Điều này không chỉ phụ thuộc vào những chính sách thuế hợp lý mà còn phụ thuộc rất lớn vào hoạt động quản lý thu thuế của nhà nước, mà trong đó thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quố
Trang 1NGUYỄN TÀI TUỆ
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HẠ HÕA TỈNH PHÖ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM TIẾN BÌNH
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Tài Tuệ
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế
đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá
nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Quản lý Đào tạo Khoa sau Đại học, các khoa, phòng của
Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn TS.Phạm Tiến Bình
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong
Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Chi cục thuế huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Tài Tuệ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xi
DANH MỤC SƠ ĐỒ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 4
CHƯƠNG 1 KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ THU THUẾ CỦA NHÀ NƯỚC 5
1.1 Đặc điểm của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh 5
1.1.1 Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh 5
1.1.2 Vai trò của khu vực kinh tế NQD trong nền kinh tế 6
1.2 Thuế và nội dung công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 12
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế 12
1.2.2 Nội dung công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 25 1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh 32
1.3.1 Các yếu tố thuộc về cơ quan quản lý thu thuế 32
1.3.3 Các yếu tố thuộc về DN NQD 34
Trang 61.4 Kinh nghiệm quản lý thu thuế của một số Chi cục Thuế và bài học kinh
nghiệm cho Chi cục Thuế Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ 35
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý thu thuế tại Chi cục Thuế huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ 35
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý thu thuế tại Chi cục thuế huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái 37
1.4.3 Những bài học kinh nghiệm cho chi cục Thuế Huyện Hạ Hòa 39
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 40
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 40
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 40
2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 42
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 43
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH Ở HUYỆN HẠ HÕA, TỈNH PHÖ THỌ HIỆN NAY 47
3.1 Một số đăc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ 47
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 47
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 48
3.1.3 Khái quát tình hình phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa 49
3.2 Thực trạng công tác quản lý thu thuế trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ qua các năm 2010 - 2012 53
3.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục Thuế huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ 53
3.2.2 Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách giai đoạn 2010-2012 58
Trang 73.2.3 Công tác quản lý thu thuế các DN NQD trên địa bàn huyện Hạ Hòa,
tỉnh Phú Thọ qua các năm 2010 - 2012 60
3.2.4 Đánh giá hoạt động quản lý thu thuế bởi Cán bộ chi cục thuế (CB CCT) và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DN NQD) 72
3.2.5 Đánh giá thực trạng quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa 79
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HẠ HÕA - TỈNH PHÖ THỌ 86
4.1 Quan điểm và định hướng hoàn thiện công tác quản lý thu thuế của Nhà nước trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ 86
4.1.1 Sự cần thiết phải đổi mới quan điểm quản lý thu thuế của Nhà nước 86
4.1.2 Những kiến nghị về thay đổi quan điểm trong quản lý thu thuế của Nhà nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 87
4.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ 88
4.2.1 Hoàn thiện lập dự toán thu thuế đối với DN 88
4.2.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động tuyên truyền hỗ trợ thuế 90
4.2.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý đăng ký, kê khai và nộp thuế 91
4.2.4 Giải pháp hoàn thiện thanh tra và kiểm tra thuế 94
4.2.5 Giải pháp hoàn thiện hoạt động cưỡng chế thu nợ và xử lý vi phạm về thuế 95
4.2.6 Giải pháp hoàn thiện hoạt động xử lý khiếu nại, tố cáo về thuế 96
4.2.7 Kiến nghị hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung một số văn bản pháp qui về thuế GTGT cho phù hợp với tình hình thực tế các DN NQD nói riêng và các DN trên địa bàn huyện Hạ Hòa nói chung 99
4.3 Kiến nghị 100
4.3.1 Kiến nghị với Tổng cục thuế 100
4.3.2 Kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước và các tổ chức có liên quan 101
Trang 8KẾT LUẬN 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC 108
Trang 9SSKT Sổ sách kế toán SXKD Sản xuất kinh doanh TBCN Tư bản chủ nghĩa TNHH Trách nhiệm hữu hạn
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bậc thuế môn bài theo vốn đăng kí 19
Bảng 1.2 Bậc thuế môn bài theo thu nhập 1 tháng 19
Bảng 2.1 Cơ cấu nhóm người trả lời phiếu điều tra 42
Bảng 2.2 Thang đánh giá Likert 44
Bảng 3.1 Tỷ lệ DN NQD trên địa bàn Huyện Hạ Hòatheo quy mô lao động và vốn giai đoạn 2010-2012 51
Bảng 3.2 Tình hình thu NSNN từ DN NQD trên địa bàn Huyện Hạ Hòa giai đoạn 2010-2012 52
Bảng 3.3 Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách CCThuyện Hạ Hòa giai đoạn 2010-2012 59
Bảng 3.4 Kết quả thu NSNN các năm 2010 - 2012 chia theo thành phần kinh tế 59
Bảng 3.5 Tình hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh đăng ký thuế giai đoạn 2010 - 2012 60
Bảng 3.6 Tình hình doanh nghiệp khai thuế, nộp thuếso với đăng ký thuế 61 Bảng 3.7 Tổng thu thực hiện của các DN NQD trên địa bàn huyện Hạ Hòa giai đoạn 2010-2012 62
Bảng 3.8 Tình hình tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế qua các năm 2010- 2012 66
Bảng 3.9 Tình hình kiểm tra thuế tại các doanh nghiệp NQD 67
Bảng 3.10 Tỷ lệ DN bị truy thu thuế và nợ khó thutrên địa bàn Hạ Hòa 70 Bảng 3.11 Bảng phân loại nợ thuế 71
Bảng 3.14 Giá trị bình quân và ý nghĩa theo đánh giá của người trả lời về Công tác quản lý đăng ký thuế, kê khai và nộp thuế 72
Bảng 3.15 Giá trị bình quân và ý nghĩa theo đánh giá của người trả lời về công tác tuyên truyền khuyến khích và dịch vụ hỗ trợ 73
Trang 11Bảng 3.16 Giá trị bình quân và ý nghĩa theo đánh giá của người trả lời về
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với DN NQD 75 Bảng 3.17 Giá trị bình quân và ý nghĩa theo đánh giá của người trả lời về
hoạt động thu nợ, cưỡng chế thuế và hình phạt về thuế đối với doanh nghiệp quốc doanh 76 Bảng 3.18 Giá trị bình quân và ý nghĩa theo đánh giá của người trả lời về
công tác xử lý khiếu nại và tố cáo các vấn đề về thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 77 Bảng 3.19 Tổng hợp ý kiến đánh giá của người trả lời về hoạt động quản lý
thu thuế các DN NQD trên địa bàn huyện Hạ Hòa 79
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo loại hình
doanh nghiệp 50 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo ngành nghề
kinh doanh 51 Biểu đồ 3.3 Cơ cấu nguồn nhân lực CCT huyện Hạ Hòa 58
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Chi cục thuế Hạ Hòa 57
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là bộ phận quan trọng nhất của NSNN (ngân sách nhà nước), thuế góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Một hệ thống thuế có hiệu lực và hiệu quả là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia Điều này không chỉ phụ thuộc vào những chính sách thuế hợp lý mà còn phụ thuộc rất lớn vào hoạt động quản lý thu thuế của nhà nước, mà trong đó thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng cao trong Ngân sách Nhà nước Phải quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD như thế nào đang là một vấn đề được ngành thuế và xã hội quan tâm
Tuy nhiên, hiện nay quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp (DN) ở các nước đang phát triển đang đối mặt với nhiều thách thức khác nhau tạo ra sức
ép ngày càng tăng đối với nhiệm vụ thu thuế của nhà nước Trong khi nguồn lực cho quản lý thu thuế ở các nước đang phát triển hiện nay là rất hạn hẹp, sự phức tạp từ các DN ngày một tăng lên dẫn đến nhiều khó khăn hơn đối với cơ quan thuế trước sức ép phải tăng thu NSNN hàng năm để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho một xã hội đang phát triển Đây là khó khăn lớn mà ngành thuế như ở Việt Nam cần phải vượt qua
Từ những những thách thức nói trên, cơ quan thuế đang có những nỗ lực đổi mới hệ thống quản lý thu thuế của mình dựa trên chính những điểm mạnh họ sẵn có, xây dựng chiến lược quản lý thu thuế đối với DN dựa trên quan điểm DN hay đối tượng nộp thuế (ĐTNT) chính là khách hàng của cơ quan thuế
Trong những năm qua, chúng ta đã có những tiến bộ trong việc cải cách
hệ thống thuế theo hướng tạo hành lang pháp luật trong chính sách thuế, quản
lý thuế, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện
Trang 14nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, đồng thời từng bước điều chỉnh các sắc thuế phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế Bên cạnh mặt tích cực của chính sách thuế hiện hành của Nhà nước ta thì việc thực thi pháp luật thuế còn nhiều phức tạp và khó khăn trong việc quản lý về lĩnh vực thuế Tình trạng vi phạm pháp luật thuế còn phổ biến ở tất cả các thành phần kinh tế hiện nay như: trốn thuế, lợi dụng việc hoàn thuế để “rút lõi” ngân quỹ nhà nước…
Cùng với những vấn đề chung trong việc quản lý thu thuế của nước ta thì huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ cũng có nhiều vấn đề trong việc quản lý thu thuế trên địa bàn nhất là việc quản lý thu thuế ngoài quốc doanh, tình trạng vi phạm pháp luật thuế đã làm ảnh hưởng đến ngân sách địa phương và việc đầu
tư cơ sở hạ tầng nhằm phát triển kinh tế của huyện
Vậy công tác quản lý thu thuế đạt hiệu quả sẽ không chỉ ý nghĩa về kinh tế mà nó còn góp phần ổn định chính trị Để đưa ra các giải pháp quản lý thu thuế cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế là rất cần thiết Với những nội dung nêu trên, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế, đặc biệt với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, góp phần nhiều hơn nữa trong công cuộc cải cách hệ thống thuế - một nội dung lớn của chiến lược tài
chính, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện quản lý thu thuế đối
với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá thực trạng công tác quản
lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ Từ đó đề xuất các giải pháp cho công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện
2.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 15- Góp phần hệ thống hoá về cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản
lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ năm 2010 - 2012
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
4 Những đóng góp mới của đề tài
- Về lý luận: Hệ thống hoá và làm rõ hơn cơ sở lý luận về quản lý thu thuế nhà nước đối với DN Luận văn góp phần khẳng định thuế là bộ phận quan trọng nhất của NSNN (ngân sách nhà nước), góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, để chống thất thu thuế, khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật về nghĩa vụ đóng thuế của các doanh nghiệp cần phải
có sự hợp tác của tất cả các cơ quan và hệ thống pháp luật Song một trong các yếu tố quan trọng nhất đó là công tác quản lý thu thuế
Trang 16- Về thực tiễn: Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống, những giải pháp chủ yếu khắc phục thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Vận dụng cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, phối hợp khảo sát, điều tra thực tế nhằm kết hợp giữa lý luận khoa học và thực tiễn, góp phần kiến nghị những giải pháp quản lý thu thuế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên những địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Kiến nghị, bổ sung về chính sách hoàn thuế, đối với thuế VAT
Những kết quả nghiên cứu đạt được hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý thuế nói chung và trên địa bàn huyện Hạ Hòa nói riêng
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luân văn được trình bày trong 4 chương:
Chương 1 Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và cơ sở lý luận của
quản lý thu thuế của nhà nước
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Chương 4 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Trang 17CHƯƠNG 1 KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA
QUẢN LÍ THU THUẾ CỦA NHÀ NƯỚC 1.1 Đặc điểm của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
1.1.1 Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
Thời kỳ quá độ lên CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin sẽ trải qua một thời gian dài trong lịch sử Trong suốt thời kỳ đó vẫn tồn tại các thành phần kinh tế phi CNXH cạnh tranh gay gắt với thành phần kinh tế CNXH Nhà nước XHCN có vai trò to lớn trong việc làm cho các thành phần kinh tế XHCN ngày càng phát triển và chiếm ưu thế, đảm bảo thắng lợi của CNXH
Vậy quá độ đi lên CNXH bỏ qua phát triển TBCN không thể không quan tâm đến sự tồn tại và phát triển tất yếu khách quan của các thành phần kinh tế khác trong đó có các thành phần kinh tế của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (NQD) Nước ta quá độ lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, tiềm lực kinh tế còn chưa mạnh, cơ sở vật chất còn nghèo nàn không đồng nhất giữa các ngành các vùng, trình độ quản lý kinh tế còn thấp kém lại vừa qua khỏi chiến tranh Mâu thuẫn giữa nhu cầu cải tiến đời sống nhân dân với khả năng của sức sản xuất đang hết sức gay gắt sự lựa chọn có phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó có kinh tế NQD hay không có tính chất quyết định Tuy nhiên chấp nhận sự tồn tại của kinh tế NQD không có nghĩa
là để quan hệ sản xuất TBCN xác lập thống trị xã hội mà chỉ để quan hệ sản xuất tồn tại phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế, đẩy mạnh sự phát triển của các lực lượng sản xuất, tăng nhanh năng xuất lao động, tăng trưởng kinh tế Do đó bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất chứ không có nghĩa xoá bỏ hoàn toàn kinh tế NQD Nhưng muốn quan hệ sản xuất TBCN không trở thành thống trị trong nền kinh tế của
xã hội thì không phải bằng con đường bóp nghẹt như đã làm trước đây, mà
Trang 18phải bằng cách xoá bỏ dần dần bằng sự tác động của các nhân tố khác trong
đó kinh tế nông nghiệp là quan trọng nhất
Vậy sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ đã được khẳng định và nó tiếp tục phát triển trong nền kinh tế thị trường, kinh tế NQD là thành phần kinh tế không thể thiếu được và đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Hiện nay nước
ta đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, một số định kiến xã hội trước đây đối với khu vực kinh tế NQD vẫn còn khá nặng nề Khuôn khổ pháp luật để phát triển kinh tế NQD đang xây dựng, chưa hoàn chỉnh Song từ khi có Luật Doanh nghiệp (DN) có hiệu lực, môi trường kinh doanh đã bước đầu được cải thiện, các loại giấy phép bất hợp lý đã được xoá bỏ, nhiều doanh ngiệp đã phát huy được tính chủ động sáng tạo, tận dụng được hết năng lực vốn có và tăng vốn đầu tư, mở rộng địa bàn để phát triển sản xuất, kinh doanh
Vậy định hướng đi lên XHCN, bỏ qua chế độ TBCN tất yếu khách quan phải trải qua thời kỳ quá độ bên cạnh đó khẳng định sự tồn tại tất yếu khách quan của kinh tế NQD và xu hướng nền kinh tế này phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong thời nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
1.1.2 Vai trò của khu vực kinh tế NQD trong nền kinh tế
Khu vực kinh tế NQD bao gồm các DN NQD (Công ty TNHH, công
ty Cổ phần, công ty Hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và các hộ cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế NQD là thành phần kinh tế không thể thiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ, tương xứng với tiềm năng và đóng góp xứng đáng vào sự tồn tại vào sự phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi Nhà nước phải có các chính sách, điều kiện thuận lợi để khu vực này phát huy được
Trang 19vai trò của mình trong tình hình kinh tế hiện nay
1.1.2.1 Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nước ta là nước có nền kinh tế đang trên đà phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhiều thành phần do vậy mục tiêu phát triển kinh tế là hàng đầu Khu vực kinh tế NQD là khu vực có nhiều đặc điểm thuận lợi cho quá trình làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như là: khu vực thu hút nhiều lao động, đối tượng hoạt động rộng tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế ở mọi nơi trong nước rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn, đồng thời góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của nền kinh tế như tài nguyên, sức lao động, thị trường mà vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả Bên cạnh đó do đặc thù rất linh hoạt, nhanh nhậy trong sản xuất để thu lợi nhuận cao nhất nên khu vực này có khả năng phát huy nội lực, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường Vậy khu vực kinh tế NQD là khu vực có vai trò hết sức quan trọng đồng thời là khu vực góp phần vào việc thực hiện các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế do Nhà nước đề ra
1.1.2.2 Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần giải quyết công ăn việc
làm cho người lao động
Nước ta là nước có dân số hơn 80 triệu dân, do đó đối tượng lao động là rất lớn Vấn đề thất nghiệp được đặt ra cần được giải quyết Trong khi khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn đòi hỏi lao động phải có văn hóa, trình độ kỹ thuật nhất định thì mới có thể làm việc trong khu vực trên dẫn đến một khối lượng lớn lao động đang ở tuổi lao động không thể làm việc ở trong hai khu vực này Vậy điều đáng nói ở đây là so với 2 khu vực trên thì khu vực kinh tế NQD có vai trò thu hút nhiều thành phần lao động,
từ những lao động có trình độ cao đến những lao động thủ công, từ những hợp đồng ngắn hạn đến những hợp đồng dài hạn, theo mùa vụ hoặc theo thời gian
Trang 20nhất định Do đó khu vực này góp phần giải quyết thất nghiệp và tạo ra sự phát triển cân đối cho nền kinh tế
1.1.2.3 Khu vực kinh tế NQD phát triển tạo cho ngân sách có nguồn thu ổn
định và ngày càng tăng
Trước hết phải khẳng định các khoản nộp ngân sách của khu vực kinh
tế NQD mới đúng bản chất là “thuế” Vì khác với các doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước không phải chủ sở hữu tư liệu sản xuất, Nhà nước thu thuế của khu vực này mà không phải đầu tư trực tiếp vào khu vực này Nguồn thu
từ khu vực này rất lớn ngày càng tăng và được dùng chủ yếu để đầu tư vào các ngành nghề kinh tế mũi nhọn, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu kém đồng thời khu vực này còn tham gia đóng góp tài chính cho đất nước nhiều hơn nữa thông qua các hoạt động tự nguyện hưởng ứng các phong trào do Nhà nước, đoàn thể phát động như ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thương binh, gia đình liệt sĩ, xây dựng trường học, đường xá đóng góp vào các quỹ an ninh, đền ơn đáp nghĩa Vậy khu vực kinh tế NQD có vai trò điều hoà thu nhập và đóng góp vào ngân sách Nhà nước rất lớn
1.1.2.4 Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần tăng vốn đầu tư cho xã hội
Khu vực này tạo ra một thị trường vốn tín dụng lớn và hứa hẹn nhiều tiềm năng cho sự phát triển của các ngân hàng ở nước ta do sự đổi mới kinh tế, nhờ chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần nên khu vực NQD đã hình thành và huy động một lượng vốn đầu tư lớn cho xã hội Đây là một nguồn vốn quan trọng, song khai thác chưa hiệu quả Bên cạnh
đó khu vực kinh tế NQD càng phát triển thì nhu cầu về vốn ngày càng gia tăng và có mối quan hệ mật thiết với các ngân hàng, đóng góp vào sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng trong công tác huy động vốn
1.1.2.5 Ngoài những vai trò trực tiếp nêu trên, khu vực kinh tế NQD tồn tại
và phát triển còn có tác dụng trên nhiều mặt sau
Trang 21Khu vực NQD phát triển thoả mãn một phần nhu cầu tiêu dùng xã hội, giúp cho Nhà nước trong điều kiện vốn còn hạn hẹp, có thể tập trung đầu tư vào những ngành nghề mũi nhọn, có tác dụng đến toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội, tránh đầu tư phân tán, dàn trải Thực tiễn cho thấy có khu vực này nhiều ngành nghề, mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh Nhà nước không cần phải đầu tư hoặc chỉ đầu tư có hạn còn về cơ bản khu vực kinh tế NQD đã đảm đương các chức năng bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng và tổ chức các dịch
vụ tiêu dùng cho xã hội, đặc biệt ở địa bàn nông thôn và miền núi
Khu vực kinh tế NQD tồn tại và phát triển góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trường, thúc đẩy kinh tế Nhà nước tăng cường hạch toán kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
Trước đây trong điều kiện chỉ có kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác, sản phẩm hàng hóa dù sản xuất ra với bất kỳ chất lượng nào, giá cả ra sao đều được tiêu thụ Nhưng từ khi có kinh tế NQD với đặc điểm tư hữu cao, khu vực này rất linh hoạt năng động với tinh thần trách nhiệm rất cao trong sản xuất, tìm kiếm thị trường đồng thời luôn tập trung cao độ tinh thần làm việc, phát huy mọi khả năng sẵn có của mình Để cạnh tranh với khu vực NQD thì buộc khu vực kinh tế quốc doanh phải cải tiến hàng hoá sản xuất ra nếu không sẽ không được thị trường chấp nhận Bên cạnh sự cạnh tranh đó thì nếu hai khu vực này không còn hợp tác, thúc đẩy nhau để sản phẩm sản xuất
ra được hoàn thiện với chất lượng cao hơn Vậy hợp tác và cạnh tranh chính
là động lực thúc đẩy sự phát triển của hai khu vực kinh tế này
Khu vực kinh tế NQD hình thành và phát triển còn tác động cả vào cơ chế quản lý làm thay đổi phương thức quản lý sản xuất kinh doanh, thay đổi tác phong, lề lối làm việc của cán bộ công chức nhà nước, của người lao động
Trước hết đối với các cơ quan quản lý và cán bộ công chức Nhà nước, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cơ chế quản lý tập trung bao cấp
Trang 22không còn thích hợp nữa vì Nhà nước không thể ra lệnh cho các đơn vị kinh
tế NQD phải sản xuất cái gì, phải bán theo giá quy định, mà cho quy luật giá trị, do thị trường do nhu cầu xã hội quyết định Với khu vực kinh tế NQD các
cơ quan quản lý, công chức Nhà nước không thể can thiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh của họ Đây chính là những tiền đề đặt ra cần phải đổi mới cơ chế quản lý và phải luôn hoàn thiện cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
Phát triển khu vực kinh tế NQD cũng có tác động và làm thay đổi ý thức, tác phong làm việc của công chức các cơ quan quản lý Nhà nước Vì khu vực kinh tế NQD toàn bộ vốn và tài sản thuộc sở hữu tư nhân, họ có quyền quyết định phương án sản xuất kinh doanh và chỉ chịu sự quản lý của Nhà nước thông qua pháp luật Cán bộ công chức Nhà nước không có quyền can thiệp vào công việc kinh doanh của họ Quan hệ giữa đơn vị kinh
tế NQD và công chức Nhà nước là quan hệ bình đẳng trước pháp luật
Đối với người lao động và những người quản lý sản xuất kinh doanh, câu hỏi đặt ra là làm sao thu được lợi nhuận cao nhất Muốn vậy phải cải tiến sản xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ chuyên môn để sản xuất ra hàng hoá chất lượng cao, giá thành hạ
Quan hệ giữa người bán hàng dịch vụ và người mua hàng dịch vụ được thay đổi từ quan niệm “bán như cho” thời bao cấp bằng quan niệm coi
“khách hàng là thượng đế” đã được hình thành
Khu vực kinh tế NQD phát triển tác động cả vào các cơ quan quản
lý trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính Vậy chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó vai trò của khu vực kinh tế NQD đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và phản ánh đúng quy luật khách quan của thời kỳ qua độ Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991) đã đánh giá: “Chính sách này được nhân dân hưởng ứng rộng
Trang 23rãi và đã đi nhanh vào cuộc sống chính sách ấy đã góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân về kinh tế, khơi dậy được nhiều tiềm năng va sức sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo việc làm và sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trường” Ngoài ra góp phần vào phát triển và tăng trưởng kinh tế ngoài quốc doanh có sự tham giam tích cực của các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính đồng thời Nhà nước đã ban hành 51 luật, pháp lệnh và các Nghị định, quyết định, chỉ thị của Chính phủ điều chỉnh và quản lý mọi hoạt động kinh tế xã hội của đất nước nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển và lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế xã hội
Quan điểm của Đảng về phát triển khu vực kinh tế NQD
Nước ta đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, các luận điểm của Mác - Ang ghen - Lênin về thời kỳ quá độ có thể vận dụng vào nước ta vì giai đoạn này là giai đoạn Nhà nước của giai cấp công nhân đang đảm nhận nhiệm vụ lịch sử phát triển sức sản xuất, một nhiệm vụ đáng lẽ ra giai cấp tư bản phải làm Mặt khác do lực lượng sản xuất phát triển không đồng đều giữa các ngành, các vùng, vì vậy tất yếu tồn tại kinh tế NQD
Tuy nhiên để có được nhận thức đúng đắn về sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ không phải là dễ dàng, đã có thời kỳ
ta chủ trương sớm xoá bỏ kinh tế NQD bằng làn sóng quốc doanh hóa, hợp tác hoá, tạo nên bức tường ngăn cách giữa kinh tế XHCN và kinh tế NQD dẫn đến những hậu quả tiêu cực làm cho tiềm lực kinh tế của đất nước không được khai thác, lực lượng sản xuất bị lãng phí, kinh tế bị kìm hãm không phát triển được, đời sống nhân dân gặp khó khăn
Qua đánh giá quá trình cải tạo các thành phần kinh tế và vận dụng luận điểm của Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trương đổi mới toàn diện và
Trang 24sâu sắc để đi tới CNXH một cách vững chắc Trọng tâm là đổi mới kinh tế,
mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế Điều quan trọng là phải nhận thức
và tính toán lại hình thức, và bước đi của quá trình cải tạo XHCN, làm sao
để phát huy được sức mạnh của các thành phần kinh tế trong công cuộc xây dựng đất nước giầu mạnh và cái đích vẫn là CNXH Từ những phê bình
về những biểu hiện nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, từ thực tế của đất nước và vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, Đảng ta đã
đề ra chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI đã chỉ ra nhiệm vụ đẩy mạnh cải tạo XHCN là một nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH với những bước đi thích hợp làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Cần phải
“phát huy tác dụng tích cực của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần”
1.2 Thuế và nội dung công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế
1.2.1.1 Khái niệm
Sự ra đời của thuế gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước
Để duy trì hoạt động của Nhà nước cần phải có nguồn tài chính để chi tiêu nhằm duy trì bộ máy quản lý Nhà nước và chi cho các công việc thuộc chức năng của Nhà nước: xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, quốc phòng, an ninh, phúc lợi công cộng…
C.Mác đã viết: “Thuế là cơ sở của bộ máy kinh tế nhà nước”, Ăng- ghen cho rằng: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những đóng góp của những người công dân cho nhà nước, đó là thuế”
Trang 25Do vậy đến nay, thuế được coi là nghĩa vụ của công dân và các tổ chức kinh tế trong xã hội Ở Việt Nam quy định của pháp luật: “Thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nộp Hay nói cách khác thuế là hình thức đóng góp theo nghĩa vụ do Luật quy định cho các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trong xã hội nộp cho Nhà nước bằng phần thu nhập của mình”
1.2.1.2 Nộp thuế - Nghĩa vụ tất yếu của doanh nghiệp
Thuế, theo quy định của pháp luật, là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN) Các tác giả giáo trình thuế của Học viện Tài chính viết: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” Do vậy, nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của DN
1.2.1.3 Các đặc điểm cơ bản của thuế
Từ khái niệm trên ta thấy thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Thuế có các đặc điểm cơ bản sau:
- Tính cố định của thuế
Nhà nước ban hành sắc thuế để làm công cụ, bắt buộc các thành phần kinh tế trong xã hội phải đóng góp nghĩa vụ thuế Luật thuế ban hành một mức thu cố định cho các hàng hóa dịch vụ Do có các mức cố định này mà Nhà nước có thể tính trước được nguồn thu của mình, người nộp thuế cũng có thể tính trước được mức sẽ phải nộp là bao nhiêu trong thu nhập của mình cho Nhà nước Thuế là nguồn thu lớn và thu một cách thường xuyên của Nhà nước, chỉ cần có hoạt động sản xuất kinh doanh là phải nộp thuế cho Nhà nước Do đó nhà nước có nguồn tài chính để chi trả thường xuyên ổn định cho các nhu cầu của mình
Trang 26- Tính bắt buộc
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình bắt buộc các thành phần kinh tế
có sản xuất kinh doanh đều phải đóng một phần thu nhập của mình dưới hình thức nộp thuế cho ngân sách Nhà nước Do vậy Nhà nước đã ban hành các sắc thuế trực thu, gián thu để buộc người sản xuất kinh doanh, người tieu dùng dịch vụ, người có thu nhập cao phải nộp thuế theo quy định của các luật thuế
do Nhà nước ban hành
- Tính không hoàn trả trực tiếp
Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện trên khía cạnh: người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước không có quyền đòi hỏi nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình (điểm này thuế khác với phí,
lệ phí là phí, lệ phí mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người hưởng thụ) Người nộp thuế sẽ nhận được một phần dịch vụ công cộng Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết phải trùng với khoản thuế mà họ phải nộp cho Nhà nước
1.2.1.4 Vai trò của thuế
Thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước
Thuế là công cụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình quản lý kinh
tế Để huy động được nguồn lực vật chất cho ngân quỹ Nhà nước thì Thuế là công cụ chủ yếu chiếm số lớn trong nguồn thu, để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong quá trình thực hiện các chức năng xã hội nói chung
Sử dụng công cụ thuế để huy động tiền thuế cho Nhà nước có ưu điểm: + Phạm vi thu thuế rộng; đối tượng nộp thuế gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế
+ Nguồn huy động tập trung thông qua thuế là tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nước tạo ra Nhờ đó một bộ phận đáng kể thu nhập
xã hội tập trung trong tay Nhà nước để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu và các
Trang 27biện pháp kinh tế xã hội Mặt khác nguồn thu từ thuế được đảm bảo tập trung một cách nhanh chóng, thường xuyên và ổn định
+ Đây cũng là biện pháp hữu ích của công cụ tài chính
Vì lợi ích xã hội, Nhà nước có thể tăng thuế hay giảm thuế đối với các đối tượng nộp thuế, để kích thích hay hạn chế sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế nhằm giữ vững cân bằng ổn định thị tỉường để thúc đẩy phát triển kinh tế Trong thời kỳ phát triển quá mức, có nguy cơ dẫn đến mất cân đối, bằng cách tăng thuế, thu hẹp đầu tư, Nhà nước
có thể giữ vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đã đề ra Việc điều chỉnh chính sách thuế cần góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý theo yêu cầu phát triển nền kinh tế trong từng giai đoạn Trong khi áp dụng các chính sách thuế cho từng ngành, từng loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển các ngành quan trọng nhất, giữ vững vị trí then chốt trong nền kinh tế hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa các ngành nghề
Với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, Nhà nước cần phải khuyến khích tích luỹ trong các doanh nghiệp để tạo ra nguồn vốn đầu tư Việc thay đổi chính sách thuế có thể ảnh hưởng đến quy mô, tốc độ tích luỹ tiền tệ do đó tác động đến quá trình đầu tư phát triển kinh tế
Thuế được sử dụng như một công cụ có hiệu quả để góp phần thực hiện chính sách đối ngoại và bảo hộ nền sản xuất trong nước và thúc đẩy hòa hợp kinh tế khu vực và trên thế giới
Thông qua việc điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu, kịp thời qua từng thời
kỳ đã tạo nên điều kiện hạn chế hàng nhập khẩum để bảo hộ những mặt hàng trong nước sản xuất
Thuế thực hiện vai trò phân phối của nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Sử dụng công cụ thuế nhà nước có thể điều tiết thu nhập một cách hợp
lý, giảm bớt sự bất công bằng trong xã hội
Trang 28Nếu sử dụng tốt công cụ này thì chính nó sẽ trở thành động lực khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, thuế ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Hoạch định các chính sách thuế phải đảm bảo phát huy vai trò là công cụ của Nhà nước điều tiết nền kinh tế bằng các sắc thuế
Thông qua các phương pháp quản lý thu thuế cùng với các biện pháp tài chính khác của Nhà nước tác động hình thành nên thị trường, bình ổn giá
cả tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh tế kinh doanh và cạnh tranh lành
mạnh, nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và tăng thu ngân sách
Thuế là công cụ quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có khả năng sử dụng chính sách thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Điều đó xuất phát từ Khái niệm và mục tiêu quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
Quản lý thu thuế của nhà nước là một nội dung của quản lý thuế - một lĩnh vực quản lý hành chính công của Nhà nước Quản lý thu thuế của Nhà nước được một số tác giả khái niệm hoá như sau:
“Quản lý thu thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của nhà nước trong lĩnh vực thuế” [5, tr.18]
“Quản lý thu thuế là quá trình tổ chức thực thi các luật thuế là việc định
ra một hệ thống các tổ chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong việc thực thi luật thuế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” [4, tr.11]
Theo luật quản lý thuế ở Việt Nam, “quản lý thu thuế là quá trình thực thi các chức năng quản lý từ quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; quản lý hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; quản lý xoá nợ tiền thuế,
Trang 29tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế” [10, tr.10]
Từ các khái niệm trên có thể định nghĩa quản lý thu thuế là một quá trình tổ chức thực thi chính sách thuế, thông qua quá trình tác động của các cơ quan thuế lên các tổ chức và công dân nhằm đảm bảo và tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian trong điều kiện môi trường quản lý thu thuế luôn biến động Quá trình tác động của cơ quan thuế lên ĐTNT là quá trình thực thi các chức năng của quản lý thu thuế
- Quản lý thu thuế đối với DN gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức Nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền Chủ thể quản lý thu thuế trực tiếp là các cơ quan quản lý thuế các cấp được Nhà nước giao trách nhiệm và quyền hạn trực tiếp thu thuế Đối tượng quản lý là các DN có nghĩa vụ phải nộp thuế vào NSNN theo quy định của luật thuế
1.2.1.5 Mục tiêu của công tác quản lý thu thuế của Nhà nước đối với doanh nghiệp
Quản lý thu thuế của Nhà nước đối với DN là một nội dung quan trọng của quản lý thuế nói chung với những tiêu cơ bản sau:
- Tập trung huy động đầy đủ và kịp thời các khoản thu cho NSNN dựa vào khai thác cơ sở thuế hiện tại và tìm kiếm, khuyến khích cơ sở thuế tiềm năng
- Phát huy tốt nhất vai trò của công cụ thuế trong nền kinh tế thị trường như vai trò ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập, điều hoà các hoạt động SXKD
- Tăng cường sự tuân thủ thuế của các DN một cách đầy đủ, kịp thời và
tự nguyện theo các quy định của luật thuế
- Góp phần bảo đảm sự bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các loại hình
DN khác nhau, giữa các DN lớn và DN nhỏ, giữa các DN hoạt động chính
Trang 30thức và những đối tượng hoạt động trong nền kinh tế ngầm thông qua các chức năng quản lý thu thuế như hỗ trợ DN nộp thuế, cưỡng chế và khuyến khích sự tuân thủ thuế
Quản lý thu thuế thông qua việc tổ chức thực hiện các luật thuế và thanh tra kiểm tra để đảm bảo và tăng cường tính pháp chế, nâng cao ý thức chấp hành luật thuế và xây dựng nền văn hoá thuế trong cộng đồng các DN
1.2.1.6 Các sắc thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế NQD
a Thuế thu nhập doanh nghiệp
Là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi trừ các khoản chi phí hợp lý có liên quan đến thu nhập của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Thuế thu nhập doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, là một phần thu của ngân sách Nhà nước, đảm bảo đóng góp công bằng hợp lý giữa các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh dịch vụ có thu nhập
Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập đều phải nộp thuế
- Căn cứ tính thuế thu nhập chịu thuế và thuế suất :
Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp = thu nhập chịu thuế x thuế suất (%) + Thu nhập chịu thuế gồm thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và thu nhập khác (kể cả thu nhập kinh doanh ở nước ngoài)
Thu nhập chịu thuế từ
+ Các khoản chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế gồm các khoản như : khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền công, tiền lương, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí nghiên cứu khoa học, chi
Trang 31phí trả nợ vốn vay, chi phí quảng cáo tiếp thị, các khoản thuế, chi phí có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với cơ sở kinh doanh là 28%, đối với các hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí
và tài nguyên quý hiếm khác từ 28% đến 50% phù hợp từng dự án, từng
cơ sở sản xuất kinh doanh
b Thuế môn bài
Thuế môn bài là loại thuế được áp dụng cho tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam (kể cả các xí nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài) có doanh thu, có thu nhập đều là đối tượng của loại thuế này
- Mức thu thuế môn bài được quy định như sau :
+ Đối với các tổ chức kinh tế nộp thuế môn bài căn cứ vào vốn đăng ký kinh doanh ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư Được chi tiết theo bảng sau :
Bảng 1.1 Bậc thuế môn bài theo vốn đăng kí
Bậc thuế môn bài Vốn đăng ký Mức môn bài cả năm
Trang 32Bậc 1 Trên 1.500.000đ 1.000.000 Bậc 2 Trên 1.000.000 đến 1.500.000đ 1.750.000
c Thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ
- Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng được quy định rõ tại điều 4 của Luật
- Đối tượng nộp thuế là tổ chức, cá nhân sản xuất - kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế “gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức cá nhân khác nhập khẩu hàng hóa chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế
- Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng: là giá tính thuế và thuế suất Giá tính thuế được Luật quy định chi tiết áp dụng cho từng lĩnh vực hoạt động của hàng hóa, dịch vụ Cụ thể đối với hàng hóa, dịch vụ là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu; đối với các hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuế thu từng kỳ Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là khâu sản xuất, kinh doanh trong nước là giá bán đã có thuế tiêu thu đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng
- Thuế suất thuế giá trị gia tăng hiện nay chỉ quy định 3 mức thuế suất
là 0%, 5%, 10%
- Phương pháp tính thuế ; có hai phương pháp là phương pháp khấu trừ
và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
Trang 33* Đối với phương pháp khấu trừ thuế : Được tính theo các bước sau :
Số thuế GTGT
phải nộp =
Thuế GTGT đầu ra -
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
= Tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT
mua hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT
Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần, hợp tác xã các đơn vị tổ chức kinh doanh khác
*) Đối với phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng; được tính như sau :
Thuế GTGT
phải nộp =
GTGT của hàng hóa dịch vụ chịu thuế x
Thuế suất thuế của hàng hóa dịch vụ đó
+ Giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ được tính như sau :
Giá trị tăng thêm của
hàng hóa dịch vụ =
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra
-
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng
Đối tượng của thuế giá trị gia tăng trực tiếp là: tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về chế độ sổ sách, hóa đơn chứng từ để làm căn cứ tình thuế theo phương pháp khấu trừ thuế Các cơ sở kinh doanh mua bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ
Trang 34- Đặc điểm của thuế nhà, đất :
+ Thuế nhà, đất không thu vào đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối
+ Thuế nhà, đất được tính bằng hiện vật nhưng được thu bằng tiền Tuy nhiên mức thu cao hơn rất nhiều so với thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Đối tượng nộp thuế nhà, đất :
Tất cả các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng hoặc trực tiếp sử dụng đất
f Thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu đánh vào một số loại hàng hóa, dịch vụ nhất định Nó được đánh thuế độc lập với các loại thuế như giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu… nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách, thực hiện điều tiết thu nhập của những người có nhiều tiền, ngoài ra nó còn có tác dụng hướng dẫn tiêu dùng, bảo vệ môi trường
* Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt
Trang 35+ Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá hàng hóa và dịch vụ, ngoài tiêu dùng cuối cùng là đối tượng phải gánh chịu khoản thuế này
- Đối tượng của thuế thu nhập đặc biệt thường chỉ giới hạn ở những hàng hóa và dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục hàng hóa và dịch vụ đặc biệt do Nhà nước quy định thuế tiêu thu đặc biệt có đối tượng chịu thuế hẹp, chỉ bao gồm những hàng hóa, dịch vụ mang tính đặc biệt Việc coi một hàng hóa là đặc biệt hay thông thường là tuỳ thuộc vào luật pháp của từng quốc gia
Ở Việt Nam các mặt hàng được coi là đặc biệt và phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như: Thuốc lá, rượu, bia, hoạt động sòng bạc… Thuế còn có thể ấn định bằng số tuyệt đối cho một đơn vị sản phẩm hoặc một tỷ lệ nhất định trên giá bán của sản phẩm hàng hóa hay giá dịch vụ cung cấp Cách tính thuế đơn giản
và chi phí quản lý thu thuế thấp
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ thu một lần ở khâu sản xuất hoặc khâu nhập khẩu, khi mặt hàng này chuyển qua khâu lưu thông thì không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Đặc điểm này cho phép phân biệt thuế tiêu thụ đặc biết với thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng được thu trên mỗi khâu sản xuất luân chuyển của hàng hóa, dịch vụ
* Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Theo Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành, việc xác định hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được dựa trên 2 căn cứ sau
- Hàng hóa đó có thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt do Nhà nước quy định
Trang 36- Hàng hóa , dịch vụ đó có phải được tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam (thị trường nội địa) do vậy hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuất khẩu và được bán vào khu chế xuất được miễn thuế tiêu thụ đặc biệt
Dựa trên các căn cứ nêu trên, tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt quy định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bao gồm các hàng hóa, dịch vụ: Thuốc lá, rượu, bia, ô tô dưới 24 chỗ ngồi; xăng các loại; kinh doanh vũ trường, mát xa, ka ra ô kê; kinh doanh giải trí có đặc cược…
* Đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành quy định đối với nộp thuế tiêu thụ đặc biệt :
Đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt theo Thông tư 119/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 gồm :
- Tổ chức sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ gồm: + Đăng ký kinh doanh, thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật HTX
+ Các tổ chức kinh tế của Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác
+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nước ngoài hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các Công ty nước ngoài kinh doanh ở việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh doanh khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu
Trang 37* Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa, dịch vụ đó
+ Đối với hàng hóa sản xuất trong nước :
Giá tính thuế tiêu
thụ đặc biệt =
Giá bán chƣa có thuế tiêu thụ đặc biệt
1 + thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt
+ Đối với hàng hóa nhập khẩu :
Giá tính thuế tiêu thụ
đặc biệt hàng nhập khẩu =
Giá tính thuế nhập khẩu +
Thuế nhập khẩu
1.2.2 Nội dung công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Nội dung quản lý thu thuế là những hoạt động đã mà cơ quan thuế các cấp phải thực hiện trong quá trình quản lý thu thuế Nội dung quản lý thu thuế đối với DN trả lời câu hỏi các cơ quan quản lý thu thuế phải làm
gì để đảm bảo sự tuân thủ thuế của DN Quản lý thu thuế của nhà nước hiện nay được tổ chức theo một trong ba mô hình hoặc là kết hợp các mô hình này bao gồm quản lý thu thuế theo chức năng, theo khách hàng và theo sắc thuế Cho dù được tổ chức theo mô hình nào thì quản lý thu thuế đều phải thực hiện các nội dung quản lý thu thuế
Jit B.S.G xác định nội dung cơ bản của quản lý thu thuế đối với ĐTNT bao gồm: (1) đăng ký thuế (2) dịch vụ ĐTNT (3) xử lý các bản khai thuế và
Trang 38quyết toán thuế (4) thu thập thông tin về các giao dịch có khả năng chịu thuế (4) xử lý thông tin (5) phân tích rủi ro và lựa chọn các trường hợp để thanh tra (6) thanh tra và điều tra thuế (7) thu nợ thuế (8) các vấn đề pháp lý và xét xử (9) phân tích tài chính các kết quả hoạt động thu thuế [6, tr.45]
Tổ chức các nước phát triển (OECD) cho rằng việc phân tích nội dung quản lý thu thuế là để xem xét phạm vi của sự thay đổi nhằm đáp ứng mục tiêu quản lý thu thuế Các hoạt động liên quan đến quản lý thu thuế theo OECD bao gồm 2 nhóm hoạt động [6, tr.15]:
• Các hoạt động xử lý giao dịch như đăng ký thuế, xử lý bản khai thuế, thu thập thông tin về các giao dịch có khả năng chịu thuế
• Các hoạt động đảm bảo sự tuân thủ thuế của DN như các hoạt động giáo dục, tư vấn, kiểm toán, thanh tra, ngăn chặn
Từ các quan điểm trên, để xác định rõ nội dung quản lý thu thuế, chúng
ta có thể dựa vào mô hình chuỗi giá trị - mô hình thể hiện các hoạt động của
cơ quan quản lý thu thuế Theo mô hình này, hoạt động của cơ quan quản lý thu thuế bao gồm 2 nhóm là hoạt động hỗ trợ và hoạt động chính Trong đó, các hoạt động chính bao gồm (1) lập chiến lược và các chính sách quản lý thu thuế; (2) lập dự báo thu thuế đối với DN (3) tuyên truyền, khuyến khích và dịch vụ hỗ trợ tư vấn; (4) quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế và nộp thuế; (5) thanh tra thuế; (6) thu nợ và cưỡng chế thuế; (7) xử lý khiếu nại và tố cáo
1.2.2.1 Hoạch định mục tiêu và chính sách quản lý thu thuế
Mục tiêu của quản lý thu thuế nói chung thường được xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể như: Số thuế thu trong một thời gian nhất định; tỷ lệ huy động nguồn thu từ thuế vào ngân sách nhà nước; tốc độ tăng trưởng về số thu của thời kỳ kế hoạch so với thời kỳ trước; tỷ trọng các sắc thuế cần đạt trong
Trang 39từng thời kỳ…v.v Chúng được thể hiện ở các giải pháp thuộc chức năng quản lý thu thuế đó là các chính sách quản lý thu thuế
Hiện nay, để thực hiện mục tiêu quản lý thu thuế là đạt được sự tuân thủ cao nhất của các DN, quản lý thu thuế ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
đã và đang thực hiện phương thức quản lý thuế hiện đại theo hệ thống tự khai
tự nộp và tự chịu trách nhiệm SAS (self-assessment system)
1.2.2.2 Lập dự toán thu thuế đối với DN
- Phân tích biến động kinh tế xã hội, sự thay đổi các chính sách thuế, tình hình hoạt động trên thực tế của các DN
- Phân tích hành vi tuân thủ thuế của các DN
- Phân tích khả năng nguồn lực có thể huy động cho hoạt động quản lý thu thuế
- Xác định khả năng thu thực tế của năm ngân sách và những năm tiếp theo
1.2.2.3 Tuyên truyền, khuyến khích và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
Công tác tuyên truyền, khuyến khích và dịch vụ hỗ trợ DN nhằm:
- Tác động vào những hành vi tâm lý xã hội của DN, nâng cao đạo đức và tinh thần thuế, tăng cường tính tự nguyện tuân thủ của DN
- Giảm chi phí quản lý hành chính thuế như các chi phí thanh tra, cưỡng chế thuế
Các hình thức tuyên truyền khuyến khích
- Đánh giá cao những DN làm đúng nghĩa vụ qua đó nâng cao tinh thần thuế và khuyến khích sự tuân thủ của các DN khác:
- Sử dụng phần thưởng cho việc tường trình các giao dịch bằng tiền mặt: mục tiêu là tăng khả năng quan sát được của các giao dịch tiền mặt bằng cách thúc đẩy sự sẵn có của hồ sơ giao dịch của doanh nghiệp
- Các giải pháp như giảm nhẹ, bồi thường thiệt hại do bị truy tố một phần hoặc toàn bộ các hình phạt bằng tiền Mục đích là cải thiện kết
Trang 40quả tuân thủ thuế dựa trên các tiêu chí đăng ký thuế, đệ trình các bản kê khai thuế, lưu giữ các thông tin chính xác trong các tài liệu thuế, thanh toán
mà họ để lại cho đối tượng
Dịch vụ hỗ trợ tư vấn là các dịch vụ thông tin mà cơ quan thuế cung cấp cho DN để họ có thể hoàn thành nghĩa vụ thuế Mục tiêu của dịch vụ hỗ trợ và tư vấn nhằm:
- Tạo điều kiện cho các DN nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ thuế, đảm bảo cho họ có những kiến thức cần thiết để tuân thủ thuế
- Giảm thiểu các chi phí không cần thiết do thiếu thông tin về hệ thống thuế và quá trình tuân thủ
- Đảm bảo DN sẽ được đối xử công bằng và tôn trọng trong quá trình tuân thủ thuế, tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa cơ quan thuế và DN
- Giảm sai lỗi của các bản khai thuế, hạn chế những sự không tuân thủ không dự định, giúp cơ quan thuế tập trung vào các hình thức vi phạm thuế khác, và giảm nhẹ công việc của các chức năng quản lý thu thuế khác
Nội dung hỗ trợ và tư vấn bao gồm:
- Cung cấp đầy đủ các thông tin về luật thuế có liên quan đến nghĩa vụ thuế, thông tin về các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế và những thông tin cần thiết về quy trình tuân thủ thuế Hỗ trợ và tư vấn hoàn thành các thủ