1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài tại tỉnh luang nam tha, nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay

125 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của người dân và toàn xã hội, tuy nhiên đây là đề tài rất mới vì vậy các nghiên cứu

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

DAO SAYYATHONG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH LUANG NAM THA,

NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

Hà Nội, năm 2020

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

DAO SAYYATHONG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH LUANG NAM THA,

NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và rõ ràng Đề tài nghiên cứu một cách độc lập, không có sự sao chép kết quả của bất cứ đề tài nào đã có trong lĩnh vực này Lời cam đoan này của tôi là đúng sự thật và tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Ngày tháng năm 2020

Học viên

Dao SAYYATHONG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Quản lý công tại Học viện Hành chính Quốc gia, bên cạnh sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được sự động viên, hướng dẫn, giảng dạy và nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy giáo, Cô giáo, gia đình, bạn bè trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới Ban lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Sau đại học, các Khoa chuyên môn, quý thầy, cô cơ sở Học viện Hành chính Quốc gia

Tôi cảm ơn sự giúp đỡ của cơ quan tôi đang công tác, gia đình, bạn bè, tập thể lớp Cao học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học và luận văn

Đặc biệt tôi trân trọng biết ơn TS Nguyễn Viết Định, giáo viên hướng dẫn đã dành nhiều thời gian và trí lực trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn tất luận văn này

Xin trân trọng cám ơn!

Tác giả luận văn

Dao SAYYATHONG

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Quy mô và nguồn lực, độ tăng trưởng GDP của tỉnh Laung Nam Tha 37 Bảng 2.2: Thống kê dân số tại tỉnh Luang Nam Tha năm 2020 38 Bảng 2.3: Thực trạng lao động nước ngoài tại tỉnh giai đoạn 2016-2020 39 Bảng 2.4: Thống kê số lao động nước ngoài tại tỉnh Luang Nam Tha theo giới tính giai đoạn 2016 – 2020 40 Bảng 2.5 Thống kê số lao động nước ngoài tại tỉnh Luang Nam Tha theo độ tuổi giai đoạn 2016– 2020 41 Bảng 2.6: Thống kê số lao động nước ngoài tại tỉnh Luang Nam Tha theo quốc tịch giai đoạn 2016-2020 42 Bảng 2.7:Thống kê số lao động nước ngoài tại tỉnh Luang Nam Tha theo ngành nghề giai đoạn 2016– 2020 43 Bảng 2.8: Thu nhập trung bình/tháng của người lao động nước ngoài tại Luang Nam Tha theo các nhóm ngành nghề 43 Bảng 2.9: Tình hình số lao động nước ngoài ở tỉnh Luang Nam Tha giai đoạn

2016 - 2020 44 Bảng 2.10 Thống kê cấp thẻ lao động nước ngoài tỉnh Luang Nam Tha……60 Bảng 2.11 Thống kê cấp thẻ miễn phí cho lao động ngoài tỉnh Luang Nam Tha……… 61

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI 7

1.1 Khái niệm cơ bản liên quan đề tài nghiên cứu 7

1.2 Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài 13

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về lao động nước ngoài ở Việt Nam 28

Tiểu kết chương1 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LUANG NAM THA CHDCND LÀO 34

2.1 Tổng quan về tỉnh Luang nam tha CHDCND Lào 34

2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về lao động nước ngoài tại tỉnh Luang Nam Tha, nước CHDCND Lào 39

2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh Luang Nam Tha 73

Tiểu kết chương 2 83

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI Ở TỈNH LUANG NAM THA, NƯỚC CHDCND LÀO 84

3.1 Quan điểm của Đảng nhân dân cách mạng Lào về quản lý lao động nước ngoài 84

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài ở tỉnh Luang Nam Tha 86

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Cụm từ đầy đủ

CHDCND : Cộng hoà Dân chủ Nhân dân

QLNN : Quản lý nhà nước

GNI : Thu nhập quốc gia

UBND : Ủy ban nhân dân

LĐNN : Lao động nước ngoài

WTO : Tổ chức thương mại Thế giới

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

LĐ : Lao động

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

HĐND : Hội đồng nhân dân

NNN : Người nước ngoài

GPLĐ : Giấy phép lao động

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Qua gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng nhân dân Cách mạng Lào khởi xướng và lãnh đạo, bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thức VI của Đảng, đã mở đường cho một thời kỳ phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và mở cửa, hội nhập với thế giới Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại nhiều cơ hội về việc làm, đặc biệt là việc làm theo hướng công nghiệp với hàm lượng vốn, tri thức cao Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng lao động người nước ngoài còn nhiều vấn đề tồn tại trong quản

lý nhà nước cần phải được bổ sung đó là các cơ sở pháp lý còn thiếu; các rào cản pháp lý về di chuyển lao động nước ngoài đã được nới lỏng, các quan hệ kinh tế, đối ngoại lao động được thiết lập

Do đó, cùng với việc thúc đẩy kêu gội đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài và thương mại quốc tế, thực trạng dòng lao động nước ngoài tại Lào đến từ nhiều châu lục khác nhau cũng tăng lên Lực lượng này đã bổ sung cho thị trường lao động trong nước khi nguồn nhân lực nội địa chưa đáp ứng được Lao động nước ngoài đã đóng góp vào sự phát triển và tăng trưởng kinh

tế đất nước tuy nhiên, lực lượng này cũng đã mang đến không ít những hệ lụy trong quản lý nhà nước về quản lý thị trường lao động, quản lý an ninh, trật tự

xã hội

Trong những năm gần đây, quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài đã được Đảng và Nhà nước CHDCND Lào hết sức quan tâm nhằm thực hiện đúng các cam kết trên diễn đàn chung thế giới, đồng thời đảm bảo sự phát triển lành mạnh, cạnh tranh, bình đẳng và bảo vệ lao động trong nước Tuy vậy, vẫn còn một số hạn chế nhất định, trong đó vừa chưa định hướng quy hoạch chiến lược phát triển vừa chưa quản lý, kiểm soát chặt chẽ

Trang 9

được người lao động nước ngoài di chuyển vào nước nên tình trạng lao động không xin giấy phép, không gia hạn giấy phép, làm việc không đúng trình độ

đã được cấp phép; vi phạm an ninh trật tự ngày càng gia tăng Chính vì lẽ đó đòi hỏi cần phải có sự tác động của quản lý nhà nước để phát triển lành mạnh thị trường lao động và an ninh việc làm nội địa thúc đẩy sự tăng trưởng kinh

tế, ổn định chính trị xã hội

Luang Nam Tha là một tỉnh nằm ở phía Bắc của nước CHDCND Lào

có vị trí địa lý thuận lợi, nhiều tiềm năng phát triển kinh tế; nhiều dự án đầu

tư đã được triển khai trên địa bàn và kéo theo các lao động người nước ngoài đến làm việc trong các lĩnh vực và kinh doanh, số liệu thống kê cho thấy từ năm 2016 đến năm 2020 có gần 19.000 lao động người nước ngoài đến cư trú trên địa bàn tỉnh [52; 53; 54; 55]; Với lực lượng lao động người nước ngoài này đã làm ảnh hưởng lớn công ăn việc làm ở địa phương Trước yêu cầu đảm bảo cân đối cung cầu về việc làm trong tỉnh và đảm bảo các vấn đề về an ninh, trật tự Vì vậy công tác quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài cũng đang đặt ra cho chính quyền nhiều vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết

trong thực tế Vì lý do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối với lao

động nước ngoài tại tỉnh Luang Nam Tha nước CHDCND Lào hiện nay” làm

luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sỹ quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về cơ sở thực tiễn của các nước trong quản lý đối với lao động nước ngoài có các công trình như:

Sách tham khảo: “Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á

kinh nghiệm và bài học”, Nguyễn Thị Hồng Bích, 2007 [30].Tài liệu này trình

bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về xuất khẩu lao động ở Đông Nam Á Trong đó có những vấn đề lý luận về sự dịch chuyển lao động quốc tế như đề cập đến khái niệm thị trường lao động quốc tế, tình hình xuất khẩu lao động

Trang 10

trên thế giới: nguyên nhân, tính chất, đặc điểm và các xu hướng xuất khẩu lao động hiện nay (thay đổi về sự dịch chuyển lao động di cư, sự bùng phát di cư bất hợp pháp, nữ hóa di cư…) Tài liệu đã tiến hành khảo sát thực tiễn về tình hình xuất khẩu lao động ở một số nước Đông Nam Á (Malaysia, Philippine, Indonesia, Thái Lan) cụ thể là: chính sách xuất khẩu lao động (cơ sở và quá trình hình thành); công tác tổ chức và xuất khẩu lao động (hệ thống tuyển mộ, công tác đào tạo, chuẩn bị cho nguồn nhân lực, vai trò quản lý của Nhà nước, số lượng xuất khẩu và những thị trường chính…); những vấn đề phát sinh và cách giải quyết Trên cơ sở đó, các tác giả đã phân tích thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam, chủ trương và đề cập đến những giải pháp hiệu quả cho hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam

Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của người dân và toàn xã hội, tuy nhiên đây là đề tài rất mới vì vậy các nghiên cứu có liên quan chỉ mới dừng lại ở những bài viết trên các báo, tạp chí, các chia sẻ trên diễn đàn trong đó ở Việt Nam bao gồm các nghiên cứu sau đây:

- Tác giả Cao Nhất Linh (2009), “Bảo vệ quyền, lợi ích của người lao

động nước ngoài ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 142; Tác giả

đã chỉ rõ các quyền và lợi ích của người lao động nước ngoài đang làm việc

và lao động ở Việt Nam [3]

- Tác giả Cao Nhất Linh (2007), “Lao động nước ngoài tại Việt Nam

trong thời kỳ hội nhập, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 4 [4]

- Tác giả Phan Huy Đường – Tô Hiến với “Lao động nước ngoài ở Việt

Nam: Thực trạng và giải pháp ”, Tạp chí Lao động và hội, số 402, năm 2011;

Tác giả đã chỉ rõ thực trạng và các giải pháp để nâng cao hoạt động quản lý đối với lao động nước ngoài ở Việt Nam [17]

- Tác giả Phan Huy Đường – Đỗ Thị Dung với “Một số vấn đề đặt ra

trong thực hiện các quy định pháp luật về lao động nước ngoài ở Việt Nam và

Trang 11

hướng hoàn thiện”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 403, năm 2011; Tác giả

đã đặt ra một số vấn đề và hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về lao động nước ngoài ở Việt Nam [19]

- Tác giả Phan Huy Đường – Đỗ Thị Mỹ Dung với “Giải pháp tăng

cường quản lý nhà nước về lao động nước ngoài tại Việt Nam” Tạp chí Lao

động và Xã hội, số 407, năm 2011 [20] Tác giả đã đề xuất một số giải pháp để tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về lao động nước ngoài tại Việt Nam

Còn tại CHDCND Lào thì việc nghiên cứu về vấn đề này hiện nay còn rất nhiều hạn chế đặc biệt ở tỉnh Luang Nam Tha chưa có công trình nào đề cập tới hoạt động quản lý người lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh Do vậy, có thể khẳng định đề tài mà tác giả lựa chọn không có sự trùng lắp về nội dung và đối tượng nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn hoạt động quản lý nhà nước đối với lao động người nước ngoài trên địa bàn tỉnh Luang

Nam Tha trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn có những nhiệm vụ

cụ thể sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn cơ bản quản lý nhà nước đối

với lao động nước ngoài;

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với lao

động nước ngoài tại tỉnh Luang Nam Tha, nước CHDCND Lào;

- Đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại tỉnh Luang Nam Tha

nước CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý nhà nước đối

với lao động nước ngoài tại tỉnh Luang Nam Tha, nước CHDCND Lào

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Từ năm 2016 – 2020 và giai đoạn đến năm 2025;

- Về không gian: Tỉnh Luang Nam Tha, nước CHDCND Lào;

- Về nội dung: Nghiên cứu quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh Luang Nam Tha

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin; tư tưởng Cayxỏn Phômvihản , quan điểm của Đảng và nhà nước về hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài

5.2 Các phương pháp cụ thể

Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp được sử dụng nhằm phân tích các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp cung cấp những luận

cứ, luận điểm cả về mặt lý luận và thực tiễn Bên cạnh việc sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp luận văn cũng sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp so sánh, đối chiếu; Phương pháp tổng hợp,…

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Đóng góp về lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cho việc quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài, đồng thời làm tài liệu tham khảo trong hoạt động QLNN đối với người lao động ở CHDCND Lào nói chung

Trang 13

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài để đáp ứng yêu cầu hiện nay tại tỉnh

Luang Nam Tha nói riêng và CHDCND Lào nói chung;

- Luận văn là một công trình nghiên cứu lý luận với tình hình thực tiễn của tỉnh Luang Nam Tha nên có thể làm tài liệu tham khảo để hoạch định những chủ trương, chính sách quản lý đối với lao động nước ngoài ở tỉnh trong những năm tới

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh Luang Nam Tha nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG

NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm cơ bản liên quan đề tài nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm lao động, lao động nước ngoài

Theo Từ điển Tiếng Việt, lao động là “hành động của con người diễn

ra giữa người với tự nhiên” Trong quá trình lao động con người vận dụng

sức lực của mình tác động vào giới tự nhiên, biến đổi những vật chất đó làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống của mình [28,tr.32]

Hiện nay, khái niệm lao động đã được mở rộng, theo giáo trình Quản trị nguồn nhân lực xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia (2006), lao động được

định nghĩa là “hoạt động có mục đích, có ích cho con người tác động lên giới

tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và cho xã hội Lao động được coi là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người, làm cho con người ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn [7,tr.42] Ở phạm vi

của luận văn, khái niệm lao động được nghiên cứu dưới giác độ là danh từ để chỉ người lao động Người lao động là những người trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định Họ có cam kết lao động với chủ sử dụng lao động, nhận yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự quản lý của chủ lao động trong thời gian làm việc cam kết Kết quả lao động của họ là sản phẩm dành cho người khác sử dụng và được trao đổi trên thị trường hàng hóa,sản phẩm chân tay thì giá trị trao đổi thấp, sản phẩm trí óc thì giá trị trao đổi cao hơn

Người lao động hiểu theo nghĩa rộng là người làm ăn công lương Công việc của người lao động là theo thỏa thuận, xác lập giữa người lao động và chủ thuê lao động Thông qua kết quả lao động như sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần cung cấp mà người lao động được hưởng lương từ người chủ

Trang 15

thuê lao động Ở nghĩa hẹp người lao động là người làm các việc mang tính thể chất, thường trong nông nghiệp hoặc tiểu thủ nông nghiệp (đây là cách hiểu chịu sự ảnh hưởng của quan niệm cũ khi phân biệt người lao động với người trí thức)

Dưới góc độ kinh tế học, người lao động là người trực tiếp cung cấp sức lao động – một dạng dịch vụ, hàng hóa cơ bản của nền kinh tế Người đang lao động là những người có cam kết lao động, sản phẩm lao động đối với tổ chức và người khác

Theo Luật Lao động Lào sửa đổi, bổ sung năm 2013 “người lao động

là người đủ độ tuổi lao động, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” [50]

Theo Điều 2 khoản 9 Luật Lao động Lào được sửa đổi năm 2013 thì khái niệm về người lao động nước ngoài được quy định như sau: “ Lao động nước ngoài là người nước ngoài đã và đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp và các nơi khác ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” [50]

Người sử dụng lao động nước ngoài không những là các tổ chức cá nhân người Lào tham gia hoạt động kinh doanh sản xuất mà còn là các tổ chức cá nhân người nước ngoài kinh doanh, sản xuất và dịch vụ, đầu tư theo quy định của pháp luật Lào

- Theo Điều 3 Quyết định số 5418/QĐ, Bộ trưởng Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội về việc cho phép nhập khẩu lao động nước ngoài làm việc ở Lào thì người lao động nước ngoài là người nước ngoài đã được sự cho phép theo quy định của luật lao động và quy chế của nhà nước vào làm việc trong các đơn vị lao động và các dự án tại Lào được nhận lương tháng và công lao động.Người nhập cảnh vào để du lịch, đi thăm hỏi, buôn bán trái với quy định của pháp luật hoặc có mục đích khác sẽ không phải là lao động nước ngoài [34,tr.28]

Trang 16

- Theo Điều 4 Quyết định số 5418/LĐ, Bộ trưởng Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội về việc cho phép nhập khẩu lao động nước ngoài làm việc

ở Lào thì điều kiện để cấp phép nhập khẩu và sử dụng lao động nước ngoài như sau:

+ Phải là cá nhân hoặc tổ chức, tính cả người Lào và người nước ngoài

là đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án viện trợ có quyền xin nhập khẩu và sử dụng lao động nước ngoài Cá nhân được giao quyền đi xin nhập khẩu và sử dụng lao động nước ngoài phải là cán bộ của các đơn vị lao động hoặc các dự án đó

+ Là các đơn vị lao động, các dự án đã được cấp phép tiến hành kinh doanh đúng theo quy định của pháp luật, hàng tháng phải có kế hoạch nhập khẩu lao động nước ngoài và phải được Bộ Lao động và phúc lợi xã hội cấp

cô ta nhập khẩu [34,tr.29]

- Theo Điều 5 Quyết định số 5418/QĐ, Bộ trưởng Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội về việc cho phép nhập khẩu lao động nước ngoài làm việc ở Lào thì Điều kiện lao động nước ngoài làm việc tại Lào như sau:

+ Là lao động có tay nghề, có trình độ chuyên môn phù hợp với chức

vụ và nhu cầu cần thiết

+ Có lý lịch tốt, rõ ràng, không giấu diếm tiền án, tiền sự để vào làm việc ở Lào

+ Phải có độ tuổi từ 20 tuổi trở lên

+ Phải truyền đạt kiến thức kỹ thuật chuyên môn cho lao động Lào + Phải chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật và phong tục tập quán của Lào

+ Có sức khỏe tốt, không có bệnh tật [34,tr.29]

- Theo quy định của pháp luật nước CHDCND Lào, việc xin cấp cô ta nhập khẩu lao động nước ngoài của các đơn vị lao động như sau:

Trang 17

+ Đơn xin cấp cô ta của đơn vị lao động

+ Kế hoạch sử dụng người lao động nước ngoài đề nghị đối với Cục phát triển tay nghề lao động và tìm kiếm việc làm Nếu sử dụng lao động ở tỉnh phải có ý kiến của Sở Lao động và phúc lợi xã hội tỉnh

+ Giấy phép kinh doanh hoặc hợp đồng nhận thầu dự án có sự chứng nhận của chủ dự án liên quan (nếu có)

+ Bản sao giấy phép đầu tư

+ Bản sao giấy phép thành lập nhà máy hoặc công ty

+ Bản sao giấy đăng ký thuế

Đơn vị lao động và các dự án phải nhập khẩu và sử dụng lao động nước ngoài vào trong các vị trí mà lao động Lào không thể đảm nhận được Tuy nhiên phải thực hiện theo cô ta đã được Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội cấp phép theo tỷ lệ không quá 20% đối với lao động chân tay và 30% đối với lao động trí tuệ trong tổng số lao động ở trong đơn vị lao động

Việc sử dụng lao động nước ngoài phải có kế hoạch truyền đạt kiến thức về lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật cho lao động Lào từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc hợp đồng để lao động Lào có thể thay thế các công việc của lao động người nước ngoài

- Các bước xin nhập khẩu và đăng ký lao động nước ngoài thực hiện như sau:

+ Xin nhập khẩu lao động nước ngoài từ Bộ Lao động và Phúc lợi

Trang 18

+ Đăng ký và xin cấp thẻ lao động với Bộ Lao động và phúc lợi xã hội hoặc Sở Lao động và phúc lợi xã hội tỉnh và thành phố

+ Đăng ký và xin cấp thẻ cư trú tạm thời với Cục quản lý người nước ngoài/Bộ Công an

+ Trình kế hoạch về nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của các dự

án đầu tư với Bộ Kế hoạch và đầu tư

- Việc xin phép nhập khẩu lao động nước ngoài bao gồm các văn bản sau: + Giấy phép cấp côta của Cục Phát triển tay nghề lao động và tìm kiếm việc làm

+ Đơn xin nhập khẩu lao động nước ngoài

+ Danh sách người lao động nước ngoài

+ Giấy bảo lãnh của người sử dụng lao động

+ Hợp đồng lao động

+ Lý lịch của người lao động nước ngoài

+ Giấy chứng nhận sức khỏe của lao động nước ngoài

+ Bản sao hộ chiếu (Passport)

+ 4 ảnh 3x4

Sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại nước CHDCND Lào là hành

vi của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu khai thác sức lao động của công dân nước ngoài làm việc tại nước CHDCND Lào tuân theo các điều kiện của pháp luật nước CHDCND Lào và các điều ước quốc tế [34,tr.31]

1.1.2 Đặc điểm của lao động nước ngoài

Lao động người nước ngoài có một số đặc điểm cơ bản sau:

Đặc điểm đầu tiên có thể nhận thấy người nước ngoài là người không

có quốc tịch nước CHDCND Lào Họ có thể mang một hay nhiều quốc tịch nước ngoài hoặc không có quốc tịch Quốc tịch là cơ sở pháp lý để xác minh

Trang 19

một người có phải là công dân của nước sở tại Quyền và nghĩa vụ của công dân nước sở tại với người nước ngoài không giống nhau Quốc tịch là căn cứ

để người nước ngoài hưởng những quy chế pháp lý riêng, mặc dù về nguyên tắc, họ được hưởng quy chế “đãi ngộ như công dân” nhưng trong một số lĩnh vực, do không phải công dân nước Lào nên người nước ngoài không có quyền thực hiện (ví dụ: quyền bầu cử và ứng cử,…)

Đặc điểm thứ hai chính là lao động nước ngoài mang màu sắc văn hóa dân tộc, ngôn ngữ, lối sống … của các quốc gia khác nhau, chính điều đó đòi hỏi trong công tác quản lý nhà nước về lao động nước ngoài cần quan tâm đến khía cạnh này để quản lý một cách hiệu quả

Đặc điểm thứ ba là đối tượng người lao động nước ngoài có độ tuổi trung bình còn trẻ, trình độ chuyên môn nhìn chung cao hơn, nhưng không đồng đều Do nhu cầu từng ngành nghề khác nhau nên trình độ của người lao động nước ngoài có những đặc điểm khác nhau

1.1.3 Vai trò của lao động nước ngoài

Một là, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh Là nước đang phát triển, Lào đứng trước thực tế là thiếu nhân lực có trình độ cao trong một số ngành kinh tế quốc dân Đặc biệt là nhóm kỹ thuật viên trong một số ngành kinh tế kỹ thuật, và quản trị viên cao cấp ở cấp độ doanh nghiệp cũng như cấp ngành thiếu hụt nghiêm trọng Lào trở thành thành viên chính thức của WTO tạo điều kiện cho lao động nước nước ngoài đến Lào làm việc đã góp phần bù đắp thiếu hụt nói trên Mặt khác, với nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội và do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với mức độ cao

Hai là, tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài vào nước CHDCND Lào Các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với việc

Trang 20

đưa vốn và công nghệ cao vào đây, họ có nhu cầu sử dụng lao động với trình độ tương ứng Là thành viên WTO, nguồn nhân lực trình độ cao từ nước ngoài được tự do đến làm việc sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu

tư nước ngoài trong việc tuyển dụng lao động trình độ cao Đây cũng chính

là việc tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng

Ba là, tạo môi trường cạnh tranh giữa lao động Lào với lao động nước ngoài Trong điều kiện thị trường lao động mới hình thành và phát triển, lao động nước ngoài đến nước CHDCND Lào làm việc sẽ tạo ra nguồn cung lao động cho thị trường Chính điều này đã thúc đẩy lao động cạnh tranh trên thị trường góp phần nâng cao chất lượng lao động Thông qua cạnh tranh, người lao động phải tự mình nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp và ngoại ngữ Kết quả là làm cho chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao

Bốn là, góp phần đào tạo nhân lực tại chỗ theo tương tác thẩm thấu, trực quan Khi người lao động nước ngoài làm việc cùng với lao động nước CHDCND Lào, thông qua tiếp xúc hàng ngày, người lao động nước CHDCND Lào có thể học tập trực tiếp về ngoại ngữ, phong cách, kỹ thuật, kỹ xảo nhằm tự hoàn thiện và nâng cao trình độ của mình

1.2 Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài

Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học bàn về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội

Trang 21

Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý

Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài là việc nhà nước xác định mục tiêu và bằng pháp quyền, được thể hiện thành văn bản nhằm tác động có

tổ chức lên các quan hệ và hoạt động của lao động nước ngoài nhằm khai thác

và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lao động này phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Về bản chất, quản lý lao động nước ngoài có nguồn gốc từ quản lý, quản lý lao động Trong đó, khái niệm quản lý có phạm vi rộng nhất còn quản

lý lao động nước ngoài lại là khái niệm có phạm vi hơn cả Nếu quản lý là sự

tổ chức, điều khiển hoạt động chung, quản lý lao động là quản lý tất cả lực lượng lao động trong xã hội, quản lý tư liệu lao động thì quản lý lao động nước ngoài là sự quản lý riêng một số lượng người lao động - những người nước ngoài đi làm việc, tạo ra thu nhập và tạm trú có thời hạn ở Lào.Như vậy,

từ quản lý, quản lý lao động đến quản lý lao động nước ngoài đối tượng quản

lý đã được thu hẹp dần vào một phạm vi nhất định

Dưới góc độ pháp lý, quản lý lao động nước ngoài không đơn thuần là một hiện tượng kinh tế - xã hội nữa, mà đã được thể chế thành một chế định

Trang 22

pháp luật độc lập, bao gồm một hệ thống các quy định được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật, từ Bộ Luật lao động đến các Nghị định, Thông tư và các Hiệp định hợp tác lao động giữa Lào với các nước đối tác.Nhà nước có vai trò là người tạo khung pháp lý và môi trường bình đẳng cho các chủ thể tham gia thị trường lao động hợp tác và phát huy tốt năng lực của mình, đồng thời Nhà nước còn trực tiếp đóng vai trò tổ chức để thị trường lao động phát triển Quản lý nhà nước về lao động có thể khái quát thành các nội dung cơ bản, bao gồm: Xây dựng chiến lược mục tiêu quản lý nhà nước về lao động nước ngoài; Ban hành hệ thống pháp luật, chính sách quản lý lao động nước ngoài phù hợp với các quy định của quốc tế; Tổ chức thực hiện chiến lược mục tiêu, pháp luật, chính sách quản lý lao động nước ngoài; Kiểmtra, giám sát thực hiện chính sách Nhà nước đối với lao động nước ngoài

Đối tượng của quản lý nhà nước về lao động nước ngoài là toàn bộ các chủ thể: nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức có người lao động nước ngoài làm việc và cá nhân người lao động nước người, cùng với các quan hệ giữa các chủ thể đó

1.2.2 Đặc điểm quản lý lao động nước ngoài

Lao động nước ngoài là một đối tượng đặc biệt Do đó quản lý lao động nước ngoài có những đặc điểm riêng, bao gồm:

Thứ nhất quản lý lao động nước ngoài là một quá trình gắn bó chặt chẽ với việc bảo vệ quyền con người và có tính quốc tế sâu sắc

Tại phần viết của mình trong cuốn chuyên khảo: “Bảo đảm quyền con

người trong pháp luật lao động Việt Nam”, PGS TS Phạm Công Trứ tóm

lược rằng: “Về cơ bản, có thể hiểu các quyền con người trong lao động là những quyền con người liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng” Nếu như hiểu

Trang 23

mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động bao gồm các nội dung liên quan tới điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động thì có thể nói vắn tắt rằng quản lý lao động nước ngoài làm việc tại nước sở tại là quá trình tác động của chủ thể quản lý lên các điều kiện lao động và sử dụng lao động liên quan tới vấn đề người lao động mà những người này không phải là công dân của nước sở tại Như vậy quản lý lao động nước ngoài không thể không liên quan tới mối quan hệ quốc tế và việc bảo vệ quyền con người

Quyền con người có đặc tính “cơ bản”, “tuyệt đối” và “phổ biến” Theo PGS.TS Ngô Huy Cương; đặc tính “cơ bản” thể hiện ở chỗ các quyền đó không thể chuyển nhượng được, dù chúng có thể bị từ chối hay bị vi phạm; đặc tính “tuyệt đối” thể hiện ở chỗ các quyền này là nền tảng căn bản nhất cho đời sống của con người mà không thể bị hạn chế hay giảm bớt; và đặc tính

“phổ biến”thể hiện ở chỗ mỗi người đều có quyền như nhau ở mọi nơi, mọi lúc không kể chủng tộc, nòi giống giới tính, quốc tịch hay địa vị xã hội… Quyền lao động là một quyền con người bởi lao động không chỉ là một phương thức tạo ra loài người, mà còn là phương thức giúp con người tồn tại

và phát triển Vì vậy Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, Công ước

về các quyền dân sự và chính trị, và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đều nói tới quyền được làm việc và các quyền lao động khác Với các đặc tính như đã phân tích ở trên, việc từ chối lao động nước ngoài và phân biệt đối xử trong quan hệ lao động là đi ngược lại xu thế của thời đại là toàn cầu hóa và bảo vệ quyền con người

Đây là đặc điểm quan trọng không chỉ liên quan tới thiết kế chính sách, thiết kế lập cơ chế quản lý, xây dựng pháp luật về quản lý lao động nước ngoài mà còn liên quan tới các tác nghiệp quản lý cụ thể

Thứ hai quản lý lao động nước ngoài tại nước CHDCND Lào là một quá trình liên quan tới nhiều ngành, tất cả địa phương và nhiều quan hệ lao động

Trang 24

Để bảo đảm cho một người lao động nước ngoài vào làm việc tại một nước, có nhiều vấn đề quản lý sau phải được đặt ra như: nhập cảnh, xuất cảnh,

cư trú, cấp phép lao động, điều kiện lao động và sử dụng lao động, việc làm, giáo dục, y tế, công đoàn, bảo hiểm xã hội, an ninh, trật tự… Người lao động nước ngoài có thể làm việc, cư trú, đi lại nghỉ ngơi ở tất cả các địa phương và

họ có thể tham dự vào nhiều quan hệ lao động khác nhau không đơn giản hay lao động đòi hỏi trình độ cao… Vì vậy chủ thể quản lý lao động nước ngoài làm việc tại nước sở tại bao gồm nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước và tất

cả các chính quyền địa phương, nhiều tổ chức cung cấp hàng hóa công cộng khác nhau như các tổ chức chính trị - xã hội… Các phương thức quản lý cũng khác nhau tùy theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan đơn vị,

tổ chức

1.2.3 Sự cần thiết và các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về lao động nước ngoài

1.2.3.1 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về lao động nước ngoài

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đang trên đường cùng ASEAN xây dựng một cộng đồng kinh

tế, chính trị, xã hội chung thì việc dần dần phải loại bỏ những rào cản, tiến tới

mở cửa thị trường lao động là xu hướng không thể tránh khỏi Lao động nước ngoài vào làm việc tại CHDCND Lào cũng tồn tại nhiều cơ hội và thách thức.Trước hết là những cơ hội mà lực lượng lao động này mang lại:

- Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài, nhất là lao động chất lượng cao làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, các ngành nghề đặc thù … có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp, trong việc áp dụng và chuyển giao những quy trình công nghệ mới cho nước sở tại Trong khi nguồn nhân lực trong nước chưa đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, quản lý kinh tế, điều hành doanh nghiệp trong cơ chế

Trang 25

cạnh tranh khốc liệt thì vai trò của lao động nước ngoài càng có ý nghĩa trong việc hình thành và phát triển các ngành nghề mới, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế chung; đẩy nhanh thời gian triển khai và đưa vào sử dụng các công trình, dự án; rút ngắn thời gian đào tạo và áp dụng công nghệ mới; tiết kiệm chi phí trong việc nắm bắt nhiều tinh hoa khoa học kỹ thuật của các nước khác Như vậy lao động nước ngoài, nhất là lao động chất lượng cao đã tác động tích cực, trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

- Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài là tạo môi trường cạnh tranh giữa lao động Lào với lao động nước ngoài

- Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài góp phần đào tạo lao động tại chỗ theo hướng tương tác thẩm thấu

Trong quá trình làm việc, người lao động trực tiếp sử dụng kỹ thuật và công nghệ để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ Theo quy luật nhận thức, người lao động bản xứ sẽ bắt chước để làm theo, sau đó là cải tiến cách làm và sáng tạo ra cái mới hiệu quả hơn Thực tế đã cho thấy, lao động trong nước sau một thời gian làm việc với các chuyên gia, người lao động có trình độ họ đã tích lũy được những tri thức về kỹ thuật, công nghệ được chuyển giao và áp dụng thành công vào sản xuất kinh doanh của họ Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng sử dụng khoa học và công nghệ tiên tiến

- Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài góp phần tăng cường mối quan hệ hợp tác, hội nhập quốc tế giữa các quốc gia, góp phần đẩy mạnh đầu tư và mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ giữa các nước Và ở một khía cạnh nào đó, lao động nước ngoài làm gia tăng tính thẩm thấu văn hóa, làm tăng năng suất lao động

- Bên cạnh những cơ hội lao động nước ngoài vào làm việc tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cũng kéo theo nhiều tác động tiêu cực, nhiều thách thức đặc biệt là lực lượng lao động bất hợp pháp Một trong những vấn đề nổi

Trang 26

cộm trong những năm gần đây và đặc biệt thời điểm hiện tại là tình hình sử dụng bất hợp pháp lao động nước ngoài tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Hiện tượng này có xu hướng gia tăng, vượt ngoài tầm kiểm soát của các

cơ quan quản lý nhà nước Điều này không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người lao động tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào mà còn

là một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội phát triển [1,tr.2]

Thực tiễn cho thấy lao động nước ngoài bất hợp pháp làm việc tại Lào

đã gây ra rất nhiều hệ lụy Trước tiên lực lượng lao động này đã tước đi cơ hội việc làm của lao động Lào, đại đa số lực lượng lao động trái phép này chỉ làm những công việc đơn giản hoặc những công việc mà lao động Lào hoàn toàn có thể đảm đương được Chính điều này làm giảm thu nhập thuần trong tổng thu nhập quốc gia Người lao động nước ngoài đến làm việc họ có thu nhập và được chuyển về nước phần thu nhập này Chính điều này đã làm giảm thu nhập thuần trong tổng thu nhập quốc gia, kết quả là làm giảm tổng thu nhập quốc gia tiếp nhận Thêm nữa, tình trạng này có thể tạo ra làn sóng nhập cư, định cư “lậu” khó kiểm soát gây ra những vấn đề nan giải về xã hội, văn hóa thậm chí là an ninh

Mặt khác, lao động nước ngoài vào làm việc tại Luang Nam Tha đến

từ các nước khác nhau, có văn hóa, phong tục tập quán khác nhau, đặc biệt

là khác với văn hóa, phong tục tập quán của nước bản địa Lao động nước ngoài khó hòa nhập với đời sống xã hội nước sở tại do khác biệt về văn hóa, lối sống và tôn giáo Đời sống tinh thần của mỗi người gắn chặt với truyền thống văn hóa, đạo đức và tín ngưỡng của mỗi quốc gia, dân tộc Trong thời đại ngày nay, sự khác biệt về văn hóa, đạo đức, lối sống và tôn giáo có thể tạo nên các xung đột của từng cá nhân người lao động với đời sống tính thần của xã hội nước sở tại lao động nước ngoài bất hợp pháp du nhập lối sống và văn hóa ngoại lai không phù hợp với nền văn hóa của nước Cộng hòa dân

Trang 27

chủ nhân dân Lào, làm sai lệch các chuẩn mực đạo đức, văn hóa của nước Lào Những lối sống, văn hóa độc hại không phù hợp với bản sắc văn hóa của nước Lào đã phần nào ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của người dân nước sở tại [1,tr.2]

Hiện nay, việc sử dụng lao động nước ngoài tại Lào, chưa được gắn với giải quyết các vấn đề xã hội và phúc lợi xã hội nhất là vấn đề nhà ở, văn hóa,vui chơi, giải trí… cho lao động nước ngoài Kết quả khảo sát xã hội cho thấy, có một cuộc sống khá phức tạp và lộn xộn của người lao động nước ngoài ở hầu hết các tỉnh thành tại Lào, thường gắn với từ 5 không: “không nhà ở, không gia đình, không chính trị, không văn hóa, không an toàn” Đây cũng là những rào cản lớn trong việc quản lý lao động nước ngoài.Thực tế này đặt ra câu hỏi lớn về năng lực quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng về sử dụng lao động nước ngoài, đồng thời đặt ra yêu cầu có tính cấp bách đối với các cơ quan quản lý nhà nước về việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát lực lượng lao động này [9,tr.15]

1.2.3.2 Yếu tố tác động tới quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài

Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố cả bên trong và bên ngoài cụ thể như sau:

- Luật pháp, chính sách và các quy định hướng dẫn về quản lý lao động nước ngoài Trong quá trình quản lý, các cơ quan quản lý nhà nước về lao động nước ngoài thực hiện nhiệm vụ ban hành văn bản, quy định hướng dẫn

về cấp phép lao động, hợp đồng lao động … đây là cơ sở cho việc đưa lao động nước ngoài vào nước sở tại Việc giải quyết các vấn đề, tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể để áp dụng các quy định có liên quan, tuy nhiên cũng

có những tình huống nằm ngoài phạm vi hoặc chưa được quy định trong luật cần phải có hướng dẫn của cơ quan quản lý Vì vậy, việc ban hành các quy định hướng dẫn về sử dụng lao động nước ngoài là một yếu tố ảnh hưởng đến

Trang 28

quản lý nhà nước về lao động nước ngoài Yếu tố này đòi hỏi sự chính xác, tính kịp thời nếu một vấn đề phát sinh liên quan đến người lao động nước ngoài không được hướng dẫn, giải quyết chính xác thì nó sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng

- Bộ máy nhà nước về quản lý lao động nước ngoài Việc tổ chức tốt bộ máy triển khai có tính quyết định đến việc thực thi và hoàn thành các nhiệm

vụ được giao

- Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Đội ngũ cán bộ, công chức làm hoạt động quản lý nhà nước về lao động nước ngoài là những người trực tiếp tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về lao động nước ngoài Năng lực, tình độ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các văn bản pháp luật về lao động nước ngoài Do đó, đội ngũ này phải

có tư duy khoa học, khả năng nghiên cứu và am hiểu các văn bản chính sách của nhà nước có kinh nghiệm thực tế

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bao gồm một hệ thống các quan điểm, mục tiêu cần đạt được trong một thời kỳ dài Việc quản

lý nhà nước về lao động nước ngoài tuân theo các quan điểm, đường lối trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu chung của đất nước chiến lược phát triển kinh tế xã hội đề ra định hướng để từ đó xây dựng các chính sách về quản lý lao động nước ngoài phù hợp nhằm vừa khai thác được lao động nước ngoài có phép vừa hạn chế tối đa sự du nhập của lực lượng lao động bất hợp pháp

- Yêu cầu của hội nhập kinh tế Hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đang trên đường cùng ASEAN xây dựng một cộng đồng kinh tế, chính trị, xã hội chung thì việc dần dần phải loại bỏ những rào cản, tiến tới mở cửa thị trường lao động là xu hướng không thể tránh khỏi Quá trình hội nhập ngoài việc tăng vị thế của nước Cộng hòa dân chủ nhân

Trang 29

dân Lào trên trường quốc tế, chúng ta cũng đã thu hút được một số lượng đáng kể vốn đầu tư nước ngoài và lực lượng lao động có trình độ chuyên môn

kỹ thuật vào làm việc trong các dự án đầu tư Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Lào cũng gặp không ít khó khăn, thách thức như dòng lao động nước ngoài di cư bất hợp pháp tràn vào các tỉnh biên giới nước Lào ngày càng nhiều vượt quá sự quản lý của cơ quan nhà nước

- Năng lực, trình độ và ý thức của lao động nước ngoài Lao động nước ngoài vào Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào bên cạnh lao động có trình độ được Chính phủ và các cơ quan nhà nước Lào cấp phép với nhiều ưu đãi về chế độ thì lực lượng lao động trái phép, ý thức chấp hành pháp luật kém

“tràn” vào nước Lào thời gian qua đã gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý nhà nước và hệ lụy cho xã hội

- Sự phát triển của công nghệ thông tin Đây là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, với sự phát triển của công nghệ thông tin như ngày nay việc trao đổi thông tin diễn ra một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, con người có nhiều điều kiện tiếp cận với công nghệ thông tin tiên tiến Hầu hết các ngành, nghề lĩnh vực hoạt động trong xã hội hiện đại cũng cần tới sự góp mặt của công nghệ thông tin Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài phải hướng đến yêu cầu của quá trình hội nhập, bắt kịp với công nghệ tiên tiến của thế giới, cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp phép cho lao động nước ngoài, liên hệ với nước sở tại để giải quyết các trường hợp lao động bất hợp pháp

1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài

1.2.4.1 Chủ thể quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài

Chủ thể quản lý lao động nước ngoài là Chính phủ thông qua các cơ quan quyền lực của Nhà nước như: Các bộ, ngành thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về lao động nước ngoài

Trang 30

Trong các cơ quan nói trên thì Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội là cơ quan đóng vai trò chính trong việc tham mưu, tổng hợp và trực tiếp xây dựng văn bản pháp lý triển khai thực hiện

Chủ thể thực thi quản lý nhà nước về lao động nước ngoài bao gồm các

cơ quan Nhà nước ở cả cấp Trung ương và địa phương như Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội, Bộ Công an , UBND các tỉnh, thành phố, UBND các huyện

và cơ quan chuyên môn được Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội phân cấp

+ Cấp trung ương: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội là cơ quan tham mưu chính cho Chính phủ trong việc quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài

+ Cấp địa phương: Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước

về lao động nước ngoài trong phạm vi địa phương mình Sở Lao động và Phúc lợi xã hội, Văn phòng lao động và phúc lợi xã hội huyện là cơ quan có chức năng, nhiệm vụ tham mưu chính cho Ủy ban nhân dân ở cấp địa phương

+ Ngoài những cơ quan trên Trung ương Liên hiệp Công đoàn với vai trò là một tổ chức đoàn thể, trong quan hệ thị trường lao động, Trung ương Liên hiệp Công đoàn Lào được coi là đại diện của người lao động, đại diện của một trong 3 bên tham gia thị trường này Ở cấp địa phương có tổ chức công đoàn cơ sở đại diện cho quyền lợi của người lao động

Đối tượng quản lý nhà nước về lao động nước ngoài bao gồm: Doanh nghiệp và tổ chức có người lao động nước ngoài làm việc và cá nhân người lao động nước ngoài cùng với quan hệ giữa người sử dụng lao động với lao động nước ngoài

Trang 31

1.2.4.2 Nội dung quản lý nhà nước về lao động nước ngoài

Nội dung quản lý nhà nước về lao động nước ngoài là toàn bộ các nhiệm vụ, công việc mà nhà nước phải thực hiện theo chức năng của mình bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

(1) Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật và chính sách quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài

Ban hành pháp luật quản lý nhà nước là một đặc điểm quan trọng của quản lý nhà nước Pháp luật quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như trong mọi tổ chức, cá nhân sống và làm việc theo pháp luật Đồng thời, nó cũng quy định các mối quan hệ trong hoạt động xã hội cũng như các mối quan hệ giữa các cơ quan

và nội bộ các cơ quan hành chính nhà nước

Nội dung này đòi hỏi Nhà nước cần thực hiện vai trò chủ thể quản lý đối với người lao động nước ngoài bằng hệ thống các văn bản được thể chế hóa bằng pháp luật một cách thống nhất, đồng bộ, ổn định và rõ ràng Hệ thống văn bản pháp luật do Nhà nước xác lập và được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh và tạo ra các hành vi và mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, mọi cá nhân, các tổ chức nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội Xây dựng, ban hành thể chế quản lý nhà nước là một hoạt động quan trọng của quản lý nhà nước Trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định, cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và ban hành thể chế quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài nhằm đảm bảo thực hiện thống nhất trên cả nước Trên thực tế, hệ thống văn bản quy định pháp luật về người lao động nước ngoài và hướng dẫn, triển khai thực hiện chủ yếu do Chính phủ, Bộ Lao động và phúc lợi xã hội, Bộ An ninh

và chính quyền địa phương các cấp thực hiện Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về người lao động nước ngoài là yếu tố tiền đề tạo ra công cụ cho quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài Đồng thời,

Trang 32

chính những văn bản này đã thể hiện chức năng, vai trò của Nhà nước từ trung ương đến cơ sở trong việc thực thi các hoạt động quản lý đối với lực lượng này Bên cạnh đó, còn có những văn bản hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động

về mặt chuyên môn nghiệp vụ trong quản lý đối với người lao động nước ngoài của các cơ quan chức năng nhằm thực hiện thống nhất, tránh sai sót trong quá trình thực hiện các hoạt động tác nghiệp đối với lĩnh vực này

Những văn bản của nước CHDCND Lào liên quan đến hoạt động quản

lý lao động nước ngoài như:

1 Luật Xuất nhập cảnh và Quản lý người nước ngoài ở CHDCND Lào

số 59/QH, ngày 26/12/2014 được Quốc hội nước CHDCND Lào phê chuẩn

quy định về xuất nhập cảnh và quản lý người nước ngoài tại Lào

2 Chỉ thị số 62/TTg, ngày 13/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ Lào quy định về việc tạo điều kiện và hợp tác trong việc đăng ký và cấp thẻ lao động tạm thời cho người nước ngoài tại Lào

3 Quyết định số 5418/LĐPLXH, ngày 10/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào quy định về việc cho phép nhập khẩu lao động nước ngoài làm việc tại Lào và Thông tư hướng dẫn số 0495/LĐPLXH, ngày 16/01/2012 về việc thu phí đối với lao động Việt Nam đang làm việc tại Lào …

(2) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về lao động nước ngoài tại tỉnh

Tổ chức bộ máy quản lý lao động nước ngoài hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về lao động nước ngoài theo Luật lao động (sửa đổi, bổ sung năm 2013) gồm có:

+ Cấp trung ương: Chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lao động nước ngoài Bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động

và Phúc lợi xã hội thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về lao động nước ngoài đặc biệt là cơ quan công an, công thương, kế hoạch đầu tư

Trang 33

+ Cấp địa phương: Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về lao động nước ngoài theo sự phân cấp của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội, cụ thể là làm công việc tiếp nhận, lưu trữ, cấp phép cho lao động nước ngoài, thanh tra,kiểm tra hoạt động tuyển dụng và sử dụng lao động nước ngoài tại địa bàn tỉnh của mình; cấp giấy phép lao động, gia hạn và cấp lại giấy phép lao động; theo dõi, tổng hợp và báo cáo tình hình lao động nước ngoài cho cấp trên; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về lao động Các

cơ quan trên địa bàn có trách nhiệm phối hợp với Sở Lao động và Phúc lợi xã hội thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về lao động nước ngoài đặc biệt là

cơ quan công an, công thương, kế hoạch đầu tư

- Đội ngũ cán bộ, công chức quản lý lao động nước ngoài: Những cán

bộ, công chức trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước về lao động nước ngoài

+ Trung ương: Cán bộ, công chức của Cục quản lý lao động

+ Địa phương: Cán bộ, công chức Sở lao động và phúc lợi xã hội ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Văn phòng lao động và phúc lợi xã hội

- Quản lý về các thủ tục hành chính liên quan đến cấp phép lao động nước ngoài tại tỉnh

- Quản lý lý hoạt động của người lao động nước ngoài

- Quản lý xuất cảnh đối với người lao động nước ngoài

(4)Tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đối với người lao động nước ngoài

Trang 34

Giáo dục là một trong những chức năng của pháp luật Tuy nhiên, bản thân pháp luật muốn thực hiện được chức năng giáo dục thì phải thông qua hoạt động tuyên truyền, giải thích, phổ biến pháp luật của các chủ thể quản lý nhà nước Đối với lĩnh vực lao động nước ngoài, thực tế cho thấy người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động nước ngoài nhiều khi có những hành vi vi phạm pháp luật vì lý do chưa hiểu pháp luật Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh đối với người lao động nước ngoài và những quan hệ xã hội phát sinh từ đây là rất lớn, rất phức tạp và thường xuyên thay đổi Vì vậy, việc giải thích, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và hướng dẫn thực hiện các văn bản quản lý nhà nước trên lĩnh vực này là rất cần thiết Thông qua những hoạt động này, làm cho người lao động nước ngoài, người

sử dụng lao động nước ngoài nhận thức được và có thái độ ứng xử thích hợp theo đúng quy định của pháp luật trong các quan hệ ấy, đồng thời hiểu và thực hiện theo đúng các quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này Làm được điều này là đã đạt được các mục đích tri thức, mục đích tình cảm và mục đích hành vi của giáo dục pháp luật

(5)Hoạt động thanh tra, kiểm tra quản lý nhà nước về lao động nước ngoài tại tỉnh

Thanh tra là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá, nhận xét tình hình thực tế hoạt động do cá nhân, cơ quan có thẩm quyền tiến hành đối với cơ quan, tổ chức,

cá nhân trong hệ thống cơ quan nhà nước

Cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ thực hiện hoạt động thanh tra,kiểm tra việc thi hành chính sách, pháp luật về lao động nước ngoài nhằm đảm bảo quyền lực Nhà nước trong việc thực thi pháp luật lao động và tăng

Trang 35

cường pháp chế Thông qua đó sẽ phát hiện ra các sai phạm, kịp thời xử lý theo đúng pháp luật, hạn chế tranh chấp lao động phát sinh trong thực tiễn

Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài nằm trong hệ thống các biện pháp quản lý nhà nước về lao động nói chung: Quản lý việc tuyển dụng,sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại nước CHDCND Lào; trình

tự, thủ tục cấp giấy phép lao động và việc sử dụng giấy phép lao động; trách nhiệm của lao động nước ngoài, người sử dụng lao động nước ngoài và các

cơ quan nhà nước

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về lao động nước ngoài ở Vệt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Trà Vinh

Trà Vinh là vùng lãnh thổ ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam Đặc khu hành chính là thành phố Trà Vinh, nằm trên Quốc lộ

53, cách Thành phố Hồ Chí Minh gần 200 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km

Năm 2015, tăng trưởng GDP từ 13,5% Trong đó, giá trị nông nghiệp tăng 2%, lâm nghiệp tăng 5,7%, thủy sản tăng 9%, công nghiệp tăng 15%, xây dựng tăng 27,3% và dịch vụ tăng 20%

Thu nhập bình quân đầu người đạt 19,325 triệu đồng, tương đương

920 USD Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 200 triệu USD, tăng 15,4% so với năm 2011 Thu ngân sách 827 tỷ đồng, tăng 27,2% so năm 2014 Tổng chi ngân sách 4.169 tỷ đồng Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 8.700 tỷ đồng Ngoài ra, tỉnh đặt mục tiêu một số chỉ tiêu xã hội như tạo việc làm mới cho 22.000 lao động, trong đó có 200 lao động đi làm việc ở nước ngoài Tỷ

lệ lao động qua đào tạo, bồi dưỡng chiếm 35% Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo 3%, trong đồng bào dân tộc Khmer 4%

Tỉnh đã có nhiều bài học kinh nghiệm trong quản lý lao động nước ngoài trên địa bàn như:

Trang 36

Thời gian qua, cơ quan chức năng của địa phương đã kiểm tra và phát hiện có sai phạm trong việc sử dụng lao động nước ngoài tại các doanh nghiệp và ở công trường xây dựng nhà máy nhiệt điện Duyên Hải, nhưng chưa xử phạt trường hợp nào, nên tính răn đe không cao Trong khi các tỉnh khác áp dụng các biện pháp xử phạt doanh nghiệp và nhà thầu vi phạm trong việc sử dụng lao động người nước ngoài như: xử phạt nhà thầu nước ngoài tại

dự án Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 10 triệu đồng, dự án tổ hợp khai thác bauxite Tây Nguyên 45 triệu đồng, vụ phạt 13 doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài trái phép tại 4 tỉnh Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Tây Ninh, Đồng Nai với tổng cộng 95,5 triệu đồng Bên cạnh đó, cũng đã có những hình thức như yêu cầu xuất cảnh với những trường hợp nhập cảnh trái phép, hoặc sử dụng

hộ chiếu công vụ sai mục đích

Thời gian tới nên siết chặt quản lý lao động người nước ngoài tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Trà Vinh nói riêng, với các giải pháp như sau:

- Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của chủ sử dụng lao động, yêu cầu các đơn vị, bộ phận quản lý lao động hướng dẫn cụ thể hơn nữa việc tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài cho các doanh nghiệp, nhà thầu hoạt động trên địa bàn tỉnh

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và cương quyết xử lý nghiêm túc khi phát hiện doanh nghiệp, nhà thầu vi phạm trong việc sử dụng lao động người nước ngoài, để đảm bảo công tác quản lý lao động người nước ngoài chặt chẽ và hiệu quả hơn

- Trong công tác thực hiện Quản lý lao động người nước ngoài tăng cường phối hợp, thường xuyên trao đổi thông tin liên quan đến quản lý xuất, nhập cảnh, cấp và gia hạn thị thực, đăng ký tạm trú và cấp giấy phép lao động; phối hợp tổ chức các hoạt động trong việc quản lý người nước ngoài,

Trang 37

giải quyết và xử lý đối với các trường hợp không thực hiện đúng quy định của pháp luật

- Các Sở, ban ngành có liên quan thực hiện nghiêm túc nội dung Công văn số 3178/LĐTBXH-VL ngày 23/9/2011 của Bộ Lao động Thương Binh và

Xã hội về việc tăng cường công tác quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An

Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung

Bộ Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh, nằm cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía nam Hiện nay ngành công nghiệp của Nghệ An tập trung phát triển ở 3 khu vực là Vinh - Cửa Lò gắn với Khu kinh tế Đông Nam, Khu vực Hoàng Mai và khu vực Phủ Quỳ Phấn đấu phát triển nhiều ngành công nghiệp có thế mạnh như các ngành chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến thuỷ hải sản, dệt may, vật liệu xây dựng, cơ khí, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, chế tác đá mỹ nghệ, đá trang trí, sản xuất bao bì, nhựa, giấy Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm

2015, tỉnh Nghệ An xếp ở vị trí thứ 28/63 tỉnh thành GDP 2015đạt gần 8% Thu nhập bình quân đầu người 2015 đạt 29 triệu đồng/ người /năm Với sự tăng trưởng ngày càng mạnh, Nghệ An ngày càng thu hút các nhà đầu tư và lao động nước ngoài vào kinh doanh và lao động tại tỉnh Tỉnh đã có nhiều bài học kinh nghiệm trong quản lý lao động nước ngoài trên địa bàn như:

Nhìn chung, người nước ngoài đến Nghệ An đều chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Việt Nam và các quy định của địa phương Tuy nhiên, vẫn còn một số cá nhân, tổ chức nước ngoài, nhất là thành viên các tổ chức phi chính phủ (NGO), nhân viên các cơ quan đại diện ngoại giao đến Nghệ An hoạt động không đúng chương trình, như: thay đổi thành phần, chương trình làm việc không thông báo trước; đi sâu tìm hiểu các vấn

Trang 38

đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế, xã hội; tuyên truyền những chính sách, đời sống, các giá trị theo kiểu các nước phương Tây, ủng hộ vật chất cho các đối tượng cực đoan, chống đối trên địa bàn; một số trường hợp vi phạm quy chế xuất nhập cảnh hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật của Việt Nam Trong lúc công tác quản lý nhà nước về người nước ngoài vẫn còn một

số tồn tại, hạn chế, như: một số sở, ban, ngành chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý người nước ngoài; công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành liên quan còn thiếu chặt chẽ, chưa kịp thời; công tác quản lý người nước ngoài, nhất là tại các vùng đặc thù còn gặp nhiều khó khăn ; để kịp thời chấn chỉnh những tồn tại nêu trên và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước

về xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài trên địa bàn, UBND tỉnh yêu cầu Vì thế, Tạp chí Foreign Policy xếp Singapore là quốc gia toàn cầu hóa nhất trên thế giới và Singapore được xem là “trung tâm thu hút nhân

tài” của thế giới

1.3.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài cho tỉnh Luang Nam Tha nói riêng và nước CHDCND Lào nói chung

Nhà nước và chính quyền địa phương phải có chính sách hợp lý đối với

việc di chuyển lao động, nhất là lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn

cao cả trong quan điểm, nhận thức và quản lý hành chính làm cho thị trường lao động được linh hoạt và thông thoáng Hoàn chỉnh hệ thống thông tin về thị trường lao động, phát huy hơn nữa vai trò của trung tâm giới thiệu việc làm Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, doanh nghiệp thu hút và sử dụng lao động có tay nghề Tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến lao động nước ngoài làm việc tại Lào

Trang 39

Nhà nước phải tạo môi trường lao động bình đẳng giữa lao động trong nước và lao động nước ngoài thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách, quy định pháp luật liên quan đến sự phát triển của thị trường sức lao động

Xây dựng hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về lao động nước ngoài cần dựa trên sự nghiên cứu kỹ lưỡng, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp với đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội và đường lối chính trị của nước Lào Phân tích cụ thể đối với từng nhóm đối tượng dựa trên đánh giá chính xác đóng góp cũng như ảnh hưởng của nhóm đối tượng đó, để có được những chính sách, giải pháp quản lý đối với mỗi nhóm Đối với những nhóm lao động cần thu hút, cần xây dựng chính sách, chế độ đãi ngộ cụ thể và kế hoạch thu hút, sử dụng lao động hợp lý, hiệu quả Đối với những nhóm lao động cần giám sát chặt chẽ cần đưa ra những biện pháp cụ thể để đảm bảo quản lý đối tượng đó trong phạm vi cho phép, tránh những trường hợp lao động vượt ngoài tầm kiểm soát Đối với những đối tượng còn lại cần đưa ra những quy định có tính răn đe, mạnh mẽ hơn và quyết liệt hơn

Cần chủ động đề nghị hợp tác với các quốc gia trong khu vực để thảo luận, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1 tác giả đã hệ thống hóa các cơ sở khoa học về việc quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài, trong đó đã đưa ra các khái niện có liên quan như: khái niệm về lao động, lao động nước ngoài, khái niệm quản lý nhà nước và khái niệm quản lý nhà nước về lao động nước ngoài

- Sự cần thiết quản lý nhà nước về lao động nước ngoài

từ đó làm cơ sở phân tích, đánh giá khách quan thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về lao động nước ngoài để đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về lao động nước ngoài này trong thời gian tới

Ngày đăng: 08/04/2021, 11:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w