1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sinh kế người dân vùng đệm vườn quốc gia xuân sơn tỉnh phú thọ

111 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG ___________________________ NGUYỄN THỊ KIM VUI NGHIÊN CỨU SINH KẾ NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH P

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

_

NGUYỄN THỊ KIM VUI

NGHIÊN CỨU SINH KẾ NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Hà Nội – Năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

_

NGUYỄN THỊ KIM VUI

NGHIÊN CỨU SINH KẾ NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Môi trường và phát triển bền vững

(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS TS LÊ TRỌNG CÚC

Hà Nội – Năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới

GS TS Lê Trọng Cúc, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Nhân đây, em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô công tác tại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi Trường-ĐHQG Hà Nội đã tận tâm giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn tại Trung tâm

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo VQG Xuân Sơn, các anh chị phòng Hợp tác Quốc tế và Du lịch sinh thái-VQG Xuân Sơn, những người dân địa phương và đội chuyên trách bảo vệ rừng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn tại VQG Xuân Sơn

Mặc dù đã hết sức cố gắng để thực hiện đề tài luận văn, nhưng do kiến thức, kinh nghiệm và thời gian có hạn nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sai sót Vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến góp ý quý báu của các thầy cô

và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Nguyễn Thị Kim Vui

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả lao động thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Lê Trọng Cúc

Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Nguyễn Thị Kim Vui

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1.Các khái niệm 4

1.1.1.Sinh kế, sinh kế bền vững và các tiêu chí 4

1.1.2.Vùng đệm VQG và các chức năng 10

1.2.Tổng luận các nghiên cứu về sinh kế 13

1.2.1.Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới 13

1.2.2.Các nghiên cứu về sinh kế ở Việt Nam 14

1.2.3.Các nghiên cứu về sinh kế tại VQG Xuân Sơn 17

1.2.3.1.Khái quát về Vườn Quốc gia Xuân Sơn 17

1.2.3.2.Các nghiên cứu về sinh kế tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn 25

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1.Địa điểm nghiên cứu 28

2.1.1.Đặc điểm của xã nghiên cứu: Xã Xuân Sơn 28

2.1.1.1.Điều kiện tự nhiên 28

2.1.1.2.Điều kiện kinh tế xã hội 30

2.2.Thời gian nghiên cứu 30

2.3.Phạm vi nghiên cứu 31

2.4.Phương pháp luận 31

2.5.Phương pháp nghiên cứu 32

2.5.1.Phương pháp kế thừa tài liệu 33

Trang 6

2.5.2.Phương pháp đánh giá (PRA)có sự tham gia của người dân 33

2.5.3.Phương pháp tham vấn chuyên gia 35

2.5.4.Sử dụng khung sinh kế bền vững của DFID 35

2.5.5.Câu hỏi nghiên cứu 36

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Hiện trạng tài nguyên thiên nhiên VQG Xuân Sơn 37

3.1.1 Tài nguyên đất 37

3.1.2 Tài nguyên nước 38

3.1.3 Tài nguyên khí hậu, cảnh quan 39

3.1.4 Tài nguyên ĐDSH 40

3.1.4.1 Đa dạng hệ sinh thái và thảm thực vật 40

3.1.4.2 Đa dạng thực vật 44

3.1.4.3 Đa dạng động vật 47

3.2 Hiện trạng sinh kế người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn 49

3.2.1 Nguồn lực sinh kế và mức độ tiếp cận 52

3.2.1.1 Vốn con người 52

3.2.1.2 Vốn tự nhiên 57

3.2.1.3 Vốn tài chính 58

3.2.1.4 Vốn xã hội 58

3.2.1.5 Vốn vật chất 61

3.2.2 Bối cảnh bên ngoài 62

3.2.3 Các chiến lược sinh kế và kết quả 62

3.3 Phân tích, đánh giá sinh kế người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn 63

3.4 Đề xuất các giải pháp sinh kế bền vững 66

3.4.1 Giải pháp chung 66

3.4.2 Giải pháp kỹ thuật 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

4.1.Kết luận 69

4.1.1.Hiện trạng tài nguyên thiên nhiên VQG Xuân Sơn 69

Trang 7

4.1.2.Hiện trạng sinh kế người dân vùng đệm 70

4.2.Kiến nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 76

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Diện tích, dân số vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn 19

Bảng 2.1 Bảng ma trận SWOT 35

Bảng 3.1 Hiện trạng các loại đất đai Vườn quốc gia Xuân Sơn 37

Bảng 3.2 So sánh về thực vật ở các vùng 44

Bảng 3.3 Số loài cây có ích tại VQG Xuân Sơn, Phú Thọ 45

Bảng 3.4 Tổng hợp tài nguyên động vật VQG Xuân Sơn 47

Bảng 3.5 Hiện trạng dân số chia theo xã năm 2013 50

Bảng 3.6 Thành phần dân tộc và tình trạng đói nghèo 51

Bảng 3.7 Thành phần dân số và lao động 51

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững (DFID, 2001) 7

Hình 1.2 Sơ đồ vị trí VQG Xuân Sơn 18 Hình 2.1 Sơ đồ vị trí xã Xuân Sơn 28 Hình 3.1 Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp và tỷ lệ diện tích đất dùng cho sản xuất

nông nghiệp 38 Hình 3.2 Tỷ lệ các loài cây có ích tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ năm 2008 45 Hình 3.3 Tổng hợp tài nguyên động vật VQG Xuân Sơn 48 Hình 3.3 Một số loại rau người dân tự trồng trong vườn 54

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vườn Quốc gia Xuân Sơn thuộc địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cách

Hà Nội 120km về phía Tây và cách thị trấn Thanh Sơn khoảng 33km Vườn Quốc gia Xuân Sơn được thành lập theo quyết định số 49/ QĐ - TTg ngày 17/04/2002 của Thủ tướng chính phủ Vườn Quốc gia Xuân Sơn là vườn quốc gia duy nhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với với tổng diện tích 15.048 ha, đứng thứ 12 trong số

15 Vườn Quốc gia lớn nhất Việt Nam Vùng đệm của Vườn Quốc gia Xuân Sơn bao gồm 29 thôn thuộc ranh giới hành chính của 6 xã, huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ Diện tích vùng đệm là 6.208,5 ha

Vườn Quốc gia Xuân Sơn có đa dạng sinh học cao và thiên nhiên nơi đây vẫn giữ được nguyên vẻ hoang sơ, hoang dã Vườn không chỉ được coi là lá phổi xanh của tỉnh Phú Thọ mà còn được xem như một bảo tàng sống lưu giữ và bảo tồn hệ sinh thái đa dạng của miền Bắc Việt Nam

Ngoài sức hấp dẫn của hệ động thực vật phong phú, Vườn Quốc gia Xuân Sơn còn được đánh giá là nơi có sự đa dạng địa hình, đa dạng cảnh quan (rừng, hồ, núi, thung lũng, …và hệ thống hang động rất hấp dẫn) Xuân Sơn có môi trường không khí, môi trường nước sạch sẽ, mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 22-23oC sẽ

là điểm đến lý tưởng của du khách ưa khám phá, nghỉ dưỡng và tìm hiểu nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số: lễ cấp sắc, múa đâm đuống, múa xòe, dệt thổ cẩm,…

Tuy nhiên, cộng đồng dân cư nơi đây còn nhiều khó khăn: dân trí thấp, đời sống nghèo nàn, diện tích đất nông nghiệp ít đã gây sức ép lớn lên công tác bảo tồn thông qua các hoạt động như lên rừng lấy củi, khai thác gỗ trộm, đốt nương làm rẫy, săn bắn chim thú,

Để góp phần cải thiện sinh kế người dân nhằm phát triển bền vững Vườn

quốc gia Xuân Sơn tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu sinh kế người dân vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”

Trang 12

Trong luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu các tác động của sinh kế tới đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia Xuân Sơn, từ đó đề xuất các giải pháp sinh kế bền vững nhằm bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiện trạng sinh kế người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú

Thọ

Đánh giá tác động của các hoạt động sinh kế tới ĐDSH ở VQG Xuân Sơn,

tỉnh Phú Thọ

Đề xuất các giải pháp sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm VQG Xuân

Sơn, tỉnh Phú Thọ

3 Nội dung nghiên cứu

Tổng luận các nghiên cứu sinh kế cộng đồng địa phương dựa vào tài nguyên thiên nhiên nói chung và ĐDSH nói riêng

Tìm hiểu về tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là ĐDSH tại VQG Xuân Sơn Tìm hiểu về hiện trạng sinh kế người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn

Đề xuất các giải pháp sinh kế bền vững

4 Bố cục của luận văn

Luận văn được bố cục như sau:

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

Trang 13

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP LUẬN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 76

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.Các khái niệm

1.1.1.Sinh kế, sinh kế bền vững và các tiêu chí

Sinh kế và sinh kế bền vững đã

trong các bối cảnh khác nhau Và dưới đây sẽ là một

vài tổng luận nhỏ bàn về các khái niệm này

 Sinh kế

Từ "sinh kế" có thể được dùng theo nhiều cách khác nhau Khi nói đến sinh

kế của một người là đề cập đến "phương thức đảm bảo các nhu cầu cơ bản - thực phẩm, nước, chỗ ở và quần áo trong đời sống" của họ Và cụm từ “sinh kế” không

có gì khác ngoài ý nghĩa “nghề nghiệp” hoặc “việc làm”, và cũng có nghĩa là con đường để kiếm sống

Trong vài thập kỷ gần đây, ý nghĩa của cụm từ này đã được mở rộng hơn bao gồm cả về mặt xã hội, kinh tế và một loạt các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sinh kế như các nguồn lực, công việc, hoạt động văn hóa, thể chế, chính sách,…

“Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận)

và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống: Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu với và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn.” [Chambers & Conway, 1991, p.6]

Và phỏng theo định nghĩa sinh kế của Chambers and Conway nêu trên,

DFID đưa ra được khái niệm rộng về sinh kế như sau: "Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống".[DFID, 2001]

Khái niệm sinh kế trên của DFID vừa đơn giản lại vừa khái quát được tất cả các khía cạnh của sinh kế và các yếu tố ảnh hưởng: nguồn lực vật chất, xã hội và

Trang 15

phương thức sinh kế Chính vì lẽ đó mà khái niệm sinh kế của DFID đã được sử dụng nhiều trong phân tích các vấn đề phát triển, đặc biệt là vấn đề nghèo đói và phát triển ở các nước nghèo Và cũng trong khuôn khổ đề tài luận văn này, tác giả

sử dụng khái niệm sinh kế này của DFID để tiếp cận vấn đề nghiên cứu của mình

 Sinh kế bền vững

Sinh kế của người dân là bền vững khi họ có thể duy trì và nâng cao được nguồn lực, có thể đối phó và vượt qua các cú sốc nội tại cũng như từ ngoài, mà không làm tổn thương hoặc phung phí tài nguyên thiên nhiên mà con người phụ thuộc

Trong bối cảnh này, “sự bền vững” không phải là một trạng thái cân bằng bất động, mà ở trong một điều kiện có sự chấp nhận rủi ro và có khả năng phục hồi

Theo DFID: “Một sinh kế là bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi khỏi các áp lực và những cú sốc đồng thời duy trì hoặc tăng cường khả năng và tài sản sinh kế ở cả hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên”[DFID, 2001]

 Các tiêu chí sinh kế bền vững

Các nghiên cứu của Scoones (1998) và DFID (2001) đều thống nhất đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế

Theo cuốn “Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển” của Vũ Thọ Đạt và Trần Hoài Thu năm 2012 cũng có nhắc đến các phương diện bền vững cuả sinh kế như sau:

+ Bền vững về kinh tế: Được đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu gia tăng thu nhập + Bền vững về xã hội: Được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như: tạo thêm việc

làm, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực, cải thiện phúc lợi

+ Bền vững về môi trường: Được đánh giá thông qua việc sử dụng bền vững hơn

các nguồn lực tự nhiên (đất, nước, rừng, tài nguyên thủy sản…), không gây hủy hoại môi trường (như ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường) và có khả năng thích ứng trước những tổn thương và cú sốc từ bên ngoài

Trang 16

+ Bền vững về thể chế: Được đánh giá thông qua một số tiêu chí như: hệ thống pháp

lý được xây dựng đầy đủ và đồng bộ, qui trình hoạch định chính sách có sự tham gia của người dân, các cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư hoạt động có hiệu quả; từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách để giúp các sinh kế được cải thiện một cách liên tục theo thời gian.[Trần Thọ Đạt và Vũ Hoài Thu, 2012, tr 62-63]

Như vậy sinh kế được coi là bền vững khi sản phẩm đầu ra của sinh kế phải đảm bảo các tiêu chí: an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng - xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi ro và các cú sốc

 Tiếp cận sinh kế bền vững

Tiếp cận sinh kế bền vững (The sustainable livelihoods approach) là một

cách cải thiện sự hiểu biết về sinh kế của người nghèo Nó dựa trên các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế người nghèo và các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố này Nó có thể được sử dụng để lên các kế hoạch hoạt động mới và đánh giá các hoạt động hiện có để tạo ra sinh kế bền vững Cách tiếp cận này đưa ra một khung tiếp cận giúp hiểu biết về sự phức tạp của nghèo đói đồng thời đưa ra một bộ các nguyên tắc hướng dẫn hành động nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói.[DFID,2001]

Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) của DFID

đưa ra được nhiều giới học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi

Trang 17

Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững (DFID, 2001)

Khung sinh kế bền vững đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế

đó là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) chiến lược sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) các quy trình về thể chế và chính sách, và (v) bối cảnh bên ngoài [DFID, 2001]

 Nguồn lực sinh kế: Có 5 loại nguồn lực sinh kế đó là: Vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn xã hội và vốn vật chất

- Vốn con người: Các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, khả năng lao động, sức

khỏe, trình độ giáo dục mà những yếu tố này giúp con người thực hiện các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các kết quả sinh kế khác nhau Ở cấp hộ gia đình, nguồn lực con người là yếu tố quyết định số lượng và chất lượng lao động và

nó thay đổi tùy theo qui mô hộ gia đình, trình độ kỹ năng, sức khỏe,…

- Vốn tự nhiên: Các nguồn tài nguyên có trong môi trường tự nhiên mà con người có thể sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế, ví dụ như đất đai, rừng, tài nguyên biển, nước, không khí, đa dạng sinh học,…

Trang 18

- Vốn tài chính: Các nguồn vốn khác nhau mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế, bao gồm các khoản tiền tiết kiệm, tiền mặt, trang sức, các khoản vay, các khoản thu nhập,…

- Vốn xã hội: Các mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội mà con người dựa vào để thực hiện các hoạt động sinh kế, chủ yếu bao gồm các mạng lưới xã hội (các tổ chức chính trị hoặc dân sự), thành viên của các tổ chức cộng đồng, sự tiếp cận thị trường,…

- Vốn vật chất: Hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản hỗ trợ cho các hoạt động sinh

kế, ví dụ như: đường giao thông, nhà ở, cấp nước, thoát nước, năng lượng (điện), thông tin,

 Chiến lược sinh kế: Chiến lược sinh kế là cách mà hộ gia đình sử dụng các

nguồn lực sinh kế sẵn có để kiếm sống và đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống Ví dụ, một hộ ngư dân kiếm sống bằng nghề đánh bắt thì cần sử dụng các nguồn lực sinh kế như: (i)nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thủy hải sản); (ii) nguồn lực vật chất (tàu, thuyền đánh cá, ngư cụ, bến tàu); (iii) nguồn lực con người (lực lượng lao động, sức khỏe, tri thức và kinh nghiệm về khai thác cá), (iv) nguồn lực xã hội (thị trường bán sản phẩm), và (v) nguồn lực tài chính (tiền vay từ ngân hàng, bà con, bạn bè,…) Các nhóm dân cư khác nhau trong cộng đồng có những đặc điểm kinh tế - xã hội và các nguồn lực sinh kế khác nhau nên có những lựa chọn về chiến lược sinh kế không giống nhau Các chiến lược sinh kế có thể thực hiện là: sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ, buôn bán, du lịch, di dân…

 Kết quả sinh kế: Kết quả sinh kế là những thành quả mà hộ gia đình đạt được

khi kết hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện các chiến lược sinh

kế Các kết quả sinh kế chủ yếu bao gồm: tăng thu nhập, cải thiện phúc lợi, giảm khả năng bị tổn thương, tăng cường an ninh lương thực, sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên Các kết quả sinh kế này phản

Trang 19

ánh tính bền vững của sinh kế trên 3 phương diện: kinh tế - xã hội - môi

trường

 Thể chế, chính sách: Các thể chế (cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu

vực tư nhân) và luật pháp, chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của các sinh kế Các thể chế và chính sách được xây dựng và hoạt động ở tất cả các cấp, từ cấp hộ gia đình đến các cấp cao hơn như cấp vùng, quốc gia và quốc tế Các thể chế và chính sách này quyết định khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế và việc thực hiện các chiến lược sinh kế của các cá

nhân, hộ gia đình và các nhóm đối tượng khác nhau

 Bối cảnh bên ngoài: Bối cảnh bên ngoài, hiểu một cách đơn giản, là môi

trường bên ngoài mà con người sinh sống Sinh kế của người dân và nguồn lực sinh kế của họ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi 3 yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài là: các xu hướng, các cú sốc và tính mùa vụ

- Các xu hướng bao gồm: xu hướng về dân số, nguồn lực sinh kế, các hoạt động kinh tế cấp quốc gia và quốc tế, tình hình chính trị của quốc gia, sự thay đổi công nghệ,…

- Các cú sốc bao gồm: các cú sốc về sức khỏe (do bệnh dịch), cú sốc tự nhiên (do thời tiết, thiên tai), cú sốc về kinh tế (do khủng hoảng), cú sốc

Trang 20

lực đó thành sinh kế” [Nguyễn Văn Sửu, 2010]

1.1.2.Vùng đệm VQG và các chức năng

 Khái niệm về vùng đệm trên thế giới

Hiện tại chưa có một định nghĩa chung về vùng đệm trên phạm vi toàn thế giới mà chỉ có các định nghĩa và sự mô tả khác nhau về vùng đệm ở cấp quốc gia hoặc tổ chức quốc tế Còn tư duy về khái niệm quản lý vùng đệm đã phát triển qua 3 giai đoạn trên thế giới như sau: Ở thời kỳ đầu, các vùng đệm chủ yếu được xem như

là những phương tiện bảo vệ con người và mùa màng tránh sự tấn công và phá hoại của động vật sống trong các khu bảo tồn và rừng Còn ở giai đoạn kế tiếp (một vài thập kỷ trước), vùng đệm đã được xem như là những phương cách để bảo vệ các khu bảo tồn tránh khỏi những tác động tiêu cực của con người Và hiện nay, vùng đệm thường được áp dụng đồng thời cho việc giảm thiểu các hoạt động của con người lên các khu bảo tồn cùng với việc hướng tới những nhu cầu và mong muốn

về kinh tế – xã hội dưới tác động của dân số (những đối tượng sử dụng tài nguyên của KBT trước đây)

Khái niệm vùng đệm KBT do chương trình con người và sinh quyển của UNESCO đã đưa ra ở mức độ cấu trúc: Vùng hạt nhân, vùng đệm sơ cấp, vùng đệm thứ cấp

Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN định nghĩa vùng đệm như sau:

“Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của KBT và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của KBT

và chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh KBT Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế – xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm”.[38]

 Khái niệm về vùng đệm ở Việt Nam

Khái niệm về vùng đệm ở Việt Nam cũng có nhiều sự điều chỉnh, thay đổi theo từng giai đoạn Trước năm 1993 vùng đệm được quy định ở bên trong KBT và

Trang 21

bao quanh khu bảo vệ nghiêm ngặt của KBT Một VQG hoặc KBTTN có thể có một hoặc nhiều phân khu bảo vệ nghiêm ngặt giữa các phân khu này hoặc bao quanh chúng có thể bố trí các phân khu đệm

Sau năm 1993 khái niệm vùng đệm được đề cập như sau: “Vùng đệm của VQG và KBTTN là vùng rừng hoặc vùng đất đai có dân cư nằm sát ranh giới các VQG, các KBTTN được thành lập nhằm giảm áp lực của dân địa phương đối với khu rừng phải bảo vệ nghiêm ngặt Diện tích của vùng đệm không tính vào tổng diện tích của VQG hay KBTTN” Vùng đệm ở đây được xác định nằm ngoài ranh giới KBT, không thuộc KBT

Năm 2011, khái niệm vùng đệm được thể chế hóa trong Quyết định số

08/2001/ QĐ – TTg của Chính phủ như sau: “Vùng đệm là vùng rừng hoặc vùng đất đai, mặt nước nằm sát ranh giới với các VQG và Khu BTTN; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ” Trong khái

niệm này thì vùng đệm được xác định nằm ngoài KBT và không thuộc KBT Quyết định này đã đề cập 1 cách tương đối toàn diện về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, các hoạt động và sự phối kết hợp giữa các bên liên quan trong việc phát triển kinh tế –

xã hội vùng đệm

Năm 2014, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa ra khái niệm vùng

đệm: “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất, vùng đất có mặt nước, vùng đất ven biển

và hải đảo, khu vực biển nằm trong ranh giới khu rừng đặc dụng hoặc liền kề với ranh giới khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển Vùng đệm bao gồm vùng đệm bên trong và vùng đệm bên ngoài

a) Vùng đệm bên trong là vùng đệm nằm trong phạm vi ranh giới khu rừng đặc dụng

b) Vùng đệm bên ngoài là vùng đệm liền kề với ranh giới ngoài của khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển” [Thông tư 10/2014/TT-BNNPTNT]

Trang 22

10/2014/TT-BNNPTNT]

Trong tài liệu Quy hoạch bảo tồn phát triển bền vững Vườn Quốc gia Xuân Sơn giai đoạn 2013-2020 cũng có nói đến chức năng vùng đệm của VQG như sau:

Các chức năng của vùng đệm trong:

- Tạo các khu vực phù hợp để các cộng đồng sinh sống trong Vườn quốc gia

có thể cư trú hợp pháp và có các nguồn sinh kế ổn định;

- Giảm các nguy cơ xâm hại trực tiếp đến Vườn quốc gia thông qua việc đưa ra các hoạt động bị cấm hoặc bị hạn chế tại vùng đệm trong và trong Vườn quốc gia;

- Bảo vệ địa bàn di sản văn hóa;

- Bảo tồn các giống cây trồng và vật nuôi bản địa

Các chức năng của vùng đệm ngoài:

- Chức năng giảm nguy cơ đối với tính toàn vẹn và giá trị của Vườn quốc gia thông qua các phương thức:

+ Giảm nguy cơ xâm hại đến Vườn quốc gia từ các vùng lân cận;

+ Giảm nguy cơ nội tại trong vùng đệm thông qua quản lý vùng đệm thân thiện và bền vững đối với đa dạng sinh học;

+ Kiểm soát các nguy cơ sinh thái như ô nhiễm, cháy và các loài xâm lấn; + Giảm nguy cơ đối với Vườn quốc gia bằng các lựa chọn thay thế cho các hoạt động xâm hại hiện có trong Vườn quốc gia;

+ Giảm nguy cơ đối với các loài di cư có phân bố rộng thông qua việc cung cấp hành lang và liên kết cảnh quan cho các loài di cư như động vật lớn và chim;

Trang 23

+ Quản lý các nguy cơ lớn như sa mạc hóa, biến đổi khí hậu thông qua các thử nghiệm quản lý nguy cơ;

- Chức năng thúc đẩy phát triển nông thôn bền vững: Tạo các sinh kế bền vững cho người dân sống trong vùng đệm để giảm áp lực lên Vườn quốc gia đặc biệt đối với các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng;

- Chức năng bảo tồn các di sản văn hóa thông qua các hoạt động:

+ Bảo vệ địa bàn di sản văn hóa;

+ Duy trì phong tục tập quán, truyền thống, ngôn ngữ và các hình thức sử dụng đất có hiệu quả ở địa phương;

+ Bảo tồn các giống cây trồng và vật nuôi bản địa

- Chức năng giáo dục: Nâng cao nhận thức cho chính quyền và người dân địa phương về quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững và khuyến khích sự tham gia của họ vào các hoạt động của Vườn quốc gia thông qua phương thức đồng quản lý

và quản lý dựa vào cộng đồng để cộng đồng dân cư và chính quyền địa phương cùng bảo vệ và hưởng lợi từ các hoạt động của Vườn

Chức năng chính của vùng đệm là giảm thiểu các tác động của người dân vào khu bảo tồn Như vậy việc xác định vùng đệm vừa nhằm nâng cao việc bảo tồn vừa đảm bảo đời sống kinh tế - xã hội các cư dân xung quanh khu bảo tồn Chính vì vậy, việc phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm là một trong những nhiệm

vụ quan trọng nhằm giảm sức ép vào khu bảo tồn

1.2.Tổng luận các nghiên cứu về sinh kế

1.2.1.Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới

Trên thế giới, các nghiên cứu về sinh kế ở các nước đang phát triển, hướng tới xóa đói giảm nghèo bền vững là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả, các cơ quan và các tổ chức quốc tế Các khu vực có nhiều dự án phát triển

và xóa đói giảm nghèo đó là Châu Phi, Nam Mỹ và Đông Nam Á

Dưới đây là một vài dự án, nghiên cứu về tiếp cận sinh kế trong công tác bảo tồn và phát triển bền vững ở nhiều KBT và VQG trên thế giới mà tác giả tiếp cận được:

Trang 24

- Trong cuốn “Lồng ghép các dân tộc bản địa trong quản lý khu bảo tồn: Các

nghiên cứu so sánh từ Nê-pan, Thái Lan và Trung Quốc” (Involving Indigenous peoples in Protected Area management: Comparative Perspectives from Nepal, Thailand and China) của Sanjay K (2002) có đề cập đến việc phải chú ý tới các dân

tộc bản địa và sinh kế của họ trong các hoạt động bảo tồn VQG Tác phẩm bước đầu cung cấp thông tin liên quan đến các khu bảo tồn và người dân bản địa, sau đó

sẽ thảo luận về các hình thức tham gia của người bản địa và hành động của họ trong

quản lý khu bảo tồn Cụ thể ở đây là các khu bảo tồn của 3 nước Châu Á: Nepal,

Thailand and China Trong tác phẩm này cũng nhắc đến việc thừa nhận vai trò quan trọng của cộng đồng bản địa và những hệ thống tri thức của họ trong hoạt động bảo tồn ở một số hội nghị quốc tế về Đa dạng sinh học, Chương trình nghị sự 21 (Agenda 2) và một số hội nghị khác Ví dụ: Agenda 21 đưa ra tuyên bố rằng cần thiết phải trao quyền cho cộng đồng để phát triển bền vững (Robbinson 1993) Như vậy, dân tộc bản địa có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý khu bảo tồn.[33]

- “Sinh kế bền vững ven biển: Chính sách và tình trạng nghèo đói vùng ven

biển phía Tây vịnh Băng-gan” (Sustainable coastal livelihoods: Policy and coastal poverty in the Western Bay of Bengal), trong báo cáo chính về dự án sinh kế bền

vững vùng ven biển, Nam Á (2003) đã đưa ra những nguyên tắc chung cho các chương trình sinh kế bền vững Các nguyên tắc đó là: Lấy đói nghèo làm trọng tâm; lấy người dân làm trung tâm; đa lĩnh vực; đa cấp; đáp ứng kịp thời; tính bền vững; linh hoạt; bình đẳng; quyền lợi Trong mỗi nguyên tắc này đều có các thành tố và chỉ tiêu của nó Ví dụ: Nguyên tắc về tính bền vững gồm có 5 thành tố: Về môi trường, về thể chế, xã hội, kinh tế và khả năng phục hồi Trong mỗi thành tố lại có

các chỉ tiêu đặt ra.[32]

1.2.2.Các nghiên cứu về sinh kế ở Việt Nam

Việt Nam là nông nghiệp với tỷ lệ dân sống bằng nông nghiệp tương đối cao

(cụ thể năm 2014 chiếm 46,6% tổng số lao động) [Tổng cục thống kê, 2014], cho

nên phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn nhận được sự quan tâm

Trang 25

lớn của Đảng và Nhà nước cũng như các tổ chức cơ quan và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

Dưới đây là một số danh sách các dự án, nghiên cứu về phát triển sinh kế bền vững ở Việt Nam mà tác giả tổng hợp được:

- Năm 2007, Angus McEwin và cộng sự đã cho ra đời cuốn “Sinh kế bền vững cho các khu bảo tồn biển Việt Nam” Cuốn sách được nhóm nghiên cứu tổng hợp lại

các tài liệu hiện có và nghiên cứu thực địa những bài học và kinh nghiệm trong công tác hỗ trợ sinh kế và hoạt động sinh kế thay thế tại Việt Nam Cuốn sách này làm cơ sở đưa ra các khuyến nghị và hướng dẫn cho những hoạt động tiếp theo trong hợp phần dự án “Sinh kế bền vững cho cộng đồng sống trong và xung quanh các khu bảo tồn biển - LMPA” Những bài học kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam về

hỗ trợ sinh kế ven biển trong cuốn sách này đã chỉ ra rằng nguy cơ thất bại chính của các dự án sinh kế thay thế là do các dự án này thường không phân tích đúng đắn bối cảnh sinh kế đồng thời cũng nhấn mạnh rằng những thách thức đe dọa tính bền vững về kinh tế, môi trường, xã hội và thể chế phải được xem là vấn đề trọng tâm đối với các hoạt động hỗ trợ sinh kế Các hoạt động hỗ trợ sinh kế cần nhằm vào việc cải thiện tính bền vững của các loại hình sinh kế hiện tại đồng thời chú trọng đến phát triển sinh kế thay thế sử dụng nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương (không gây tác động đến KBTB), công nghệ và kiến thức bản địa.[16]

Như vậy, việc học hỏi và rút kinh nghiệm từ các dự án sinh kế thay thế là rất cần thiết khi nghiên cứu về sinh kế bền vững cho các KBT

- Năm 2012, GS TS Trần Thọ Đạt và Ths Vũ Hoài Thu đã xuất bản cuốn

“Biếnđổi khí hậu và sinh kế ven biển” Trong cuốn sách này cũng có nói rằng “sự gia tăng rủi ro từ BĐKH là một trong những áp lực làm tăng khả năng bị tổn thương của những sinh kế dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các cộng đồng ven biển” Trong khi đó người dân ven biển có năng lực thích ứng hạn chế và

thiếu các nguồn lực cần thiết để đương đầu với những rủi ro gây ra bởi BĐKH Mặt khác người dân sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm, ngư nghiệp_những lĩnh vực nhạy cảm với BĐKH, nên các biện pháp thích ứng về sinh kế sẽ giúp người dân

Trang 26

giảm khả năng bị tổn thương và tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu Các phân tích sinh kế ở đây đều được đánh giá theo các tiêu chí bền vững về kinh

tế, bền vững về môi trường, bền vững về xã hội và bền vững về thể chế.[9]

- “Dự án sinh kế nông thôn bền vững ở Bình Định” do chính phủ New

Zealand tài trợ được thực hiện từ tháng 8/2009 đến tháng 3/2015 Với mục tiêu là góp phần cải thiện sinh kế của các hộ nông dân nghèo năng động trong kinh doanh, thông qua việc tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Dự án có 4 hợp phần được triển khai ở 7 huyện, thị xã trong tỉnh gồm: Hợp phần Rau an toàn được chứng nhận VietGap, Hợp phần Tăng thu nhập từ Dừa, Hợp phần Các hệ thống chăn nuôi có lãi và Hợp phần Quản lý Dự án Dự án

đã mang lại cơ hội việc làm ổn định cho 1.246 nông dân ở nông thôn trong đó có 42% nữ Vai trò của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng được nâng cao, góp phần xóa đói giảm nghèo [37]

- Dự án IMOLA-Huế “Dự án quản lý tổng hợp các hoạt động đầm phá ở Thừa Thiên Huế” năm 2006: Là dự án do Tổ chức nông lương Liên hợp quốc (FAO) triển

khai thực hiện với sự hỗ trợ tài chính từ chính phủ Italia Dự án IMOLA hướng đến cải thiện sinh kế người dân sống dựa vào đầm phá Tam Giang thông qua việc đẩy mạnh sự quản lý bền vững các nguồn lợi thủy sinh học ở đầm phá có sự tham gia của người dân, phù hợp với hệ thống kinh tế xã hội và sản xuất, các yêu cầu về dân

số và chú trọng đặc biệt đến vai trò giới nhằm đạt được sự an toàn thực phẩm và xóa nghèo Dự án đã thực hiện phân tích sinh kế bền vững thông qua đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân Các kết quả chính của dự án đều hướng đến đối tượng người dân: Xây dựng thông tin nhằm tạo sự quan tâm và thúc đẩy cộng đồng hiểu về những nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi từ chính hoạt động sản xuất của họ; Phát huy nguồn lực cộng đồng thông qua việc xây dựng các tổ chức nông dân (cụ thể là các chi hội nghề cá) để người dân tự chủ hơn và có môi trường trao đổi học hỏi kinh nghiệm nhiều hơn trong các hoạt động sinh kế của mình [7]

Dự án IMOLA dù đã thực hiện cách đây gần chục năm nhưng đã để lại

nhiều bài học kinh nghiệm quý giá trong phát triển nông nghiệp và nông thôn: “Dự

Trang 27

án IMOLA đã đem lại nhiều kinh nghiệm cho phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng, đặc biệt ở các vùng mà tài nguyên là một nguồn lợi dùng chung, gắn liền với sinh kế của người dân Việt Nam có gần 1 triệu km 2 diện tích khai thác thủy sản, 3/4 diện tích cả nước là vùng đồi núi với nguồn tài nguyên cơ bản là rừng Đời sống dân cư nông thôn nhiều nơi tại các khu vực này phụ thuộc phần lớn vào những gì

họ có thể khai thác từ tự nhiên Việc phân cấp, phân quyền trong quản lý là đòi hỏi tất yếu Kinh nghiệm của dự án IMOLA là công tác quy hoạch quản lý tài nguyên đầm phá và cơ chế đồng quản lý có thể đóng góp nhiều bài học cho phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng tại các khu vực này” [2, tr 24-25]

Tóm lại: Hầu hết các dự án sinh kế bền vững đều nhằm mục đích tăng thu nhập, nâng cao đời sống người dân và bảo tồn được các nguồn lợi tự nhiên_một trong những nguồn lực quan trọng để lựa chọn các chiến lược sinh kế phù hợp

1.2.3.Các nghiên cứu về sinh kế tại VQG Xuân Sơn

1.2.3.1.Khái quát về Vườn Quốc gia Xuân Sơn

vụ hành chính 212 ha) Diện tích vùng đệm của VQG: 6.208,5 ha

- Vị trí vườn nằm trong 6 xã gồm (xã Xuân Sơn và một phần diện tích các xã:

Kim Thượng, Xuân Đài, Đồng Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng)

- Với văn phòng đặt tại xã Xuân Đài – Huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ

Trang 28

b) Điều kiện tự nhiên

Hình 1.2 Sơ đồ vị trí VQG Xuân Sơn

 Vị trí địa lý

Vườn Quốc gia Xuân Sơn nằm về phía Tây của huyện Tân Sơn, trên vùng

tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hoà Bình và Sơn La

 Toạ độ địa lý:

- Từ 21003’ đến 21012’ vĩ độ Bắc;

- Từ 104051’ đến 105001’ kinh độ Đông

 Ranh giới Vườn quốc gia:

- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;

- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình;

- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;

- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

 Các xã vùng đệm

Vùng đệm VQG Xuân Sơn gồm 29 thôn nằm trên ranh giới hành chính của 6

xã thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Danh sách các xã vùng đệm: Xuân Sơn, Xuân Đài, Kim Thượng, Đồng Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng Diện tích vùng đệm là 6.208,5 ha

Trang 29

Bảng 1.1: Diện tích, dân số vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn

TT Tên xã

Vùng đệm trong Vùng đệm ngoài

Số thôn Diện tích Dân số

Số thôn

Diện tích

- Kiểu địa hình núi thấp và đồi, độ cao <700m, chiếm khoảng 65% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, phần lớn là các dãy núi đất, có xen lẫn địa hình caster, phân

bố phía Đông và Đông Nam Vườn, độ dốc trung bình từ 25 - 300, độ cao trung bình 400m

- Địa hình thung lũng, lòng chảo và dốc tụ, chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình, phần lớn diện tích này đang được sử dụng canh tác nông nghiệp

 Địa chất, đất đai

 Địa chất

Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 cho thấy: Khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn có các quá trình phát triển địa chất phức tạp Các nhà địa chất

Trang 30

gọi đây là vùng đồi núi thấp sông Mua Toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp

 Đất đai

- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH): Phân bố từ 700-1386m, tập

trung ở phía Tây của Vườn, giáp với huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình), huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La)

- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (Fe): Phân bố dưới 700m,

thành phần cơ giới nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn, đất khá mầu mỡ, thích hợp cho các loài cây lâm nghiệp phát triển

- Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi)-R: Đá vôi là loại đá

cứng, khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa trôi đến đó, nên đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá

- Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng (DL): Là loại

đất phì nhiêu, tầng dầy, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon (L) Hàng năm thường được bồi thêm một lớp phù sa mới khá màu mỡ

 Khí hậu, thủy văn

 Khí hậu

- Theo tài liệu quan trắc khí tượng thủy văn của trạm khí tượng Minh Đài và Thanh Sơn, khí hậu tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa; mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô

- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8,9 hàng năm Lượng mưa bình quân năm là 1.826 mm, lượng mưa cực đại có thể tới 2.453 mm (năm 1971)

- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa ít và có nhiều sương mù

- Nhiệt độ trung bình cả năm là 22,50C; nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối vào các tháng 6 và 7 hàng năm, có khi lên tới 40,70C; nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, có khi xuống tới 0,50

C

Trang 31

- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8 (trên 87%), thấp nhất vào tháng 12 (65%)

 Thủy văn

Vườn quốc gia Xuân Sơn có các hệ thống suối như: Suối Thân; Suối Thang; Suối Chiềng các suối này đổ ra hệ thống Sông Vèo và Sông Dày Hai sông này hợp lưu tại Minh Đài, rồi đổ vào sông Hồng tại Phong Vực Tổng chiều dài của sông 120km, chiều rộng trung bình 150m, thuận lợi cho việc vận chuyển đường thủy từ thượng nguồn về Sông Hồng

 Đa dạng sinh học VQG Xuân Sơn

 Về thực vật

 Hệ sinh thái rừng trong VQG có các kiểu thảm thực vật chính sau:

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình

- Rừng kín thường xanh nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu

- Rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu

- Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy

- Rừng thứ sinh Tre nứa

- Rừng trồng

- Trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác

- Hệ sinh thái nương rẫy, đồng ruộng và dân cư

 Khu hệ thực vật VQG Xuân Sơn có 1259 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 699

chi của 185 họ ở 6 ngành thực vật, khẳng định đây là khu hệ thực vật có sự

đa dạng về loài cây, đa dạng về các chi thực vật, đa dạng về các họ thực vật

 Khu hệ thực vật VQG Xuân Sơn có 47 loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng được

ghi trong sách đỏ Việt Nam (SĐVN) và trong sách đỏ thế giới Có 3 loài, có tên trong danh sách đỏ thế giới (IUCN Red list) và có 2 loài cây có tên trong Nghị Định 32 của chính phủ

Trang 32

 Thực vật VQG có 11 nhóm công dụng khác nhau nhưng nhóm cho gỗ, cho thực phẩm và cho thuốc nam là 3 nhóm công dụng quan trọng nhất

 Thực vật VQG có 14 dạng sống khác nhau, dạng thân gỗ, dạng thân thảo, dạng cây bụi là 3 dạng sống quan trọng, cơ bản nhất của rừng

 Về động vật

 Khu hệ động vật rừng VQG Xuân Sơn rất đa dạng về thành phần loài và mang tính đặc trưng cho hệ sinh thái núi đá vôi vùng Đông Bắc Việt Nam Bước đầu đã ghi nhận được tại khu vực 370 loài động vật thuộc 94 họ, 26

bộ, thuộc các lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái, trong đó:

Lớp thú có 94 loài thuộc 26 họ 8 bộ

Lớp chim 223 loài thuộc 50 họ 15 bộ

Lớp bò sát có 30 loài thuộc 11 họ, 2 bộ

Lớp ếch nhái có 23 loài thuộc 7 họ, 1 bộ

 Trong tổng số 370 loài động vật VQG, có nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và Nghị định 32 Trong đó: Có 36 loài được ghi trong Sánh đỏ Việt Nam 2007; 41 loài được ghi trong Nghị định 32CP năm 2006

c) Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội

 Dân số, dân tộc

Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 29 thôn thuộc địa giới hành chính của 6 xã Xuân Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Đồng Sơn, Kim Thượng và Xuân Đài, huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ Các xóm phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200 - 400 m so với mực nước biển, tập trung ở phía Đông, một phần phía Bắc và Nam của Vườn quốc gia

 Dân số: Theo kết quả thống kê tại các xã năm 2012, Vườn quốc gia Xuân

Sơn và khu vực vùng đệm (29 thôn/xóm) có 12.559 người với 2.908 hộ; trong đó nằm trong vùng lõi Vườn quốc gia có 2.984 người với 794 hộ

 Lao động: Tổng số lao động trong Vườn quốc gia và khu vực vùng đệm

là 7.391 người, chiếm 58,8% tổng dân số Vườn quốc gia và khu vực vùng đệm; trong đó số lao động trong vùng lõi là 1.647 người, chiếm

Trang 33

22,3 % tổng số lao động; số lao động khu vực vùng đệm là 5.744 người, chiếm 77,7% tổng số lao động

 Dân tộc: Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm có 3 dân tộc đang

sinh sống; Trong đó, dân tộc Mường có 2.324 hộ, chiếm 79,9%; dân tộc Dao

có 546 hộ, chiếm 18,7 %; dân tộc Kinh có 38 hộ, chiếm 1,4 %

+ Dân tộc Mường

Người Mường sống thành từng xóm riêng biệt tại các xóm Lấp, Lạng và Nước Thang, một số ít sinh sống trong xóm Dù Trong sản xuất, người Mường vẫn giữ được tính cộng đồng Họ thường hỗ trợ lẫn nhau trong các công việc như làm ruộng, nương rẫy, hái lượm Người Mường có truyền thống làm ruộng nước lâu đời,

vì vậy ruộng nước của họ thường rất ổn định và bền vững

+ Dân tộc Dao

Người Dao phân bố ở các xóm Dù, Cỏi, Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng và xóm Thân Người Dao ở đây còn giữ được nhiều phong tục tập quán và truyền thống đặc trưng của người Dao ở Việt Nam và đây cũng là nguồn tài nguyên nhân văn quý giá còn lưu giữ lại được ở nơi đây

 Tình hình kinh tế và đói nghèo

 Trồng trọt

- Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, khoai, sắn, một số sản phẩm cây trồng phục vụ cho chăn nuôi Do thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn nên thời gian sinh trưởng của cây trồng kéo dài hơn Bên cạnh đó, phần lớn nguồn nước tưới phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên những tháng mùa khô thường xảy ra thiếu nước nên diện tích lúa nước ít, chủ yếu canh tác 1 vụ

- Diện tích khoai, sắn canh tác ở các sườn đồi, nơi đất ít dốc và hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất và sản lượng chưa cao

- Các loại cây trồng khác: ngô, đậu, lạc được trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng không đủ điều kiện để làm ruộng nước

 Chăn nuôi

Trang 34

Cùng với trồng trọt, chăn nuôi luôn được chú trọng trong mỗi gia đình Nhìn chung hình thức chăn nuôi còn nhỏ lẻ theo hộ gia đình, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ, chưa hướng tới sản xuất hàng hoá tập trung Tuy nhiên, có một số hộ gia đình chăn nuôi theo mô hình gia trại, trang trại Một số nơi, người dân còn duy trì phong tục chăn thả tự do vào rừng, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chăm sóc, bảo vệ

rừng, đặc biệt là rừng non mới trồng

 Các hoạt động dịch vụ thương mại

- Du lịch sinh thái là thế mạnh của Vườn quốc gia Xuân Sơn, mang lại thu nhập đáng kể cho nhân dân trong vùng Các loại hình du lịch chính gồm: Du lịch sinh thái; du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa; du lịch thăm quan nghỉ dưỡng

- Những hoạt động du lịch vừa mang lại thu nhập cho người dân sinh sống trong vùng, vừa nâng cao ý thức trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, sinh thái, cảnh quan Tuy nhiên, các hoạt động dịch vụ du lịch mới tập trung ở trung tâm xã Xuân Sơn, hoạt động dịch vụ thương mại chủ yếu là bán lẻ hàng hóa tiêu dùng thiết yếu hàng ngày và nhà nghỉ tạm cho khách đến tham quan du lịch nên số lượng khách đến thăm Vườn chưa nhiều Số lượng khách thăm quan chưa tương xứng với tiềm năng do một số nguyên nhân sau:

+ Chưa có hệ thống tổ chức quản lý, hướng dẫn và dịch vụ phù trợ như: Nhà hàng, nhà nghỉ, khu vui chơi giải trí

+ Các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu vực còn nhỏ lẻ, tự phát

và chưa phát triển

+ Sản phẩm du lịch chưa đa dạng, lực lượng tham gia làm dịch vụ du lịch còn mỏng, chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có

 Đời sống và thu nhập của người dân

- Thu nhập bình quân trên đầu người trong khu vực vùng lõi và vùng đệm Vườn quốc gia khoảng 7,9 triệu đồng/người/năm Nguồn thu nhập chính của người dân trong khu vực chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc

Trang 35

- Tỷ lệ hộ nghèo của 6 xã thuộc Vườn quốc gia Xuân Sơn năm 2013 chiếm 45,8 %, cao hơn mức trung bình của huyện Tân Sơn_29,07% năm 2013 Tỷ lệ hộ nghèo vùng lõi cao hơn vùng đệm

 Hiện trạng xã hội

 Giao thông: Hệ thống đường giao thông vào vùng lõi và vùng đệm Vườn quốc

gia luôn được quan tâm đầu tư Tính đến năm 2012, có 94 km đường nhựa và đường bê tông đến trung tâm các xã; 67,7 km đường bê tông được trải đến thôn

 Y tế: Trong khu vực Vườn quốc gia có 1 trạm y tế được xây kiên cố tại trung

tâm xã Xuân Sơn (xóm Dù) với 10 giường bệnh, 1 bác sỹ, 2 điều dưỡng, 1 y

sỹ, 2 y tá Mỗi xóm có 01 y tá xóm Dụng cụ khám chữa bệnh ở trạm y tế được trang bị đơn giản, chỉ khám, chữa những loại bệnh thông thường Tuy nhiên, công tác y tế ở đây đã có nhiều cố gắng như phát thuốc sốt rét, sốt xuất huyết, tiêm phòng dịch, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh

 Giáo dục

- Giáo dục trong khu vực Vườn quốc gia đã được chú trọng, hầu hết các xã có trường tiểu học và trường trung học cơ sở Các xóm đều có lớp cắm bản từ lớp 1 đến lớp 5, giáo viên hầu hết là người trên địa bàn huyện Số học sinh trong độ tuổi tiểu học được đến trường đạt 100% Tuy nhiên, số học sinh trong độ tuổi trung học

cơ sở và trung học phổ thông đi học khoảng 70%

- Hầu hết các phòng học và phòng ở của giáo viên được xây dựng kiên cố

1.2.3.2.Các nghiên cứu về sinh kế tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn

Kể từ khi thành lập (năm 2002) đến nay, tại VQG Xuân Sơn chưa có một nghiên cứu nào sâu và toàn diện về phát triển sinh kế hộ nông dân dưới góc độ xem xét việc sử dụng nguồn lực sinh kế (nguồn vốn sinh kế) Dưới đây là danh sách các chương trình dự án đầu tư phát triển VQG và những kết quả đạt được

Các chương trình đầu tư phát triển VQG Xuân Sơn tập trung chủ yếu vào các công trình lâm sinh và các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ bảo tồn: Dự

án 661 (năm 1999 - 2010), Dự án bảo vệ phát triển rừng (năm 2011 - 2015), các công trình xây dựng phục vụ bảo tồn…Các công trình này góp phần nâng cao công

Trang 36

tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn ĐDSH tại Vườn đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người dân địa phương phát triển kinh tế - xã hội

Các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội như: Chương trình “xóa đói giảm nghèo” và chương trình “giảm nghèo nhanh và bền vững” của chính phủ Việt Nam tại VQG cũng chỉ tập trung đầu tư chủ yếu vào xây dựng cơ sở hạ tầng và

hỗ trợ tiền và gạo cho các hộ nghèo tham gia nhận khoán bảo vệ rừng và trồng rừng

Một số các chương trình dự án nước ngoài đầu tư tại VQG đã bước đầu nâng cao nhận thức của người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng và góp phần cải thiện đời sống của người dân địa phương Tên các chương trình dự án: Dự án cải thiện đời sống người dân trong và ngoài VQG Xuân Sơn do Vương quốc Đan Mạch tài trợ (hay còn gọi là dự án DANIDA) được thực hiện trong vòng 3 năm từ 2008 -2010; Dự án AFAP do Quỹ vì nhân dân Châu Á Thái Bình Dương tài trợ Và hiện tại thì các chương trình này đã kết thúc cách đây khá lâu và hiệu quả của nó đến này đều không còn giá trị thực tiễn như khi dự án còn hoạt động

Cụ thể, dự án DANIDA đã nghiên cứu và triển khai nhiều mô hình ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất cho bà con như: Mô hình nông lâm kết hợp, mô hình canh tác đất dốc, mô hình lâm sản ngoài gỗ, mô hình chăn nuôi, mô hình bếp cải tiến tiết kiệm năng lượng gỗ củi và mô hình quản

lý rừng cộng đồng Dự án có nguồn vốn đầu tư và thực hiện trên quy mô lớn bước đầu đã đem lại nhiều lợi ích cho người dân địa phương: Một mặt giúp chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến cho người dân, một mặt phát huy được việc bảo tồn nguồn gen quý về cây và con, chia sẻ lợi ích với người dân địa phương về giá trị của rừng Thế nhưng sau khi dự án kết thúc thì cũng là lúc một số mô hình trên bị

xé lẻ, bỏ bê Một số mô hình lâm sản ngoài gỗ, một số mô hình nuôi lợn lửng, nuôi

gà chín cựa,… dự tính đem lại nguồn thu tương đối cho bà con nay đã bị bỏ hoang

và không được duy trì Còn đối với hầu hết các hộ dân không tham gia mô hình thì nguồn sinh kế của họ vẫn dựa chủ yếu vào hai vụ ngô, lúa Nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của các mô hình sinh kế thay thế trên là do xuất phát từ tâm lý trông chờ, ỉ lại của bà con Và đây cũng là bài học kinh nghiệm cho các cơ quan chức

Trang 37

năng trong các hoạt động phát triển sinh kế bền vững Đứng trước thực trạng này, BQL VQG cũng đã chú trọng hơn tới công tác giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức người dân địa phương trong các chiến lược bảo tồn và phát triển bền vững VQG Xuân Sơn

Các chương trình dự án hiện nay tại VQG vẫn đang tiếp tục đó là Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 tại các

xã vùng đệm và dự án kết nối khu du lịch Xuân Sơn – Đền Hùng Các chương trình

dự án này tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ quy hoạch phát triển VQG, phát triển du lịch sinh thái và hỗ trợ cộng đồng phát triển sản xuất Dự án này góp phần mở ra “con đường mới” cho người dân trong hoạt động du lịch: Sản phẩm

du lịch của họ có thể đưa đến VQG Đền Hùng để quảng bá và tiêu thụ Đây cũng là một trong những cơ sở thuận lợi về đầu ra cho người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn

Trang 38

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP LUẬN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu của đề tài là vùng đệm VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

2.1.1.Đặc điểm của xã nghiên cứu: Xã Xuân Sơn

2.1.1.1.Điều kiện tự nhiên

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí xã Xuân Sơn

 Vị trí địa lý

Xã Xuân Sơn là xã thuộc khu vực miền núi có diện tích tự nhiên 6.560,05 ha, cách trung tâm huyện Tân Sơn khoảng 35 km về phía Tây Nam, có vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc giáp với xã Đồng Sơn, xã Tân Sơn và xã Lai Đồng

- Phía Nam giáp với xã Kim Thượng và xã Đồng Nghê của huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình

- Phía Đông giáp với xã Xuân Đài

- Phía Tây giáp với xã Mường Bang và xã Mường Do của huyện Phù Yên tỉnh Sơn La; giáp xã Đồng Nghê của huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình

Trang 39

 Địa hình, địa mạo

Xuân Sơn là xã miền núi thuộc phần cuối địa phận dãy núi Pu Luông đoạn đèo Lũng Lô phía Tây, nằm trong khu vực vườn Quốc gia Xuân Sơn Gồm 2 dãy núi cao trên 1000 m so với mặt nước biển

- Dãy núi Cẩn nằm ở phía Tây Bắc chủ yếu là dãy núi đá Voi, nằm ranh giới giữa vườn Quốc gia và tỉnh Hòa Bình, Sơn La Đỉnh cao nhất là đỉnh núi Voi cao 1.386

Trên địa bàn xã có 3 lũng đá vôi độ cao trung bình từ 200 – 400 m, gồm lũng Lấp cao 214 m, lũng Dù cao 396 m và lũng Lạng cao 377 m được nối với nhau bằng các dải đá vôi hay yên ngựa thấp

Địa hình của xã Xuân Sơn như vậy đã gây khó khăn trong sản xuất như: Việc cung cấp nước tưới tiêu cho cây trồng; phát triển cơ sở hạ tầng; xây dựng công trình công cộng,

 Khí hậu

Xuân Sơn nằm trong vùng nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, bị dồn

ép bởi các sườn núi nên lạnh và ẩm Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 22,50C, tháng có nhiệt độ cao nhất là 41,00C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 nhiệt độ khoảng 15,00C

Lượng mưa trung bình hàng năm của xã là 1.650 mm, tập trung vào tháng 6,7,8 và

9 là nguyên nhân gây ra ngập úng, xói mòn đất Tháng 8 là tháng có lượng mưa trung bình cao nhất đạt 307 mm, lượng mưa tháng thấp nhất là tháng 12, có năm không có mưa Mùa khô hạn kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau

Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 84,00%, độ ẩm không khí cao nhất là 95,0% và

độ ẩm thấp nhất là 68,0%

Trang 40

Chế độ gió: Trên địa bàn xã có 3 loại gió chính là gió Đông Nam, gió Đông Bắc và gió Tây Nam (gió Lào) xuất hiện vào tháng 5 và tháng 6 thường khô hanh và nắng Nhìn chung, khí hậu của xã Xuân Sơn là khí hậu nóng ẩm, lượng bức xạ cao khá thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp với thế mạnh là cây hàng năm, cây nguyên liệu giấy, chăn nuôi đại gia súc Tuy nhiên do lượng mưa phân bố không đều, tập trung vào một số tháng mùa mưa gây ra úng lụt với những chân ruộng trũng, tạo dòng chảy lớn gây xói mòn đất vùng đồi Nhiệt độ xuống thấp vào mùa đông, thiếu ánh sáng, lại ít mưa gây hạn hán cho cây trồng vụ đông xuân và đời sống của nhân dân

 Thuỷ văn

Trên địa bàn xã có Suối Thang, suối Chiềng, có lưu vực nhỏ hẹp nhiều thác ghềnh, mặt độ sông suối cao, độ dốc lớn cùng với hệ thống ao hồ đập nhân tạo cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân và sản xuất; ngoài ra nguồn nước được khai thác qua hệ thống giếng khơi, giếng khoan Tuy nhiên chưa đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu nước cho sản xuất Nguồn nước tưới hiện nay chủ yếu là nước dự trữ ở các

hồ đập và nguồn nước tự nhiên

2.1.1.2.Điều kiện kinh tế xã hội

 Xã Xuân Sơn có tất cả 4 thôn bản: Thôn Dù, Thôn Lấp, Thôn Lạng, Thôn Cỏi Theo số liệu điều tra thu thập tại xã tháng 1 năm 2013 thì dân số của toàn xã là 1092 người [Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Thọ, 2013] Thành phân dân tộc của xã chủ yếu gồm dân tộc Mường và Dao, là những tộc người đã cư trú tại đây từ rất lâu

 Xuân Sơn là xã có tỷ lệ hộ đói nghèo cao Số hộ đói nghèo năm 2012 của các thôn trong xã thống kê được như sau: Số hộ đói nghèo thôn Lạng 42,7 %, Thôn Dù 49,2 %, Thôn Cỏi 55,8 %, Thôn Lấp 62,5 %

 Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của toàn xã: Ngành nông lâm nghiệp

chiếm 97 % tỷ trọng năm 2005 và chiếm đến 88,0 % năm 2010 “Nguồn:

[UBND huyện Tân Sơn, 2010]”

2.2.Thời gian nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trong khoảng 1 năm (Từ tháng 11/2014-11/2015)

Ngày đăng: 17/03/2021, 19:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w