Bản thân người thầy đầu tiên ấy vẫn ở lại với làng, đã trở thành một ông lão đưa thư mẫn cán Đuy-sen, thế nhưng khi các em bé gọi quả đồi có hai cây phong là “Trường Đuy-sen” như bao dân[r]
Trang 1Ngày soạn:…………
Ngày giảng:………….
Ôn luyện về chủ đề, bố cục của văn bản Các văn bản “Tôi đi học - Trong lòng mẹ”
A Mục tiêu bài học:
- HS nắm được nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật chính của các văn bản
“Tôi đi học - Trong lòng mẹ”
- Củng cố được kiến thức về chủ đề và bố cục của văn bản
- Rèn kỹ năng nhận biết và thực hành về chủ đề, bố cục của văn bản
B Chuẩn bị:
GV: Đọc tài liệu - soạn bài
HS: Ôn các tác phẩm: Tôi đi học, Trong lòng mẹ
Ôn về chủ đề và bố cục của văn bản
C Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học:
I ổn định tổ chức:
Lớp 8A2 Sĩ số:…… Vắng:……
II Kiểm tra bài cũ:
Kiểm tra sách vở, đồ dùng của HS
III Bài mới:
GV: Giúp HS củng cố lại những kiến
thức đã học về các văn bản
- Nhận xét của em về văn bản Tôi đi học
của Thanh Tịnh?
- Nội dung chính của tập hồi ký Những
ngày thơ ấu của tác giả Nguyên Hồng?
I Một số lưu ý:
1 Các văn bản Tôi đi học, Trong lòng mẹ
- Tôi đi học không thuộc loại truyện
ngắn chứa đựng nhiều sự kiện, nhân vật, những xung đột xã hội…mà là những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường qua hồi tưởng của nhân vật “Tôi”
- Cần chú ý khai thác sự kết hợp hài hoà giữa miêu tả với biểu cảm
- Những ngày thơ ấu là tập hồi ký viết về
tuổi thơ cay đắng của tác giả Từ cảnh ngộ và tâm sự của chú bé Hồng, tác giả còn cho thấy bộ mặt lạnh lùng của một xã hội chỉ trọng đồng tiền, đầy những thành kiến cổ hủ, thói nhỏ nhen, độc ác của đám thị dân tiểu tư sản khiến cho tình máu mủ ruột thịt cũng thành khô héo Tác phẩm gồm 9 chương, “Trong lòng mẹ” là chương IV
2 Chủ đề và bố cục của văn bản
Trang 2- Em hiểu gì về chủ đề của văn bản?
- Việc sắp xếp các ý thường theo những
thứ tự nào?
- Chủ đề của văn bản Tôi đi học nằm ở
phần nào?
(D Cả 3 yếu tố trên)
- Muốn tìm hiểu chủ đề của văn bản, cần
tìm hiểu những yếu tố nào?
(A Tất cả các yếu tố của văn bản)
- Tính thống nhất về chủ đề của văn bản
thể hiện ở chỗ nào?
(D Cả ba yếu tố trên)
- Các ý trong đoạn trích Trong lòng mẹ
được sắp xếp theo trình tự nào?
(D Cả A, B, C đều đúng)
- Khái niệm chủ đề trong lí thuyết văn bản bao gồm đối tượng và vấn đề chính
mà văn bản biểu đạt Chủ đề có nội dung bao quát hơn đề tài
- Tính thống nhất về chủ đề của văn bản
là một trong những đặc trưng quan trọng tạo nên văn bản Đặc trưng này có liên
hệ mật thiết với tính mạch lạc, tính liên kết
- Tính thống nhất về chủ đề của văn bản
được thể hiện trên cả hai bình diện: nội dung và cấu trúc - hình thức
- Việc sắp xếp các ý có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp thu của người đọc - phụ thuộc vào đối tượng phản ánh, loại hình văn bản Một số cách trình bày: + Theo thứ tự thời gian
+ Theo lô gíc khách quan của đối tượng + Theo lô gíc chủ quan
+ Theo quy luật tâm lý, cảm xúc
II Luyện tập:
1 Bài tập 1: Trắc nghiệm
Câu 1: Chủ đề của văn bản Tôi đi học
nằm ở phần nào?
A Nhan đề của văn bản
B Quan hệ giữa các phần của văn bản
C Các từ ngữ, câu then chốt trong văn bản
D Cả 3 yếu tố trên
Câu 2: Muốn tìm hiểu chủ đề của văn
bản, cần tìm hiểu những yếu tố nào?
A Tất cả các yếu tố của văn bản
C Các ý lớn của văn bản
B Câu kết thúc của văn bản
D Câu mở đầu của mỗi đoạn trong VB
Câu 3: Tính thống nhất về chủ đề của
văn bản thể hiện ở chỗ nào?
A Văn bản có đối tượng xác định
B Văn bản có tính mạch lạc
C Các yếu tố bám sát chủ đề đã định
D Cả ba yếu tố trên
Câu 4: Các ý trong đoạn trích Trong
lòng mẹ được sắp xếp theo trình tự nào?
A Thời gian
B Sự phát triển của sự việc
Trang 3- Nhận xét nào nói đúng nhất quan hệ ý
nghĩa của các câu trong đoạn văn với
nhau và với câu chủ đề?
(D Gồm B và C)
- Nhận định nào sau đây nói đúng nhất
về nội dung của đoạn trích Trong lòng
mẹ?
(D Chủ yếu trình bày diễn biến tâm
trạng của bé Hồng)
GV: Nêu yêu cầu
HS: Phân tích cảm xúc của nhân vật Tôi
(chú ý tới mạch cảm xúc phát triển theo
trình tự từ trên đường tới trường - trên
sân trường - trong lớp học)
- Cảm xúc của chú bé trên đường tới
trường?
C Không gian
D Cả A, B, C đều đúng
Câu 5: Nhận xét nào nói đúng nhất quan
hệ ý nghĩa của các câu trong đoạn văn với nhau và với câu chủ đề?
A Bình đẳng với nhau về mặt ý nghĩa
B Cùng làm rõ nội dung ý nghĩa của câu chủ đề
C Bổ sung ý nghĩa cho nhau
D Gồm B và C
Câu 6: Nhận định nào sau đây nói đúng
nhất về nội dung của đoạn trích Trong lòng mẹ?
A Chủ yếu trình bày nỗi đau khổ của
mẹ chú bé Hồng
B Chủ yếu trình bày tâm địa độc ác của người cô của bé Hồng
C Chủ yếu trình bày sự hờn tủi của bé Hồng khi gặp mẹ
D Chủ yếu trình bày diễn biến tâm trạng của bé Hồng
2 Bài tập 2:
Cảm xúc của nhân vật “Tôi” được thể hiện qua truyện ngắn Tôi đi học của nhà văn Thanh Tịnh
Tôi đi học của Thanh Tịnh đã thể hiện 1 cách xúc động tâm trạng hồi hộp, cảm giác bỡ ngỡ của nhân vật Tôi, chú bé
được mẹ đưa đến trường vào học lớp Năm trong ngày tựu trường
Đó là “một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh”, chú bé mặc “chiếc áo vải dù
đen dài”, chú cảm thấy “trang trọng và
đứng đắn” Lòng chú “tưng bừng rộn rã”
được mẹ hiền “âu yếm nắm tay” dẫn đi trên con đường làng thân thuộc “dài và hẹp” Chú vô cùng xúc động, cảm thấy
bỡ ngỡ, cảm thấy lạ, tưởng như con
đường làng và mọi cảnh vật xung quanh
“đều thay đổi” Chú đã nghĩ về sự bỡ ngỡ ấy: “vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học”
- Chú bâng khuâng tự hào thấy mình đã lớn khôn, không còn lêu lổng đi ra đồng thả diều, nô đùa…
Trang 4- Nhận xét về bố cục, trình tự văn bản?
Tình cảm yêu thương mẹ thắm thiết của
chú bé Hồng thể hiện qua đoạn trích
Trong lòng mẹ như thế nào?
- Khi đứng trước ngôi trường, chú bé càng hồi hộp, bỡ ngỡ Chú ngạc nhiên trước cảnh đông vui… chú lo sợ vẩn vơ
- Chú cảm thấy mình chơ vơ, vụng về, lúng túng khi vào lớp Chú xúc động hồi hộp đến độ quả tim như ngừng đập… khi ông Đốc gọi đến tên…
Thanh Tịnh đã diễn tả những kỷ niệm, những diến biến tâm trạng của nhân vật Tôi trong buổi tựu trường theo trình tự thời gian - không gian: Lúc đầu là buổi sớm mai mẹ dẫn đi trên con đường làng, sau đó là lúc đứng giữa sân trường, một hồi trống vang lên, nghe ông Đốc đọc tên và dặn dò, cuối cùng là khi thầy giáo trẻ đưa vào lớp
Kỷ niệm ấy rất sâu sắc và đẹp, vì thế sau này “hàng năm….buổi tựu trường”
3 Bài tập 3
- Chú bé Hồng lớn lên trong tình cảnh túng quẫn của gia đình Phải sống trong
sự ghẻ lạnh của họ hàng giàu có Chú rất thương mẹ của mình Chú đã sớm nhận
ra nỗi bất hạnh mà mẹ chú phải gánh chịu
- Khi thấy bà cô mình “cố ý gieo rắc vào
đầu óc những mối hoài nghi để Hồng khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”, chú bé đã phản ứng lại Lúc đầu là “cúi đầu không
đáp”, sau đó là nở nụ cười chua xót rồi
im lặng cúi đầu xuống đất
-> Tình yêu thương mẹ mãnh liệt trỗi dậy - sự xúc động bật ra thành tiếng khóc- nước mắt của tình thương
- Tình thương ấy khiến bé Hồng căm giận những cổ tục đã đầy đoạ mẹ mình
Nó đã giúp bé Hồng nhận ra đâu là lẽ phải, đâu là những người, những tập tục cần lên án Nó còn được biểu hiện một cách sinh động trong lần gặp mẹ sau này
IV Hướng dẫn học ở nhà:
- Học lại những kiến thức vừa củng cố
- Chuẩn bị ôn Lão Hạc, Tức nước vỡ bờ
D Rút kinh nghiệm:
Trang 5Ngày soạn:…………
Ngày giảng:………….
Tìm hiểu một số tác giả đã học
A Mục tiêu bài học:
- Củng cố cho học sinh nội dung và nghệ thuật các tác phẩm văn học: Hai cây phong, Cô bé bán diêm, Chiếc lá cuối cùng
- Giới thiệu cho học sinh một số tác giả đã học
B Chuẩn bị:
GV: Đọc tài liệu - soạn bài
HS: Ôn các văn bản đã học – Các kiến thức tiếng Việt từ đầu năm
C Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học:
I ổn định tổ chức:
Lớp 8A2 Sĩ số:…… Vắng:……
II Kiểm tra bài cũ:
III Bài mới:
Nhà văn Trin-ghớt Ai-ma-tốp - Giải thưởng Lờ-nin (1963), 3 lần được trao tặng Giải thưởng Quốc gia (Liờn Xụ) vào cỏc năm 1968, 1980, 1983, bị đột quỵ do suy thận nặng hụm 16-5-2008 được đưa đến điều trị ở bệnh viện đa khoa Nu-rem-bộc (Đức) đó qua đời ngày 10-6-2008
Ngày 11-6, chiếc chuyờn cơ của Tổng thống Kiếc-gưstan đó chở gia đỡnh và phỏi đoàn của chớnh phủ do Phú Thủ tướng Ai-đa-ra-li-ộp dẫn đầu đó bay từ thủ đụ Bớc-skết sang Nuyn-bộc để đún thi thể nhà văn về Kiếc-gư-stan
Tỏc phẩm của Trin-ghớt Ai-ma-tốp đó được dịch và xuất bản ra hơn 170 thứ tiếng trờn thế giới ễng là một trong cỏc nhà văn được người đọc trờn thế giới biết đến nhiều nhất Những tỏc phẩm được giới phờ bỡnh văn học đỏnh giỏ rất cao là “Một ngày dài hơn thế kỷ” xuất bản năm 1980 và “Đoạn đầu đài” - 1988 Độc giả Việt Nam cũng đó cú dịp làm quen với cỏc tỏc phẩm nổi tiếng của nhà văn được mệnh danh là “người của nỳi đồi và thảo nguyờn” này
Được tin Trin-ghớt Ai-ma-tốp qua đời, Thủ tướng Nga Vla-đi-mia Pu-tin đó gửi ngay điện chia buồn đến gia quyến nhà văn Nội dung bức điện cú đoạn “Đõy là một tổn thất khụng gỡ bự đắp được Trin-ghớt
Ai-ma tốp sống mói trong ký ức chỳng ta với đầy đủ ý nghĩa của một nhà văn, nhà tư tưởng, nhà trớ thức và nhà nhõn đạo vĩ đại.”
Chớnh phủ Kiếc-gư-stan đó quyết định lấy năm 2009 làm Năm Ai-ma-tốp ở Kiếc-gư-stan và sẽ tổ chức Lễ tang cấp nhà nước để tưởng nhớ Danh nhõn văn hoỏ Trin-ghớt Ai-ma-tốp vào thứ bảy 14-6-2008 tại khu tưởng niệm A-ta Bõy-ớt ở thủ đụ Bớt-skết với sự tham gia của đại diện cỏc quốc gia SNG và cỏc tổ chức văn húa thế giới
Nguyễn Duy tờn thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xó Đụng Vệ, thị xó Thanh Húa (nay là thành phố Thanh Húa), tỉnh Thanh Húa Năm 1965, từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dõn quõn trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đỏnh phỏ ỏc liệt của khụng quõn Mỹ trong những năm chiến tranh Việt nam Năm 1966 ụng nhập ngũ, trở thành lớnh đường dõy của bộ đội thụng tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trờn cỏc chiến trường đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Nam Lào, chiến trường miền Nam, biờn giới phớa Bắc (năm 1979) Sau đú ụng giải ngũ, làm việc tại Tuần bỏo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và là Trưởng Đại diện của bỏo này tại phớa Nam.
Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang cũn là học sinh trường Phổ thụng Trung học Lam Sơn,
Thanh Húa Năm 1973, ụng đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần bỏo Văn nghệ với chựm thơ: Hơi ấm
ổ rơm, Bầu trời vuụng, Tre Việt nam trong tập Cỏt trắng Ngoài thơ, ụng cũng viết tiểu thuyết,
bỳt ký Năm 1997 ụng tuyờn bố "gỏc bỳt" để chiờm nghiệm lại bản thõn rồi tập trung vào làm lịch thơ, in thơ lờn cỏc chất liệu tranh, tre, nứa, lỏ, thậm chớ bao tải Từ năm 2001, ụng in nhiều thơ
Trang 6trên giấy dó Ông đã biên tập và năm 2005 cho ra mắt tập thơ thiền in trên giấy dó (gồm 30 bài thơ thiền thời Lý, Trần do ông chọn lọc) khổ 81cm x 111 cm có nguyên bản tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Việt, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Anh với ảnh nền và ảnh minh họa của ông.
Nguyễn Duy được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Cảm nhận CÔ BÉ BÁN DIÊM
Ai đã từng đọc Cô bé bán diêm của nhà văn Đan Mạch An-đéc-xen hẳn sẽ không thể nào quên
những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ Kết cục câu chuyện thật buồn nhưng sức ám ảnh của những giấc mơ tuyệt đẹp vẫn ắp đầy tâm trí người đọc, người nghe qua những lời kể và sự miêu tả rất cuốn hút của An-đéc-xen.
Trong bóng tối và cái rét cắt thịt da của xứ sở Đan Mạch, ta như nhìn thấy rõ một cô bé đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố Một cô bé mồ côi khốn khổ, không dám về nhà vì chưa bán được bao diêm nào thì sẽ bị cha đánh Nhà văn đã tạo ra cảm giác thật sống động khi ông nhập vào những khoảnh khắc tâm trạng của cô bé
Ấn tượng đậm nét đầu tiên khơi lên mối cảm thương chính là hình ảnh cô bé như lọt thỏm giữa cái mênh mông của bóng đêm vào thời khắc sắp giao thừa Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn
và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống Ngôi nhà xinh xắn với những dây trường xuân trong những ngày đầm ấm tương phản với thực tại cuộc sống của hai cha con trong một xó tối tăm, sự nghèo khổ kéo theo những lời mắng nhiếc chửi rủa của người cha khi gia sản đã tiêu tán Để nguôi cảm giác lạnh,
em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người” nhưng có lẽ chính nỗi sợ hãi còn mạnh hơn giá rét đã khiến em “càng thấy rét buốt hơn” Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em” “Ở nhà cũng rét thế thôi”, điều đáng sợ nhất đối với cô bé không phải là thiếu hơi ấm mà là thiếu tình thương Thật đáng thương khi thân hình bé nhỏ của em phải chống chọi vô vọng với cảm giác giá buốt bên ngoài và cái lạnh từ trong trái tim khiến “đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”.
Lúc ấy, em chỉ ao ước một điều thật nhỏ nhoi: “Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?” nhưng dường như em cũng không đủ can đảm vì làm như vậy em sẽ làm hỏng một bao diêm không bán được Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”, để bắt đầu cho một hành trình mộng tưởng vượt lên thực tại khắc nghiệt Giấc mơ của em bắt đầu từ lúc nhìn vào ngọn lửa: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt” Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng” Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng” Đó là ước mơ thật đơn giản trong khi thực tế lại phũ phàng “tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút… trong đêm đông rét buốt” Ước ao được ngồi hàng giờ “trước một lò sưởi” cũng biến tan khi “lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất” Khoảnh khắc em “bần thần cả người” khi hình dung ra những lời mắng chửi của cha khiến ta phải nao lòng Bóng tối lại phủ lên màu u ám trong tâm hồn em.
Có lẽ vì vậy, nhà văn đã để em tiếp tục thắp lên que diêm thứ hai, thắp lên niềm vui nhỏ nhoi dù chỉ là trong mộng tưởng Không chỉ phải chống chọi với cái rét, cô bé còn phải cầm cự với cơn đói khi cả ngày chưa có miếng nào vào bụng Bởi thế, ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu” Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm
áp đã đến với em, khi em nhìn thấy : “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay” Giá như tất cả những hình ảnh tưởng tượng biến thành hiện thực thì em sẽ vui sướng biết bao, khi “ngỗng nhảy ra khỏi đĩa” sẽ mang đến cho em bữa ăn thịnh soạn để vượt lên phút đói lả người Nhưng một lần nữa, ảo ảnh lại vụt biến, em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu” Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.
Và một lần nữa, que diêm tiếp theo lại sáng bừng lên, để em được sống trong những giấc mơ đẹp nhất của một em bé Trong một cuộc sống phải từng phút từng giây vật lộn mưu sinh, em
đã phải từ giã những niềm vui được đùa chơi của con trẻ Ánh sáng từ que diêm đã toả ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh
Trang 7màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng” Điều trớ trêu nghiệt ngã là tất cả những hình ảnh tươi đẹp ấy em chỉ kịp nhìn nhưng không thể chạm tay vào, bởi lẽ tất cả chỉ là ảo ảnh, như những ngôi sao trên trời mà em không thể với tới Trái tim ta như nghẹn lại cùng lời kể của nhà văn, bởi lẽ em bé đang dần kiệt sức và sắp phải gục ngã trước cái lạnh chết người của xứ
sở bà chúa Tuyết.
Trong giây phút cuối cùng của đời em, có lẽ nhà văn không muốn người đọc phải chứng kiến một cái chết thảm thương vì rét, vì đói, vì thiếu tình thương và niềm vui trong cuộc đời khốn khổ của cô bé, nên đã cho em rất nhiều ánh lửa và niềm vui được gặp lại bà nội hiền hậu mà em rất mực kính yêu Hình ảnh bà hiện lên trong những phút cuối cùng của em bé không hẳn là ảo ảnh mà chính là sự thực đã được nhìn qua tâm hồn thánh thiện của em Bà em hiện ra với nụ cười như ban cho em diễm phúc được sống lại quãng đời ấm áp đầy tình thương thuở trước Tiếng reo của em khi gặp lại bà cũng những lời cầu xin ngây thơ là tiếng nói cuối cùng của một người sắp giã từ trần thế Em được sống với niềm vui trọn vẹn của riêng mình nhưng chúng ta
có lẽ khó ai cầm được dòng nước mắt: “Dạo ấy, bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà Chắc Người không từ chối đâu.” Trong lời tâm sự ấy, ta hiểu được sự thực về cuộc đời nghiệt ngã và bất công mà em đang hứng chịu Điều em cần chính là tình thương thật sự trong một thế giới bao dung và nhân hậu Bởi thế, cái chết đối với em không còn là một điều đáng sợ
Em được về với bà, đến một thế giới khác “chẳng còn đói rét, buồn đau nào đe doạ” Nhà văn
đã để chính đôi tay bé nhỏ của em thắp lên Ánh sáng – “diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày” – để em được thấy bà em “to lớn và đẹp lão” đến đón em cùng bay vào thế giới ước
mơ trong ánh sáng huy hoàng xua hết tối tăm đè nặng cuộc đời em.
Câu chuyện kết thúc Ngày mới lại bắt đầu, “mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt” Sự sống vẫn tiếp diễn, mọi người đón “ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể
em bé ngồi giữa những bao diêm”, nhìn em để buông ra lời nhận xét thờ ơ: “chắc nó muốn sưởi cho ấm” Không ai được biết những cái kỳ diệu em đã trông thấy, chỉ duy nhất một người chứng kiến được “cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”, đó chính là nhà văn Ông đã cúi xuống nỗi đau của một em bé bất hạnh, kể cho ta nghe câu chuyện cảm động này bằng tất cả tình yêu thương vô bờ bến đối với trẻ thơ và những con người nghèo khổ An-đéc-xen đã cất lên tiếng nói cảnh tỉnh những trái tim đông cứng như băng giá, gửi bức thông điệp của tình thương đến với mọi người
Cảm nhận đoạn trích "Hai cây phong"
Truyện ngắn Người thầy đầu tiên của nhà văn Ai-ma-tốp đã đưa chúng ta về với làng nhỏ
Ku-ku-rêu của nước cộng hoà Cư-rơ-gư-xtan thuộc Liên-Xô (cũ) Câu chuyện về người chiến sĩ Hồng quân, đoàn viên thanh niên cộng sản Đuy-sen – người thầy đầu tiên đã trồng hai cây phong nhỏ cùng cô bé An-tư-nai thuở trước Để bốn chục năm sau, cô bé đã là một viện sĩ
danh tiếng, còn Hai cây phong đã trở thành một phần không thể thiếu trong ký ức làng quê của
biết bao thế hệ dân làng Ku-ku-rêu.
Kỷ niệm gắn bó với hai cây phong được kể lại theo hai mạch dẫn lồng vào nhau: mạch dẫn chuyện trực tiếp của nhân vật “tôi” – một hoạ sĩ đã lớn lên từ chính mảnh đất này và mạch kỷ niệm của cả một thế hệ “chúng tôi” Ký ức thật đậm nét của tuổi thơ đã khiến cho người hoạ sĩ – nhân vật “tôi” đã tái hiện lại thật đẹp và xúc động hình ảnh hai cây phong – biểu tượng của quê hương, một mảnh hồn làng sống động.
Bắt đầu của những ký ức về làng quê là lời dẫn chuyện đưa người đọc trở về một nơi nằm ven
chân núi, trên một cao nguyên rộng, có những khe nước ào ào từ nhiều ngách đá đổ xuống
Ku-ku-rêu đã hiện ra với tất cả vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thung lũng, thảo nguyên, rặng
núi Hai cây phong không phải là món quà của tự nhiên nhưng đã từ rất lâu, những đứa trẻ đã biết chúng từ thuở bắt đầu biết mình Để cũng rất tự nhiên, hình ảnh hai cây phong đã trở thành
của riêng làng Ku-ku-rêu: “chúng luôn hiện ra trước mắt hệt như những ngọn hải đăng đặt trên
núi”, trở thành mốc định hướng cho mọi người tìm đến Riêng đối với “tôi”, “mỗi lần về quê, khi xuống xe lửa đi qua thảo nguyên về làng, tôi đều coi bổn phận đầu tiên là từ xa đưa mắt tìm hai cây phong thân thuộc ấy" Anh đã dành tình cảm đặc biệt với hai cây phong như với những
người bạn, nhìn bằng cặp mắt chan chứa tình cảm yêu thương, nên dù khó nhìn đến mấy, anh
bao giờ cũng cảm biết được chúng, lúc nào cũng nhìn rõ Hai cây phong đã trở thành một phần
tâm hồn của anh, chi phối cả niềm vui, nỗi buồn của người hoạ sĩ.
Trang 8Bằng tỡnh yờu ấy, anh đó tạo nờn một bức tranh thật sinh động, đẹp đẽ Một bức tranh ngõn
nga cả những giai điệu “tiếng lỏ reo cho đến khi say sưa ngõy ngất” Đoạn văn miờu tả hỡnh ảnh hai cõy phong đẹp như một bài thơ về một loài cõy “cú tiếng núi riờng và hẳn phải cú một tõm
hồn riờng, chan chứa những lời ca ờm dịu” Cú lẽ chớnh tỡnh yờu quờ hương của người hoạ sĩ
đó đem đến cảm giỏc choỏng ngợp say sưa ấy: “Dự ta tới đõy vào lỳc nào, ban ngày hay ban
đờm, chỳng cũng vẫn nghiờng ngả thõn cõy, lay động lỏ cành, khụng ngớt tiếng rỡ rào theo nhiều cung bậc khỏc nhau Cú khi tưởng chừng như một làn súng thủy triều dõng lờn vỗ vào bói cỏt, cú khi lại nghe như một tiếng thỡ thầm thiết tha nồng thắm chuyển qua lỏ cành như một đốm lửa vụ hỡnh, cú khi hai cõy phong bỗng im bặt một thoỏng, rồi khắp lỏ cành lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào” Ngay cả khi thời tiết thay đổi khắc nghiệt, hai cõy phong
ấy vẫn như một con người bền bỉ kiờn cường đối chọi với sức mạnh tàn phỏ của bóo dụng,
“nghiờng ngả tấm thõn dẻo dai và reo vự vự như một ngọn lửa bốc chỏy rừng rực" Cảm nhận
của tuổi thơ đó được người họa sĩ ấy trõn trọng gỡn giữ, ngay cả khi khỏm phỏ ra điều bớ ẩn về
hai cõy phong bằng những giải thớch chớnh xỏc khoa học thỡ : “việc khỏm phỏ ra chõn lớ giản
đơn ấy vẫn khụng làm tụi vỡ mộng xưa, khụng làm tụi bỏ mất cỏch cảm thụ của tuổi thơ mà tụi cũn giữ đến tận ngày nay” Bởi lẽ cõy phong ấy đó gắn với cả một thời tươi đẹp: “Tuổi trẻ của tụi đó để lại nơi ấy, bờn cạnh chỳng như một mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh…” Hỡnh ảnh
thời ấu thơ đó tạo thành khụng gian cổ tớch rất riờng, phải chăng chớnh từ tỡnh yờu và sự gắn bú với hai cõy phong, đó làm cậu bộ năm xưa lớn lờn trở thành họa sĩ với mong muốn vẽ lại linh hồn nồng thắm của làng quờ?
Hai cõy phong ấy cũn là kỷ niệm chung của chỳng tụi – bọn con trai tinh nghịch ở làng
Ku-ku-rờu, những người bạn cựng trang lứa của người họa sĩ Đú là tất cả những ngày thỏng được vui
chơi, chạy nhảy giữa nỳi đồi rộng lớn , trong búng rõm mỏt rượi và tiếng lỏ xào xạc dịu hiền của
hai cõy phong Đẹp làm sao khoảnh khắc những cậu bộ ấy được nõng lờn cao từ những cành cao ngất, cao đến ngang tầm chim bay , một thế giới khỏc đó được mở ra, vượt ra khỏi giới hạn
của làng quờ Ku-ku-rờu nhỏ bộ, “như cú một phộp thần thụng nào vụt mở ra trước mắt chỳng tụi
cả một thế giới đẹp đẽ vụ ngần của khụng gian bao la và ỏnh sỏng” Hai cõy phong trở thành bệ
đỡ, nõng cỏnh ước mơ cho những đứa trẻ, mở tầm nhận thức về một thế giới đầy những điều
mới lạ cần khỏm phỏ, hướng về “những miền đất bớ ẩn đầy sức quyến rũ lẩn sau chõn trời xa
thẳm biờng biếc kia” Cũng như bạn bố của mỡnh, “tụi” – chỳ bộ sau này là họa sĩ cũng trải qua
cảm giỏc “tim đập rộn ràng vỡ thảng thốt và vui sướng, rồi trong tiếng xào xạc khụng ngớt ấy, tụi
cố hỡnh dung ra những miền xa lạ kia” Hai cõy phong đó trở thành người bạn lớn, người bạn
tõm tỡnh thõn thiết đem lại những niềm vui vỡ oà hạnh phỳc cho tuổi thơ.
Khi hưởng thụ niềm vui trong bao thỏng ngày hồn nhiờn thơ mộng bờn hai cõy phong ấy, khụng
cậu bộ nào đặt cõu hỏi về người đó vun mầm, ấp ủ những niềm hi vọng, đem lại hạnh phỳc tuổi
thơ Đú cũng là điều bỡnh thường với bất cứ em bộ nào Hai cõy phong của người chiến sĩ Hồng quõn, đoàn viờn thanh niờn cộng sản Đuy-sen đó cựng trồng với em bộ khốn khổ An-tư-nai trong những ngày làng Ku-ku-rờu cũn chỡm đắm trong lạc hậu tối tăm và những hủ tục cũn
đố nặng trong đời sống dõn làng những năm đầu sau cỏch mạng thỏng Mười đó trở thành chứng nhõn cho sự lớn khụn của bao thế hệ Bản thõn người thầy đầu tiờn ấy vẫn ở lại với làng, đó trở thành một ụng lóo đưa thư mẫn cỏn Đuy-sen, thế nhưng khi cỏc em bộ gọi quả đồi
cú hai cõy phong là “Trường Đuy-sen” như bao dõn làng, cú mấy ai cũn nhớ ụng lóo ấy chớnh là thầy Đuy-sen, người đem đến ỏnh sỏng cỏch mạng gúp phần xoỏ tan đi búng tối cho bao cuộc đời? Hai cõy phong cũn là minh chứng cho sự hy sinh lặng thầm của những người cộng sản trẻ tuổi đó khụng ngại ngần cống hiến thời thanh xuõn tươi đẹp cho quờ hương thay da đổi thịt Tỡnh cảm yờu mến hai cõy phong của “tụi”, của “chỳng tụi”, của những người dõn làng Ku-ku-rờu khiến chỳng ta trõn trọng chớnh là vỡ hai cõy phong ấy gắn với cõu chuyện về một con người cao đẹp, người thầy giỏo khụng cú bằng sư phạm nhưng đó vun trồng bao ước mơ, hi vọng cho những trũ nhỏ của mỡnh.
IV Hướng dẫn học ở nhà:
- Ôn kỹ về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm đã học
- Chuẩn bị ôn phần tiễng Việt
D Rút kinh nghiệm:
Trang 9Ngày soạn:…………
Ngày giảng:………….
ôn tập tiếng việt
A Mục tiêu bài học:
- HS củng cố lí thuyết về trợ từ, thán từ, dấu câu, trường từ vựng, …
- Rèn kỹ năng làm bài tập, viết đoạn văn
- Thực hành sử dụng trong nói và viết
B Chuẩn bị:
GV: Đọc tài liệu - soạn bài
HS: Ôn kiến thức đã học phần tiếng Việt
C Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học:
I ổn định tổ chức:
Lớp 8A2 Sĩ số:…… Vắng:……
II Kiểm tra bài cũ:
III Bài mới:
- Khi nào thì 1 từ ngữ được coi là có
nghĩa rộng?
- Khi nào thì 1 từ ngữ được coi là có
nghĩa hẹp?
- VD: Từ giáo viên có nghĩa rộng hơn từ
thầy giáo, cô giáo, nhưng lại có nghĩa
hẹp hơn từ người
- Thế nào là trường từ vựng ?
(VD: Trường từ vựng chỉ các môn khoa
học: Hoá học, sinh học, toán học,vật lí,
văn học )
- Thế nào là từ tượng hình? Cho ví dụ?
(VD: núng nính, thướt tha, lờ đờ )
- Thế nào là từ tượng thanh? Cho ví dụ?
(VD: Vo ve, róc rách, ríu rít )
I Lý thuyết 1- Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ
và trường từ vựng:
- Cấp độ khái quát nghĩa của từ:
+ Một từ có nghĩa rộng khi phạm vi nghĩa của từ ngữ đó bao hàm phạm vi nghĩa của 1 số từ ngữ khác
+ Một từ có nghĩa hẹp khi phạm vi nghĩa của từ ngữ đó được bao hàm trong phạm
vi nghĩa của 1 từ ngữ khác
+ Nghĩa của 1 từ ngữ có thể rộng hơn hoặc hẹp hơn nghĩa của từ ngữ khác Một từ có nghĩa rộng đối với những từ này nhưng có thể có nghĩa hẹp đối với 1
từ ngữ khác
- Trường từ vựng: Là tập hợp từ có ít nhất 1 nét nghĩa chung
2- Từ tượng hình và từ tượng thanh:
- Từ tượng hình: là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, hành động, trạng thái của sự vật
- Từ tượng thanh: Là từ mô phỏng âm
Trang 10- Thế nào là từ địa phương? Ví dụ? (Từ
ni, tê: này, kia -> từ địa phương miền
Trung)
- Thế nào là biệt ngữ xã hội? Ví dụ? (Từ
“ngỗng”: 2 ->từ dùng trong học sinh,
sinh viên)
- Thế nào là nói quá? Ví dụ? (Một tiếng
chim kêu sáng cả rừng – Khương Hữu
Dụng)
- Thế nào là nói giảm nói tránh? Ví dụ?
(Sức học của em chưa phải là tốt.)
- Tìm 5 ví dụ về trợ từ và cho biết thế
nào là trợ từ? (Ví dụ: ngay, chính, có
những, đích, đích thị)
- Thế nào là thán từ, cho 5 ví dụ về thán
từ? (Ví dụ: a, ái ối, trời ơi, than ôi)
- Cho 5 ví dụ về tình thái từ và cho biết
thế nào là tình thái từ? (Ví dụ: à, ư, với,
nhỉ, nhé )
- Thế nào là câu ghép? Cho ví dụ? (Mẹ
tôi cầm nón vẫy tôi, vài giây sau, tôi
đuổi kịp.)
- Có mấy cách nối các vế câu trong câu
ghép, đó là những cách nào?
thanh của tự nhiên, của con người
- Từ tượng hình và từ tượng thanh có giá trị gợi tả và biểu cảm cao, thường được dùng nhiều trong văn miêu tả và tự sự 3- Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội:
- Từ ngữ địa phương: Là từ ngữ chỉ sử dụng ở 1 hoặc 1 số địa phương nhất
định
- Biệt ngữ xã hội: Là các từ ngữ chỉ được dùng trong 1 tầng lớp xã hội nhất định
4- Một số biện pháp tu từ:
- Nói quá: Là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, qui mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng và tăng sức biểu cảm
- Nói giảm nói tránh: Là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự
5- Từ loại:
- Trợ từ: Là những từ chuyên đi kèm 1 từ ngữ khác trong câu để nhấn mạnh hoặc biểu thị thái độ đánh giá sự vật, sự việc
được nói đến ở từ ngữ đó
- Thán từ: Là những từ dùng để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói hoặc dùng để gọi đáp Thán từ thường đứng ở
đầu câu và có thể tách ra để làm thành 1 câu đặc biệt
- Tình thái từ: Là những từ được thêm vào câu để cấu tạo câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán và để biểu thị các sắc thái tình cảm của người nói
6- Câu ghép: Là câu do 2 hoặc nhiều
cụm C - V không bao chứa nhau tạo thành Mỗi cụm C - V được gọi là 1 vế câu
- Có 2 cách nối các vế câu trong câu ghép:
+ Dùng các từ có tác dụng nối: dùng quan hệ từ, dùng cặp phó từ hay đại từ hô ứng
+ Không dùng từ nối: giữa các vế câu