 32

cấp thông tin và trình tự giải quyết khiếu nại, khởi kiện khi người yêu cầu cung cấp thông tin cho rằng cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền có hành vi vi phạm

Ngoài ra, thủ tục này phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Thống nhất quy định về trình tự, thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin và cung cấp thông tin khi có yêu cầu

- Các quy định về điều kiện, thủ tục, lệ phí cung cấp thông tin hợp lý, không gây khó khăn, cản trở công dân thực hiện quyền của mình

- Có biện pháp bảo đảm cơ quan nhà nước thực hiện nghĩa vụ của mình cũng như bảo đảm công dân không lợi dụng quyền tiếp cận thông tin để cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác

Đây là biện pháp rất quan trọng vì nếu thiếu quy định về cách thức, thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin thì quyền tìm kiếm thông tin của công dân rất khó được thực hiện trên thực tế Việc yêu cầu cung cấp thông tin thực chất cũng là một loại thủ tục hành chính nếu không quy định loại thủ tục này thì cả công dân và cơ quan nhà nước đều gặp lúng túng Về phía công dân, họ không xác định được cơ quan có thẩm quyền giải quyết, hình thức yêu cầu cung cấp thông tin, thời hạn, lệ phí (nếu có)… dẫn đến tốn kém thời gian, công sức, tiền bạc hoặc từ bỏ ý định yêu cầu cung cấp thông tin Về phía cơ quan nhà nước, nếu không quy định trình tự, thủ tục rõ ràng thì không có căn

cứ để thực hiện, không biết quyền hạn, nghĩa vụ của mình ở mức độ nào, dẫn đến từ chối hoặc chậm trễ, trì hoãn cung cấp thông tin cho công dân

1.4.4 Quy định việc khiếu nại, khởi kiện liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

- Khiếu nại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Khi công dân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm do

cơ quan nhà nước không công bố thông tin theo quy định, từ chối yêu cầu cung cấp thông tin mà không có lý do chính đáng, cung cấp thông tin trễ, cung cấp thông tin sai lạc, không theo yêu cầu, không đầy đủ hoặc người yêu cầu phải trả những khoản phí vô lý… thì có quyền khiếu nại tại cơ quan nhà nước đó

Ưu điểm của cơ chế này là vụ việc được giải quyết nhanh chóng, ít tốn kém, thủ tục đơn giản, bên cạnh đó, việc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật cũng dễ dàng hơn Tuy nhiên, cơ chế giải

Trang 33

quyết khiếu nại có hạn chế là tính độc lập không cao, trình tự, thủ tục không chặt chẽ, sự tham gia của luật sư hay người đại diện trong quá trình giải quyết khiếu nại còn hạn chế

Hiện nay, tại các quốc gia quy định hai cơ chế khiếu nại như sau:

Một là, cơ chế giải quyết khiếu nại nội bộ Khi công dân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có thể khiếu nại tại cơ quan đã ban hành quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính đó Sau khi nhận được đơn khiếu nại, người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm trả lời cho người khiếu nại biết về việc thụ lý hoặc không thụ lý đơn khiếu nại, nếu

từ chối thì phải nêu rõ lý do Sau khi thụ lý, người giải quyết khiếu nại phải ban hành quyết định giải quyết khiếu nại trong một thời hạn luật định và gửi cho người khiếu nại Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có thể khởi kiện tại tòa án hoặc khiếu nại tiếp theo Pháp luật cho phép người khiếu nại được khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện trong một thời hiệu nhất định, hết thời hiệu này mà người khiếu nại không khiếu nại tiếp theo và không khởi kiện thì quyết định giải quyết khiếu nại sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành

Hai là, khiếu nại đến một cơ quan độc lập, được trao quyền giải quyết các khiếu nại liên quan đến quyền tiếp cận thông tin Theo cơ chế này, khi công dân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm thì họ có quyền khiếu nại trực tiếp đối với người đã có quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính Người bị khiếu nại có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khiếu nại tiếp theo ở một cơ quan độc lập, chuyên giải quyết các khiếu nại liên quan đến quyền tiếp cận thông tin Một số quốc gia khác quy định công dân có quyền khiếu nại trực tiếp tại cơ quan độc lập, chuyên trách giải quyết khiếu nại liên quan đến quyền tiếp cận thông tin mà không cần phải khiếu nại với người đã ra quyết định hành chính hay có hành

vi hành chính đó Ưu điểm của cơ chế này là tính độc lập cao hơn so với cơ chế giải quyết khiếu nại nội bộ tuy nhiên có thể gây tốn kém do phải thành lập thêm cơ quan, bộ máy, nhân sự phụ trách công tác này

Điển hình cho cơ chế khiếu nại đến một cơ quan độc lập là Ấn Độ Luật

về quyền được thông tin Ấn Độ quy định “Ủy ban thông tin trung ương” và

“Ủy ban thông tin của bang” là những cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và

Trang 34

điều tra các khiếu nại liên quan đến quyền tiếp cận thông tin Ủy ban thông tin bao gồm Trưởng cao ủy thông tin và các Cao ủy thông tin do Tổng thống bổ nhiệm dựa trên đề cử của hội đồng gồm Thủ tướng chính phủ, người đứng đầu phe đối lập ở hạ viện, một Bộ trưởng liên hiệp được Thủ tướng chính phủ

đề cử Luật về quyền được thông tin Ấn Độ cũng quy định trong quá trình giải quyết khiếu nại, trách nhiệm giải trình thuộc về cơ quan công quyền, quan chức thông tin công cộng đã từ chối cung cấp thông tin Quyết định của Ủy ban thông tin trung ương hoặc Ủy ban thông tin của bang có hiệu lực bắt buộc Trong quyết định của mình, Ủy ban thông tin trung ương hoặc Ủy ban thông tin của bang có quyền:

“a) Yêu cầu nhà chức trách công cộng thực hiện bất kỳ biện pháp nào cần thiết để tuân thủ các quy định của Luật này, bao gồm: (i) Cung cấp thông tin được yêu cầu dưới một hình thức nhất định; (ii) Chỉ định một quan chức thông tin công cộng trung ương hoặc quan chức thông tin công cộng của bang nếu cần thiết; (iii) Công bố những thông tin hoặc loại thông tin nhất định; (iv) Thay đổi cách thức duy trì, quản lý và hủy dữ liệu của đơn vị; (v) Tăng cường việc tập huấn về quyền được thông tin cho các nhân viên của cơ quan; (vi) Công bố các báo cáo hàng năm theo quy định;

b) Yêu cầu nhà chức trách công cộng bồi thường bất kỳ mất mát hoặc tổn thương nào mà người khiếu nại đã phải gánh chịu;

c) Đưa ra bất kỳ hình thức chế tài theo theo quy định của Luật;

- Cơ chế khởi kiện tại Tòa án

Ngoài biện pháp khiếu nại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, pháp luật các nước còn quy định về cơ chế khởi kiện ở Tòa án Hạn chế của cách thức này là gây tốn kém, mất nhiều thời gian nhưng đảm bảo tính độc lập, khách quan so với cơ chế khiếu nại nội bộ và thu hút sự tham gia của luật sư, người đại diện để bảo vệ quyền lợi cho đương sự

Cơ chế khởi kiện có thể được thực hiện theo hai loại trình tự khác nhau: Một là, người khởi kiện phải thực hiện thủ tục khiếu nại trước khi khởi kiện tại Tòa án Theo cách thức này, khi công dân cho rằng quyền, lợi ích hợp

24

Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 97.

Trang 35

pháp của mình bị xâm phạm thì họ phải khiếu nại đến người đã có quyết định hành chính, hành vi hành chính đó Sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại

mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định đó thì có quyền khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện ở Tòa án Thủ tục khiếu nại này là một trong những điều kiện cần để Tòa án thụ lý đơn khởi kiện

Hai là, công dân trực tiếp khởi kiện tại Tòa án khi có căn cứ cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm mà không cần phải thực hiện thủ tục khiếu nại Ưu điểm của cách thức này là không gây tốn kém, mất thời gian của công dân, đặc biệt là trong trường hợp họ muốn trực tiếp khởi kiện tại Tòa án vì cho rằng người giải quyết khiếu nại sẽ bác đơn khiếu nại hoặc cố tình trì hoãn, kéo dài thời gian giải quyết khiếu nại Hạn chế của cách thức này là đã bỏ qua những ưu điểm của thủ tục khiếu nại và người giải quyết khiếu nại chính là người nắm rõ vụ việc, giữ hồ sơ, tài liệu, thông tin có liên quan

Hầu hết Luật Tiếp cận thông tin của các nước quy định bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là quyết định cuối cùng, không bị khiếu nại hoặc khởi kiện trừ những trường hợp đặc biệt

Biện pháp khiếu nại và khởi kiện đều có ưu điểm và hạn chế riêng, cần quy định cả hai biện pháp này trong luật để công dân lựa chọn hình thức phù hợp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Biện pháp này có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của công dân khi cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm

1.4.5 Quy định các biện pháp xử lý hành vi vi phạm quyền tiếp cận thông tin của công dân

Biện pháp xử lý vi phạm gồm: xử lý hành chính, xử lý kỷ luật và xử lý hình sự Xử lý hành chính được áp dụng đối với hành vi vi phạm ở mức độ thấp, tính nguy hiểm cho xã hội chưa cao Biện pháp này thường được áp dụng đối với công dân nhằm hạn chế tình trạng lợi dụng quyền tiếp cận thông tin để vi phạm quyền, lợi ích của người khác hoặc cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước Hình thức xử lý vi phạm hành chính được áp dụng phổ biến nhất là phạt tiền Đây là biện pháp nhằm tác động về kinh tế, nhằm mục đích cảnh cáo, nhắc nhở để người vi phạm quyền tiếp cận thông tin không tái

phạm

Trang 36

Biện pháp xử lý hình sự được áp dụng cho những hành vi nguy hiểm cho xã hội, cấu thành tội phạm, mục đích áp dụng nhằm trừng phạt người có hành vi vi phạm và răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm Biện pháp xử lý hình sự có thể được áp dụng đối với các hành vi có mức độ nguy hiểm đáng

kể, với lỗi cố ý, gây hậu quả nghiêm trọng như: phá hoại, làm tổn hại hoặc tiêu hủy một hồ sơ; ăn cắp hồ sơ; làm giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ Đối với cán bộ, công chức nhà nước, ngoài hai biện pháp trên, cần quy định thêm trách nhiệm kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm quyền tiếp cận thông tin của công dân như: chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin mà không có lý do chính đáng, không công khai thông tin theo quy định, cản trở quyền tiếp cận thông tin của công dân… Đây là biện pháp quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân

Luật Tiếp cận thông tin của Ấn Độ quy định: trường hợp quan chức thông tin công cộng đã từ chối yêu cầu cung cấp thông tin một cách vô lý, không đảm bảo việc cung cấp thông tin, từ chối yêu cầu cung cấp thông tin một cách thiếu trách nhiệm hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ, không chính xác hay sai lạc thì có thể bị phạt 250 ru-pi cho mỗi ngày trì hoãn cho đến khi việc cung cấp thông tin được hoàn tất; tuy nhiên số tiền phạt không được vượt quá 25 ngàn ru-pi Đây là biện pháp tác động về kinh tế để chủ thể

có ý thức chấp hành Luật Tiếp cận thông tin, tuy nhiên biện pháp phạt tiền không có tác dụng răn đe nhiều, do đó Điều 20 Luật về quyền được thông tin của Ấn Độ quy định thêm hình thức kỷ luật đối với hành vi vi phạm, cụ thể:

“Nếu Ủy ban thông tin trung ương hoặc Ủy ban thông tin của bang khi xem xét bất kỳ khiếu nại hay kiện tụng nào thấy rằng quan chức thông tin công cộng trung ương hoặc quan chức thông tin công cộng của bang đã không nhận yêu cầu cung cấp thông tin trong thời hạn quy định hoặc đã từ chối đáp ứng yêu cầu một cách thiếu trách nhiệm hoặc đã cung cấp các thông tin theo yêu cầu một cách không đầy đủ, không chính xác hay sai lạc thì phải khuyến nghị có hình thức kỷ luật với quan chức vi phạm theo như các quy tắc hành

25 Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 98

Trang 37

Việc quy định biện pháp xử lý vi phạm là một trong những cách thức bảo đảm thực hiện các quy định về quyền tiếp cận thông tin của công dân, mang tính răn đe, trừng phạt đối với người vi phạm Việc áp dụng biện pháp này góp phần ngăn ngừa, hạn chế tình trạng lợi dụng quyền tiếp cận thông tin

để gây cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, gây cản trở quyền tiếp cận thông tin của cá nhân khác hoặc dùng quyền tiếp cận thông tin gây tổn hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, gây mất trật tự an toàn xã hội

1.4.6 Quy định biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân

Hoạt động kiểm tra có phạm vi tương đối rộng, bao gồm kiểm tra chuyên môn, kỹ thuật (chủ thể kiểm tra là cơ quan, tổ chức nói chung) và kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật (chủ thể kiểm tra là cơ quan nhà nước) Hoạt động kiểm tra thường tiến hành đối với những vụ việc đơn giản, mang tính nội bộ hoặc giữa các cơ quan trong cùng hệ thống

So với hoạt động kiểm tra, hoạt động thanh tra mang tính chuyên ngành, phức tạp hơn, đòi hỏi trình tự, thủ tục chặt chẽ và có tính độc lập tương đối (độc lập về bộ máy, tổ chức, hoạt động giữa cơ quan thanh tra và cơ quan được thanh tra)

Hoạt động giám sát mang tính độc lập cao hơn hai hoạt động trên do cơ quan giám sát và cơ quan chịu sự giám sát không cùng hệ thống trực thuộc hàng dọc (giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, giám sát của Tòa án, giám sát của các tổ chức xã hội, cá nhân… đối với cơ quan hành chính nhà nước) Hoạt động giám sát có phạm vi rộng, nội dung phong phú, không đòi hỏi trình tự, thủ tục chặt chẽ như hoạt động thanh tra

Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân nhằm tìm ra những hạn chế, thiếu sót, từ đó có biện pháp khắc phục Nội dung chủ yếu của hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát là:

- Việc ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai, hướng dẫn thực hiện quy định pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân

- Việc công khai, minh bạch thông tin trong hoạt động của cơ quan, đơn vị

Trang 38

- Việc cung cấp thông tin cho công dân khi có yêu cầu

- Các vấn đề khác: hoạt động tuyên truyền, phổ biến; kiểm tra, giám sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm việc thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân

Biện pháp này góp phần ngăn ngừa, phát hiện và kịp thời xử lý những

vi phạm trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, bảo đảm

cơ quan hành chính nhà nước thực hiện quy định về quyền tiếp cận thông tin của công dân thường xuyên và nghiêm túc

1.5 Vai trò của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

1.5.1 Đối với các quyền công dân khác

Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với mỗi công dân, là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin Khi quyền tiếp cận thông tin của công dân được bảo đảm sẽ hỗ trợ, thúc đẩy việc thực hiện các quyền công dân khác về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội

Để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước, yêu cầu cơ quan nhà nước phải công khai, minh bạch hoạt động của mình, từ đó, công dân có thể tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giám sát bộ máy nhà nước và thực hiện các quyền chính trị, dân sự khác như: quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do đi lại, cư trú, quyền lao động, học tập Nếu quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước không được bảo đảm thì các quyền công dân khác cũng khó có thể thực hiện một cách đầy đủ Cụ thể, nếu cơ quan nhà nước không cung cấp thông tin về ngày bầu cử, danh sách ứng cử viên, trình tự, thủ tục bầu cử thì cử tri không thể thực hiện quyền bầu cử để chọn ra đại biểu đủ điều kiện, tiêu chuẩn thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước Ngoài ra, nếu cha mẹ không được biết về thủ tục đăng ký khai sinh cho con thì khi con sinh ra không có giấy khai sinh, sẽ không được đăng

ký hộ khẩu, chứng minh nhân dân , lớn lên không được đảm bảo quyền học tập, làm việc, kết hôn

1.5.2 Đối với nền kinh tế

Bên cạnh việc thúc đẩy thực hiện các quyền chính trị, dân sự, văn hóa,

xã hội khác, pháp luật về quyền tiếp cận thông tin còn mang lại lợi ích kinh tế

Trang 39

cho các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và nền kinh tế của quốc gia Cơ quan hành chính nhà nước là nơi nắm giữ rất nhiều thông tin, trong đó có các thông tin có thể gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân,

tổ chức như thông tin trong lĩnh vực đất đai, các dự án đầu tư, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thu hồi, giải tỏa Những thông tin này nếu không được công khai, minh bạch thì sẽ bị một số đối tượng lợi dụng để trục lợi Điển hình là những thông tin liên quan đến quy hoạch sử dụng đất, những dự án lớn khi được công bố thì đất đai xung quanh khu vực đó sẽ lên giá Nhiều đối tượng bằng cách này hay cách khác biết trước thông tin này, đã mua đất đai ở khu vực đó, đợi đến khi dự án được công bố, đất đai lên giá sẽ bán kiếm lời Như vậy, lợi nhuận đã rơi vào một số ít người mà họ biết thông tin do sự thiếu trách nhiệm của nhà nước, điều này tạo ra một sự bất bình đẳng và cạnh tranh không lành mạnh Ngược lại, khi Nhà nước công khai thông tin rộng rãi, mọi cá nhân, tổ chức đều biết thì họ có kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh lâu dài, ổn định và tránh được các rủi ro Ngoài ra, việc xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm thiểu rủi ro, tăng cường tính cạnh tranh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, ổn định và phát triển kinh tế

1.5.3 Đối với xã hội

Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin góp phần tích cực vào việc ngăn ngừa và giải quyết quyết một số vấn đề xã hội như: giảm tình trạng đói nghèo, lạc hậu, các tệ nạn xã hội, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường

Amartya Sen đã nói rằng một nền báo chí tự do và việc thực thi dân chủ góp phần to lớn vào việc phổ biến những thông tin có thể ảnh hưởng to lớn đến các chính sách ngăn chặn nạn đói (ví dụ, các thông tin về những tác động ban đầu của hạn hán và lũ lụt và của tính chất cũng như tác động của thất nghiệp )26 Người nghèo ở vùng sâu, vùng xa là những người được tiếp cận thông tin ít nhất; các quy định của pháp luật, các chương trình, chính sách của

cơ quan nhà nước về xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục đến với họ rất hạn chế Bên cạnh đó tình trạng thiếu công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước có thể dẫn đến tham nhũng mà người nghèo là những nạn nhân chịu ảnh hưởng sâu sắc và nặng nề nhất của tham nhũng Vì vậy, tình trạng thiếu thông

26 Amartya Sen (2002), Phát triển là quyền tự do, Nxb Thống kê, Hà Nội, Tr 213

Trang 40

tin dẫn đến người nghèo càng nghèo thêm còn người giàu càng giàu, dẫn đến phân hóa giàu nghèo sâu sắc, gây ra bất bình đẳng, thiếu công bằng trong xã hội

Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, các quy định của pháp luật và biện pháp xử lý đối với tệ nạn xã hội cũng là một biện pháp nâng cao ý thức pháp luật, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội Riêng trong lĩnh vực môi trường, hiện nay đã có Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư

pháp trong các vấn đề về môi trường Công ước quy định “Các công dân phải

được tiếp cận với thông tin có quyền được tham gia vào quá trình ra quyết định và tiếp cận với công lý trong những vấn đề về môi trường và xác nhận rằng trong vấn đề này, các công dân cần sự trợ giúp để thực thi các quyền của họ” Công ước được ban hành với mong muốn “thúc đẩy giáo dục môi trường để tăng cường sự hiểu biết về môi trường và phát triển bền vững, khuyến khích sự hiểu biết rộng rãi và sự tham gia của công chúng vào các

gia là thành viên của Công ước nội luật hóa quy định của Công ước vào pháp luật quốc gia, từ đó, thúc đẩy bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

1.5.4 Đối với hoạt động quản lý nhà nước

Trong quá trình quản lý nhà nước, các cơ quan nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, dự án, kế hoạch Những văn bản, quyết định này được ban hành dựa trên thực tiễn cũng như các báo cáo, kiến nghị của cơ quan nhà nước cấp dưới Do đó, nếu cơ quan nhà nước nhận được những thông tin không chính xác, không trung thực từ những báo cáo đã được “tô hồng” bởi cấp dưới của mình thì có thể ban hành những quyết định thiếu chính xác, không thực tế

Trong quá trình quản lý nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có thể đưa ra các quyết định, ban hành các văn bản không hợp lý gây khó khăn cho

cơ quan, tổ chức, cá nhân Để phát hiện và khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong hoạt động quản lý nhà nước thì cá nhân, tổ chức phải thực hiện tốt vai trò giám sát xã hội và phản biện xã hội của mình James Madison, “cha đẻ của

Hiến pháp Mỹ” đã viết: Nếu con người là những thiên thần thì không cần

27

Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 35.

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:07

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w