Quyền tiếp nhận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

Một phần của tài liệu Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước (Trang 25 - 29)

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

1.3. Quyền tiếp nhận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước

Quyền tiếp nhận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước là khả năng công dân nhận được những thông tin, tài liệu do cơ quan hành chính nhà nước tạo ra, nắm giữ trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

1.3.1. Chủ thể có quyền tiếp nhận thông tin trong quản lý nhà nước Chủ thể tiếp nhận thông tin trong quản lý nhà nước rất rộng, bao gồm cá nhân (công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch), cơ quan, tổ chức... Thông thường, pháp luật không quy định giới hạn cũng như điều kiện đối với chủ thể tiếp nhận thông tin. Ngược lại, trong quyền tìm kiếm thông

tin, Nhà nước có thể đặt ra giới hạn, điều kiện đối với chủ thể yêu cầu cung cấp thông tin như: người yêu cầu cung cấp thông tin phải là công dân; có liên quan đến thông tin yêu cầu cung cấp; trình bày mục đích yêu cầu cung cấp…

Trong quyền tiếp nhận thông tin, chủ thể tiếp nhận thông tin tương đối bị động và không đóng vai trò quan trọng vì dù họ có nhu cầu hay không thì cơ quan nhà nước vẫn phải công khai thông tin rộng rãi đến mọi chủ thể bằng những hình thức phù hợp.

1.3.2. Chủ thể có trách nhiệm công khai thông tin trong quản lý nhà nước

Chủ thể có trách nhiệm công khai thông tin trong quản lý nhà nước là cơ quan hành chính nhà nước đã tạo ra thông tin hoặc có được thông tin trong quá trình hoạt động của mình. Về nguyên tắc, tất cả các cơ quan hành chính nhà nước đều phải công khai thông tin, trừ một số trường hợp ngoại lệ liên quan đến thông tin mật, thông tin thuộc trường hợp miễn trừ. Điều 3, nguyên tắc công khai thông tin trong Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền của Hàn Quốc năm 1996 quy định: “Các cơ quan chính quyền phải cung cấp cho công chúng các thông tin thuộc quyền sở hữu và quản lý của cơ quan chính quyền theo các điều khoản của Luật này” 19. Luật cũng giải thích các cơ quan chính quyền bao gồm: cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, các cơ quan do chính phủ đầu tư.

Ngoài ra, pháp luật có thể quy định nghĩa vụ công khai thông tin của một cá nhân cụ thể (người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, người đại diện theo pháp luật hoặc người phát ngôn…) nhằm xác định trách nhiệm khi không thực hiện công bố, công khai thông tin đầy đủ.

1.3.3. Hình thức và thủ tục công khai thông tin trong quản lý nhà nước Hình thức công khai thông tin khá đa dạng, bao gồm: thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, đưa lên trang thông tin điện tử, báo, tạp chí, ấn phẩm, niêm yết tại trụ sở của cơ quan, đơn vị, thông báo trong các cuộc họp… Tại Nam Phi, pháp luật còn quy định hình thức công khai thông tin trên danh bạ điện thoại; ở Trung Quốc, chính quyền nhân dân các cấp phải lập ra những khu vực riêng trong cơ quan lưu trữ và thư viện công cộng để công chúng có thể sử dụng nhằm tiếp cận thông tin; tại Anh, luật yêu cầu cơ

19 Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông

tin, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.186.

quan công quyền đưa ra kế hoạch công bố và kế hoạch này phải được Ủy viên thông tin độc lập phê chuẩn; ở Hoa Kỳ, ngoài thông tin được đăng trên Công báo, pháp luật còn yêu cầu thông tin phải “có sẵn” dưới dạng điện tử và ghi vào danh lục hồ sơ lưu trữ20…

Các cơ quan hành chính nhà nước tạo ra hoặc nắm giữ thông tin có trách nhiệm công khai thông tin trong một khoảng thời gian nhất định ngay cả khi không có yêu cầu. Nếu kết thúc khoảng thời gian này mà cơ quan có trách nhiệm công khai thông tin không công khai thông tin hoặc công khai thông tin chậm trễ thì có thể bị khiếu nại hoặc chịu các hình thức xử lý kỷ luật. Pháp lệnh về công khai thông tin của Chính quyền của Trung Quốc quy định:

“Trách nhiệm của cơ quan nhà nước là phải công bố thông tin do mình tạo ra; cơ quan nhà nước đang lưu giữ thông tin thu thập từ công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác có trách nhiệm công bố các thông tin dạng này theo quy định của pháp luật… Thông tin của chính quyền nằm trong phạm vi cần được công bố phải được công bố trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày được lập ra hoặc được cập nhật”21. Bên cạnh việc công khai thông tin, các cơ quan Nhà nước còn phải thường xuyên cập nhật thông tin, đặc biệt là đối với những thông tin đã bị hủy bỏ hoặc sửa đổi. Luật về minh bạch và tiếp cận thông tin công của Peru năm 2003 quy định: “Trong trường hợp các quy định hiện hành nói rằng các thông tin cần phải được công bố theo quy trình 3 lần/năm, thông tin này sẽ được công bố trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn 3 tháng. Vì mục đích tương tự, thông tin từ hai giai đoạn trước cũng sẽ được công bố”22. Theo quy định này, thông tin sẽ được công bố theo từng giai đoạn, trong thời gian 30 ngày cuối cùng của giai đoạn đó và thông tin của hai giai đoạn trước cũng được công bố cùng để so sánh.

1.3.4. Phạm vi thông tin được công khai và những thông tin không thuộc trường hợp Nhà nước công bố công khai

- Thông tin được Nhà nước công bố công khai

20 http://www.vibonline.com.vn/Baiviet/1572/Phan-tich-so-sanh-phap-luat-ve-quyen-tiep-can-thong-tin-cua- mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi.aspx

21 Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.382.

22 Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.318.

Thông tin được Nhà nước công bố công khai rộng rãi thường là những thông tin có sẵn, do cơ quan nắm giữ hoặc tạo ra, có liên quan mật thiết đến quyền, lợi ích của công dân mà pháp luật quy định Nhà nước phải công bố công khai. Loại thông tin này bao gồm: thông tin có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân; thông tin về việc thành lập, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước; các thủ tục hành chính; chương trình, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế, sức khỏe, môi trường, việc làm; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và những thông tin khác cần có sự tham gia, đóng góp ý kiến của công dân.

Cách liệt kê những trường hợp phải công khai thông tin như trên có ưu điểm là rõ ràng, cụ thể, nếu thông tin thuộc một trong các trường hợp quy định thì cơ quan nhà nước bắt buộc phải công khai thông tin nhưng hạn chế của cách này là không thể liệt kê đầy đủ mọi trường hợp, cách này chỉ thích hợp đối với phạm vi nhỏ, hẹp, cụ thể. Một số nước không liệt kê những trường hợp phải công khai thông tin mà quy định những thông tin không công khai, trường hợp miễn trừ, các trường hợp còn lại là trường hợp bắt buộc phải công khai cho công chúng. Ưu điểm của cách này là quy định phạm vi công khai thông tin rộng nhưng hạn chế là không cụ thể, khó áp dụng, các cơ quan phải xem xét, cân nhắc trường hợp này có nên công khai không và công khai theo hình thức nào.

- Thông tin không thuộc trường hợp Nhà nước công bố công khai, bao gồm:

+ Thông tin thuộc bí mật nhà nước: đây là những thông tin mà pháp luật quy định không công khai đồng thời không cung cấp khi có yêu cầu.

Những thông tin này có thể quy định trực tiếp trong Luật Tiếp cận thông tin hoặc Luật về bí mật Nhà nước. Trường hợp xảy ra xung đột, Luật Tiếp cận thông tin yêu cầu phải công khai còn Luật về bí mật Nhà nước quy định không được công khai thì thông thường Luật về bí mật Nhà nước sẽ được ưu tiên áp dụng (Trung Quốc, Nga…), một số ít trường hợp (Nam Phi) quy định Luật Tiếp cận thông tin được ưu tiên hơn. Cụ thể, Luật Thúc đẩy tiếp cận thông tin Nam Phi quy định về việc áp dụng các văn bản pháp luật khác về cấm hoặc hạn chế việc tiết lộ thông tin như sau: “Luật này bãi bỏ bất kỳ quy định nào của các văn bản pháp luật khác trong đó cấm hoặc hạn chế việc

công bố một hồ sơ của một chủ thể công cộng hoặc tư nhân mà trái với các mục tiêu hoặc các quy định cụ thể của Luật này”23.

+ Thông tin được cung cấp theo yêu cầu hoặc thỏa thuận là những thông tin không thuộc trường hợp phải công bố công khai và khi công dân, tổ chức có yêu cầu thì cơ quan Nhà nước phải cung cấp. Những thông tin này thường gắn với quyền, lợi ích hợp pháp của một cá nhân, tổ chức cụ thể, không mang tính đại chúng, không có sẵn và công dân không thể tìm thấy dễ dàng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đối với loại thông tin này, công dân, tổ chức phải làm đơn yêu cầu theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và trả một khoản phí nhất định.

+ Thông tin được cung cấp hạn chế: đây là loại thông tin không phổ biến, chỉ một số nước cho phép tiếp cận loại thông tin này, đó là hồ sơ, thông tin của một cơ quan, tổ chức khác hoặc một chủ thể tư nhân.

Một phần của tài liệu Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước (Trang 25 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(112 trang)