- Phân tích được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong chuỗi giá trị, từ đó đề xuất một số giải pháp tác động nhằm tăng cường chuỗi với mục tiêu phát triển đột phát và bền
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN XUÂN VIỆT
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CHÈ XANH TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số ngành: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG HOÀI AN
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn của tôi là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu nghiêm túc; các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ ở bất kỳ một học vị nào
Tôi cũng cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Việt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các thầy, cô giáo phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và xin gửi lời cảm ơn đến
TS Dương Hoài An - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này với tinh thần khoa học, nhiệt thành và nghiêm túc
Tôi xin trân trọng cảm ơn chính quyền địa phương, các ban, ngành, đoàn thể, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã tạo điệu kiện để tôi có những số liệu và thông tin cần thiết cho đề tài này
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đồng niên đã động viên, giúp đõ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Việt
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iiii
MỤC LỤC iiiiii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viiivii
DANH MỤC CÁC BẢNG ixix
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ xix
MỞ ĐẦU 11
1 Tính cấp thiết của đề tài 11
2 Mục tiêu nghiên cứu 22
3 Đối tượng nghiên cứu 22
4.1 Về không gian 33
4.2 Về thời gian 33
5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 33
5.1 Về mặt khoa học 33
5.2 Về mặt thực tiễn 33
Chương 1.CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 44
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 44
1.1.1 Chuỗi giá trị trong nông nghiệp 44
1.1.2 Ngành hàng chè xanh 99
1.1.3 Đặc điểm của chuỗi giá trị ngành hàng chè xanh 1111
1.2 Cơ sở thực tiễn 1616
1.2.1 Phát triển chè theo chuỗi giá trị của một số nước trên thế giới 1616
1.3 Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan 2121
Chương 2.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2525
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 2525
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 2525
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 2828
Formatted: Font: Not Bold, No underline Formatted: No underline
Formatted: Font: Not Bold, No underline
Trang 52.2 Nội dung nghiên cứu 3131
2.3 Phương pháp nghiên cứu 3232
2.3.1 Phạm vi tiếp cận 3232
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 3232
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 3434
2.3.4 Hệ thống các chỉ tiêu 3434
Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3636
3.1 Thực trạng trồng chè trên địa bàn huyện Tân Sơn và
Vườn Quốc gia Xuân Sơn – tỉnh Phú Thọ 3636
3.1.1 Tình hình phát triển cây chè tại huyện Tân Sơn 3636
3.1.2 Thực trạng trồng chè tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn 3737
3.2 Chuỗi giá trị chè xanh Vườn quốc gia Xuân Sơn 4141
3.3 Phân tích SWOT chuỗi giá trị chè VQG Xuân Sơn 6868
3.3.1 Ma trận SWOT chuỗi giá trị chè VQG Xuân Sơn 6868
3.3.2 Phân tích điểm mạnh (S) 6969
3.3.3 Phân tích điểm yếu (W): 6969
3.3.4 Phân tích cơ hội (O) 7070
3.3.5 Phân tích thách thức (T) 7171
3.4 Mục tiêu, chiến lược và giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị chè xanh Vườn quốc gia Xuân Sơn 7272
3.4.1 Mục tiêu phát triển chuỗi: 7272
3.4.2 Chiến lược nâng cấp chuỗi 7373
3.4.3 Giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị chè xanh tại VQG Xuân Sơn giai giai đoạn 2020 - 2025: 7575
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 7879
1 Kết luận 7979
2 Đề nghị 8080
TÀI LIỆU THAM KHẢO 8181
LỜI CAM ĐOAN……….………i
Formatted: Font: Not Bold, Not Italic, No underline
Formatted: Font: Not Bold, Not Italic, No underline Formatted: Line spacing: Multiple 1.44 li
Formatted: Font: Not Bold, No underline
Formatted: Default Paragraph Font, Font color: Custom
Color(RGB(54,95,145)), Do not check spelling or grammar
Formatted: Line spacing: 1.5 lines Formatted: Default Paragraph Font, Font color: Custom
Color(RGB(54,95,145)), Vietnamese, Do not check spelling or grammar
Trang 7IC Chi phí trung gian
IPM Quản lý dịch hại tổng hợp
KHCN Khoa học công nghệ
KHKT Khoa học kỹ thuật
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
MCG Tên viết tắt một công ty tư vấn quản lý
MI Thu nhập hỗn hợp
OCOP Chương trình mỗi xã một sản phẩm
PRA Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia
QR Mã đáp ứng nhanh (dùng truy xuất nguồn gốc)
Ủy ban nhân dân
VA Giá trị gia tăng
VietGAP Quy trình thực hành nông nghiệp tốt của Việt Nam VQG Vườn quốc gia
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất 3 xã thuộc VQG Xuân Sơn năm 2019 2727
Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động tại VQG Xuân Sơn 3131
Bảng 3.1 Phát triển cây chè huyện Tân Sơn giai đoạn 2010 - 2019 3636
Bảng 3.2: Diện tích, năng suất bình quân, sản lượng chè tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn năm 2019 3737
Bảng 3.4 Phân loại sản phẩm chè xanh VQG Xuân Sơn 5252
Bảng 3.5 Chi phí trồng chè thời kỳ kiến thiết cơ bản 5959
Bảng 3.6 Hạch toán kinh tế hộ trồng chè thời kỳ kinh doanh 6060
Bảng 3.7 Chi phí, lợi nhuận người trồng chè 6161
Bảng 3.8 Chi phí, lợi nhuận của hộ thu gom chè búp tươi 6161
Bảng 3.9 Chi phí, lợi nhuận của cơ sở chế biến chè 6262
Bảng 3.10 Chi phí, lợi nhuận của người bán lẻ chè 6363
Bảng 3.11 Phân bổ chi phí, lợi nhuận của các tác nhân trong tổng thể
chuỗi giá trị chè xanh 6464
Bảng 3.12 Ma trận SWOT chuỗi giá trị chè VQG Xuân Sơn 6868
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Xuân Việt
Tên luận văn: Phân tích chuỗi giá trị chè xanh tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số 8.62.01.15
1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn “ Phân tích chuỗi giá trị chè xanh tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” nghiên cứu với mục tiêu:
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về phát triển ngành hàng chè xanh theo chuỗi giá trị
- Xây dựng sơ đồ chuỗi giá trị chè xanh tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn; phân tích đặc điểm, chi phí - lợi ích của các tác nhân trong chuỗi
- Phân tích được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong chuỗi giá trị, từ đó đề xuất một số giải pháp tác động nhằm tăng cường chuỗi với mục tiêu phát triển đột phát và bền vững sản phẩm chè xanh Xuân Sơn, góp phần xây dựng thương hiệu chè xanh Phú Thọ
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin thứ cấp; thu thập số liệu sơ cấp từ điều tra thực tế thông qua chọn mẫu phỏng vấn sâu, xây dựng phiếu khảo sát, phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), phương pháp chuyên khảo
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu điều tra được phân tổ và xử lý trên máy tính bằng chương trình Excel Phân tích chủ yếu bằng các phương pháp:
So sánh; thống kê mô tả; phân tích cấu trúc chuỗi giá trị; phân tích SWOT và một số công cụ khác
3 Kết quả nghiên cứu
Các mục tiêu nghiên cứu cơ bản đã được giải quyết, đề tài đã tổng quan được bối cảnh phát triển ngành chè tại VQG Xuân Sơn, xây dựng và phân tích
Trang 11được sơ đồ chuỗi giá trị chè xanh từ đó đề xuất được các giải pháp nâng cấp chuỗi hiệu quả, bền vững
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm về phía Tây của huyện Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hoà Bình và Sơn La Vùng lõi VQG Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 12.559 người với 2.908 hộ sinh sống, phân
bổ ở 27 thôn, có 03 dân tộc chính là Mường, Dao, Kinh Kinh tế tại khu vực VQG Xuân Sơn chủ yếu là nông, lâm nghiệp, tuy nhiên do quỹ đất có hạn nên
áp lực tác động vào rừng là không nhỏ, đòi hỏi phải đa dạng hóa các sinh kế để đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế
Chè là cây trồng mới được đưa vào và phát triển tại VQG Xuân Sơn từ những năm 2000 với kỳ vọng tạo thành vùng trồng chè chất lượng cao của huyện Tân Sơn với diện tích hiện tại là 118.85ha và vẫn còn tiềm năng mở rộng quy mô sản xuất Tuy nhiên, do có xuất phát điểm muộn nên kinh nghiệm, kỹ năng của người dân trong tất cả các công đoạn từ canh tác cho đến chế biến, tiêu thụ còn nhiều hạn chế Năng xuất bỉnh quân là 7,76 tấn/ha/năm Thấp hơn nhiều xo với các vùng chè chuyên canh của huyện Tân Sơn và tỉnh Phú Thọ Trong vùng có 6 cơ sở chế biến nhỏ lẻ, công xuất thấp, hoạt động không thường xuyên, thị phần nhỏ Vì vậy, trên 60% lớn chè búp tươi được tiêu thụ cho các
cơ sở chế biến chè thô tại các xã vùng xuôi lân cận
Chuỗi giá trị chè tại VQG Xuân Sơn có 4 kênh chính:
Kênh 1: Nông dân Cơ sở chế biến Người tiêu dùng
Kênh 2: Nông dân Người thu gom chè búp tươi Cơ sở chế biến Người tiêu dùng
Kênh 3: Nông dân Cơ sở chế biến Người bán lẻ Người tiêu dùng Kênh 4: Nông dân Người thu gom chè búp tươi Cơ sở chế biến Người bán lẻ Người tiêu dùng
Xác định rõ mục tiêu, chiến lược phát triển ngành chè tại VQG Xuân Sơn
là sử dụng các giống chất lượng, hình thành các cơ sở chế biến chè xanh mang
Trang 12tính truyền thống gắn với du lịch cộng đồng Bằng cách tập trung phân tích sự tham gia cũng như những đóng góp, lợi ích kinh tế của các nhân tố tham gia chuỗi và phân tích SWOT toàn chuỗi giá trị Đề tài đã đưa ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cấp chuỗi giá trị chè tại VQG Xuân Sơn bao gồm: Cơ chế chính sách; quy hoạch; tổ chức sản xuất; ứng dụng khoa học công nghệ; xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chè xanh là một ngành hàng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh Phú Thọ Từ lâu, người dân Đất Tổ đã biết sử dụng và sớm hình thành văn hóa uống chè Năm 1890, người Pháp đã lập đồn điền trồng chè đầu tiên tại Phú Thọ với diện tích 60 ha, sau đó đã xây dựng trạm nghiên cứu nông lâm nghiệp, nhà máy chế biến chè Sau năm 1954, các nhà máy chè ở Thanh Ba, Hạ Hòa được xây dựng đặt nền móng đưa Phú Thọ trở thành vùng chè trọng điểm với các vùng nguyên liệu rộng lớn phục vụ sản xuất chè Nhiều nhãn hiệu chè đặc sản được biết đến như chè Ba Đình, Thái Ninh, Thanh Hương, Thanh Tâm,… Sau năm 1991, cùng với công cuộc đổi mới, các nông trường quốc doanh, nhà máy đã liên kết với các đối tác nước ngoài để tập trung sản xuất chè đen xuất khẩu, chỉ một số ít diện tích cung cấp nguyên liệu sản xuất chè xanh phục vụ nội tiêu và một số thị trường truyền thống, từ đó các nhãn hàng chè xanh Phú Thọ cũng có sự biến động, bị mai một và dần vắng bóng trên thị trường (Liên hiệp Các hội KH&KT tỉnh Phú Thọ - 2019)
Những năm qua, các cấp, ngành của Phú Thọ đã luôn xác định phát triển chè xanh là một trong những chương trình nông nghiệp trọng điểm của tỉnh từ
đó đã ban hành nhiều chính sách để mở rộng diện tích, quy hoạch vùng chè chất lượng cao, chuyển đổi cơ cấu giống, thâm canh tăng năng xuất, cải thiện chất lượng chè búp và phát triển các cơ sở chế biến, đến nay, diện tích trồng chè tỉnh Phú Thọ đứng thứ 4 cả nước với 16,2 nghìn ha, đứng thứ 3 về sản lượng
và năng xuất Mặc dù vậy, chè xanh Phú Thọ hiện chưa có thương hiệu và nhãn hiệu chè Phú Thọ cũng chưa được tạo lập và công nhận dưới bất kỳ hình thức bảo hộ nào ngoài một số đơn vị nhỏ lẻ như chè xanh Chùa Tà (huyện Phù Ninh) hay chè an toàn Long Cốc (huyện Tân Sơn) Ngành chè tại Phú Thọ đã làm tốt vấn đề sản lượng, năng xuất, tạo công ăn việc làm cho người dân nhưng nhìn chung hiệu quả kinh tế - xã hội còn hạn chế Hàng năm, Phú Thọ sản xuất một
Trang 14lượng chè xanh thành phẩm lớn để cung cấp cho thị trường nhưng chủ yếu chỉ được định vị ở phân khúc chè thô nên giá trị thương mại thấp, không đảm bảo lợi ích của người trồng chè (Liên hiệp Các hội KH&KT tỉnh Phú Thọ - 2019)
Để giải quyết bài toán thúc đẩy phát triển ngành hàng nông sản nói chung, chè xanh nói riêng, không thể không đề cập đến phân tích chuỗi giá trị, đây là giải pháp giúp chúng ta thấy được bức tranh tổng thể về ngành hàng với từng tác nhân tham gia chuỗi Tìm hiểu mức độ đầu tư, chi phí, đóng góp và thu nhập của từng tác nhân trong chuỗi sẽ giúp cho cơ quan chuyên môn hoạch định chính sách cũng như các tổ chức, cá nhân đưa ra các quyết định về sản xuất, kinh doanh tối ưu nhất Đề tài khoa học “Phân tích chuỗi giá trị chè xanh tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” được thực hiện với mong muốn đánh giá sâu thực trạng phát triển ngành hàng chè xanh tại địa phương, một trong những nơi lợi thế đặc thù vùng miền, từ đó làm cơ sở để triển khai những giải pháp đột phá nhằm tối ưu chuỗi giá trị, phát triển nhanh thương hiệu chè xanh VQG Xuân Sơn nói riêng và góp phần phát triển thương hiệu, lấy lại danh tiếng chè Phú Thọ nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về phát triển ngành hàng chè xanh theo chuỗi giá trị
- Xây dựng sơ đồ chuỗi giá trị chè xanh tại khu vực VQG Xuân Sơn; phân tích đặc điểm, chi phí - lợi ích của các tác nhân trong chuỗi
- Phân tích được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong chuỗi giá trị, từ đó đề xuất một số giải pháp tác động nhằm tăng cường chuỗi với mục tiêu phát triển đột phát và bền vững sản phẩm chè xanh Xuân Sơn
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là ngành hàng chè xanh tại khu vực VQG Xuân Sơn, bao gồm chè búp tươi nguyên liệu (sản phẩm của quá trình canh tác) và chè khô (sản phẩm của quá trình chế biến) với các tác nhân chính gồm: Nông
Trang 15dân trồng chè; người thu gom chè búp tươi; cơ sở chế biến chè xanh; người bán buôn, bán lẻ chè thương phẩm và người tiêu dùng
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu tại các xã khu vực vùng lõi, vùng đệm VQG Xuân Sơn có trồng chè và chế biến chè xanh là xã Xuân Sơn, Xuân Đài và Kim Thượng
đề xuất thực hiện trong giai đoạn 2020 – 2025
5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Về mặt khoa học
Xây dựng được khung phân tích về mô hình chuỗi giá trị ngành hàng chè xanh, trong đó hệ thống được các khâu, mối quan hệ giữa các khâu của chuỗi giá trị và những nhân tố ảnh hưởng đến từng khâu và cả chuỗi giá trị này
5.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả phân tích chuỗi sẽ cung cấp cái nhìn từ tổng quan đến chi tiết về ngành hàng chè xanh trong khu vực, từ đó thể hiện một số quan điểm và đề xuất giải pháp thiết thực nhằm giải quyết vấn đề làm sao để tăng sức cạnh tranh, tạo thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm; làm sao để phân bổ hợp lý lợi ích của các tác nhân trong chuỗi; làm sao thành phần yếu thế như người trồng chè được thụ hưởng tương xứng với giá trị mà họ tạo ra
Trang 16Định nghĩa chuỗi giá trị lần đầu tiên được công bố trong một cuốn sách trong năm 1985 bởi Michael Porter, người đã dùng nó để làm sáng tỏ việc các công ty làm thế nào để có thể đạt được cái mà ông gọi là “lợi thế cạnh tranh” bằng cách tăng thêm giá trị trong tổ chức của họ, “Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt đông của một công ty hoạt động trong một ngành cụ thể Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản xuất sẽ thu được một số giá trị nào đó Chuỗi các hoạt động mang lại nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của các hoạt động cộng lại” (Trần Thị Lan - Năm 2018)
Kaplinsky (2000) cũng đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị: “Chuỗi giá trị nói đến một loạt các hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc dịch vụ)
từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng và vất bỏ sau khi đã sử dụng Tiếp
đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị lợi nhuận trong chuỗi” (Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright)
Nguyễn Việt Khôi (2013) đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị dưới góc
Trang 17-nhìn từ các tập đoàn xuyên quốc gia: “Một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người lắp ráp, người cung ứng dịch vụ…) để sản xuất ra bất cứ một hàng hóa hay dịch vụ nào đó” Như vậy, chuỗi giá trị có thể hiểu là một loạt các hoạt động mà công ty thực hiện khi tạo ra một sản phẩm từ khi những ý tưởng, những khái niệm còn manh nha, cho tới khi sản phẩm đó được hoàn thiện, được đưa tới tay người tiêu dùng cuối cùng và những dịch vụ chăm sóc khách hàng có liên quan tới sản phẩm đó
Các nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản sử dụng thuật ngữ “chuỗi giá trị” hay “chuỗi cung ứng” để mô tả chuỗi giá trị nông sản FAO (2010) định nghĩa: “Chuỗi giá trị nông sản bao gồm tập hợp các tác nhân và hoạt động đưa một sản phẩm nông sản từ sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, theo đó, giá trị của sản phẩm được gia tăng trong mỗi khâu trung gian Một chuỗi giá trị có thể là một liên kết dọc hay một mạng lưới các tác nhân độc lập với nhau vào các khâu chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển, và phân phối” (Đào Thế Anh - 2018)
Cụm từ “chuỗi giá trị” hiện nay được sử dụng để đề cập đến các loại chuỗi, bao gồm:
- Một thị trường hàng hoá quốc tế hoặc vùng Ví dụ: “chuỗi giá trị vải cotton toàn cầu”, “chuỗi giá trị ngô Nam Phi”, “chuỗi giá trị cà phê Brazil”,
“chuỗi giá trị chè xanh Việt Nam”,…
- Một thị trường hàng hoá quốc gia hoặc địa phương hoặc một hệ thống tiếp thị như là “chuỗi giá trị cà chua Ghanaian” hoặc “chuỗi giá trị cà chua Accra”, “chuỗi giá trị cà phê Trung Nguyên”, “chuỗi giá trị chè Vinatea”,…
- Một chuỗi có thể bao quát cả hai trường hợp trên
- Một chuỗi cung mở rộng hoặc kênh tiếp thị mà bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết để sản xuất sản phẩm, bao gồm thông tin/sự mở rộng, kế hoạch, cung cấp đầu vào và tài chính Nó có thể là cách được sử dụng phổ biến nhất
Trang 18cho thuật ngữ chuỗi giá trị
- Một chuỗi chuyên dụng được thiết kế để đáp ứng các yêu cầu của một hoặc một số người mua hạn chế Cách sử dụng này được xem là trung thành nhất với khái niệm của Porter, nhấn mạnh rằng một chuỗi giá trị được thiết kế
để nắm giữ giá trị cho tất cả các bên tham gia bằng cách bao gồm các hoạt động
để đáp ứng yêu cầu của các khách hàng hoặc nhà bán lẻ đặc biệt, nhà chế biến
và công ty dịch vụ đồ ăn cung cấp các khách hàng đó Nhấn mạnh được đặt vững chắc theo yêu cầu là nguồn gốc của giá trị
1.1.1.2 Mục đích của nghiên cứu chuỗi giá trị:
- Nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm và các tác nhân tham gia
- Tham vấn và hỗ trợ các chương trình và chính sách phát triển kinh tế
xã hội
- Phân tích đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh sản phẩm
- Hỗ trợ người nghèo tham gia thị trường
- Giám sát dịch bệnh và đảm bảo sự an toàn cho người tiêu dùng
1.1.1.3 Nội dung phân tích chuỗi giá trị:
Nội dung của phân tích chuỗi giá trị còn được gọi là công cụ dùng để phân tích Trong đó có những công cụ cốt yếu cần được thực hiện để đạt được mục đích phân tích tối thiểu về chuỗi giá trị và các công cụ nâng cao được tiến hành để có thể có một bức tranh tổng thể hơn về một số mặt của chuỗi giá trị
Cụ thể:
a/ Lập sơ đồ chuỗi giá trị: Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, cần thiết sử dụng các mô hình, bảng, biểu đồ, số liệu và các hình thức khác để mô tả các tác nhân, đặc điểm và kết quả hoạt động của từng tác nhân Việc sử dụng các sơ đồ vẽ các chuỗi giá trị sẽ giúp chúng ta dễ nhận thấy và dễ hiểu hơn trong quá trình nghiên cứu
b/ Xác định chi phí và lợi nhuận: Sau khi đã lập sơ đồ chuỗi giá trị, bước tiếp theo là nghiên cứu sâu một số khía cạnh của chuỗi giá trị Có rất nhiều khía
Trang 19cạnh có thể lựa chọn để nghiên cứu tiếp Nhưng xác định chi phí và lợi nhuận tức là xác định số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị bỏ ra và số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị nhận được có ý nghĩa hơn cả c/ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị:
+ Công nghệ, kiến thức: Công nghệ áp dụng trong sản xuất là nói đến công nghệ truyền thống (thường được tự phát triển bởi người sử dụng dựa trên kinh nghiệm), công nghệ cao (được hình thành thông qua nghiên cứu và phát triển mở rộng) Phân tích công nghệ và kiến thức nhằm phân tích tính hiệu quả
và hiệu lực của công nghệ, kiến thức dùng trong chuỗi giá trị Trên cơ sở xác định loại hình công nghệ đang áp dụng so với những đòi hỏi công nghệ, kiến thức của chuỗi giá trị để thấy được mức độ hợp lý của công nghệ đang áp dụng
Từ đó đưa ra những giải pháp cho sự lựa chọn cải tiến nâng cấp công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm đầu ra, tiết kiệm chi phí và nâng cao thu nhập cho chuỗi giá trị
+ Phân tích thu nhập: Mục tiêu của phân tích thu nhập là phân tích tác động, phân bổ thu nhập trong và giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị theo cấp bậc Phân tích tác động của hệ thống quản trị chuỗi giá trị tới sự phân
bổ thu nhập và giá sản phẩm cuối cùng Miêu tả sự đa dạng của thu nhập, rủi
ro thường gặp và các tác động đến chuỗi giá trị
+ Phân tích việc làm: Nhằm phân tích tác động của chuỗi giá trị tới việc phân bổ việc làm giữa các tác nhân tham gia chuỗi, miêu tả sự phân bổ việc làm theo chuỗi giá trị, miêu tả sự năng động của việc làm dọc theo chuỗi giá trị; phân tích tác động của hệ thống quản trị khác nhau của chuỗi giá trị đến sự phân bổ việc làm; phân tích sự tác động của các chiến lược khác nhau của chuỗi giá trị lên sự phân bổ việc làm
d/ Quản trị và các dịch vụ:
Việc phân tích quản trị và các dịch vụ nhằm phân tích các nhà tham gia trong chuỗi giá trị phối hợp với các hoạt động của họ như thế nào thông
Trang 20qua các nguyên tắc chính thức và không chính thức Hiểu sự tuân thủ nguyên tắc được giám sát như thế nào, phân tích những nhóm khác nhau của những người tham gia chuỗi giá trị nhận những hình thức hỗ trợ đầy đủ như thế nào
để có thể giúp họ đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu; đánh giá tác động của các nguyên tắc tới các nhóm khác nhau
e/ Sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi:
Trong nghiên cứu chuỗi giá trị cần thiết miêu tả mối liên kết giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị và mối liên kết của họ với các tác nhân ngoài chuỗi Miêu tả những cam kết, trách nhiệm và lợi ích giữa những người tham gia, sự áp dụng đối với sự phát triển chung của chuỗi
g/ Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chuỗi giá trị:
Luôn có các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới chuỗi giá trị, nhất là với nông sản, đó là các yếu tố tự nhiên (khí hậu, thổ nhưỡng, thiên tai, dịch bệnh); các chính sách của nhà nước đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất đối với vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt khó khăn; yếu tố cạnh tranh của sản phẩm cùng loại; cạnh tranh của sản phẩm thay thế,… (Trần Thị Lan – 2018)
1.1.1.5 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị
a Cách tiếp cận
- Sơ đồ hóa mang tính hệ thống: Những tác nhân tham gia sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một sản phẩm cụ thể Đánh giá các đặc điểm của các tác nhân tham gia, cơ cấu lợi nhuận và chi phí, dòng hàng hóa trong chuỗi, các đặc điểm của việc làm, địa chỉ tiêu thụ và khối lượng bán hàng
- Xác định sự phân phối lợi ích giữa những tác nhân trong chuỗi: Phân tích chênh lệch giá và lợi nhuận trong chuỗi Xác định ai được lợi từ việc tham gia chuỗi Những tác nhân nào có thể hưởng lợi từ việc hỗ trợ hay tổ chức lại sản xuất
- Nghiên cứu vai trò nâng cấp bên trong chuỗi:
+ Cải tiến trong chất lượng và thiết kế sản phẩm giúp các nhà sản xuất
Trang 21thu được giá trị cao hơn hoặc qua việc đa dạng hóa các dòng sản phẩm cung cấp + Đánh giá lợi nhuận của những người tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về những ràng buộc
+ Cơ cấu của các mối quan hệ và cơ chế điều phối tồn tại giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị
+ Góc độ chính sách: Xác định các sắp xếp về thể chế nhằm cải thiện năng lực hoạt động của chuỗi, xóa bỏ các bóp méo trong trong phân phối, và tăng giá trị gia tăng trong ngành hàng
b Nội dung trọng tâm:
- Phân tích hiện trạng sản xuất và thị trường
- Lập sơ đồ chuỗi giá trị, phân tích chi phí lợi nhuận theo từng tác nhân theo từng kênh phân phối
- Phân tích mối liên kết trong chuỗi theo kênh và toàn chuỗi
- Chỉ ra các tác nhân chính, nút thắt chính trong chuỗi, giá trị để đưa ra các can thiệp hợp lý;
c Các công cụ phân tích chuỗi giá trị:
- Công cụ 1: Lựa chọn chuỗi giá trị để phân tích
- Công cụ 2: Vẽ sơ đồ chuỗi giá trị
- Công cụ 3: Phân tích chi phí – lợi ích chuỗi giá trị
- Công cụ 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị gia tăng chuỗi
- Công cụ 5 Phân tích rủi ro
- Công cụ 6 Phân tích các chính sách có liên quan
- Công cụ 7 Phân tích SWOT
- Công cụ 8: Nghiên cứu thị trường
- Công cụ 9: Chiến lược nâng cấp chuỗi (Đào Thế Anh - Năm 2018)
1.1.2 Ngành hàng chè xanh
Chè xanh là một trong những sản phẩm đồ uống từ cây chè được sử dụng phổ biến trên thế giới, trong đó có Việt Nam Nước pha chè là một loại nước
Trang 22giải khát rất tốt cho con người Uống nước chè ở mức độ vừa phải có tác dụng giảm mệt mỏi, thần kinh được minh mẫn, tính thần sảng khoái, tăng cường sự hoạt động của các cơ, nâng cao năng lực làm việc và sự dẻo dai trong công việc Ngoài ra uống nước chè còn có khả năng chống được một số bệnh đường ruột như tiêu chảy, kiết lỵ, thương hàn, chống xơ vữa động mạch, phòng chống bệnh ung thư, phòng chống nhiễm tia phóng xạ
Chè xanh được chế biến từ búp chè tươi gồm 1 tôm (mầm lá), cọng, kèm theo 2 - 3 lá non, gọi chung là nguyên liệu chè Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm chè khác nhau, mỗi loại đều có những tính chất đặc trưng riêng, khác nhau về ngoại hình, màu nước và hương vị của chúng Chè xanh thường có ngoại hình màu xanh xám hoặc xám bạc; nước pha có màu xanh tươi hoặc xanh vàng; hương thơm đặc trưng của giống chè và mùi cốm nhẹ; vị chát đượm, dịu và có hậu ngọt Chè xanh còn là nguyên liệu ban đầu để ướp thêm hương liệu khô hoặc ướp hoa tươi Ngoài ra, chè còn được tinh chế ra các sản phẩm chè như chè hoà tan, chè túi nhúng, chè thảo dược, xi rô chè, nước giải khát từ chè có hương hoa quả và nhiều dạng khác
Về mặt kinh tế, cây chè là cây công nghiệp lâu năm, có tác dụng thiết thực trong việc phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; chống rửa trôi, xói mòn ở những miền đất dốc Hiện nay cây chè không chỉ là một trong những loại cây xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào Trung du và Miền núi mà thực sự đã giúp cho nhiều gia đình làm chè trở nên khá giả, giàu có Sản phẩm chế biến từ búp chè đang được tiêu thụ rộng rãi trong toàn quốc và đang là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao trong nền kinh tế quốc dân Phát triển sản xuất chè giải quyết việc làm cho hàng vạn người, nhất là ở các vùng xa xôi, hẻo lánh Tại Việt Nam, theo Tổng cục Thống kê, sản lượng chè búp năm 2018 đạt 987,3 nghìn tấn, tăng 1,6% so với năm 2017
Về xuất khẩu, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, Tính chung cả năm
2019, xuất khẩu chè đạt 137.102 tấn, thu về 236,43 triệu USD, tăng 7,7% về
Trang 23lượng và tăng 8,5% về kim ngạch so với năm 2018 Giá xuất khẩu bình quân chè tháng 12/2019 đạt mức 1.611,8 USD/tấn Tại thị trường nội địa, trong năm 2018, giá chè cành chất lượng cao tại Thái Nguyên ở mức trung bình 195.000 đ/kg, chè xanh búp khô tại Thái Nguyên 105.000 đ/kg (www.vitas.org.vn)
1.1.3 Đặc điểm của chuỗi giá trị ngành hàng chè xanh
- Tính chất thời vụ: Chè là một loại cây trồng nông nghiệp, nên cũng như những loại cây nông nghiệp khác, trồng chè mang tính chất mùa vụ, cây chè có thời gian sinh trưởng theo mùa Điều này làm chuỗi giá trị ngành hàng chè không ổn định trong năm, khối lượng sản phẩm sản xuất ra thay đổi liên tục, chất lượng sản phẩm không đảm bảo duy trì sự đồng nhất
- Tính chất khu vực, thời tiết và tập trung sản xuất:
+ Chè không phải loại cây trồng khu vực nào cũng cho năng suất cao, sinh trưởng tốt và chất lượng hoàn hảo Tại Việt Nam, chè tập trung nhiều tại vùng núi phía Bắc và Trung Du, thường được trồng ở những vùng cao, những nông trường rộng lớn do nông dân tự trồng hoặc được giao khoán trồng bởi Tổng công ty Chè Việt Nam
+ Chè chịu ảnh hưởng bởi thời tiết, đất đai canh tác, nguồn nước và khí hậu nên mang đậm tính khu vực và giới hạn khu vực trồng chè cho một vùng nhất định để cung cấp nguyên liệu cho chế biến những sản phẩm từ cây chè
- Tính chất tươi xanh, khó bảo quản: Chè sau khi thu hoạch thường còn tươi xanh, vì thế rất khó đóng gói để vận chuyển tới những địa điểm xa
- Yêu cầu về an toàn thực phẩm: Chè cũng như nhiều cây trồng nông sản khác luôn phải được chăm sóc bằng phân bón, thuốc trừ sâu để duy trì được năng suất cao và đây cũng là vấn đề gây ảnh hưởng đến chuỗi giá trị ngành hàng chè
- Tính chất lâu dài, kỹ thuật chăm sóc cao Chè là cây dài ngày, chỉ một lần trồng cho thu hoạch 30 - 40 năm, vì vậy việc chọn giống chè tốt, phù hợp
Trang 24và áp dụng đúng kỹ thuật trồng sẽ cho hiệu quả cao Chất lượng của cây chè, lá chè, búp chè và tuổi thọ của cây chè ảnh hưởng đến nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho khâu chế biến sản xuất
- Trải qua nhiều quá trình sản xuất khác nhau: Chè là một sản phẩm rất đặc thù trong sản xuất, khác hẳn với những sản phẩm công nghiệp khác, vì để tạo ra được một sản phẩm chè cuối cùng cho xuất khẩu như chè xanh, chè đen, chè túi lọc, chè Ô Long thì quá trình sản xuất phải trải qua những công đoạn có tính chất hoàn toàn khác nhau
- Trong chuỗi giá trị ngành hàng chè xanh, nhân tố chủ yếu tham gia vào công đoạn trồng trọt, sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là những hộ nông dân hay những trang trại, đây là khâu có giá trị gia tăng thấp nhất
- Trong chuỗi giá trị ngành hàng chè, đó là sự kết hợp theo chiều dọc giữa những khâu trồng trọt, chế biến, phân phối hay mối liên kết giữa ba nhân
tố chính nông dân, doanh nghiệp chế biến, sản xuất và doanh nghiệp phân phối… và để tham gia được vào chuỗi giá trị ngành hàng chè thành công, những nhân tố trên phải đạt đủ tiêu chuẩn, năng lực chung trong chuỗi Trong chuỗi giá trị, nguyên liệu chè ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng chè thành phẩm sau khi chế biến
Tóm lại, dựa vào những đặc điểm riêng của cây chè để phần nào xác định những đặc điểm chuỗi giá trị ngành hàng chè xanh Chè là một sản phẩm thuộc mặt hàng nông sản nên đóng góp giá trị gia tăng thấp trong khâu trồng trọt của toàn bộ chuỗi Quá trình sản xuất ra chè thành phẩm buộc phải trải qua những quá trình phức tạp bao gồm ba công đoạn chính: Sản xuất chè nông sản (lĩnh vực nông nghiệp), chế biến chè thành phẩm (lĩnh vực công nghiệp) và tiêu thụ (lĩnh vực thương mại) Những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới chuỗi giá trị ngành hàng chè bao gồm: Các chính sách của chính phủ, hệ thống luật pháp trong và ngoài nước, nguồn vốn đầu tư, đất đai, chính sách phát triển nguồn nhân lực, hạ tầng thương mại, tình hình kinh tế vĩ mô Những yêu tố bên trong
Trang 25chuỗi bao gồm những nhân tố tham gia trực tiếp vào chuỗi: Hộ nông dân, công nhân trồng chè, nhà máy, cơ sở chế biến chè, nhà thu gom, nhà phân phối sản phẩm, các hãng quảng bá sản phẩm, ngành phụ trợ, những đơn vị kiểm định chất lượng, nhà bán lẻ
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chè xanh
1.1.4.1 Yếu tố điều kiện tự nhiên:
- Đất đai: Là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt đối với chè, nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm Để chè sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng cho năng suất cao, ổn định trong nhiệm kỳ kinh tế dài, chất lượng chè ngon thì cây chè cũng phải trồng ở nơi có đất tốt, phù hợp với đặc điểm sinh vật học của nó
Theo các tài liệu kỹ thuật, đất trồng chè tốt nên độ dốc từ 150 - 250 ; độ chua (pHKCL) thích hợp nhất là 4,5 - 5,5; tầng dày tối thiểu là 50cm, thành phần cơ giới đất từ thịt nhẹ đến thịt nặng; hàm lượng mùn trong đất phải trên 2,5%, dinh dưỡng trong đất ở mức độ cho phép
- Thời tiết, khí hậu: Độ ẩm, nhiệt độ và lượng mưa là những yếu tố ảnh hưởng đến chè Để chè phát triển tốt thì nhiệt độ bình quân là 20-260 C, lượng mưa trung bình là 1500 – 2000mm/năm nhưng phải đều cho các tháng, ẩm độ không khí từ 80 - 85%, ẩm độ đất 70 - 80% Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của chè Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân đầu phát triển trở lại Thời vụ thu hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn tùy thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ Tuy nhiên các giống chè khác nhau có mức độ chống chịu khác nhau
1.1.4.2 Nhóm nhân tố giống và kỹ thuật
- Giống chè: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm Có thể nói giống là tiền đề năng suất, chất lượng chè trong thời kỳ dài 30- 40 năm thu hoạch, nên cần được hết sức coi trọng Chọn giống chè thường là các giống có năng suất cao, chất lượng
Trang 26tốt, chống chịu được điều kiện sống khắc nghiệt và sâu bệnh Ở Việt Nam, nhiều giống chè tốt đã được chọn lọc như: PH1, TRI777, LDP1, LDP2, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Đây là một số giống chè đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều, trồng trên diện tích rộng, bổ sung cơ cấu giống vùng và thay thế dần giống cũ trên các nương chè cằn cỗi
- Kỹ thuật: Việc áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất và chế biến cũng
là điều kiện cần thiết để tạo ra năng suất cao và chất lượng tốt Về trô
Về trồng và chăm sóc chè, các yếu tố như mật độ trồng, kỹ thuật trồng, bón phân, tưới nước,… ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ sống, sinh trưởng phát triển của cây qua các năm Hàng năm, việc Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất
và chất lượng chè búp Chè là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rất rộng rãi, nó có thể sống nơi đất rất màu mỡ cũng có thể sống ở nơi đất cằn cỗi mà vẫn có thể cho năng suất nhất định Tuy nhiên muốn n ng cao được năng suất, chất lượng thì cần phải bón phân đầy đủ và cân đối
Đốn chè: Là biện pháp kỹ thuật cần thiết để nâng cao năng suất, chất lượng chè ngoài phương pháp đốn, thời vụ đốn cũng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng chè Thường tiến hành đốn vào thời kỳ cây chè ngừng sinh trưởng, không ra búp (từ ngày giữa tháng 12 đến cuối tháng 1 hàng năm)
Hái chè cũng là yếu tốt quyết định đến sản lượng và phẩm cấp của búp chè Có hai phương pháp hái chè phổ biến là hái bằng tay và hái băng máy, trong đó hái bằng tay sẽ cho chất lượng búp chè cao hơn và thường được cung cấp cho những cơ sở chế biến chè xanh
Chế biến là khâu đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và quyết định đến chất lượng sản phẩm chè xanh cuối cùng Việc áp dụng quy trình chế thường có những nguyên tắc nhất định nhưng sẽ bị chi phối nhiều bởi yếu tố như kỹ năng, kinh nghiệm, trang thiết bị, máy móc, chất lượng nguyên liệu đầu vào,
1.1.4.3 Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 27- Thị trường: Là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại của cơ sở sản xuất kinh doanh chè Trong nền kinh tế thị trường, mỗi nhà sản xuất và mỗi cá nhân đều phải trả lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là: Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Thị trường đóng vai trò là khâu trung gian nối giữa sản xuất và tiêu dùng Khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn phương thức tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu được là tối đa, còn việc giải quyết vấn đề sản xuất cho ai, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ được thị trường, xác định rõ được khách hàng, giá
cả và phương thức tiêu thụ Ngành chè có ưu thế hơn một số ngành khác, bởi sản phẩm của nó được sử dụng khá phổ thông ở trong nước cũng như quốc tế
- Giá cả: Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất chè nói riêng, sự quan tâm hàng đầu là giá cả (giá chè búp tươi và chè khô) trên thị trường; sự biến động của thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của những người àm chè Do đó việc ổn định giá cả, mở rộng thị trưòng tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho sự phát triển l u dài của ngành chè
- Nhân tố lao động: Trong cả hai khâu sản xuất và chế biến thì nhân tố lao động quyết định đến sản lượng và chất lượng của chè, từ việc chọn giống, gieo trồng, chăm sóc, thu hái và chế biến, tất cả phụ thuộc vào nhân tố lao động Lao động có tay nghề sẽ tạo ra năng suất và chất lượng cao
- Hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước: Thành tựu về kinh tế của Việt Nam hơn 10 năm qua là do nhiều nhân tố tác động, trong đó phải kể đến được diễn ra trong tất cả các ngành, các lĩnh vực sản xuất Ngành chè cũng như các ngành sản xuất khác, muốn mở rộng quy mô và chất lượng trong sản xuất kinh doanh, nhất thiết phải có hệ thống chính sách kinh tế thích hợp nhằm tạo dựng mối quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố với nhau để tạo hiệu quả kinh doanh cao nhất
Kết quả sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào chính sách kinh tế, một chính
Trang 28sách kinh tế không phù hợp sẽ kìm hãm phát triển của ngành, ngược lại một chính sách thích hợp sẽ kích thích sản xuất phát triển Các chính sách này có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển của ngành chè, tiêu biểu
có thể kể đến là: Chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách thị trư ng và sản phẩm
- Hỗ trợ của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội, các
tổ chức KHCN và doanh nghiệp: Đối với cây trồng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế như chè, chính quyền luôn có sự quan tâm và thực hiện nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ cho người dân trồng chè và chế biến chè như hoạt động khuyến nông, đào tạo tay nghề, hỗ trợ về vốn, tín dụng, cung cấp thông tin thị trường, nâng cấp hệ thống thủy lợi, hỗ trợ trang thiết bị cơ giới hóa,
Một vấn đề mấu chốt để tạo nên một niên vụ chè thành công là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chè Họ thường có mối liên kết với người dân vùng nguyên liệu để vừa có nguyên liệu phục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, vừa đảm bảo được đầu ra ổn định cho người dân trồng chè
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Phát triển chè theo chuỗi giá trị của một số nước trên thế giới
Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản giữa các tác nhân có thể diễn ra trong nhiều ngành hàng nông nghiệp Thực tế của các nước trên thế giới cho thấy đây là mô hình đem lại lợi ích cho các bên tham gia, đặc biệt
là hộ nông dân và mô hình này đã nhanh chóng lan rộng ở các nước đang phát triển, điển hình như ở Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka…
+ Trung Quốc: Là nước trồng chè lớn nhất thế giới với tổng diện tích là 1.130 nghìn ha, gấp 1,58 lần Ấn Độ nhưng là nước xuất khẩu chè đứng thứ 3 thế giới, sau Ấn Độ và Sri Lanka Sản lượng chè ở Trung Quốc chiếm 25% sản lượng chè của thế giới Tại Trung Quốc, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm phát triển rất nhanh chóng trong thời gian gần đây Điều này dã khuyến khích các thành phần công, thương nghiệp tham gia nhiều hơn nằm
Trang 29thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tạo liên kết chặt chẽ giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ nông sản Trung Quốc gọi là “Kinh doanh sản nghiệp hóa nông nghiệp” bao gồm có 4 hình thức: Hình thức doanh nghiệp chế biến gia công là chủ thể; hình thức hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể; hiệp hội nông dân chuyên nghiệp và hình thức mắt xích của thị trường bán buôn (Lê Thanh Hải - 2012)
+ Ấn Độ: Ấn độ đang là quốc gia sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu chè lớn nhất thế giới (chiếm 27%) Để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm chè, Chính phủ Ấn Độ đã có nhiều biện pháp, trong đó đáng chú ý là việc ban hành Đạo luật chè năm 1953 và thành lập một Ủy ban chè Ủy ban chè của Ấn Độ là một tổ chức phi lợi nhuận, có trách nhiệm trong việc điều tiết việc sản xuất và trồng chè, nâng cao chất lượng chè, thúc đẩy những nỗ lực hợp tác giữa những người trồng chè nguyên liệu và người chế biến chè, thực hiện, hỗ trợ và khuyến khích nghiên cứu kinh tế, khoa học kỹ thuật trồng và chế biến chè Ngoài ra,
Ủy ban chè còn có trách nhiệm hỗ trợ việc kiểm soát các loại sâu bệnh có ảnh hưởng đến cây chè, điều tiết việc mua bán và xuất khẩu chè, đưa ra những tiêu chuẩn về sản phẩm chè và thúc đẩy việc tiêu thụ chè ở Ấn
Độ và các nước khác
Ngành chè Ấn Độ dưới sự điều tiết của Ủy ban Chè đã tạo dựng được các mối liên kết chặt chẽ và thống nhất trong trồng, chế biến và tiêu thụ giữa những người nông dân trồng chè và các doanh nghiệp, thể hiện được sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa, hóp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh trong sản xuất kinh doanh chè (Lê Thanh Hải - 2012)
1.2.2 Phát triển chè xanh theo chuỗi giá trị ở Việt Nam:
Nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng mang
lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho ngành nông nghiệp nói
chung Xây dựng và phát triển chuỗi giá trị nông sản đáp ứng được nhu cầu của
Trang 30thị trường là một yêu cầu cấp bách đã và đang được nhà nước ta quan tâm thúc
đẩy Nhiều chính sách thiết thực liên quan đã được ban hành, điển hình như
“Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn”; “Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”; Tại tỉnh Phú Thọ, Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐND ngày 16/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ về chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thể hiện rõ quan điểm hỗ trợ là “Chuyển đổi tư duy, nhận thức của người dân
và doanh nghiệp trong tổ chức sản xuất, tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị
từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản đến xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu và
tiêu thụ sản phẩm” (Tác giả tổng hợp-2019)
Riêng đối với ngành hàng chè xanh, đã có nhiều địa phương trên cả nước đạt được những thành công nhất định về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chè theo chuỗi giá trị:
+ Tại Thái Nguyên:
Đến hết năm 2019 diện tích chè toàn tỉnh đã đạt trên 22.300 ha, trong đó
tỷ lệ giống mới có năng suất, chất lượng tốt đạt gần 17.300 ha chiếm trên 77%, tăng 3,5% so năm 2016, sản lượng đạt gần 240.000 tấn, tăng 14% so với 2016; diện tích sản xuất tập trung được đầu tư thâm canh và sản xuất theo qui trình VIETGAP, hữu cơ tăng nhanh, đến nay đạt gần 6.000 ha; giá trị sản phẩm sau chế biến trên 1ha chè đạt bình quân 250-300 triệu đồng, ở một số vùng chè đặc sản đạt từ 450-600 triệu, tăng 2 lần so với năm 2016 Chè Thái Nguyên tiếp tục được khẳng định được vị thế là “đệ nhất danh trà”, nhiều sản phẩm đã đạt giải cao tại các cuộc thi quốc tế Hiện nay, Thái Nguyên là địa phương dẫn đầu cả nước cả về diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị thu nhập trên 1ha chè Tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều chính sách hỗ trợ, đầu tư toàn diện cho phát triển cho
Trang 31ngành chè từ khâu cung cấp giống, ứng dụng khoa học kỹ thuật cho sản xuất đến khâu chế biến đã góp phần làm gia tăng giá trị ngành hàng chè xanh của tỉnh Bên cạnh đó, mặt hàng chè Thái Nguyên đã xây dựng được nhãn hiệu tập thể Chè Thái Nguyên và các thương hiệu: chè Tân Cương, chè La Bằng, chè Trại Cài,…nổi tiếng trong nước và xuất khẩu (https://thainguyentv.vn/).+ Chuỗi giá trị chè Shan Yên Bái:
Tại Yên Bái, chè Shan được trồng ở các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Căng Chải, Trong đó xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn được coi là “cái nôi” của chè Shan với những cây chè mọc ở độ cao 1.000m trên mực nước biển Ở Suối Giàng, 98% cư dân là người dântộc H'Mông, với thu nhập chủ đạo đến từ việc trồng chè, bên cạnh nguồn thu từ các mùa vụlúa, ngô và những cây trồng khác Tại đây, các kỹ thuật sản xuất chè từ thu hái cho tới chế biến chè đã được duy trìqua nhiều thế hệ và hoàn toàn thủ công, tạo nên giá trị truyền thống cho sản phẩm chè Nhận thấy tiềm năng lớn từ cây chè Shan, những năm qua, Yên Bái
đã quan tâm hơn tới việc phát triển cây chè Shan theo chuỗi giá trị Cụ thể, UBND tỉnh Yên Bái đã thôngqua “Kế hoạch bảo tồn và Phát triển bền vững sản phẩm chè Suối Giàng giai đoạn 2012-2015” Bước tiến rõ rệt nhất làviệc
Sở Khoa Học và Công Nghệ Yên Bái đã đăng kí thành công nhãn hiệu tập thểchè “Shan Tuyết Suối Giàng” của tỉnh, giúp các tác nhân ngành chè của địa phương vững vàng tham gia chuỗi giá trị chè của cả nước và vươn ra thế giới (MCG và Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía bắc – 2015)
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra:
Bài học 1 - Khai thác tiềm năng, lợi thế vùng:
Đây là bài học được rút ra từ nhiều địa phương trên cả nước khi họ đã biến những yếu tố khác biệt về mặt thời tiết, khí hậu, vị trí địa lý thành lợi thế trong việc tạo ra sản phẩm đặc thù, có tính chất địa phương, điển hình như “chè Shan tuyết Suối Giàng”, “chè Mộc châu”… Ở những sản phẩm trên, giá trị gia tăng không chỉ được tạo ra ở các khâu trong quá trình sản xuất, chế biến và
Trang 32thương mại mà còn được cấu thành bởi các nhân tố vô hình như văn hóa, tính truyền thống, sự độc lạ,… VQG Xuân Sơn hội tụ các yếu tố tạo nên lợi thế vùng tương tự, đó là điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển thương hiệu một cách nhanh chóng
Bài học 2 - Tăng cường các liên kết:
Tăng cường liên kết ngang và liên kết dọc giữa những người sản xuất, chế biến để phát triển hàng hóa với chất lượng cao và quy mô lớn hơn thông qua các hình thức hợp tác như thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã,… Nông dân tổ chức hành động tập thể theo quy trình sản xuất chung gắn với mô hình cánh đồng lớn sẽ giảm chi phí, tăng hiệu quả lao động, trình độ của người dân cũng
sẽ được nâng lên thông qua các hoạt động huấn luyện, chia sẻ kinh nghiệm… Nhờ liên kết, người dân mới có khả năng xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể, tiến đến xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, quản lý về chất lượng sản phẩm để gia tăng giá trị, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường đối với các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo an toàn, chất lượng Việc chia sẻ lợi ích và ứng phó với những rủi do cũng sẽ hợp lý và hiệu quả hơn nếu như có sự liên kết chặt chẽ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị
Bài học 3 - Phát huy vai trò của nhà nước:
Để thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị sản phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, vai trò của Nhà nước trong việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung, hỗ trợ nâng cao năng lực cho các tác nhân trong chuỗi và tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi nhất cho các tác nhân là hết sức quan trọng Nhìn tổng thể, muốn phát triển chuỗi giá trị chè bền vững không thể thiếu được vai trò kiến tạo của nhà nước thông qua việc ban hành các chính sách hỗ trợ, nhất là hỗ trợ các tác nhân yếu thế, hỗ trợ vào những khâu khó, khâu mới; thúc đẩy mối quan hệ hợp tác công - tư trong liên kết chuỗi; đổi mới
cơ chế thu hút đầu tư vào sản xuất, kinh doanh,… Trong những năm gần đây, việc áp dụng thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam (VietGAP) hay
Trang 33bộ tiêu chuẩn về nông trại được công nhận quốc tế (GlobalGAP) đã có sự tham gia tích cực của nhà nước và đã đạt được những bước tiến đáng kể
1.3 Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị đã được công bố trong thời gian qua Tại Việt Nam, chuỗi giá trị sản phẩm chè cũng đã được quan tâm nghiên cứu với phạm vi vùng và đối tượng tiếp cận đa dạng, từ đó đã đạt được những kết quả nhất định trong nỗ lực hệ thống hóa lý luận nhằm định hướng ngành chè phát triển bền vững Dưới đây là một số nghiên cứu:
(1) Nghiên cứu của Tô Linh Hương (Đại học quốc giá Hà Nội - năm 2017) với đề tài “Chuỗi giá trị ngành hàng chè toàn cầu và sự tham gia của Việt Nam”
Tác giả Tô Linh Hương chỉ ra Việt Nam đang tham gia chuỗi giá trị chè toàn cầu với tư cách là nước xuất khẩu chè lớn thứ 5 thế giới nhưng chủ yếu xuất khẩu chè thô, chè nguyên liệu (98%), do vậy giá trị kim ngạch thu về là không tương xứng Một số yếu kém của các nhân tố trong chuỗi giá trị chè Việt Nam được đưa ra Với người trồng chè, đó là sự thiếu hụt về kiến thức liên quan tới sản xuất chè sạch, chè theo tiêu chuẩn VietGAP để nâng cao giá trị cho sản phẩm chè của mình Đối với thương lái, thu gom, sự hiểu biết về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị toàn cầu cũng là rất ít Các cơ sở chế biến thô được cho rằng đã có kiến thức nhất định về phát triển thương hiệu, song họ cần quan tâm hơn tới việc cập nhật khoa học kĩ thuật, đảm bảo chất lượng quốc tế của chè, chú ý tới việc bảo quản và từ đó làm vững chắc thêm thương hiệu của mình Các công ty, doanh nghiệp xuất khẩu chè đều có hiểu biết nhất định về chuỗi giá trị song không phải doanh nghiệp nào cũng quan tâm tới việc phát triển thương hiệu trong chuỗi giá trị toàn cầu Tác giả kết luận ngành hàng chè Việt Nam có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ngành chè và chủ yếu nằm
ở khâu canh tác.… Nghiên cứu của Tô Linh Hương có phạm vi rộng, phân tích khá tổng quan, các kiến nghị được đưa ra là tương đối thực tế
Trang 34(2) Đề tài “Nghiên cứu chuỗi giá trị cây chè trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” của Lê Thanh Hải - Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2012;
Tác giả đã lập được bản đồ chuỗi và mô tả được các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị chè tại Phú Thọ; bản đồ chuỗi giá trị chè tại Công ty Cổ phần chè Khánh Hòa Tác giả đã cho thấy sự phức tạp, tính chất liên kết lỏng lẻo của các tác nhân tham gia chuỗi Từ phân tích chi phí, lợi nhuận cho các khâu, tác giả khẳng định công đoạn có khả năng gia tăng giá trị cho sản phẩm chè là chế biến và bán lẻ Và để gia tăng giá trị cho sản phẩm chè, tác giả đưa ra hệ thống các giải pháp gồm cơ chế chính sách, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng và phát triển thương hiệu, nâng cao chất lượng nhân lực ngành chè
(3) Đề tài “Nghiên cứu chuỗi giá trị chè trên địa bàn tỉnh Lai Châu” của Trần Thị Lan - Đại học Nông lâm Thái Nguyên năm 2018:
Tác giả đã hệ thống hóa một cách ngắn gọn cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị; bản đồ chuỗi giá trị chè Lai Châu được đưa ra Tác giả đã nghiên cứu chi tiết tình hình của các tác nhân tham gia chuỗi bằng công cụ SWOT Đặc biệt, từ việc phân tích chi phí trong chuỗi, tác giả đã lập được biểu đồ cơ cấu kinh tế trong toàn chuỗi, đây là kết quả quan trọng nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế trên khía cạnh đầu tư của các tác nhân Một lần nữa, nhóm nông dân trồng chè được cho là nhóm yếu thế với lợi ích thu được chưa tương xứng Các giải pháp tổng hợp được tác giả đề xuất, và đúng như mục tiêu của nghiên cứu, tác giả đi sâu vào nhóm giải pháp giúp tăng cường mối liên kết trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm, điển hình là tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp,
cơ sở chế biến với hộ trồng chè, xây dựng liên kết ngang bằng việc hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác,…
(4) Đề tài “Vận dụng mô hình chuỗi giá trị nhằm nâng cao năng lực cốt lõi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” của Đào Thị Hương năm 2014; Đề tài “Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm chè
Trang 35tại HTX chè Tân Hương, xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên” của Hoàng Thị Huyến năm 2017
Để giúp các doanh nghiệp, hợp tác xã trong ngành chè hoạch định chiến lược, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, một số tác giả đã lựa chọn giải pháp phân tích chuỗi giá trị mà doanh nghiệp, hợp tác xã đó tham gia Tác giả Đào Thị Hương khẳng định vai trò, vị trí của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi giá trị ngành chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất các giải pháp củng cố năng lực nội tại của doanh nghiệp cũng như kiến nghị các chính sách hỗ trợ phát triển cho thành phần kinh tế này, đó là tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Trong khi đó, tác giả Hoàng Thị Huyền tập trung so sánh sự khác nhau giữa các hộ có tham gia hợp tác xã và không tham gia hợp tác xã, từ
đó khẳng định vai trò của kinh tế tập thể và đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chè cho hợp tác xã
(5) “Báo cáo Phân tích chuỗi giá trị chè Shan ở Yên Bái và Điện Biên dưới tác động được dự báo của biến đổi khí hậu của MCG năm 2014
Nghiên cứu của MCG (Management Consulting - một công ty tư vấn độc lập chuyên về quản lý phát triển hướng đến các giá trị xã hội) là một nghiên cứu khá thú vị về dòng sản phẩm chè xanh gắn liền với thương hiệu chè vùng miền núi Tây Bắc, đó là chè Shan tuyết ở Yên Bái, Điện Biên
Với giao thức riêng, bản báo cáo đã tổng quan được tình hình sản xuất, kinh doanh chè Shan tại Yên Bái, Điện Biên, cho thấy năng lực cạnh tranh cao của ngành chè tại đây do có giống chè Shan chỉ sinh trưởng, phát triển được tốt
ở vùng này Tuy vậy, mặt bằng dân trí thấp là một rào cản đòi hỏi sự can thiệp thiết thực từ phía nhà nước và các tổ chức xã hội Trên thực tế đã có không ít
dự án hỗ trợ được triển khai nhằm thúc đẩy cây chè Shan trở thành cây trồng
có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế tại các địa phương này
MCG đã đưa ra được sơ đồ chuỗi tương ứng và phân tích chuỗi theo dòng sản phẩm, dòng thông tin, dòng tiền trong chuỗi, đi sâu phân tích chức
Trang 36năng của các tác nhân trong chuỗi là nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, nhà nông trồng chè, người thu gom, cơ sở chế biến, thương nhân, người tiêu dùng
và các đơn vị hỗ trợ Chúng tôi đồng tình với MCG khi họ thực hiện nghiên cứu độc lập chuỗi giá trị giữa chè nội tiêu và chè xuất khẩu Điều này là cần thiết khi hai thị trường này về cơ bản tiêu thụ các dòng sản phẩm khác nhau Như vậy, thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến chuỗi giá trị ngành hàng chè ở phạm vi và các khía cạnh khác nhau Các nghiên cứu cơ bản đều có ý nghĩa thiết thực từ củng cố lý luận cho đến thực tiễn, song vẫn còn tồn tại những khoảng trống đòi hỏi cần có thêm những nghiên cứu mới
Đề tài này cố gắng kế thừa có chọn lọc kết quả đã đạt được từ các nghiên cứu trước đó, song hướng tiếp cận vấn đề sẽ có một số điểm mới:
Một là, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu một dòng sản phẩm trong ngành chè là sản phẩm chè xanh (green tea), trong bối cảnh cụ thể của địa phương là
“gắn với phát triển du lịch” tại Vườn quốc gia Xuân Sơn
Hai là, xem xét đầy đủ hơn các các yếu tố cấu thành giá trị của sản phẩm chè xanh
Ba là, coi trọng nghiên cứu thị trường, xác định kết quả phân tích thị trường đóng vai trò quyết định trong việc hoạch định chiến lược và các giải pháp nâng cấp chuỗi
Trang 37Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
* Ranh giới Vườn quốc gia Xuân Sơn
- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình;
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;
- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Kiểu địa hình núi thấp và đồi, độ cao dưới 700m, chiếm khoảng 65% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, phần lớn là các dãy núi đất, có xen lẫn địa hình caster, phân bố phía Đông và Đông Nam Vườn, độ dốc trung bình từ 25 đến 30 độ, cao trung bình 400m;
- Địa hình thung lũng, lòng chảo và dốc tụ, chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình, phần lớn
Trang 38diện tích này đang được sử dụng canh tác nông nghiệp
2.1.1.3 Địa chất, đất đai
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 cho thấy: Khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn có các quá trình phát triển địa chất phức tạp Các nhà địa chất gọi đây là vùng đồi núi thấp sông Mua Toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp
Khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn có các loại đất cơ bản gồm:
- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH): Phân bố từ 700-1386m, tập trung ở phía Tây của Vườn, giáp với huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình), huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La)
- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (Fe): Phân bố dưới 700m, thành phần cơ giới nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn, đất khá mầu mỡ, thích hợp cho các loài cây lâm nghiệp phát triển
- Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi: Là loại đá cứng, khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa trôi đến đó, nên đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá
- Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng :Là loại đất phì nhiêu, tầng dầy, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon Hàng năm thường được bồi thêm một lớp phù sa mới khá màu mỡ
Tình hình sử dụng đất của huyện Tân Sơn nói chung và 3 xã vùng lõi, vùng đệm VQG Xuân Sơn được thể hiện ở bảng 2.1 Dữ liệu từ niên giám thông
kê huyện Tân Sơn cho thấy, biến động về cơ cấu sử dụng đất tại khu vực này trong khoảng 3 năm qua tương đối ổn định Các xã phát triển về nông, lâm nghiệp là chính, tuy vậy diện tích đất sản xuất nông nghiệp ít, chất lượng đất kém và còn bị bạc màu, do đó hiệu quả canh tác thấp
Trang 39Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất 3 xã thuộc VQG Xuân Sơn năm 2019
ĐVT: ha
(ha)
Cơ cấu (%)
Trong đó (ha) Xuân
TỔNG DIỆN TÍCH 21.059,18 100,00 6.672,50 6.567,72 7.818,96
I ĐẤT NÔNG NGHIỆP 20.480,29 97,25 6.491,26 6.375,77 7.613,26 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 1.102,48 5,24 225,12 433,07 444,29 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 802,92 3,81 173,78 310,38 318,76 Trong đó: đất ruộng lúa 594,50 2,82 46,89 283,76 263,85 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 299,56 1,42 51,34 122,68 125,54 1.1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 36,66 0,17 4,3 16,09 16,27 I.2 Đất lâm nghiệp 19.341,16 91,84 6.261,84 5.926,62 7.152,70 1.2.1 Đất rừng sản xuất 4.686,59 22,25 2.653,22 2.033,37 1.2.2 Đất rừng phòng hộ 1.673,12 7,94 528,9 1.144,22 1.3 Đất rừng đặc dụng 9.006,34 42,77 2.744,50 6.261,84 3,975,10 1.4 Đất nông nghiệp khác 208,43 0,99 126,89 26,63 54,91
II ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 434,79 2,06 81,24 191,34 162,21 2.1 Đất ở tại nông thôn 96,43 0,46 11,86 47,13 37,44 2.2 Đất chuyên dùng 182,13 0,86 30,40 90,17 61,56 2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 0,00 0,00
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 27,39 0,13 5,43 12,36 9,6 2.5 Đất sông, suối, mặt nước 128,81 0,61 33,54 41,67 53,6
Trang 40nhất là tháng 8,9 hàng năm Lượng mưa bình quân năm là 1.826 mm, lượng mưa cực đại có thể tới 2.453 mm (năm 1971); Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; thường chịu ảnhhưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa ít và có nhiều sương mù
Những năm gần đây, dưới tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, bão
lũ, sạt lở đất thường xuyên sảy ra gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của người dân
- Nhiệt độ trung bình cả năm là 22,50C; nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối vào các tháng 6 và 7 hàng năm, có khi lên tới 40,70C; nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, có khi xuống tới 0,5 C
- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8 (trên 87%), thấp nhất vào tháng 12 (65%)
Về thủy văn, VQG Xuân Sơn có các hệ thống kênh rạch dày đặc, có các dòng suối chính là: Suối Thân; Suối Thang; Suối Chiềng Các suối này đổ ra
hệ thống Sông Vèo và Sông Dày Hai sông này hợp lưu tại Minh Đài, gọi chung
là sông Bứa rồi đổ vào sông Hồng Tổng chiều dài của sông 120km, thuận lợi cho việc vận chuyển đường thủy từ thượng nguồn về Sông Hồng
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Dân số, lao động và dân tộc
Ba xã khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn có 27 thôn Các xóm phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200 - 400 m so với mực nước biển, tập trung ở phía Đông, một phần phía Bắc và Nam của Vườn quốc gia
- Dân số: Theo Niên giám thống kê năm 2019, Vườn quốc gia Xuân Sơn
và khu vực vùng đệm có 12.559 người với 2.908 hộ;
- Lao động: Tổng số lao động trong Vườn quốc gia và khu vực vùng vùng đệm là 7.391 người; trong đó số lao động trong vùng lõi là 1.647 người, chiếm 22,3 % tổng số lao động; số lao động khu vực vùng đệm là 5.744 người, chiếm 77,7% tổng số lao động
- Dân tộc: Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 3 dân tộc đang sinh sống; Trong đó, dân tộc Mường có 2.324 hộ, chiếm 79,9%; dân tộc