Chuối tây cho trái to tròn, đều, thân cao, khỏe là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc, thu hoạch quanh năm đem lại hiệu quả kinh tế cao, cộng với ưu điểm phù hợp với điều kiện đất đai, ít sâ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ CẨM VÂN
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CHUỐI TÂY
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ CẨM VÂN
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CHUỐI TÂY
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hữu Thọ
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Vũ Cẩm Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Hữu Thọ đã tận tình hướng dẫn,
dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Phòng Đào tạo, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức của UBND huyện Chợ Mới, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam, trung tâm Nghiên cứu phát triển Nông Lâm nghiệp miền núi (ADC) đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong các hoạt động nghiên cứu của tôi
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Vũ Cẩm Vân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ x
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu: 3
4 Ý nghĩa của đề tài: 3
4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn: 3
Chương 1.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Những khái niệm liên quan 5
1.1.2 Một số công cụ phân tích chuỗi giá trị 13
1.1.3 Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị 16
1.1.4 Lý luận về thị trường tiêu thụ nông sản 17
1.1.5 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật cây chuối tây 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới 19
1.2.2 Tình hình phát triển chuỗi giá trị ở Việt Nam 21
1.2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu 26
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất 29
1.2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới 30
Trang 61.2.6 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối ở Việt Nam 31
Chương 2.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 32
2.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Chợ Mới 32
2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 36
2.2 Nội dung nghiên cứu 42
2.3 Phương pháp nghiên cứu 42
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 42
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra 43
2.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 43
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 44
2.4.1 Các chỉ tiêu kinh tế 44
2.4.2 Phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận trong chuỗi 45
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Thực trạng phát triển chuỗi giá trị Chuối tây trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 45
3.1.1 Tình hình sản xuất cây Chuối tây huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 45
3.1.2 Thực trạng chuỗi giá trị chuối tây tại huyện Chợ Mới 50
Các tác nhân tiêu thụ 55
Các tác nhân khác 56
3.1.3 Xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia chuỗi 56
Cơ cấu chi phí của chuỗi giá trị chuối tây tại Bắc Kạn 56
3.2 Hoạt động của chuỗi giá trị chuối tây trên địa bàn huyện Chợ Mới 59
3.3 Phân tích liên kết trong chuỗi giá trị chuối tây tại huyện Chợ Mới 71
3.2.1 Liên kết dọc 71
3.2.2 Liên kết ngang 81
3.3 Đánh giá chung về chuỗi giá trị chuối tây tại huyện Chợ Mới 85
3.3.1 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển chuỗi giá trị chuối tây trên địa bàn huyện Chợ Mới 85
3.3.2 Một số đánh giá về chuỗi giá trị chuối tây ở huyện Chợ Mới 89
Trang 73.4 Một số giải pháp phát triển chuỗi giá trị chuối tây tại huyện Chợ Mới 91
3.4.1 Công tác quy hoạch 91
3.4.2 Các biện pháp kỹ thuật 93
3.4.3 Các biện pháp kinh tế 94
3.4.4 Marketing sản phẩm chuối tây huyện Chợ Mới 96
3.4.5 Mở rộng thị trường tiêu thụ 97
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2.1 Đề nghị 99
2.2 Đối với HTX 99
2.3 Khuyến nghị đối với nông dân trồng và thu gom chuối tây 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng sử dụng đất của huyện Chợ Mới 2017-2019 34
Bảng 2.2 Tình hình dân số và lao động huyện Chợ Mới 37
Bảng 2.3 Cơ cấu giá trị sản xuất trên địa bàn huyện Chợ Mới 40
giai đoạn 2017-2019 40
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất chăn nuôi của huyện Chợ Mới 40
giai đoạn 2017 – 2019 40
Bảng 3.1: Sản lượng chuối tây ở một số vùng trồng tập trung 48
Bảng 3.2: Năng Suất, sản lượng chuối tây huyện Chợ Mới 49
năm (2017 - 2018 - 2019) 49
Bảng 3.3: Thông tin chung của hộ sản xuất 59
Bảng 3.4 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân 61
trồng chuối tây (tính BQ/1 ha) 61
Bảng 3.5 Thông tin chung của hộ thu gom 62
Bảng 3.6 Lợi nhuận của người thu gom chuối tây 63
(Tính BQ/1 tấn chuối tây) 63
Bảng 3.7 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ bán buôn 65
Chuối tây (tính BQ/1 tấn chuối tây) 65
Bảng 3.8 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ bán lẻ 67
(tính BQ/1 tấn chuối tây) 67
Bảng 3.9 Chi phí và lợi nhuận của HTX chế biến nông sản 69
(tính BQ/1 tấn chuối tây nguyên liệu) 69
Bảng 3.10 Nội dung liên kết giữa hộ sản xuất và hộ thu gom 71
Bảng 3.11 Tình hình liên kết tiêu thụ giữa nông dân trồng chuối tây 72
với hộ thu gom 72
Bảng 3.12 Lý do hộ nông dân trồng chuối tây tham gia liên kết với hộ thu gom 72
Bảng 3.13 Lý do hộ nông dân trồng chuối tây không tham gia 73
liên kết với các tác nhân khác 73
Bảng 3.14 Tình hình phá vỡ cam kết và hình thức xử lý 74
giữa hộ nông dân và hộ thu gom 74
Bảng 3.15 Lợi ích nhận được khi hộ nông dân liên kết với hộ thu gom 75
Bảng 3.16: Nội dung liên kết giữa hộ sản xuất và HTX chế biến chuối tây 75
Bảng 3.17 Tình hình liên kết tiêu thụ chuối tây giữa nông dân 76
với cơ sở chế biến 76
Bảng 3.18 Lý do hộ nông dân trồng chuối tây tham gia liên kết 77
với cơ sở chế biến 77
Bảng 3.19 Lý do hộ nông dân trồng chuối tây không tham gia 77
liên kết với các tác nhân khác 77
Bảng 3.20 Tình hình phá vỡ cam kết và hình thức xử lý 78
giữa hộ nông dân và cơ sở chế biến 78
Bảng 3.21: Lợi ích nhận được khi hộ nông dân liên kết với cơ sở chế biến 79
Bảng 3.22 Tình hình liên kết tiêu thụ giữa hộ thu gom và cơ sở chế biến 79
Bảng 3.23 Tình hình liên kết tiêu thụ giữa hộ thu gom và cơ sở chế biến 80
Trang 9Bảng 3.24: Lý do hộ thu gom chuối tây tham gia liên kết với cơ sở chế biến 80
Bảng 3.25 Lợi ích khi tiêu thụ đầu ra của hộ thu gom 81
Bảng 3.26 Nội dung liên kết giữa nông dân trồng chuối tây 82
với hộ nông dân trồng chuối tây 82
Bảng 3.27 Tình hình phá vỡ cam kết và hình thức xử lý 82
giữa hộ nông dân và hộ nông dân 82
Bảng 3.28: Lợi ích nhận được khi hộ nông dân liên kết với hộ nông dân 83
Bảng 3.29 Nội dung liên kết giữa hộ thu gom và hộ thu gom 84
Bảng 3.30 Tình hình phá vỡ cam kết và hình thức xử lý giữa hộ 84
thu gom và hộ thu gom 84
Bảng 3.31 Lợi ích nhận được khi hộ thu gom liên kết với hộ thu gom 85
Bảng 3.32: Mô hình chéo SWOT của chuỗi giá trị chuối tây 88
(điểm mạnh/ điểm yếu/cơ hội/thách thức) 88
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Chuỗi giá trị của Porter (1985) 12 Hình 1.2 Hệ thống giá trị của Porter (1985) - Asian Development Bank (2005), M4P Week 2005 13 Hình 3.1 Sơ đồ chuỗi giá trị chuối tây huyện Chợ Mới 51 Hình 3.2: Chi phí và lợi nhuận giữa các nhân chính trong chuỗi chuối tây tại Bắc Kạn 57
Trang 11: Global Good Agricultural Practices
GTZ : Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Cộng hòa Liên bang Đức
SWOT : Strengths (thế mạnh), Weaknesses (Điểm yếu),
Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức) – là mô hình (hay ma trận) phân tích knh doanh nổi tiếng cho doanh nghiệp
VietGAP : Vietnamese Good Agricultural Practices Province
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ
Tên tác giả: Vũ Cẩm Vân
Tên luận văn: tài “Phân tích chuỗi giá trị chuối tây trên địa bàn huyện Chợ Mới
tỉnh Bắc Kạn”
Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 8.62.01.15
Tên cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Phần nội dung
1 Mục tiêu của đề tài: Phân tích những thuận lợi, khó khăn và các rào cản trong phát triển chuỗi giá trị chuối tây theo các liên kết dọc và liên kết ngang, kên phân phối qua đó đề xuất mô hình phát triển dựa vào các nguồn lực của địa phương Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong sản xuất, tiêu thụ chuối tại Bắc Kạn theo chuỗi giá trị, giải pháp nâng cao giá trị gia tăng góp phần nâng cao thương hiệu chuối tây tại địa phương
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Đề tài phân tích thực trạng liên kết trong sản xuất, tiêu thụ chuối tây theo chuỗi giá trị trên địa bàn xã Thanh Vận và xã Mai Lạp huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Chợ Mới, trong đó tập trung nghiên cứu về phân tích thực trạng liên kết trong sản xuất, tiêu thụ chuối tây theo chuỗi giá trị của nông hộ tại xã Mai Lạp và Thanh Vận là 02 xã có diện tích trồng chuối tây lớn của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Đánh giá được thực trạng phát triển chuỗi giá trị chuối tây trên địa bàn huyện Chợ Mới, Bắc Kạn
- Đưa ra phương hướng để phát huy tiềm năng thế mạnh, giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển năng suất cây chuối tây ngày càng hiệu quả và bền vững
- Kết quả nghiên cứu của đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương trong quá trình liên kết trong sản xuất kinh tế hộ nông dân trong thời gian tới,
là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo, các ban ngành đưa ra các phương hướng để
Trang 13phát huy tiềm năng thế mạnh, giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển liên kết trong sản xuất ngày càng hiệu quả và bền vững
4 Bố cục luận văn:
- Qua nghiên cứu, tác giả tổng kết lại kết quả nghiên cứu và giới thiệu “ Phân tích chuỗi giá trị của chuối tây trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn” để độc giả tham khảo Nội dung, bố cục ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 nội dung chính sau:
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Đối tượng nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang không ngừng phát triển, mỗi quốc gia đều có những chiến lược phát triển riêng của đất nước mình Hầu hết mọi quốc gia đều đi theo con đường công nghiệp hóa, tăng tỉ trọng đóng góp của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm của mọi quốc gia Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và nghề nghiệp chính của họ vẫn là sản xuất nông nghiệp Do đó việc phát triển sản xuất nông nghiệp luôn được quan tâm hàng đầu ở nước ta Từ một nước phải mua ngoại tệ để nhập khẩu lương thực và thực phẩm thì đến nay Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới Trong kim ngạch hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam, không thể không nhắc đến vai trò của cây chuối tây Đây là một loại cây công nghiệp ngắn ngày dễ trồng, phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng nước ta nên được trồng ở nhiều vùng trên khắp cả nước Cây chuối tây là loại cây có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao và là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị đưa lại nguồn thu ngoại tệ, góp phần
ổn định kinh tế - xã hội của đất nước Để có được thành tựu ấy phải kể đến nỗ lực sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh, địa phương trong cả nước, trong đó có tỉnh Bắc Kạn Nằm
ở khu vực miền núi Phía Bắc, Bắc Kạn có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng Đặc biệt là huyện Chợ Mới nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Kạn Với điều kiện khí hậu thuận lợi, người dân có nhiều kinh nghiệm sản xuất nên cây chuối tây ở đây đã được trồng với diện tích lớn Và thị trường tiêu thụ hiện nay cũng khá thuận lợi, tạo điều kiện cho người dân nơi đây yên tâm đầu tư sản xuất Tuy nhiên, sản xuất cây chuối tây hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn do yếu tố chủ quan lẫn yếu tố khách quan
Do đặc thù của tỉnh miền núi với diện tích đất rừng lớn và phong phú, Bắc Kạn
có những lợi thế để phát triển ngành Lâm nghiệp và canh tác trên đất dốc Tuy nhiên một thực tế cho thấy rất nhiều vùng hiện nay, người dân canh tác không bền vững, chặt phá rừng, ít chú ý đến tái tạo phát triển rừng, tâm lý của người dân vẫn chỉ chú trọng khai thác các sản phẩm từ rừng (măng, nứa, củi, gỗ, nấm ) mà không quan tâm tới
Trang 15việc phát triển bền vững trên đất dốc làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh mẽ làm cho nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt Bên cạnh đó một số cộng đồng có những kiến thức canh tác trên đất dốc, tận dụng thế mạnh của nguồn tài nguyên thiên nhiên giúp họ tồn tại và thích ứng với những biến đổi của thời tiết theo thời gian
Hiện toàn tỉnh Bắc Kạn có khoảng 400 ha cây chuối tây trồng rải rác ở tất cả các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh; trong đó tập trung nhiều nhất tại xã Mai Lạp, và xã Thanh Vận, huyện Chợ Mới Với thu nhập ước đạt từ 50-80 triệu đồng/ha, những năm qua, loại cây trồng này đã giúp cho nhiều hộ gia đình thoát nghèo Chuối tây cho trái
to tròn, đều, thân cao, khỏe là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc, thu hoạch quanh năm đem lại hiệu quả kinh tế cao, cộng với ưu điểm phù hợp với điều kiện đất đai, ít sâu bệnh, vốn đầu tư thấp, thị trường tiêu thụ rộng nên rất phù hợp để các hộ nông dân đưa
vào sản xuất hàng hóa (Báo cáo tình hình kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh của UBND tỉnh Bắc Kạn, 2017)
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay và sự gia tăng dân số ngày càng tạo
áp lực cho rừng và sản xuất lâm nghiệp, việc phát triển các mô hình canh tác bền vững trên đất dốc dựa vào kinh nghiệm của người dân theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, tăng thu nhập cho người dân dựa trên một đơn vị diện tích đất là vấn đề ưu tiên cần giải quyết
Để giải quyết khó khăn này, đề tài “Phân tích chuỗi giá trị chuối tây trên địa bàn huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn” đã được triển khai trên địa bàn huyện Chợ Mới
tỉnh Bắc Kạn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích thực trạng chuỗi giá trị chuỗi tây trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn và các rào cản trong phát triển chuỗi giá trị chuối tây theo các liên kết dọc và liên kết ngang, kên phân phối qua đó đề xuất mô hình phát triển dựa vào các nguồn lực của địa phương
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong sản xuất, tiêu thụ chuối tại Bắc Kạn theo chuỗi giá trị, giải pháp nâng cao giá trị gia tăng góp phần nâng cao thương hiệu chuối tây tại địa phương
Trang 163 Đối tượng nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Đề tài phân tích thực trạng liên kết trong sản xuất, tiêu thụ chuối tây theo chuỗi giá trị trên địa bàn xã Thanh Vận và xã Mai Lạp huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Chợ Mới, trong đó tập trung nghiên cứu về phân tích thực trạng liên kết trong sản xuất, tiêu thụ chuối tây theo chuỗi giá trị của nông hộ tại xã Mai Lạp và Thanh Vận là 02 xã có diện tích trồng chuối tây lớn của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Phạm vi về thời gian: Điều tra khảo sát thu thập thông tin năm 2017, thu thập
số liệu sơ cấp năm 2018-2019
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2017 đến tháng 01/2020
- Đối tượng nghiên cứu: Các nông hộ trồng chuối tây trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
4 Ý nghĩa của đề tài:
4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về cây chuối tây
- Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học cho mỗi học viên
- Quá trình thực tập giúp học viên có điều kiện tiếp cận với thực tế củng cố kiến thức đã được trang bị trên nhà trường đồng thời vận dụng vào thực tế một cách hiệu quả nhất
- Là tài liệu tham khảo cho khoa, trường, cơ quan trong ngành và sinh viên, học viên khóa sau
4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn:
Đánh giá được thực trạng phát triển chuỗi giá trị chuối tây trên địa bàn huyện Chợ Mới, Bắc Kạn
- Đưa ra phương hướng để phát huy tiềm năng thế mạnh, giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển năng suất cây chuối tây ngày càng hiệu quả và bền vững
Trang 17- Kết quả nghiên cứu của đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương trong quá trình liên kết trong sản xuất kinh tế hộ nông dân trong thời gian tới,
là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo, các ban ngành đưa ra các phương hướng để phát huy tiềm năng thế mạnh, giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển liên kết trong sản xuất ngày càng hiệu quả và bền vững
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những khái niệm liên quan
1.1.1.1 Chuỗi giá trị
+) Khái niệm chuỗi
Khái niệm về chuỗi đầu tiên được đề cập trong lý thuyết về phương pháp chuỗi
(filière) Phương pháp này gồm các trường phái tư duy nghiên cứu khác nhau và sử dụng
nhiều lý thuyết như phân tích hệ thống, tổ chức ngành, kinh tế ngành, khoa học quản lý
và kinh tế chính trị Macxít Khởi đầu, phương pháp này được các học giả của Pháp sử dụng để phân tích hệ thống nông nghiệp của Mỹ những năm 1960s, từ đó đưa ra những gợi ý đối với việc phân tích hệ thống nông nghiệp của Pháp và sự hội nhập theo chiều dọc của các tổ chức trong hệ thống nước này Chính sách nông nghiệp của Pháp sử dụng phương pháp này như là công cụ để tổ chức sản xuất các mặt hàng xuất khẩu đặc biệt đối với những mặt hàng như cao su, bông, cà phê và dừa Cho đến những năm 1980s, phương pháp này được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia khác trên thế giới Trong thời gian này, khung filière không chỉ tập trung vào hệ thống sản xuất nông nghiệp mà còn chú trọng đặc biệt đến mối liên kết giữa hệ thống này với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất
khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng Như vậy, khái niệm chuỗi (Filière) luôn bao hàm nhận
thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của các hàng hoá
và xác định những người tham gia vào các hoạt động (Vũ Đình Tôn và Piere Fabre, 1994)
Trong lý thuyết về chuỗi, khái niệm “Chuỗi” được sử dụng để mô tả hoạt động
có liên quan đến quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng (có thể là sản phẩm hoặc
là dịch vụ)
+) Khái niệm chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị nói đến cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm
(hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác
nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng
Trang 19Tiếp đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi “Chuỗi giá trị” nghĩa là: Một chuỗi
các quá trình sản xuất (các chức năng) từ cung cấp các dịch vụ đầu vào cho một sản phẩm cụ thể cho đến sản xuất, thu hái, chế biến, marketing, và tiêu thụ cuối cùng; “Sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phối người sản xuất, nhà chế biến, các thương gia,
và nhà phân phối liên quan đến một sản phẩm cụ thể”; “Một mô hình kinh tế trong đó kết hợp việc chọn lựa sản phẩm và công nghệ thích hợp cùng với cách thức tổ chức các đối tượng liên quan để tiếp cận thị trường” Định nghĩa này có thể giải thích theo
nghĩa hẹp hoặc rộng
Chuỗi giá trị theo nghĩa “hẹp” là một chuỗi gồm một loạt những hoạt động
trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt động này có thể bao gồm: Giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v.v Tất cả các hoạt động này tạo
thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng (Vũ Đình Tôn và Piere Fabre, 1994) Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung “giá trị” cho thành phẩm cuối
cùng Chẳng hạn như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ hậu mãi và sửa chữa cho một công ty điện thoại di động làm tăng giá trị chung của sản phẩm Nói cách khác, khách hàng có thể sẵn sàng trả cao hơn cho một điện thoại di động có dịch vụ hậu mãi tốt Cũng tương tự như vậy đối với một thiết kế có tính sáng tạo hoặc một quy trình sản xuất được kiểm tra chặt chẽ Đối với các doanh nghiệp nông nghiệp, một hệ thống kho
phù hợp cho các nguyên liệu tươi sống (như trái cây) có ảnh hưởng tốt đến chất lượng
của thành phẩm và vì vậy, làm tăng giá trị sản phẩm
Chuỗi giá trị theo nghĩa “rộng” là một phức hợp các hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.v.) để biến một nguyên liệu thô thành một sản phẩm bán lẻ
(Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị 25/2008/CT-TTg, 25/8/2008) Chuỗi giá trị “rộng” bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến,…
Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm các vấn đề về tổ chức và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi Khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi một phương pháp tiếp cận thấu đáo về những gì
Trang 20đang diễn ra giữa những người tham gia trong chuỗi, những gì liên kết họ với nhau, những thông tin nào được chia sẻ, quan hệ giữa họ hình thành và phát triển như thế nào,…
Ngoài ra, chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm về quản trị vô cùng quan trọng đối với những nhà nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh xã hội và môi trường trong phân tích chuỗi giá trị Việc thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức
ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (như đất đai, nước), có thể làm thoái hoá đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm Thêm vào đó, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống, ví dụ, do quan hệ quyền lực giữa các hộ và cộng đồng thay đổi, hoặc những nhóm dân cư nghèo nhất hoặc dễ bị tổn thương chịu tác động tiêu cực từ hoạt động của những người tham gia chuỗi giá trị (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, 2019 và Báo cáo tình hình sản xuất chuối tây của huyện, 2019)
Những mối quan ngại này cũng có liên quan đến các chuỗi giá trị nông nghiệp Lý
do là các chuỗi giá trị phụ thuộc chủ yếu vào việc sử dụng các nguồn tài nguyên Đồng thời, ngành nông nghiệp còn có đặc thù bởi sự phổ biến các tiêu chuẩn xã hội truyền thống, khung phân tích chuỗi giá trị có thể áp dụng để rút ra kết luận về sự tham gia của người nghèo và các tác động tiềm tàng của sự phát triển chuỗi giá trị đến người nghèo (Dự án: Ứng dụng khoa học và công nghệ sản xuất cây giống đảm bảo chất lượng phục vụ phát triển 1.000ha chuối tây của tỉnh Bắc Kạn từ nay đến năm 2015)
1.1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến chuỗi giá trị
+) Chuỗi cung ứng
Một chuỗi cung ứng được định nghĩa là một hệ thống các hoạt động vật chất và các quyết định thực hiện liên tục gắn với dòng vật chất và dòng thông tin đi qua các tác nhân
Theo Lambert và Cooper,2000 cho thấy một chuỗi cung ứng ứng có 4 đặc trưng
cơ bản như sau:
+ Thứ nhất: Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc
+ Thứ hai: Một chuỗi bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức
Trang 21+ Thứ ba: Một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý
+ Thứ tư: Các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình
+) Chuỗi nông sản thực phẩm
Một chuỗi nông sản thực phẩm cũng là một chuỗi cung ứng sản xuất và phân phối nông sản thực phẩm bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin diễn ra đồng thời Chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm khác với chuỗi cung ứng của các ngành khác ở các điểm như sau:
- Bản chất của sản xuất nông nghiệp thường dựa vào quá trình sinh học, do vậy làm tăng biến động và rủi ro
- Bản chất của sản phẩm, có những đặc trưng tiêu biểu như dễ dập thối và khối lượng lớn, nên yêu cầu chuỗi khác nhau cho các sản phẩm khác nhau
- Thái độ của xã hội và người tiêu dùng quan tâm nhiều về thực phẩm an toàn
và vấn đề môi trường
+) Ngành hàng
Vào những năm 1960, phương pháp phân tích ngành hàng (Filière) được sử
dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông nghiệp Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản Bước sang những năm 1980, phân tích ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng
Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong nghiên
cứu ngành hàng “Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan
hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài”
Theo Fearne: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng Như vậy,
Trang 22ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ” (Fearne, A and D Hughes, 1998), Success Factors in the Fresh Produce Supply chain: Some Examples from the UK, Executive Summary London, Wye College
Nói một cách khác, có thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân (hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất tiếp đó là gia
công, chế biến và tiêu thụ ở một thị trường hoàn hảo của sản phẩm nông nghiệp” (Metro, GTZ, Bộ Thương Mại (2006), Báo cáo phân tích chuỗi giá trị rau an toàn TP
Hà Nội)
Như vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quá trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có quan hệ móc xích với nhau Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác Trong quá trình vận hành của một ngành hàng
đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó
Sự dịch chuyển được xem xét theo ba dạng sau:
+ Sự dịch chuyển về mặt thời gian
Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ Để thực hiện tốt
sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm
+ Sự dịch chuyển về mặt không gian
Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ở nơi khác
Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếu được để sản phẩm trở thành hàng hoá Điều kiện cần thiết của chuyển dịch về mặt không gian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của Chính phủ
- Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm)
Trang 23Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêu dùng và trình độ chế biến Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra
Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức tạp
và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và chính sách Hơn nữa, theo Fabre thì “Ngành hàng là sự hình thức hoá dưới dạng mô hình đơn giản làm hiểu
rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các tác nhân hoạt động tập
trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các phương thức điều tiết”
+) Tác nhân
Tác nhân là một “tế bào” sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyết định hành vi của mình Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện và Báo cáo tình hình sản xuất chuối tây của huyện, 2019) Tác nhân được phân ra làm hai loại:
- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh );
- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy )
Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập hợp các chủ thể có cùng một hoạt động Ví dụ: Tác nhân “nông dân” để chỉ tập hợp tất cả các
hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi không gian phân tích
Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng Tên chức năng thường trùng với tên tác nhân Ví
dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức năng chế biến, hộ bán buôn
có chức năng bán buôn Một tác nhân có thể có một hay nhiều chức năng Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng Các tác nhân đứng sau thường có chức năng hoàn thiện sản phẩm của các tác nhân đứng trước kế nó cho đến khi chức năng của tác nhân cuối cùng ở từng luồng hàng kết thúc thì ta đã có sản phẩm cuối cùng của ngành hàng
Trang 24+) Bản đồ chuỗi giá trị
Bản đồ chuỗi giá trị là một hình thức trình bày bằng hình ảnh (sơ đồ) về những
cấp độ vi mô cấp trung của chuỗi giá trị Theo định nghĩa về chuỗi giá trị, bản đồ chuỗi giá trị bao gồm một bản đồ chức năng kèm với một bản đồ về các chủ thể của chuỗi Lập bản đồ chuỗi có thể nhưng không nhất thiết phải bao gồm cấp độ vĩ mô của chuỗi giá trị
- Khung phân tích của Porter Axis Research (2006): Trường phái nghiên cứu
thứ hai liên quan đến công trình của Micheal Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh
Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định
vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp
có thể được tóm tắt như sau: Một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt
hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí) như thế nào? Cách khác là làm thế nào để
một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng sẵn sàng mua với giá
cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt)?
Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái
niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh (thực tế
và tiềm tàng) của mình Đặc biệt, Porter lập luận rằng các nguồn lợi thế cạnh tranh
không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thể Một công ty cần được phân
tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hoá (hoặc dịch vụ) và các hoạt động hỗ
trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm
Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với ý tưởng về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Tính cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần bên ngoài, tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu
Trang 25mãi và dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu v.v
Do vậy, trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh Kết quả là phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý
và chiến lược điều hành Ví dụ, một phân tích về chuỗi giá trị của một siêu thị ở châu Âu
có thể chỉ ra lợi thế cạnh tranh của siêu thị đó so với các đối thủ cạnh tranh là khả năng cung cấp rau quả nhập từ nước ngoài Browne, J Harhen, J & Shivinan, J (1996) Tìm ra nguồn lợi thế cạnh tranh là thông tin có giá trị cho các mục đích kinh doanh Tiếp theo những kết quả tìm được đó, doanh nghiệp kinh doanh siêu thị có lẽ sẽ tăng cường củng
cố mối quan hệ với các nhà sản xuất hoa quả nước ngoài và chiến dịch quảng cáo sẽ chú
ý đặc biệt đến những vấn đề này
Hình 1.1 Chuỗi giá trị của Porter (1985)
Một cách để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm “hệ thống giá trị”
Có nghĩa là: thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các hoạt động của công ty như một phần của một chuỗi các hoạt động rộng hơn
mà Porter gọi là “hệ thống giá trị” Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động do tất
cả các công ty tham gia trong việc sản xuất một hàng hoá hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên liệu thô đến phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trị rộng hơn so với khái niệm “chuỗi giá trị của doanh nghiệp” Tuy nhiên, cần chỉ ra rằng trong khung phân tích của Porter, khái niệm hệ thống giá trị chủ yếu là công cụ giúp quản lý điều hành đưa ra các quyết định có tính chất chiến lược
Trang 26Hình 1.2 Hệ thống giá trị của Porter (1985) - Asian Development Bank (2005),
M4P Week 2005
- Phương pháp tiếp cận toàn cầu: Gần đây nhất, khái niệm các chuỗi giá trị được
áp dụng để phân tích toàn cầu hoá Các nhà nghiên cứu Kaplinsky và Morris đã quan sát được rằng trong quá trình toàn cầu hoá, người ta nhận thấy khoảng cách trong thu nhập trong và giữa các nước tăng lên Các tác giả này lập luận rằng phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thích quá trình này, nhất là trong một viễn cảnh năng động:
+ Thứ nhất, bằng cách lập sơ đồ một loạt những hoạt động trong chuỗi, phân tích chuỗi giá trị sẽ phân tích được tổng thu nhập của chuỗi giá trị thành những khoản
mà các bên khác nhau trong chuỗi giá trị nhận được
+ Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các công ty, vùng và quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào?
Trong khuôn khổ chuỗi giá trị, các mối quan hệ thương mại quốc tế được coi là một phần của các mạng lưới những nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và bán lẻ, trong
đó tri thức và quan hệ được phát triển để tiếp cận được các thị trường và các nhà cung cấp Trong bối cảnh này, sự thành công của các nước đang phát triển và của những người tham gia thị trường ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào khả năng tiếp cận các mạng lưới này Muốn tiếp cận được mạng lưới này thì sản phẩm phải đạt được các yêu cầu của toàn cầu hoá
1.1.2 Một số công cụ phân tích chuỗi giá trị
1.1.2.1 Lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích
- Mục tiêu của công cụ này là: Trước khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị phải quyết định xem ưu tiên chọn tiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hóa nào để phân tích
Vì các nguồn lực để tiến hành phân tích lúc nào cũng hạn chế nên phải lập ra phương
Chuỗi giá trị của nhà cung cấp
Chuỗi giá trị của công ty
Chuỗi giá trị
của người
mua
Trang 27pháp để lựa chon một số nhất định các chuỗi giá trị để phân tích trong số nhiều lựa chọn có thể được
- Các câu hỏi chính có thể sử dụng khi lựa chọn chuỗi giá trị ưu tiên là: Việc chọn những chuỗi giá trị để phân tích dựa trên những tiêu chí chính nào? Có những chuỗi giá trị tiềm năng nào có thể phân tích? Sau khi áp dụng những tiêu chí lựa chọn, những chuỗi giá trị nào là thích hợp nhất để phân tích?
- Các bước tiến hành thực hiện công cụ này là quá trình lập thứ tự ưu tiên tuân theo 4 bước như trong quy trình tiến hành lựa chọn trong một tình huống có nguồn lực khan hiếm Bốn bước này bao gồm việc xác định một hệ thống các tiêu chí sẽ được áp dụng để lập thứ tự ưu tiên các chuỗi giá trị, đánh giá tương đối mức độ quan trọng của các tiêu chí đó, xác định các tiểu ngành, sản phẩm, hàng hóa tiềm năng có thể xem xét
và sau đó lập một ma trận để xếp thứ tự các sản phẩm theo các tiêu chí trên Lựa chọn
ưu tiên cuối cùng có thể xác định dựa vào kết quả xếp loại đạt được
1.1.2.2 Lập sơ đồ chuỗi giá trị
- Mục tiêu của việc thực hiện công cụ lập sơ đồ chuỗi bao gồm ba mục tiêu: Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về các kết nối giữa các tác nhân và các quy trình trong một chuỗi giá trị; thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân và quy trình trong chuỗi giá trị; cung cấp cho các bên có liên quan hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của riêng họ trong chuỗi giá trị
- Các câu hỏi chính: Không có sơ đồ chuỗi giá trị nào là hoàn hảo Việc quyết định lập sơ đồ những gì phụ thuộc vào các nguồn lực ta có, phạm vi và mục tiêu của nghiên cứu và nhiệm vụ của tổ chức của chúng ta Một chuỗi giá trị, cũng như thực tiễn, có rất nhiều khía cạnh: dòng sản phẩm thực tế, số tác nhân tham gia, giá trị tích luỹ được, Vì vậy, việc chọn xem sẽ đưa vào những khía cạnh nào mà ta muốn lập sơ
đồ là rất quan trọng
Câu hỏi có thể hướng dẫn chọn những vấn đề nào để đưa vào sơ đồ: Có những
quy trình khác nhau (căn bản) nào trong chuỗi giá trị? Ai tham gia vào những quy
trình này và họ thực tế làm những gì? Có những dòng sản phẩm, thông tin, tri thức nào trong chuỗi giá trị? Khối lượng của sản phẩm, số lượng những người tham gia, số công
việc tạo ra như thế nào? Sản phẩm (hoặc dịch vụ) có xuất xứ từ đầu và được chuyển
đi đâu? Giá trị thay đổi như thế nào trong toàn chuỗi giá trị? Có những hình thức quan
Trang 28hệ và liên kết nào tồn tại? Những loại dịch vụ (kinh doanh) nào cung cấp cho chuỗi
giá trị?
- Sơ đồ chuỗi giá trị gồm các bước sau: Lập sơ đồ các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị; Xác định và lập sơ đồ những người tham gia chính vào các quy trình này; Lập sơ đồ dòng sản phẩm, thông tin và kiến thức; Lập sơ đồ khối lượng sản phẩm, số người tham gia và số công việc; Lập sơ đồ dòng luân chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ
về mặt địa lý; Xác định trên sơ đồ giá trị ở các cấp độ khác nhau của chuỗi giá trị; Lập
sơ đồ các mối quan hệ và liên kết giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị; Lập
sơ đồ các dịch vụ kinh doanh cung cấp cho chuỗi giá trị
1.1.2.3 Chi phí và lợi nhuận
Sau khi đã lập sơ đồ chuỗi giá trị, bước tiếp theo là nghiên cứu sâu một số khía cạnh của chuỗi giá trị Có rất nhiều khía cạnh có thể lựa chọn để nghiên cứu tiếp Một trong những số đó là chi phí và lợi nhuận, hay nói một cách đơn giản hơn, là số tiền
mà một người tham gia trong chuỗi giá trị bỏ ra và số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị nhận được
- Để xác định được chi phí và lợi nhuận chúng ta cần dựa vào một số câu hỏi chính sau:
+ Chi phí, gồm cả chi phí cố định và thay đổi, của mỗi người tham gia là gì và cần đầu tư bao nhiêu để tham gia một chuỗi giá trị?
+ Thu nhập của mỗi người tham gia trong chuỗi giá trị là bao nhiêu? Nói cách khác, khối lượng bán và giá bán của mỗi người tham gia là bao nhiêu?
+ Lợi nhuận thuần, lợi nhuận biên và mức hoà vốn của mỗi người tham gia là bao nhiêu?
+ Vốn đầu tư, chi phí, thu nhập, lợi nhuận và lợi nhuận biên thay đổi theo thời gian như thế nào?
+ Vốn đầu tư, chi phí, thu nhập, lợi nhuận và lợi nhuận biên được phân chia giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị như thế nào?
+ Chi phí và lợi nhuận của chuỗi giá trị này thấp hơn hay cao hơn so với các chuỗi giá trị sản phẩm khác? Nói cách khác, chi phí cơ hội của việc thuê mua các nguồn lực sản xuất cho chuỗi giá trị cụ thể này là thế nào?
+ Chi phí và lợi nhuận của chuỗi giá trị này thấp hơn hay cao hơn các chuỗi giá trị tương tự ở những nơi khác?
Trang 29+ Nguyên nhân của việc phân chia chi phí và lợi nhuận trong một chuỗi giá trị
là gì?
1.1.3 Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác nhân nào trong chuỗi Phép phân tích chuỗi thường được sử dụng cho các công ty, doanh nghiệp hay
cơ quan nhà nước Bốn khía cạnh trong phân tích chuỗi giá trị áp dụng trong nông nghiệp mang nhiều ý nghĩa đó là:
Thứ nhất, ở mức độ cơ bản nhất, một phân tích chuỗi giá trị lập sơ đồ một cách
hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể Việc lập sơ đồ này đánh giá các đặc điểm của những người tham gia,
cơ cấu lãi và chi phí, dòng hàng hóa trong chuỗi, đặc điểm việc làm và khối lượng và điểm đến của hàng hóa được bán trong nước và nước ngoài Những chi tiết này có thể thu thập được nhờ kết hợp điều tra thực địa, thảo luận nhóm tập trung, PRA, phỏng vấn thông tin và số liệu thứ cấp
Thứ hai là phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi Có nghĩa là, phân tích lợi nhuận và lợi nhuận bên trên một sản phẩm trong chuỗi để xác định ai được hưởng lợi nhờ tham gia chuỗi và những người tham gia nào có thể được hưởng lợi nhờ được tổ chức và hỗ trợ nhiều hơn Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh của các nước đang phát triển (nhất là nông nghiệp), với những lo ngại rằng người nghèo nói riêng dễ
bị tổn thương trước quá trình toàn cầu hóa (Kaplinsky và Morris 2001) (Vũ Đình Tôn
và Piere Fabre, 1994) Có thể bổ sung phân tích này bằng cách xác định bản chất việc tham gia trong chuỗi để hiểu được các đặc điểm của những người tham gia
Thứ ba, phân tích chuỗi giá trị có thể dung để xác định vai trò của việc nâng cấp trong chuỗi giá trị Nâng cấp gồm cải thiện chất lượng và thiết kế sản phẩm giúp nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc đa dạng hóa dòng sản phẩm Phân tích quá trình nâng cấp gồm đánh giá khả năng sinh lời của các bên tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về các cản trở đang tồn tại Các vấn đề quản trị có vai trò then chốt trong việc xác định những hoạt động nâng cấp đó diễn ra như thế nào Ngoài ra, cơ cấu của các quy định, rào cản gia nhập, hạn chế thương mại, và các tiêu chuẩn có thể tiếp tục tạo nên và ảnh hưởng đến môi trường mà các hoạt động nâng cấp diễn ra
Trang 30Thứ tư, phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị trong chuỗi giá trị Quản trị trong chuỗi giá trị nói đến cơ cấu các mối quan hệ và cơ chế điều phối tồn tại giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị Quản trị quan trọng từ góc độ chính sách thông qua xác định các sắp xếp về thể chế có thể cần nhắm tới để nâng cao năng lực trong chuỗi giá trị, điều chỉnh các sai lệch về phân phối và tăng giá trị gia tăng trong ngành
Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành các chương trình, dự án hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trị nhằm đạt được một số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là động thái bắt đầu một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng ổn định, bền vững Trên quan điểm toàn diện, phân tích chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công
sẽ cho phép chỉ ra những tồn tại, bất cập trong quá trình hoạt động của chuỗi, hạn chế trong quá trình giao dịch, phân phối lợi nhuận, mối liên kết và thông tin giữa các tác nhân để đưa ra giải pháp thúc đẩy chuỗi giá trị làm cho chuỗi hoạt động hiệu quả
1.1.4 Lý luận về thị trường tiêu thụ nông sản
1.1.4.1 Khái niệm về thị trường tiêu thụ nông sản
Hiểu theo nghĩa rộng thì thị trường được định nghĩa như sau: Thị trường là biểu hiện của các quá trình mà trong đó thể hiện các quyết định của người tiêu dùng
về hàng hóa dịch vụ cũng như các quyết định của các doanh nghiệp về số lượng, chất lượng, mẫu mã hàng hóa Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa, là cách thức, những con đường kết hợp hữu cơ giữa những nhà sản xuất và những trung gian khác nhau trong quá trình vận chuyển và phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng
1.1.4.1 Đặc điểm của thị trường tiêu thụ nông sản
Nông sản là sản phẩm của sản xuất nông nghiệp, do đó đặc điểm tiêu thụ nông sản gắn liền với những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và thị trường nông sản Thứ nhất, tiêu thụ nông sản có tính khu vực, tính vùng rõ rệt Dễ thấy là sản xuất nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với điều kiện tự nhiên ở mỗi vùng mỗi khu vực nên sản xuất mang tính vùng Mỗi vùng có lợi thế và khả năng sản xuất một hay một số sản phẩm, mà so với các vùng khác, vùng (khu vực) này có nhiều ưu điểm hơn hẳn Thêm vào đó, tính chất dễ hư hao vốn có của nông sản cũng góp phần tạo nên tính
Trang 31tiêu thụ theo khu vực của nông sản Nếu vận chuyển đi xa nơi sản xuất, nông sản có thể hư hỏng, do đó rất khó khăn để tiêu thụ ở xa nơi sản xuất
Thứ hai, xuất phát từ tính thời vụ của sản xuất cho nên việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cũng có tính thời vụ, nên hầu hết các nông sản chỉ có trên thị trường vào một khoảng thời gian nhất định Đặc điểm này có tác động đến giá cả của nông sản vào các thời điểm khác nhau như: Đầu vụ, giữa vụ hay cuối vụ Thông thường, giá cả nông sản cao vào đầu vụ và cuối vụ ổn định, tương đối thấp vào giữa vụ
Thứ ba, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là rộng lớn do sản phẩm nông nghiệp phục vụ nhu cầu tối thiểu của con người Trong khi đó, sản phẩm nông sản lại khó bảo quản và khó vận chuyển Thứ tư, trong nông nghiệp ngoài những sản phẩm được đưa ra thị trường thì còn có một lượng sản phẩm được giữ lại làm tư liệu sản xuất (TLSX) cho các quá trình sản xuất tiếp theo
1.1.5 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật cây chuối tây
Đặc điểm sinh học cây chuối tây
Có tên gọi khác là chuối gòn, chuối sứ, chuối xiêm Được trồng phổ biến ở nước ta do có tính thích nghi rộng, có thể trồng đước trên nhiều loại đất, sản lượng chỉ sau chuối tiêu Khả năng chống chịu (chống đổ, chịu úng hạn) tốt hơn chuối tiêu
Mùa Hè chuối tây chín đủ thì phẩm chất tốt hơn mùa Đông, nếu chín kỹ thì hàm lượng đường còn cao hơn cả chuối tiêu
Chuối là loại cây ăn quả nhiệt đới, ngắn ngày, dễ trồng và cho sản lượng khá cao, trung bình có thể đạt năng suất 20-30 tấn/ha Hiện nay, trên thế giới, nước đạt năng suất chuối cao nhất là Goatemala 100 tấn/ha Chuối có giá trị kinh tế khá lớn và
là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước (Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức, 2007) Ở nước ta, khí hậu bốn mùa đều phù hợp cho chuối phát triển, từ Bắc đến Nam, đồng bằng cũng như miền núi, ở đâu và mùa nào cũng có chuối Chuối đối với người Việt Nam là rau, là quả, là lượng thực, thực phẩm Sản lượng chuối ở ta hàng năm cũng khá, ngoài việc tiêu thụ nội địa, chúng ta còn xuất khẩu một lượng khá lớn Tuy vậy,
so với nhiều nước xuất khẩu chuối thì năng suất trồng chuối nước ta còn thấp Vì vậy, việc giúp bà con nông dân nắm được những kinh nghiệm trong kỹ thuật trồng chuối, nhằm nâng cao năng suất là hết sức cần thiết
Trang 32Chuối là một loại quả quý phổ biến ở nước ta Chuối chứa nhiều chất dinh dưỡng nhờ protein, lipit, đường vitamin A, B1, B2, C, PP… nhiều chất dinh dưỡng khoáng nhờ Ca, P, Fe, Na, K
Ở nước ta chuối là cây ăn quả được xếp hàng đầu về tổng sản lượng và diện tích, nhưng cây chuối bị một số bệnh ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và xuất khẩu
Chuối tây: Chuối tây quả to, mập, thơm, ngọt đậm Năng suất cao Chuối tây chịu nóng và cũng chịu lạnh, có thể trồng được ở nhiều vùng đất miễn là đáp ứng nhu
cầu nước [15]
Kỹ thuật trồng
Thời vụ trồng chuối rất khác nhau tùy thuộc vào các vùng trồng nhưng được xác định là thích hợp nhất từ cuối mùa khô đến đầu mùa mưa Ở Puertorico và một số vùng trồng lý tưởng có thể trồng chuối quanh năm Trong khi đó, ở những vùng khác thời vụ trồng cần phải sắp xếp sao cho tránh được nắng gắt đầu vụ và nhất là tránh rét khi trỗ buồng Nhiều kết quả nghiên cứu đã khẳng định thời vụ trồng khác nhau ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian từ trồng đến thu hoạch, năng suất và chất lượng quả
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới
Trên thế giới người ta đã áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào việc nghiên cứu các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm và cải thiện giá trị gia tăng cho các sản phẩm cũng như đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho các bên tham gia
Trong thập niên 80 và 90 trên thế giới người ta quan tâm nhiều đến chuỗi giá trị, đặc biệt là quản lý chuỗi cung cấp Nguyên tắc cơ bản của chuỗi giá trị trong giai đoạn này rất đơn giản và dễ hiểu đó là chuỗi giá trị quan tâm đến việc chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia để giảm chi phí về mặt thời gian, giảm giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tăng giá trị cho sản phẩm
đó (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, 2019) cũng đã phân tích được những ưu điểm và nhược điểm của việc áp dụng chuỗi giá trị:
Ưu điểm:
Trang 33Giảm mức độ phức tạp trong mua và bán; giảm chi phí và tăng chất lượng sản phẩm; giảm thời gian tìm kiếm những nhà cung cấp mới; giá cả đầu vào ổn định; cùng nhau thực thi kế hoạch và chia sẻ thông tin dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau
đề liên quan đến sinh kế của những người sản xuất nhỏ, những người dễ bị tổn thương Những nghiên cứu về cấu trúc thị trường, những kênh tiêu thụ trong chuỗi giá trị, mối quan hệ tương tác giữa những chuỗi giá trị đó Điều quan tâm của nghiên cứu này là
những “mối quan hệ” giữa các tác nhân, những tác động của hộp P.I.P (Policies, Institutions, Processes) và khung sinh kế bền vững SLF (sustainable livelihood framwork) đến những người nắm giữ những tư liệu sản xuất nhỏ và những người làm
thuê Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, với các nước chậm phát triển như Kenya và Indonesia, chuỗi giá trị hoạt động chưa được tốt, nghĩa là các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị chưa có những mối quan hệ ràng buộc, giá trị gia tăng trong chuỗi còn thấp, đặc biệt người sản xuất là những người hưởng lợi nhuận thấp nhất Chính vì chưa
có mối quan hệ ràng buộc nên những tác nhân đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi thường
là đối tượng hưởng lợi nhuận nhiều nhất và sẵn sàng rời bỏ chuỗi này để chuyển sang chuỗi mới có lợi nhuận cao hơn
Trong báo cáo của FAO về chuỗi giá trị ngành khoai tây năm 2008 , đã đề cập đến vấn đề làm thế nào để tăng sự bền vững của chuỗi giá trị của ngành hàng Họ đã chỉ ra được vấn đề đang gặp phải ở các nước đang phát triển như: Khoai tây thường được bán phân tán với những phân đoạn thị trường nhỏ lẻ và ít có sự liên kết, phối hợp và thiếu những thông tin về thị trường, điều này đang gây ra sự chia rẽ các mối quan hệ trong chuỗi Giá cả đầu vào tăng cao đang gây ra sự “e dè” trong đầu tư sản xuất của các hộ nông dân có quy mô sản xuất nhỏ lẻ Hậu quả là họ đang bị loại dần ra khỏi thị trường và không tham gia được vào chuỗi giá trị Vấn đề quan trọng đặt ra cho chuỗi giá trị ở các
Trang 34nước này là cần một nền sản xuất bền vững, với chất lượng sản phẩm tốt và sự hỗ trợ về các vật tư đầu vào cùng với sự phối hợp hành động trong chuỗi
1.2.2 Tình hình phát triển chuỗi giá trị ở Việt Nam
1.2.2.1 Sơ lược sự phát triển về chuỗi giá trị
Theo Michael Porter (1985), Competitive Advantage” (Lợi thế cạnh tranh) cho thấy: Thuật ngữ “Chuỗi giá trị” và “phương pháp phân tích chuỗi giá trị” được ác học giả người Pháp lần đầu đề cập trong lý thuyết phương pháp chuỗi “filière” vào những năm 50 của thế
kỷ XX Phương pháp này chủ yếu quan tâm đến việc đo lường đầu vào, đầu ra và GTGT được tạo ra trong các công đoạn của quá trình sản xuất, mà ít chú ý đến các mối liên kết cũng như nội dung quản trị chuỗi Điểm nổi bật về phương pháp này là nó chỉ áp dụng cho CGT nội địa, nghĩa là những hoạt động nảy sinh trong biên giới của một quốc gia nào đó Sau này, các lý thuyết về CGT vẫn thường đề cập đến phương pháp này như là cơ sở ý luận
về phân tích giá trị
Năm 1985, lần đầu tiên, khái niệm “Chuỗi giá trị” được Micheal Porter đưa ra Theo ông, CGT là chuỗi của một hệ thống các hoạt động thực hiện trong một doanh nghiệp thuộc một ngành cụ thể để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt động này có thể bao gồm giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, cung cấp các dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng như chăm sóc khách hàng, bảo hành sản phẩm Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản xuất thu được một số giá trị nào đó, các giá trị này bổ sung, cấu thành nên giá trị cho sản phẩm cuối cùng Chuỗi các hoạt động mang lại sản phẩm nhiều GTGT hơn tổng GTGT của các hoạt động cộng lại Tất cả những hoạt động này tạo thành chuỗi kết nối nhà sản xuất với người tiêu dùng M.Porter đã đưa ra khung phân tích CGT, là một
mô hình thể hiện một chuỗi các hoạt động tham gia vào việc tạo ra giá trị của sản phẩm và thể hiện lợi
nhuận từ các hoạt động này CGT bao gồm các hoạt động giá trị và lợi nhuận:
- Hoạt động giá trị chia ra thành hai loại chính: hoạt động sơ cấp và hoạt động hỗ trợ Logistics đầu vào: Tiếp nhận và tồn kho, phân phối, lưu kho, quản lý tồn kho… nguyên vật liệu Vận hành: Tiến trình biến đổi các yếu tố đầu vào thành sản phẩm và dịch vụ cuối cùng
Trang 35Logistics đầu ra: Thu gom, lưu trữ, phân phối các thành phẩm (sản phẩm sau thu hoạch, chế biến) Marketing và bán hàng: Quảng cáo, khuyến mại, bán hàng, báo giá, lựa chọn kênh phân phối Dịch vụ: Lắp đặt, sửa chữa, huấn luyện, điều chỉnh sản phẩm Các hoạt động hỗ trợ, chia thành 4 nhóm tổng quát:
Thu mua: thu gom các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và các yếu tố hỗ trợ khác để sử dụng trong CGT
Phát triển công nghệ: Công nghệ hỗ trợ cho các hoạt động tạo ra giá trịcho sản phẩm, dịch vụ
Quản trị nguồn nhân lực: Tuyển dụng, đào tạo, bố trí sắp xếp, kiểm soát và khen thưởng nhân viên
Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp: Quản trị tổng quát, lập kế hoạch, tài chính, kế toán, pháp lý, quản trị chất lượng
- Lợi nhuận hay lợi nhuận biên (margin) của một doanh nghiệp phụ thuộc vào tính hiệu quả của các hoạt động biến đổi và khách hàng s n sàng mua ở mức giá cao hơn chi phí hoạt động trong chuỗi giá trị của nó Nhờ những hoạt động này, doanh nghiệp đã tạo cho mình một cơ hội kiếm được lợi nhuận từ việc tạo ra giá trị vượt trội Một lợi thế cạnh tranh
có thể được thực hiện bằng việc thiết kế lại chuỗi giá trị nhằm tạo ra một chi phí thấp hay khác biệt hóa tốt hơn Như vậy, CGT là một công cụ phân tích hữu hiệu giúp xác định những khả năng cốt
lõi của doanh nghiệp và các hoạt động trong đó có thể giúp doanh nghiệp theo đuổi một lợi thế cạnh tranh như sau: Lợi thế về chi phí: bằng việc nắm bắt rõ các loại chi phí và cắt giảm chúng trong các hoạt động tạo ra GTGT
Khác biệt hóa: bằng việc tập trung vào các hoạt động có liên quan đến khả năng cốt lõi và thực hiện chúng nổi trội hơn đối thủ cạnh tranh Phương pháp phân tích này thích hợp với định vị lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để lựa chọn chiến lược cạnh tranh hiệu quả Tuy nhiên, nó không cung cấp đủ công cụ cho nghiên cứu các chuỗi ngành hàng hoặc mở rộng ra theo lãnh thổ
Để khắc phục điểm yếu của CGT doanh nghiệp, M.Porter đã mở rộng khái niệm CGT
ra ngoài tổ chức doanh nghiệp, đặt tên là hệ thống CGT Nhờ đó, khung phân tích CGT có thể áp dụng cho toàn bộ dây chuyền cung cấp và mạng lưới phân phối của một ngành hay
Trang 36một địa phương Việc phân phối sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng cuối cùng sẽ huy động các yếu tố kinh tế, quản lý khác CGT của nhà cung cấp CGT của doanh nghiệp CGT của kênh phân phối CGT của người mua CGT của nhà cung cấp CGT của kênh phân phối CGT của người mua CGT đơn vị kinh doanh CGT đơn vị kinh doanh CGT đơn vị kinh doanh 43 nhau trong CGT riêng của mình Với sự tương tác đồng bộ, các ngành có thể tạo
ra một chuỗi với giá trị mở rộng Nếu như khái niệm CGT của Micheal Porter đề cập đến ở trên chỉ tập trung nghiên cứu ở qui mô của doanh nghiệp, thì Kaplinsky và M.Morris [102] lại mở rộng ở phạm vi của CGT Theo các ông, thì CGT đề cập đến một loạt những hoạt động cần thiết để đưa một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau đến phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng CGT có thể hiểu theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, một CGT bao gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Tất cả các hoạt động từ thiết kế, quá trình mang vật tư đầu vào, sản xuất, phân phối, marketing bán hàng, thực hiện các dịch vụ hậu mãi đã tạo thành một chuỗi liên kết, kết nối người sản xuất với người tiêu dùng Giá trị của mỗi hoạt động bổ sung, cấu thành nên giá trị cho thành phẩm cuối cùng Theo nghĩa rộng, CGT là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương Thiết kế và phát triển sản phẩm Sản xuất: - Logistics đầu vào - Sản xuất - Logistics đầu ra - Đóng gói - vv… Marketing Tiêu thụ/ Tái chế THIẾT KẾ SẢN XUẤT Logistics đầu vào Sản xuất Logistics đầu ra Đóng gói MARKETING TIÊU THỤ 44 nhân, người cung cấp dịch vụ) để biến nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến,… Cách tiếp cận theo nghĩa rộng không chỉ xem xét đến các hoạt động do một doanh nghiệp tiến hành, mà cả các mối liên kết ngược, xuôi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất và liên kết với người tiêu dùng cuối cùng Như vậy có thể hiểu: Chuỗi giá trị trong sản xuất hàng hóa là quan hệ kinh tế khách quan của các chủ thể kinh tế tham gia vào chuỗi các hoạt động của quá trình sản xuất
và phân phối, tiêu dùng của một loại hàng hóa nào đó trên thị trường Cụ thể, trong CGT có các “khâu”, mỗi khâu có các “hoạt động” cụ thể với một chức năng nhất định Bên cạnh các khâu của CGT còn có các “tác nhân” Tác nhân là những người thực hiện các chức năng của các khâu trong chuỗi, ví dụ như nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất, nông dân sản xuất
Trang 37lúa, thương lái vận chuyển hàng hóa Bên cạnh đó còn có các “nhà hỗ trợ CGT” với nhiệm
vụ là giúp phát triển chuỗi bằng cách tạo điều kiện nâng cấp CGT Đặc điểm của CGT: Tạo
ra liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua làm việc cùng nhau trong CGT; Trong CGT, tất cả các khâu đều luôn phải tuân theo một tiêu chuẩn và luôn cần được cải tiến để có thể tăng khả năng cạnh tranh với các chuỗi khác Chuỗi giá trị thành công khi lợi nhuận tạo ra trong chuỗi được chia sẻ một cách hợp lý cho các bên tham gia
1.2.2.2 Kinh nghiệm phát triển chuỗi giá trị chuối tây ở một số địa điểm trong nước
Việt Nam là nước nhiệt đới và là một trong những xứ sở của chuối với nhiều giống chuối rất quý như: chuối tiêu, chuối tây, chuối bom, chuối ngự, có loại chuối nổi tiếng như chuối ngự Đại Hoàng (Nam Định), từng là đặc sản tiến vua Chủng loại: Các chủng loại chuối ở Việt Nam rất đa dạng như chuối tiêu, chuối lá, chuối xiêm và chuối ngự… được trồng rải rác khắp các tỉnh thành trong cả nước Các giống chuối của Việt Nam không chỉ phong phú về kích cỡ, hương vị mà còn có những giá trị sử dụng rất khác nhau Cao cấp nhất vẫn là chuối ngự, loại chuối tiến vua, quả thon nhỏ, vàng óng, thơm ngậy nhưng diện tích và sản lượng không cao Chuối tiêu, chuối gòng có sản lượng lớn hơn, hương vị tuy không ngon bằng nhưng chất lượng đang ngày càng được cải tiến Với những đặc điểm trên, chuối là mặt hàng có triển vọng xuất khẩu của Việt Nam, nhất là đối với giống chuối già và chuối cau Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam đã có những công nghệ mới để
hỗ trợ các tỉnh cây giống chuối nuôi cấy mô sạch bệnh và công nghệ chuyển màu chuối già sang màu vàng rất đẹp, có thể cạnh tranh xuất khẩu chuối với Philipin, Đài Loan vào thị trường châu Âu, Nhật Bản Thời gian gần đây các tỉnh Cà Mau, Đồng Nai, Quảng Ngãi…
đã có những bước cải thiện trong việc trồng và phát triển cây chuối tiến tới xuất khẩu sản phẩm chuối
Diện tích, sản lượng ở nước ta chuối là loại trái cây có diện tích và sản lượng cao Với diện tích chiếm 19% tổng diện tích cây ăn trái của Việt Nam hàng năm, cho sản lượng khoảng 1,4 triệu tấn Tuy nhiên, diện tích trồng chuối lại không tập trung Do đặc điểm là loại cây ngắn ngày, nhiều công dụng và ít tốn diện tích nên chuối được trồng ở rất nhiều nơi trong các vườn cây ăn trái và hộ gia đình Một số tỉnh miền Trung và miền Nam có diện tích trồng chuối khá lớn (Thanh Hóa, 24 Nghệ An, Khánh Hòa, Đồng Nai, Sóc Trăng, Cà Mau có diện tích từ 3.000 ha đến gần 8.000 ha) Trong khi đó các tỉnh miền Bắc có diện
Trang 38tích trồng chuối lớn nhất nhất: Hải Phòng, Nam Định, Phú Thọ…chƣa đạt đến 3.000 ha Qua bảng 1.2 cho thấy chuối khu vực đồng bằng, chuối được trồng nhiều Hải Phòng (2.500ha), Hà Nội (2.200 ha), Nam Định (1.900 ha) Ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc chuối tập trung ở các tỉnh Phú Thọ (2.500 ha), Sơn La (1.900 ha), Thái Nguyên (1.700 ha) và Bắc Kạn hiện chỉ có 400 ha
1.2.2.3 Rút ra bài học kinh nghiệm cho chuỗi giá trị chuỗi tây Chợ Mới
Việc quan tâm xử lý các vấn đề môi trường và xã hội trong chuỗi giá trị sản phẩm
thông qua các giải pháp sáng tạo, không chỉ giúp “Doanh nghiệp đầu tầu” thu hút được
thêm nhiều nguồn lực và hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức phát triển mà còn giúp việc kinh doanh của Doanh nghiệp ngày càng hiệu quả và bền vững hơn
Đối với chuỗi giá trị sản phẩm có tiềm năng thị trường nhưng còn sơ khai chưa phát triển, sự hỗ trợ kỹ thuật hiệu quả ban đầu từ tổ chức tư vấn phát triển, kết hợp với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị địa phương, và nâng cao năng lực cho hệ thống khuyến nông địa phương để hỗ trợ thường xuyên cho các tác nhân trong chuỗi giá trị là điều kiện quan trọng để thành công
Việc tổ chức người sản xuất thành các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã kinh doanh có sự liên kết chặt chẽ với Doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu trong việc sản xuất hàng hóa theo một quy trình thống nhất đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của thị trường xuất khẩu
là hướng đi tốt đang được phát huy
Trong bối cảnh có nhiều trường hợp phá hợp đồng giữa người sản xuất và Doanh nghiệp, thì hình thức “Hợp đồng mở” thu mua sản phẩm theo giá thị trường
tỏ ra dễ được chấp nhận hơn, qua đó tạo lòng tin làm ăn lâu dài giữa doanh nghiệp
và người sản xuất
Trong các chuỗi giá trị sản phẩm chưa phát triển, vai trò của nhà nước và các tổ chức phát triển hỗ trợ kỹ thuật nên tập trung vào việc kết nối và nâng cao năng lực cho các tác nhân trong chuỗi, khuyến khích tư nhân đầu tư kinh doanh với nông dân, và tạo môi trường kinh doanh minh bạch thuận lợi cho các tác nhân này thay vì làm thay thị trường
Trang 39Trong xu thế về sử dụng thực phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm cho con người, các sản phẩm xanh và sạch từ nông nghiệp hữu cơ đang được thị trường ưa chuộng cần được nghiên cứu và thúc đẩy
Việc duy trì VietGAP/ GlobalGAP chỉ được thực hiện khi thị trường yêu cầu, sau đó là doanh nghiệp xuất khẩu và người sản xuất thực sự bắt tay với nhau trong mối quan hệ khăng khít cùng có lợi để sản xuất và kinh doanh sản phẩm theo một quy trình quản lý chất lượng cao đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu chính thức, với
sự hỗ trợ tích cực của nhà nước để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi nhất cho các bên trong chuỗi giá trị sản phẩm
1.2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu
- Trong Luận án tiến sĩ “Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên kết kinh
tế của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Đông năm
2011 đã nêu bật những đối tượng tham gia vào chuỗi giá trị của ngành may, từ đó chỉ
ra các mối liên kết kinh tế có trong ngành dệt may Mặt khác, tác giả đã đánh giá việc
tổ chức liên kết giữa các doanh nghiệp may và các khâu khác trong quá trình tạo ra và đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng bao gồm liên kết dọc và liên kết ngang giữa các chủ thể trong ngành may Từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của ngành may xuất khẩu Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu
- Kinh nghiệm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản năm 2010 , chủ biên PGS.TS Đinh Văn Thành Thực tế cho thấy, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đang
là xu thế phổ biến hiện nay và sự tham dự này mang lại lợi ích kinh tế và xã hội to lớn, kể
cả đối với các nước đang và kém phát triển Hiện tại, Việt Nam đang là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trong khu vực và thế giới với nhiều sản phẩm đặc trưng như
cà phê, điều, hồ tiêu, chè, gạo Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nông nghiệp Việt Nam
đã bộc lộ những lỗ hổng lớn trong dây truyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chất lượng
và vệ sinh an toàn thực phẩm Vì vậy, dù là một trong những quốc gia hàng đầu xuất khẩu nông sản, nhưng tính bền vững trong sản xuất chưa cao, đang bộc lộ những khuyết điểm lớn từ giống, kỹ thuật, chăm sóc cho đến thu hoạch, chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ Nông sản của Việt Nam đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp đầu vào là nông sản thô, trong khi giá trị gia tăng đối với hàng nông sản lại
Trang 40chủ yếu do khâu chế biến, bao gói và hoạt động thương mại Hay nói cách khác, Việt Nam mới tham gia được ở khâu tạo ra giá trị ít nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu
Cuốn sách cũng phân tích nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nói trên là do sự lạc hậu về công nghệ trước và sau thu hoạch, trình độ hạn chế của những tác nhân tham gia chuỗi từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu marketing phân phối và tiêu thụ Bên cạnh đó, các yếu tố tạo môi trường cho sự tham gia hiệu quả vào chuỗi như dịch
vụ hỗ trợ, cơ sở hạ tầng còn hạn chế Các chính sách phát triển thương mại hàng nông sản còn nhiều bất cập Mặt khác, trong lúc tư duy phát triển, chúng ta quá trú trọng đến sản lượng, số lượng mà chưa chú trọng đúng mức đến giá trị gia tăng Chính vì vậy, thay vì tiếp cận sản lượng, vấn đề tiếp cận giá trị gia tăng đang trở thành yêu cầu cấp thiết
- Công trình nghiên cứu về “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân” của tác giả Hồ Quế Hậy (2007) đã trình bày bản chất mối liên kết kinh tế
và nội dung của mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân Đồng thời tác giả đã tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của các ngành điều, thuốc lá trong việc hình thành mô hình liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân Bên cạnh
đó, tác giả chỉ rõ thực trạng mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân trồng bôn vải ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy, hoàn thiện mối liên kết này bao gồm các giải pháp vĩ mô của nhà nước và các giải pháp của doanh nghiệp chế biến
Xuất phát từ thực trạng liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến và nông dân trồng bông, tác giả đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải bao gồm các giải pháp đối với bản thân doanh nghiệp bao gồm phát triển mô hình mua bán thỏa thuận sau thu hoạch, hợp đồng ràng buộc đầu vụ và tiến tới xây dựng mô hình liên kết thông qua chế độ tham dự cổ phần đồng thời cần hoàn thiện nội dung của mô hình liên kết theo hướng đa dạng và linh hoạt Xây dựng vùng chuyên canh bông vải tạo động lực thúc đẩy hình thành và phát triển các mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải