1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư tại vườn quốc gia xuân sơn tỉnh phú thọ

92 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hà Nội - 2017ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH ĐINH THỊ HÀ GIANG NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TÍNH BỀN VỮNG CHO HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN

Trang 1

Hà Nội - 2017

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

ĐINH THỊ HÀ GIANG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

TÍNH BỀN VỮNG CHO HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA CỘNG ĐỒNG

CƯ DÂN TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG

Chuyên ngành: KHOA HỌC BỀN VỮNG

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH Trương Quang Học

Trang 2

i

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

LỜI CẢM ƠN vi

LỜI CAM ĐOAN vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa của đề tài 3

7 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Tính liên ngành của vấn đề nghiên cứu 6

1.1.3 Khung phân tích vấn đề nghiên cứu 7

1.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu 8

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 8

1.2.2 Lịch sử nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu 14

1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 15

1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Vườn Quốc gia Xuân Sơn và vùng đệm 15 1.3.2 Đặc điểm dân cư, dân tộc và nguồn lao động 20

1.3.3 Cơ sở hạ tầng 22

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

2.2 Đối tượng nghiên cứu 23

2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 24

Trang 3

ii

2.3.1 Cách tiếp cận 24

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Hiện trạng sinh kế của cư dân sinh sống tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn 31

3.1.1 Các hoạt động sinh kế 31

3.1.2 Đánh giá hoạt động sinh kế của người dân dựa vào khung sinh kế bền vững của DFID 34

3.1.3 Các yếu tố tác động đến sinh kế của cộng đồng cư dân sinh sống tại VQG Xuân Sơn 49

3.1.4 Đánh giá tính bền vững của hoạt động sinh kế 58

3.2 Đề xuất giải pháp tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng cư dân tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn 63

3.2.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 63

3.2.2 Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường 66

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

CÁC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 83

PHỤ LỤC 84

Trang 4

iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Các từ viết tắt Tiếng Việt

Standard Survey

Khảo sát Mức sống Hộ gia đình Việt Nam

Trang 5

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.11: Đánh giá của người dân về mức độ quan trọng của các yếu tố đến

Trang 6

v

DANH MỤC CÁC HÌNH

của cuộc sống thịnh vƣợng

26

đất của các hộ gia đình

38

tham gia khảo sát

44

các hộ đƣợc khảo sát

45

Trang 7

vi

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc nhất tới GS - TSKH Trương Quang Học, người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản cũng như đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin cảm ơn Ban Lãnh đạo Trường Đại học Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội, Lãnh đạo Bộ môn Biến đổi khí hậu & Phát triển bền vững nơi tôi đang công tác, cùng toàn thể các đồng nghiệp trong Bộ môn đã tạo điều kiện và giúp đỡ trong thời gian tôi học tập, nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo cùng toàn thể các thầy cô Khoa Sau Đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi có thể tham gia học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Tôi cảm ơn Cán bộ Văn phòng Hội đồng Nhân dân – UBND huyện Tân Sơn, Chi cục Thống kê, và phòng Tài nguyên huyện Tân Sơn đã cung cấp thông tin, số liệu

và trả lời phỏng vấn trong quá trình thực tế tại địa phương

Tôi xin cảm ơn ông Phạm Văn Long - Giám đốc VQG Xuân Sơn, anh Nguyễn Văn Thuận - cán bộ Vườn đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ khi tôi khảo sát tại địa phương; Cảm ơn UBND xã Xuân Đài và Xuân Sơn đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành chuyến nghiên cứu của mình Đặc biệt, bà Hà Thị Đoán (Phó Chủ tịch xã Xuân Đài) và ông Bùi Văn Lâm (Bí thư Đảng ủy xã Xuân Sơn) đã bỏ công sức, thời gian đi cùng tôi tới từng hộ gia đình để hoàn thành bộ phiếu khảo sát cộng đồng Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới bà con dân bản hai xã Xuân Đài và Xuân Sơn đã nhiệt tình cung cấp thông tin trong suốt thời gian thực địa tại địa bàn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè tôi - những người luôn quan tâm, chia sẻ, động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Học viên

Đinh Thị Hà Giang

Trang 8

vii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Trương Quang Học Các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Học viên

Đinh Thị Hà Giang

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hướng tiếp cận sinh kế bền vững để giảm nghèo là một cách để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đang được nhiều quốc gia và tổ chức áp dụng [65] Đặc biệt, trong bối cảnh quốc tế đang có những nỗ lực trong việc giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), thì sinh kế của cộng đồng dân cư tại các Khu Bảo tồn (KBT) Thiên nhiên và các Vườn Quốc gia (VQG) là một vấn đề cấp bách cần được quan tâm đúng mức Sinh kế bền vững vừa góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống cho cộng đồng cư dân sinh sống tại vùng đệm VQG vừa tăng khả năng chống chịu, phục hồi trước những tác động bên ngoài, mà lại ít gây ảnh hưởng đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN)

KBT Thiên nhiên Xuân Sơn chính thức được chuyển hạng thành VQG theo quyết định số 49/2002/QĐ-TTg, ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ Hiện nay, trong vùng đệm của VQG Xuân Sơn vẫn còn 12.599 dân cư sinh sống Phần lớn người dân ở đây là đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) (98,6%), với tỷ lệ hộ nghèo 45,8% [55].Từ nhiều đời nay, qua các hoạt động canh tác nương rẫy, khai thác rừng và các tài nguyên sinh vật rừng của đồng bào DTTS, thì rừng thực sự đã trở thành nguồn sống quan trọng duy nhất của họ Kết quả đánh giá đã cho thấy đời sống của người dân sinh sống tại VQG, đặc biệt là cư dân vùng lõi phần lớn phụ thuộc vào rừng ở những mức

độ khác nhau [15] Những hoạt động này diễn ra liên tục, thường xuyên trong thời gian dài đã gây ra những hậu quả đáng tiếc về môi trường (suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH), thoái hóa đất, suy giảm nguồn nước,…) Sự xuống cấp về môi trường đã kéo theo những hệ lụy khác về kinh tế và xã hội (năng suất nông nghiệp giảm, tỷ lệ đói nghèo tăng, bệnh tật, trình độ dân trí thấp…)

Ở Việt Nam, hiện trạng người dân sinh sống trong vùng lõi của các KBT và VQG là khá phổ biến Hiện nay, trong vùng lõi của VQG Xuân Sơn vẫn còn 1.195 dân

cư sinh sống Phần lớn người dân ở đây là đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS)

(99,7%), với tỷ lệ hộ nghèo 50,60% Theo Luật Đa dạng sinh học (2008) và Luật Bảo

vệ và Phát triển rừng (2004) thì việc sinh sống trong phân khu bảo tồn nghiêm ngặt là

bị cấm [39], [40] Tuy nhiên, với cộng đồng dân tộc bản địa sinh sống từ lâu đời, cuộc sống và văn hóa của họ đều gắn với rừng qua nhiều thế hệ Tình trạng này dẫn đến

Trang 10

mâu thuẫn giữa công tác bảo tồn và cộng đồng dân cư bản địa Vì vậy, cần thiết phải

có những giải pháp hữu hiệu để giải quyết được mâu thuẫn này

Tân Sơn là một huỵện mới thành lập (2007), cơ sở hạ tầng còn yếu kém nhưng tiềm năng để phát triển là rất lớn, do đó, rất nhiều các dự án đã được quy hoạch và chuẩn bị đưa vào triển khai trên địa bàn Trong đó, không ít những dự án nhằm mục đích khai thác lợi thế từ tài nguyên VQG Xuân Sơn: Dự án Xây dựng Khu du lịch Xuân Sơn - Đền Hùng, Dự án quy hoạch xây dựng Khu Du lịch VQG Xuân Sơn… Mặc dù, đây có thể là cơ hội để đưa kinh tế - xã hội (KT – XH) địa phương phát triển, nhưng cũng sẽ tạo nên những tác động tiêu cực nếu không nhìn nhận ra mức độ nghiêm trọng và có giải pháp kiểm soát nó kịp thời [61] Những dự án này cùng với hoạt động du lịch tự phát tại Xuân Sơn trong thời gian vừa qua cũng đã bắt đầu gây ra nhiều bất ổn không chỉ về tình hình kinh tế xã hội cho cộng đồng dân cư bản địa mà còn gây ra những bất ổn trong công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn các hệ sinh thái (HST) và ĐDSH Đấy là chưa kể đến những mâu thuẫn trong việc chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan trong việc quản lý và hưởng lợi từ nguồn TNTN sẵn có Tất cả những tác động từ bên ngoài này đã làm gia tăng tính không bền vững cho xã Xuân Sơn nói chung và cho hoạt động sinh kế nông – lâm nghiệp của cộng đồng bản địa nói riêng

Trước thực trạng đó, học viên thực hiện “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng

cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” nhằm góp phần để giải quyết những thách thức hiện nay đối

với phát triển bền vững các xã vùng đệm VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được hoạt động sinh kế của người dân sinh sống tại VQG Xuân Sơn dựa vào khung phân tích sinh kế bền vững của DFID

- Đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế bền vững của người dân tại VQG Xuân Sơn;

- Đề xuất được những giải pháp tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng cư dân tại VQG Xuân Sơn

3 Đối tượng nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

- Những giải pháp tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng cư dân tại VQG Xuân Sơn

 Khách thể nghiên cứu

- Hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư sinh sống tại xã Xuân Đài và Xuân Sơn;

- Công tác quản lý của một số cán bộ có liên quan đến hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư tại địa bàn nghiên cứu (cán bộ UBND xã; cán bộ UBND huyện Tân Sơn;

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2016- tháng 11/2016

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

 Câu hỏi nghiên cứu

Những giải pháp nào có thể tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng cư dân tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ?

 Giả thuyết nghiên cứu

Các giải pháp mà đề tài đề xuất có thể tăng cường tính bền vững trong các hoạt động sinh kế của cộng đồng cư dân tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

6 Ý nghĩa của đề tài

 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của nghiên cứu là xây dựng được khung phân tích sinh kế bền vững hộ gia đình cho cộng đồng sinh sống tại VQG Xuân Sơn, hỗ trợ cho việc đánh giá hoạt động sinh kế bền vững của các hộ dân nơi đây và các cộng đồng khác có điều kiện tương tự

 Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả của nghiên cứu của đề tài cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường một cách bền vững ở VQG Xuân Sơn, Phú Thọ nói chung, kế hoạch xóa đói

Trang 12

giảm nghèo tại địa phương nói riêng; đồng thời cũng là một điển hình để nhân rộng ra các địa phương có điều kiện tương tự

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm các phần chính sau:

PHẦN MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Địa điểm, thời gian, đối tượng, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Chương 4 Kết quả và thảo luận

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Những khái niệm chính được sử dụng trong luận văn có mối liên hệ logic và hệ thống, để tập trung vào nội dung nghiên cứu là đề xuất được giải pháp tăng cường sinh

kế bền vững cho cộng đồng cư dân sinh sống tại VQG Xuân Sơn, cụ thể:

Sinh kế (Livelihood): có nghĩa là nghề nghiệp hoặc việc làm và cũng có nghĩa là

con đường để kiếm sống Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống [59]

Chiến lược sinh kế (Livelihoods strategy): là sự phối hợp các hoạt động và lựa

chọn mà người dân sử dụng để thực hiện mục tiêu kiếm sống:

- Sự chọn lựa chiến lược sinh kế phụ thuộc vào việc tiếp cận các loại vốn khác nhau;

- Mỗi chiến lược sinh kế cần một sự kết hợp các loại vốn khác nhau;

Tuy nhiên, mỗi loại vốn có thể sử dụng cho nhiều chiến lược khác nhau [8]

Sinh kế bền vững (Sustainable livelihood): Khái niệm này được hoàn thiện nội

hàm bởi DFID Sinh kế bền vững là sinh kế có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên [59], [60]

Sinh kế thích ứng (với BĐKH) (Climate change adaptive livelihood): Sinh kế

thích ứng là một hệ thống sinh kế, trước hết phải có khả năng chống chịu với BĐKH/ giảm nhẹ phát thải KNK và phục hồi trước các tác động của BĐKH, đặc biệt là thiên tai/hiện tượng thời tiết cực đoan (bão lụt, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại, v.v), đảm bảo, duy trì hoặc tăng năng suất/ sản lượng một cách ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng và điều kiện KT-XH địa phương [5]

Sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH (climate change adaptive sustainable livelihood: Sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH là hệ thống sinh kế, có khả năng

chống chịu với BĐKH, giảm nhẹ phát thải KNK và phục hồi trước các tác động của BĐKH, đặc biệt là các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão lụt, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại, v.v), đảm bảo, duy trì hoặc tăng năng suất, sản lượng một cách ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng và điều kiện KT-XH địa phương [8]

Trang 14

Tiếp cận sinh kế bền vững (The sustainable livelihoods approach): là một cách

cải thiện sự hiểu biết về sinh kế của người nghèo, được dựa trên các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế người nghèo và các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố này Nó

có thể được sử dụng để lên các kế hoạch hoạt động mới và đánh giá các hoạt động hiện

có để tạo ra sinh kế bền vững Cách tiếp cận này đưa ra một khung tiếp cận giúp hiểu biết về sự phức tạp của nghèo đói đồng thời đưa ra một bộ các nguyên tắc hướng dẫn hành động nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói [58]

Vườn Quốc gia (National Park): Theo luật ĐDSH được Quốc hội nước Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 quy định rõ: KBT bao gồm: a) Vườn Quốc gia; b) Khu dự trữ thiên nhiên; c) KBT sinh

cảnh – loài; d) Khu bảo vệ cảnh quan VQG phải có đủ các tiêu chí chủ yếu sau đây:

- Có HST tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại điện cho một vùng sinh thái tự nhiên;

- Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;

- Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục;

- Có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái

Vùng đệm (buffer zone): là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng

ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với KBT” [40]

Cộng đồng (community): Cộng đồng dân cư là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân

sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”

[39]

1.1.2 Tính liên ngành của vấn đề nghiên cứu

Hoạt động sinh kế, về căn bản đều do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình thiết lập trong cộng đồng Do đó, để đánh giá được thực trạng của hoạt động này cần phải đưa ra được mối liên hệ giữa: (1) Kết quả sinh kế; (2) Các nguồn lực sinh kế; và (3) Những yếu tố tác động đến hoạt động sinh kế như thể chế, chính sách hay những quan hệ xã hội

Trang 15

Cách tiếp cận sinh kế bền vững là mô ̣t cách phân tích toàn diê ̣n về phát triển và giảm nghèo Cách tiếp cận này giúp chúng ta hiểu được viê ̣c con người sử du ̣ng các loại vốn mình có để kiếm sống , thoát nghèo, hay tránh bị rơi vào đói nghèo như thế nào, vì nó không ch ỉ minh họa các chiến lược tìm kiếm thu nhập, mà nó còn phân tích

và lý giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn lực mà các cá thể và hộ gia đình sử dụng để biến các nguồn lực đó thành sinh kế

Vì vậy, để giải quyết được những vấn đề liên quan đến hoạt động sinh kế, cần

sự kết hợp của nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, xã hội/văn hóa, chính sách, tài nguyên, nông nghiệp, lâm nghiệp… Chỉ khi nghiên cứu đưa ra được những mối liên hệ bản chất giữa các yếu tố tạo nên hoạt động sinh kế của một cộng đồng dân cư nào đó, thì mới có thể đề xuất các giải pháp cho hoạt động sinh kế bền vững, hiệu quả hơn

1.1.3 Khung phân tích vấn đề nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là đưa ra được giải pháp nhằm tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư sinh sống tại VQG Xuân Sơn, do đó logic của nghiên cứu sẽ gồm những nội dung theo trình tự sau: 1) Đánh giá các yếu tố tác động đến hoạt động sinh kế (thể chế, tri thức bản địa, các nguồn lực và BĐKH); 2) Phân tích thực trạng sinh kế và các nguồn lực sinh kế; 3) Đánh giá tính bền vững của hoạt động sinh kế; 4) Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế cho cộng đồng dân cư vùng lõi và vùng đệm, các giải pháp này nhằm: (a) xây dựng chiến lược sinh kế cụ thể và (b) được cụ thể hơn bằng những kế hoạch thực hiện linh hoạt, tùy theo từng địa phương Việc thực hiện các giải pháp này cần phải được điều chỉnh, can thiệp kịp thời; và đánh giá, giám sát để đảm bảo hiệu

quả của hoạt động sinh kế (Hình 1.1)

Trong bối cảnh BĐKH đang diễn ra như hiện nay, việc gia tăng các rủi ro từ khí hậu sẽ làm gia tăng khả năng bị tổn thương của những sinh kế dựa vào các nguồn TNTN Do đó, các giải pháp sinh kế bền vững được lựa chọn phải đảm bảo tính thích ứng với BĐKH hay chính là tăng cường khả năng chống chịu của sinh kế trước BĐKH

Trang 16

Hình 1.1 Khung phân tích vấn đề nghiên cứu

Khung phân tích được xây dựng dựa vào: (i) Khung sinh kế bền vững của DFID (2007); (ii) Khung lý thuyết xây dựng sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH của Hoàng Thị Ngọc Hà (2014); (iii) Mạng lưới các tổ chức phi chính phủ Việt Nam (CCWG) và Bộ TN & MT (2016) nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu [60], [18], [8] Trong đó, nhấn mạnh đến tính hệ thống của các vấn đề nghiên cứu

1.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1.1 Sinh kế

Ý tưởng về sinh kế được đề cập trong các tác phẩm nghiên cứu của Chambers vào những năm 1980 Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của Ellis, Barret và Reardon… Tác giả Ellis (2010) [62] cho rằng sinh kế bao gồm những tài sản, những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), và theo đó các quyết định về sinh

kế đều thuộc về mỗi cá nhân hay nông hộ

(dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để đảm bảo phương tiện sinh sống

sinh kế, Nguồn lực sinh

kế

Giải pháp

Sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH

a) Vùng lõi b) Vùng đệm

Chiến lược

Sinh kế

a) Vùng lõi b) Vùng đệm

Kế hoạch thực hiện

a) Vùng lõi b) Vùng đệm

Giám sát/ đánh giá

Đánh giá tính bền vững

của hoạt động sinh kế

Từ dưới lên

Từ trên xuống

Trang 17

Theo Farrington et al [63] Sinh kế có thể được diễn tả như là sự kết hợp của các

nguồn tài nguyên được sử dụng và các hoạt động được thực hiện để sống Các tài nguyên đó có thể bao gồm cả các khả năng và kỹ năng của con người (vốn con người), đất đai, tiền tiết kiệm và trang thiết bị (vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn vật chất), và các dịch vụ hỗ trợ chính thức hoặc không chính thức cho các hoạt động (vốn xã hội)

Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình

1.2.1.2 Sinh kế bền vững

* Trên thế giới

Kể từ Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro ở Brazil năm 1992, PTBV đã trở thành xu thế chung mà toàn nhân loại đang

nỗ lực hướng tới Theo đó, trong phát triển nông thôn xuất hiện xu hướng phát triển

sinh kế bền vững bao gồm cả các mục tiêu giảm nghèo [8]

Trước đây, hoạt động sinh kế được hiểu là những phương tiện kiếm sống nhằm phục vụ nhu cầu cơ bản của cuộc sống (Ví dụ: thực phẩm, chỗ ở, quần áo, thuốc

men ) Khái niệm về sinh kế bền vững cũng được hiểu là những nỗ lực để xoá đói

giảm nghèo [65] Tuy nhiên, các khái niệm đó chưa bao quát được hết mọi khía cạnh

của hoạt động sinh kế, đặc biệt là các nguồn lực làm hạn chế hoặc tăng cường khả

năng của con người

Khái niệm về sinh kế bền vững được Chambers và Conway (1992) [57] mở

rộng hơn Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu và phục hổi sau những cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn

Trong một số nghiên cứu của Barret và Reardon (2000) [56] khẳng định các chính sách để xác định sinh kế người dân theo hướng bền vững được xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các yếu tố bên ngoài Các nghiên cứu này đã chỉ

ra mối liên hệ giữa mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách cũng như các mối liên hệ

và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xóa đói giảm nghèo Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng, các chính sách phát triển… Tuy vậy, sự bền

Trang 18

vững của tài nguyên thiên nhiên là yếu tố nền tảng trong quyết định một sinh kế có bền vững hay không

Dựa trên nền tảng nghiên cứu điển hình của Chambers và Conway, đã có rất

nhiều sự điều chỉnh cho khái niệm sinh kế bền vững Đặc biệt quan trọng là đóng góp

của Scoones và các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) tại trường Đại học Sussex [69], Vương quốc Anh; và Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) [59], [60]

Tổ chức DFID đã xây dựng khung sinh kế bền vững như là một công cụ nhằm

xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể (Hình 1.2)

Hình 1.2 Khung sinh kế bền vững DFID (2007)

Nguồn: DFID (2007)

Scoones (1998) [69] cho rằng hoạt động sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những khủng hoảng; duy trì, tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến TNTN”

Cách tiếp cận sinh kế bền vững để giảm nghèo đã được Krantz (2001) [65] khẳng định và so sánh dựa trên ba khung phân tích sinh kế bền vững của UNDP, CARE và DFID Trong đó, sinh kế bền vững được coi là phương pháp hữu hiệu nhất

để xóa bỏ đói nghèo trong bối cảnh nhiều biến động như hiện nay

KẾ

KẾT QUẢ SINH KẾ

- Tăng tính bền vững khi sử dụng nguồn TNTN

H

S

N

H: Nguồn vốn con người (Human Capital) F: Nguồn vốn tài chính (Financial Capital)

N: Nguồn vốn tự nhiên (Natural Capital) P: Nguồn vốn vật chất (Physical Capital)

S: Nguồn vốn xã hội (Social Capital)

S: Nguồn vốn xã hội (Social Capital)

Trang 19

Như vậy, sinh kế bền vững là sinh kế: 1) Có thể phục hồi và đối mặt với các cú

sốc và khủng hoàng; 2) Không quá phụ thuộc vào sự hỗ trợ bên ngoài; 3) Duy trì và bảo tồn được tài nguyên; 4) Không bị suy yếu và suy giảm theo thời gian [8]

Ở Việt Nam, đã có rất nhiều những nghiên cứu về sinh kế bền vững, tiêu biểu như Đinh Đức Thuận (2005) [47] đã chỉ ra mối liên hệ giữa lâm nghiệp, giảm nghèo

và sinh kế nông thôn

Dựa trên tiếp cận sinh kế bền vững, Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2012) [29] đã thử sử dụng bộ số liệu điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2008 và đã xác định mười chiều đo đại diện cho bốn nhóm tài sản sinh

kế là vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, và vốn tài chính của hộ gia đình nông thôn Việt Nam dựa trên các phương pháp thống kê đa biến Sau đó, nghiên cứu này tiếp tục dựa vào khung phân tích sinh kế bền vững (DFID, 1999) để xác định các chỉ báo đo lường nghèo đa chiều cho hộ gia đình nông thôn Việt Nam và sử dụng bộ dữ liệu VHLSS 2010 để kiểm tra lại tính nhất quán của các chiều đo và các chỉ báo nghèo

đa chiều [29]

Trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan giai đoạn II (1997 - 2002) đã có nhiều nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững, trong đó một số những nghiên cứu giải pháp xây dựng mô hình kinh tế nông lâm ngư kết hợp ở Vườn Quốc gia Bạch Mã (Nguyễn Thị Nguyệt, 2005) [4]; Giải pháp phát triển kinh tế nông lâm nghiệp bền vững vùng đồi nghèo khó xã Viên Thành, Yên Thành, Nghệ An (Ngô Trực Nhà, 2005) [4]… Những nghiên cứu này bước đầu xác lập cơ sở khoa học cho những giải pháp nhằm nâng cao tính bền vững của sinh kế nông thôn

Các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam đã thực hiện một số dự án nâng cao

sinh kế theo hướng bến vững như “Dự án sinh kế bền vững cho phụ nữ nghèo các tỉnh

miền núi phía Bắc” do Liên minh Hợp tác xã Canada (CCA) tài trợ năm 2012 [31];

Dự án “Các tổ chức phi chính phủ Viêt Nam hướng tới sinh kế của các cộng đồng dân

tộc thiểu số miền núi phía Bắc” của Trung tâm SRD [41] Hay trong khuôn khổ Dự án

Giảm nghèo khu vực Tây Nguyên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối với với Ngân hàng

Thế giới (2014) phát hành Sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án: Phát triển sinh kế bền

vững nhằm hướng dẫn các tổ chức thực hiện dự án thúc đẩy sinh kế bền vững hiệu quả

[8]

Trang 20

Một số những nghiên cứu trong khuôn khổ luận án tiến sĩ hay luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Cường (2005), Phùng Văn Thạch (2012), Nguyễn Hoàng Hoa (2012), Vũ Thị Ngọc (2012), Hoàng Thị Ngọc Hà (2014)… đã bước đầu nghiên cứu giải pháp cải thiện sinh kế trên nhiều địa bàn khác nhau của cả nước Mai Văn Xuân (2009) và Bùi Thị Minh Hà (2013) đã sử dụng khung sinh kế bền vững của DIFD phân tích sinh kế của cộng đồng người dân ở Quảng Trị và Thái Nguyên [18], [19], [34]

1.2.1.3 Sinh kế thích ứng/ sinh kế chống chịu

Khi nghiên cứu sinh kế thích ứng, các tác giả đều thống nhất dựa trên khung

sinh kế bền vững của DFID (2007) để phân tích và đánh giá

Ở Việt Nam, nghiên cứu về sinh kế thích ứng với BĐKH được các tổ chức NGOs quan tâm như CARE, SRD, CRD, MCD…Tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam

đã nghiên cứu sự thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng trong đó đề cập tới tác động của BĐKH tới an ninh lương thực và thu nhập của người dân, nước sinh hoạt, sức khỏe và di dân Trong đó có đưa ra cách tiếp cận sinh kế thích ứng với BĐKH và đề xuất bộ tiêu chí đánh giá mô hình thích ứng với BĐKH [5]

Trung tâm Phát triển nông thôn Miền trung Việt Nam (CRD) nghiên cứu thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng tại khu vực sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế tập trung vào: 1) Tìm hiểu những biện pháp thích ứng mà người dân địa phương và nhiều

tổ chức đã thực hiện; 2) Xác định các biện pháp thích ứng chính liên quan đến quản lý nguồn nước; 3) Lựa chọn những giải pháp thích ứng hiệu quả cụ thể để hỗ trợ trực tiếp

và làm đầu vào cho các kế hoạch địa phương

Bộ TN & MT (2009) [8], đưa ra các chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất do tác động của BĐKH ở miền Trung Việt Nam, nhằm: 1) Giảm bớt các tổn thương của sinh kế vùng ven biển và xây dựng khả năng phục hồi do các tác động của khí hậu; 2) Xây dựng khả năng phục hồi trước những tác động của biến đổi khí hậu của các hệ sinh thái và xã hội mà những sinh kế này dựa vàovà tăng cường năng lực cung cấp các dịch vụ có chất lượng của các hệ thống này

Gần đây, những kiến thức về sinh kế thích ứng và một số điển hình tốt về sinh

kế thích ứng mà các tổ chức phi chính phủ đã hỗ trợ cộng đồng xây dựng thành công trong thời gian qua tại các vùng, miền trên phạm vi cả nước được tổng hợp trong tài

liệu “Sinh kế thích ứng với BĐKH: Tiêu chí đánh giá và các điển hình” do Mạng lưới

các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và BĐKH (VNGO&CC), Nhóm công tác về

Trang 21

BĐKH (CCWG), và Cục Khí tượng Thủy văn và BĐKH, Bộ Tài nguyên & Môi trường phối hợp thực hiện

1.2.1.4 Tiêu chí đánh giá

Việc xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động sinh kế bền vững nhằm: i) xác

định tính bền vững của các hoạt động sinh kế, và ii) là cơ sở hỗ trợ cho việc giám sát

và đánh giá tính thích ứng của mô hình theo thời gian Đặc biệt, các tiêu chí này sẽ là

cơ sở thực tiễn quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách cũng như người dân trong việc ra quyết định về đầu tư triển khai và nhân rộng

Nhiều tác giả (Scoones, 1998; DFID, 1999, 2007) [8] đều thống nhất đưa ra một

số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế:

- Bền vững về kinh tế: được đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu gia tăng thu nhập

- Bền vững về xã hội: được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như: tạo thêm

việc làm, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực, cải thiện phúc lợi

- Bền vững về môi trường: được đánh giá thông qua việc sử dụng bền vững các

nguồn lực tự nhiên (tài nguyên đất, nước, rừng, thủy sản…), không gây hủy hoại môi trường (như ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường) và có khả năng thích ứng trước những tổn thương và cú sốc từ bên ngoài

- Bền vững về thể chế: được đánh giá thông qua một số tiêu chí như hệ thống

pháp luật được xây dựng đầy đủ và đồng bộ, qui trình hoạch định chính sách có sự tham gia của người dân, các cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư hoạt động

có hiệu quả; từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách để các sinh

kế được cải thiện một cách liên tục theo thời gian [12]

Trong bối cảnh BĐKH toàn cầu, sinh kế thích ứng hay sinh kế chống chịu được coi là một trong những giải pháp hữu hiệu để ứng phó với BĐKH và tăng cường hiệu quả của hoạt động sinh kế cho cộng đồng dân cư.Về cơ bản, đó là sinh kế có khả năng chống chịu với các tác động từ thời tiết cực đoan, giảm thiểu thiệt hại do BĐKH gây ra và phát huy được các mặt có lợi do BĐKH mang lại cũng như giảm phát thải khí nhà kính Ở Việt Nam, các tiêu chí để đánh giá một mô hình, giải pháp sinh kế thích ứng, bền vững hiện nay là: (i) Thích ứng với BĐKH, (ii) Có thể giảm phát thải khí nhà kính, (iii) Có hiệu quả

và bền vững về môi trường, về kinh tế và xã hội, và (iv) có khả năng nhân rộng [8]

Trang 22

1.2.2 Lịch sử nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu

1.2.2.1 Những nghiên cứu về VQG Xuân Sơn

Những nghiên cứu đã được tiến hành tại VQG Xuân Sơn chủ yếu tập trung khảo sát tính ĐDSH và bảo tồn các nguồn gen quý

Ngay từ những năm 1927 đến năm 1944 đã có một số người nước ngoài đến nghiên cứu và sưu tầm mẫu chim ở khu vực VQG Xuân Sơn như Bourret, Raimbault, Winter….[61]

Các nhà nghiên cứu trong nước trước tiên phải kể đến cuộc điều tra nghiên cứu khả thi thành lập KBT thiên nhiên Xuân Sơn năm 1990, do Chi cục Kiểm lâm Vĩnh Phúc phối hợp với Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Tây Bắc, Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật và Khoa Sinh học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thực hiện Tiếp đó, giai đoạn 2000 – 2001, Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật đã tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng tài nguyên sinh vật tại KBT thiên nhiên Xuân Sơn Tháng 10 năm 2002, Trung tâm Tài nguyên Môi trường thuộc Viện Điều tra Quy hoạch rừng phối hợp với BQL VQG Xuân Sơn và Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ tiếp tục tổ chức một đợt khảo sát đa dạng sinh vật ở khu vực này

Từ đó tới nay, VQG Xuân Sơn luôn là địa điểm hấp dẫn thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu về tính ĐDSH, và các loài động, thực vật đặc hữu [25] Tiêu biểu trong số này phải kể đến đề tài khoa học đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội do Giáo sư Hà Đình Đức chủ trì “Nghiên cứu khu hệ chim và một số đặc điểm sinh học,

sinh thái của một số loài thuộc họ Khướu Timaliidae ở VQG Xuân Sơn” năm 2005 –

2006; hay công trình “Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Lân Hùng Sơn; gần đây nhất là đề tài luận án Tiến sĩ sinh học nghiên cứu về “Thành phần và cấu trúc quần xã ve giáp ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”.v.v [61]

Năm 2011, việc nghiên cứu sự tương tác giữa cộng đồng dân cư vùng đệm và

bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Xuân Sơn được thực hiện trong khuôn khổ luận văn

thạc sĩ của tác giả tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội Kết quả đã chỉ ra rằng, cư dân vùng đệm còn rất khó khăn và phụ thuộc vào tài nguyên rừng ở những mức độ khác nhau, và điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác bảo tồn ĐDSH ở VQG Xuân Sơn [61]

Trang 23

1.2.2.2 Những nghiên cứu về sinh kế tại VQG Xuân Sơn

Mới đây nhất, sinh kế của người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn cũng được Nguyễn Thị Kim Vui (2015) [54] nghiên cứu Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu sinh kế của xã Xuân Sơn đặt trong khung tham chiếu của vùng đệm chứ không phải là vùng lõi Điều này có thể sẽ gây ra sự nhầm lẫn và các giải pháp phát triển sinh kế vùng đệm là không phù hợp với thực tiễn và các quy định của pháp luật hiện hành

Do đó, đề tài Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường tính bền vững cho hoạt

động sinh kế của cộng đồng dân cư tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ được

thực hiện và góp phần hoàn thiện những nghiên cứu mang tính liên ngành tại VQG Xuân Sơn

1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Vườn Quốc gia Xuân Sơn và vùng đệm

1.3.1.1 Vị trí địa lý

VQG Xuân Sơn nằm hoàn toàn trên địa bàn hành chính xã Xuân Sơn và một phần nằm trên địa bàn các xã: Xuân Đài, Kim Thượng, Đồng Sơn, Lai Đồng, Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái và Sơn La Đây là nơi bảo tồn ĐDSH của vùng chuyển tiếp giữa giải núi đá vôi phía Đông Bắc với vùng Trung

du Bắc Bộ

Hình 1.3: Bản đồ VQG Xuân Sơn trên địa bàn tỉnh

Phú Thọ

Trang 24

Phía Đông VQG Xuân Sơn giáp với các xã Tân Phú, Mỹ Thuận, Long Cốc và Vinh Tiền (huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ); Phía Tây giáp với huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La); phía Nam giáp huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình); phía Bắc giáp xã Thu Cúc (huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ)

Tổng diện tích tự nhiên của VQG Xuân Sơn là 15.048 ha, bao gồm 9.088 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, 5.737 ha phân khu phục hồi sinh thái và 212 ha phân khu dịch vụ hành chính, nằm trên địa bàn 29 thôn của 6 xã gồm: xã Xuân Sơn (có 4 thôn/bản Cỏi, Dù, Lạng Lấp); xã Xuân Đài (6 thôn/bản Thang, Đồng Dò, Đồng Tảo, Vượng, Dụ, Suối Bồng); xã Kim Thượng 10 (thôn/bản Tân Ong, Xoan, Hạ Bằng, Chiềng 1, Chiềng 2, chiềng 3, Xuân 1, Xuân 2, Tân Hồi, Nhàng); xã Đồng Sơn (3 thôn/bản Bến Thân, Xuân 1, Xuân 2); xã Tân Sơn (5 thôn/bản hoạt, Bương, Lèn, Sận, Thịnh); xã Lai Đồng (1 thôn/bản Đoàn) thuộc địa bàn hành chính huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ [51], [53]

Hình 1.4: Bản đồ qui hoạch VQG Xuân Sơn – tỉnh Phú Thọ

Trang 25

1.3.1.2 Điều kiện tự nhiên

 Địa hình, địa mạo

VQG Xuân Sơn nằm trong một vùng đồi núi thấp trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc của dãy Hoàng Liên Sơn Vùng đồi núi thấp này toả rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang tả ngạn sông Đà Nhìn toàn cảnh các dãy đồi chỉ cao chừng

600 – 700 m, cao nhất là đỉnh Voi (1.386 m), tiếp đến là núi Ten (1.244 m), và núi Cẩn (1.144 m) Các thung lũng trong vùng mở rộng và uốn lượn khá phức tạp Nhìn chung, địa hình trong khu vực có những kiểu chính sau:

- Kiểu núi trung bình: Hình thành trên đá phiến biến chất, có độ cao từ 700 m – 1.368

m Kiểu này được phân bố chủ yếu ở phía Nam và Tây Nam VQG, bao gồm phần lớn

hệ đá vôi Xuân Sơn và các dãy núi đất xen kẽ

- Kiểu địa hình núi thấp: Thuộc địa hình này là các núi có độ cao từ 300 – 700 m phân

bố chủ yếu từ Nam, Tây Nam đến phía Bắc khu vực

- Kiểu đồi: Có độ cao dưới 300 m, phân bố chủ yếu về phía Đông khu vực Có hình

dạng đồi lượn sóng mềm mại được cấu tạo từ các loại đá trầm tích và biến chất hạt mịn, hiện nay đã được trồng chè xanh, chè san

- Thung lũng và bồn địa: Đó là những vùng trũng kiến tạo giữa núi phân bố chủ yếu ở

các xã Đồng Sơn, Xuân Đài và Kim Thượng Đây là các thung lũng sông suối mở rộng, địa hình bằng phẳng, độ dốc rất thoải, trong đó có trầm tích phù sa rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp [25]

 Địa chất, thổ nhưỡng

Theo các nhà địa chất, toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi Nham thạch nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp Trong các dãy núi

đá vôi thường gặp các thung tròn có nước chảy trên mặt như thung xóm Lạng, xóm

Dù, xóm Lấp… Các thung được lấp đầy các tàn tích đá vôi và có suối nước chảy quanh năm

Thổ nhưỡng được hình thành trong một nền địa chất phức tạo (có nhiều kiểu địa hình và nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau) cùng với sự phân hoá khí hậu, thuỷ văn đa dạng và phong phú… nên có nhiều loại đất được tạo thành trong khu vực này Một số loại đất chính là:

Trang 26

+ Đất feralit có mùn trên núi trung bình: phân bố ở độ cao 700 – 1.386 m,

+ Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp: phân bố ở độ cao dưới 700 m, + Đất rangin (hay đất hình thành trong núi đá vôi),

+ Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng [25]

 Khí hậu, thuỷ văn

Khí hậu: VQG Xuân Sơn tuy nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới, nhưng xa đường

xích đạo, nên có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh

đến tháng 3 năm sau, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ các tháng này

hưởng của gió mùa Đông Nam, nên thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung

- Chế độ mưa ẩm: Lượng mưa đạt mức trung bình là 1.826 mm Tập trung gần 90% vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm); hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 và tháng 9 hàng năm Mùa khô hạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau nhưng hạn hán ít xảy ra vì có mưa phùn làm hạn chế sự khô hạn trong mùa khô Độ ẩm không khí trong vùng bình quân đạt 86% Lượng bốc hơi không cao (653 mm/n) điều đó đánh giá khả năng che phủ đất của lớp thảm thực bì còn cao, hạn chế được lượng nước bốc hơi, làm tăng lượng nước thấm, duy trì được nguồn nước ngầm trong khu vực [25]

- Một số hiện tượng thời tiết đáng chú ý:

+ Gió Tây khô nóng: Vùng này chỉ chịu gió Tây (khô và nóng) vào các tháng 4,5,6,7

nhất >70 -80 mm, độ ẩm không khí hạ xuống thấp tuyệt đối

+ Mưa bão: Vùng này tuy ở sâu trong nội địa, nhưng cũng chịu ảnh hưởng nhiều của mưa bão Hai tháng nhiều mưa bão nhất là tháng 8 và tháng 9 Bão thường kèm theo mưa lớn, gây lũ và lụt lội làm thiệt hại khá nghiêm trọng cho nền kinh tế địa phương

và nhân dân sinh sống trong vùng

Trang 27

+ Sương muối: Thường xuất hiện vào mùa Đông, những ngày nhiệt độ xuống thấp

dài vài ba ngày, ảnh hưởng rất lớn đến cây con, cây ăn quả và cây lấy giống ra hoa kết quả vào thời điểm này

+ Ngoài ra vào tháng 4, 5 có lốc xoáy, mưa đá; tháng 7, 9 có lũ quét ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống dân cư

Thủy văn: Hệ thống sông Bứa và các chi lưu của nó toả rộng ra khắp các vùng

Với lượng mưa khá dồi dào, trung bình năm từ 1.500 – 2.000 mm, lượng mưa cực đại

có thể lên tới 2.453 mm/năm Lưu vực sông Bứa khá rộng Địa hình lưu vực lại thuận lợi cho việc xây dựng các hồ thủy lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp Tổng chiều dài của sông 120 km, chiều rộng trung bình 200 m có khả năng vận chuyển lâm thổ sản từ thượng nguồn về sông Hồng khá thuận lợi VQG Xuân Sơn chỉ nằm trong lưu vực đầu nguồn sông Bứa với nhiều nhánh suối bắt nguồn từ các đỉnh núi cao trong Vườn [25]

 Tài nguyên rừng

Các kiểu HST và thảm thực vật: VQG Xuân Sơn tuy diện tích không lớn, nhưng

có mức độ đa dạng cao cả về kiểu thảm thực vật cũng như hệ thực vật Có thể coi đây

là sự thu hẹp của tất cả các vùng thiên nhiên vừa là phổ biến đặc trưng, vừa độc đáo, đặc sắc

Theo Trần Minh Hợi (2008), kết quả điều tra hệ thực vật đã xác định được 180

họ, 680 chi và 1.217 loài thực vật bậc cao có mạch Trong đó có 40 loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và được chia làm 7 nhóm chính:

 Nhóm cây lấy Gỗ: có 202 loài với một số loài có giá trị kinh tế cao như: Trai lý, Sến mật, Nghiến, Chò chỉ, Chò vẩy, Chò nâu, Đinh…

 Nhóm cây ăn được: có khoảng 132 loài cây ăn được như rau Sắng, rau Bò khai, rau Dớn …

 Nhóm cây cho sợi: Thống kê được khoảng 12 loài như Mây gai, Giang, Tre gai

 Nhóm cây làm thuốc: có 665 loài cây có thể làm thuốc như Củ dòm, Khúc khắc, Hoàng đằng, Bách bộ, Thanh táo, Cát đằng hoa to…

Trang 28

 Nhóm cây cho tinh dầu và nhựa: đã thống kê được 50 loài cung cấp tinh dầu và nhựa như các loài cây: Trám trắng, Trám đen, Đại hái, Cánh kiến lá trắng, Hồi núi…

 Nhóm cây cho Tanin và Thuốc nhuộm: Gồm có các loài như: Râu hùm hoa tía, Ngải rợm, Cậm kệch…

 Nhóm cây làm cảnh và bóng mát: các loài này phải kể đến Lộc vừng nếp, Đỗ quyên, Ngải tiên, Ngải tiên đỏ, Lan hài, Lan bướm, Trúc lan, Thuỷ tiên vàng,

Nỉ lan bạn …

Hệ động vật: VQG Xuân Sơn có một hệ động vật tương đối phong phú và đa

dạng, thường gặp ở hầu hết đại diện của các lớp động vật, bao gồm từ động vật không xương sống đến các động vật có xương sống

Cho đến nay đã thống kê được 365 loài bao gồm: 69 loài thú với nhiều loài quý hiếm như: Vượn đen tuyền, Voọc xám, Cu ly lớn, Nai, Hươu, Sơn dương, Báo hoa mai, Cầy hương, Gấu ngựa…; 240 loài chim như Yến núi , Gà so ngực gụ, Yểng, Gà chín cựa…; và 71 loài bò sát, ếch nhái [25]

1.3.2 Đặc điểm dân cư, dân tộc và nguồn lao động

Nằm trong khu vực vùng lõi và vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn có 29 thôn thuộc ranh giới hành chính của 6 xã, huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ Theo số liệu thống kê năm 205 tại các xã thì tổng số dân trong khu vực là 12.599 người và 2.908 hộ Trong đó nam chiếm 50,4 %, nữ chiếm 49,6 %; trong đó dân tộc Mường đông nhất chiếm tới 79,9%, dân tộc Dao chiếm 18,7%; dân tộc Kinh chiếm 1,4%; các hộ gia đình sống quần cư tập trung thành các bản làng Phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đất, ở độ cao từ 200 - 400m so với mực nước biển, tập trung ở phía Đông, một phần phía Bắc và phía Nam của Vườn quốc gia Trong vùng lõi của vườn có 794 hộ dân với 2.984 nhân khẩu (trên địa bàn 9 thôn nằm trong 4 xã các hộ dân đã cư trú tại đây trước khi có Quyết định thành lập Vườn; tập quán canh tác của các hộ này chủ yếu cấy lúa nước 1 vụ trồng hoa màu (cấy lúa nước một vụ, ngô, sắn, chăn nuôi gia súc và nhận khoán bảo vệ rừng) [51], [53]

sống xen kẽ lẫn nhau và hình thành nên các thôn, bản ở xung quanh chân núi và mỗi dân tộc

có một phong tục tập quán và nét văn hoá riêng biệt Dù hiện nay nhiều nét sinh hoạt cổ

Trang 29

truyền không còn nữa, nhưng người DTTS nơi đây vẫn giữ được nhiều bản sắc đậm

đà, nhất là ở tiếng nói và đời sống văn nghệ của họ Người Mường vẫn ở nhà sàn, toạ lạc ở những thung lũng chân núi, người Dao vẫn ở những ngôi nhà trệt hay ngôi nhà nửa sàn, nửa đất Văn hoá ẩm thực của họ độc đáo với món cơm đồ, thịt lợn lửng, thịt chua và nhiều món ăn đặc trưng khác của người dân vùng núi Cuộc sống của người dân gắn liền với những tín ngưỡng dân gian (tín ngưỡng bái vật giáo, thờ người lập bản, tín ngưỡng phồn thực ), những lễ hội địa phương (lễ mừng cơm mới, lễ hạ điền

lễ thượng điền, Tết nhảy của người Dao ) và nhiều loại hình sinh hoạt văn nghệ đặc sắc như Đâm Đuống, Đâm ống, Múa Mỡi

Lực lượng lao động trong độ tuổi từ 18 - 60 tuổi là 7.391 người chiếm khoảng

58,8 % tổng số khẩu trong toàn khu vực (Phụ lục 2.3) Các xã trong khu vực Vườn

quốc gia có quy mô dân số trẻ, lực lượng lao động có xu hướng tăng nhưng trình độ lao động còn thấp Số lao động tăng nhanh trong những năm qua làm cho lao động ở nông thôn đã dư thừa lại càng dư thừa thêm Hơn nữa, hầu hết lao động đều chưa qua đào tạo nên hiệu quả lao động thấp, thiếu việc làm Đây là những tồn tại hạn chế ở khu vực VQG Xuân Sơn hiện nay

Mặt khác, lao động phân bố giữa các ngành trong vùng đệm là chưa đồng đều Phân theo ngành, lao động nông – lâm nghiệp có tỷ trọng rất lớn, chiếm 85,6% tổng số lao động vùng đệm Tuy nhiên, lực lượng này luôn ở trong tình trạng không ổn định và thiếu việc làm, do vậy cần phải có chính sách đầu tư vốn, trang bị kiến thức xây dựng

mô hình trang trại, đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp Ngoài ra, lao động trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng chiếm 5,8%, lao động trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 8,6% tổng số lao động Đây là nguồn lực quan trọng cho phát triển KT - XH địa phương trong tương lai

Tỷ lệ người dân hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp còn cao nên sẽ khó khăn

để chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng hiện đại hoá Hơn nữa, tổng số

hộ nghèo trên địa bàn các xã vùng đệm VQG Xuân Sơn là 1.310 hộ chiếm 45,8% tổng

số hộ dân Đây là một tỷ lệ khá cao so với mặt bằng chung trong cả nước Mặc dù, đây cũng là cơ hội thuận lợi để địa phương thu hút hay nhận được những chương trình, dự

án tài trợ của nhà nước và các tổ chức phi chính phủ, nhưng chính quyền và người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn có tận dụng được những lợi thế từ bên ngoài mang lại hay không vẫn còn cần sự nỗ lực từ nhiều phía

Trang 30

1.3.3 Cơ sở hạ tầng

 Giao thông: Các tuyến đường liên xã đều đã được rải nhựa nhờ dự án 135 và một số dự án phát triển KT - XH vùng đệm Các tuyến đường này tạo tiền để để phát triển kinh tế địa phương, thúc đẩy giao lưu văn hoá xã hội và phát triển du lịch sinh thái (DLST) Tuy nhiên, các tuyến đường liên thôn, nội xóm nhỏ, hẹp, dốc, rất lầy lội

và mất vệ sinh trong mùa mưa

 Y tế: Hiện nay tại mỗi xã đều có Trạm Y tế được xây dựng kiên cố, đóng tại trung tâm xã Mỗi thôn/ bản đều có 1 cán bộ y tế thôn bản Tuy nhiên, cơ sở và dụng

cụ khám chữa bệnh còn đơn sơ nên chỉ chữa trị được những bệnh thông thường Hơn nữa điều kiện giao thông chưa thuận lợi, nên việc chữa chạy bệnh nhân trong trường hợp nguy cấp không kịp thời

 Giáo dục: Trên địa bàn tất cả các xã đều đã có trường Mẫu giáo, trường Tiểu học và THCS Đối với các xóm xa trung tâm đều có lớp cắm bản từ Mẫu giáo đến lớp

5 Giáo viên hầu hết là người địa phương, trong đó chủ yếu là người Mường và Dao

 Điện: Mỗi xã đều có từ 2 – 4 trạm điện phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân Trong 8 xã sinh sống trong khu vực VQG Xuân Sơn, chỉ duy nhất xã Lai Đồng là 100% tỷ lệ các hộ có điện, xã Xuân Sơn mới chỉ có 21,2 % số hộ có điện (tập trung ở xóm Dù trung tâm xã), các xã còn lại có tỷ lệ số hộ có điện từ 62,9 % - 96,8%

 Thư viện, bưu điện: Ở mỗi xã đều có 1 điểm bưu điện văn hoá Số lượng thư viện còn có hạn 4 thư viện/8 xã, số lượng đầu sách báo còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ cho bà con dân bản

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã: xã Xuân Đài (vùng đệm) và

xã Xuân Sơn (vùng lõi) tại VQG Xuân Sơn, thuộc địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2016- tháng 9/2016

Trong đó, thời gian thực địa tại địa phương chia thành 3 đợt, với mục tiêu cụ thể như sau:

Bảng 2.1 Thời gian, địa điểm và nội dung các đợt nghiên cứu

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

- Các giải pháp góp phần tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế vùng đệm VQG Xuân Sơn

- UBND huyện Tân Sơn;

- Chi cục Thống kê huyện Tân Sơn

- UBND xã Xuân Sơn;

- Ban Quản lý VQG Xuân Sơn

- Đánh giá tổng quan vấn đề nghiên cứu

- Thu thập tài liệu thứ cấp

- Ban Quản lý VQG Xuân Sơn

- Đánh giá hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư vùng lõi VQG Xuân Sơn

Trang 32

- Công tác quản lý của một số cán bộ có liên quan đến hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư tại địa bàn nghiên cứu (cán bộ UBND xã; cán bộ UBND huyện Tân Sơn; và Cán bộ VQG Xuân Sơn)

2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Cách tiếp cận

 Tiếp cận hệ thống

Hệ thống có thể được hiểu là một tập hợp các phần tử có quan hệ tương tác để thực hiện một mục tiêu xác định [11] Tiếp cận hệ thống là cách nhìn nhận thế giới qua cấu trúc hệ thống, thứ bậc và động lực của chúng; đó là một tiếp cận toàn diện và động [24]

Cách tiếp cận hệ thống được sử dụng nhằm giúp tác giả có nhãn quan hệ thống

trong xem xét các mối quan hệ giữa các phần tử trong cùng một hệ thống sinh kế, hệ

thống nông nghiệp của cộng đồng cư dân vùng đệm VQG Xuân Sơn Bởi vì, cộng

đồng dân cư sinh sống trong vùng đệm VQG Xuân Sơn chủ yếu làm nghề nông Do

đó, cách tiếp cận hệ thống và dựa trên hệ thống nông nghiệp (Hình 2.1) sẽ giúp tác giả

xác định những cản trở, thách thức và tìm ra phương án can thiệp hiệu quả nhất

Hình 2.1 Mô hình hệ thống nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 1989)[49]

 Cách tiếp cận liên ngành/ dựa trên hệ sinh thái

Cách tiếp cận liên ngành/ dựa trên hệ sinh thái cùng với cách tiếp cận hệ thống là cách tiếp cận chính cho các nghiên cứu về PTBV và BĐKH

Trang 33

Cách tiếp cận dựa trên HST (do Công ước ĐDSH đề xuất) là một chiến lược quản lý tổng hợp TNTN (đất, nước và sinh vật) Gần đây, cách tiếp cận này đã được áp dụng rộng rãi trong phát triển bền vững và ứng phó với BĐKH, khi đặt con người và thực tiễn sử dụng tài nguyên là trung tâm của các HST [23]

hội), với hai nghĩa: i) Con người là nhân tố tác động vào HST một cách mạnh mẽ nhất,

và ii) Các hoạt động bảo tồn HST cuối cùng vẫn phải hướng tới và đem lại phúc lợi cho con người (MEA, 2005) Con người, một mặt, sống nhờ vào HST thông qua các vai trò dịch vụ của nó, gồm: (i) Vai trò dịch vụ cung cấp (cung cấp các loại vật liệu, cây thuốc, thực phẩm, nước ; ii) Vai trò dịch vụ điều tiết (điều tiết lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn đất, điều hòa nguồn nước, dịch bệnh…); iii) Vai trò dịch vụ văn hóa-tinh thần (các giá trị du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng, nghiên cứu, giáo dục, tôn giáo, nghệ thuật và các lợi ích phi vật chất khác, và iv) vai trò dịch vụ hỗ trợ (hình thành đất, duy trì các chu trình dinh dưỡng, chu trình sinh địa hóa, dòng năng lượng…) Mặt khác, con người lại tác động vào hệ sinh thái thông qua các hoạt động sinh kế trực tiếp (nguyên nhân trực tiếp) và các hoạt động phát triển KT-XH (nguyên nhân sâu xa/cơ bản) – tác động chính làm suy thoái các HST/ĐDSH Cần nhấn mạnh rằng mối tương tác giữ con người và HST có sự thay đổi giữa/ và chịu sự tác động của các cấp: địa phương, quốc gia và quốc tế (Hình 2.2)

Như vậy, cách tiếp cận dựa trên HST đặt con người và thực tế sử dụng tài nguyên của họ là trung tâm của khung hoạch định chính sách Để khai thác các lợi ích từ các

dịch vụ HST, con người đã đưa ra các lựa chọn hay quyết định (trade off) về quản lý

liên quan đến các HST, làm thay đổi chức năng và vai trò dịch vụ mà HST cung cấp Hay nói cách khác, đây là một chiến lược, một cách thức để quản lý tổng hợp TNTN nhằm thúc đẩy việc bảo tồn và sử dụng bền vững một cách công bằng để hỗ trợ người dân và sinh vật thích ứng với các tác động bất lợi do sự thay đổi môi trường, trong đó

Trang 34

tích và đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường tính bền vững của hoạt động sinh kế cho người dân sinh sống tại VQG Xuân Sơn, Phú Thọ

 Cách tiếp cận dựa vào cộng đồng (Từ dưới lên/ Bottom-up) và sự kết hợp giữa

tiếp cận Từ trên xuống (Top-down)

Cách tiếp cận dựa vào cộng đồng là một nguyên tắc mà những người sử dụng tài nguyên cũng phải là người quản lý hợp pháp đối với nguồn tài nguyên đó Điều này giúp phân biệt nó với các chiến lược quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác hoặc là có tính tập trung hoá cao hoặc là không có sự tham gia của các cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên đó

Tuyên ngôn của Hội nghị thượng đỉnh RIO+10 tại Johannesburg (2002) đã ghi

nhận “người bản địa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tính ĐDSH của

Trái Đất” Nhưng thật không may, kinh nghiệm của miền núi ở khắp mọi nơi trên thế

giới cho thấy, sự lệ thuộc là hậu quả phổ biến nhất khi quyền kiểm soát việc quản lý tài nguyên và các quy định về phương hướng phát triển vượt ra khỏi tầm tay của người dân địa phương [28]

Hình 2.2 Mối liên quan giữa các dịch vụ

HST và các thành tố của cuộc sống thịnh

vượng [23], [64]

Hình 2.3 Sơ đồ cách tiếp cận liên ngành phục vụ phát triển bền vững [64]

Trang 35

Năm 2009, nhà kinh tế học người Mỹ Elinor Ostrom đã nhận được giải Nobel Kinh tế vì công trình phân tích quản lý kinh tế, các nghiên cứu này chỉ ra rằng: “các cộng đồng địa phương có thể tự mình quản lý tài sản công tốt hơn so với các quyền lực

áp đặt từ bên ngoài”

Cách tiếp cận Từ dưới lên sẽ dùng phương pháp quan sát và phân tích hệ thống

nông nghiệp xem hệ thống mắc ở chỗ nào để tìm cách can thiệp, giải quyết các cản trở

Tiếp cận Từ dưới lên rất quan tâm tìm hiểu logic của nông dân vì theo lý luận kinh tế

gia đình nông dân, thì người nông dân là một nhà tư bản tự bóc lột sức lao động của mình Nếu không hiểu logic ra quyết định của nông dân, thì không thể để xuất các kỹ thuật nông dân có thể tiếp thu [2]

Do đó, chúng ta cần phát huy vai trò và sự tham gia của cộng đồng cư dân vào việc bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong phát triển sinh kế; phải coi việc bảo tồn và phát huy những tri thức sinh kế bản địa của cộng đồng bản địa như một bộ phận quan trọng của hoạt động sinh kế bền vững

Ngoài ra, sử dụng kết hợp giữa cách tiếp cận dựa vào cộng đồng/cách tiếp cận

Từ dưới lên (Bottom-up) và cách tiếp cận Từ trên xuống (Top-down) thông qua các

chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước (các cấp), các chiến lược phát triển, quy hoạch, kế hoạch hành động của các ngành và địa phương thì các giải pháp sinh kế đưa ra sẽ có hệ thống, toàn diện, khả thi, hiệu quả và bền vững hơn

 Cách tiếp cận khung sinh kế bền vững của DFID

Khung sinh kế bển vững DFID là một công cụ trực quan hoá được DFID xây dựng

từ những năm 80 của thế kỷ XX nhằm tìm hiểu các loại hình sinh kế Mục đích là giúp người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau của các loại hình sinh kế, đặc biệt là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề khó khăn hay những yếu tố tạo cơ hội [59] Khung sinh kế DFID bao gồm năm hợp phần chính: Bối cảnh tổn thương; Các nguồn lực sinh kế; Chính sách và thể chế; Các chiến lược, hoạt động sinh kế và các Kết quả

sinh kế (Hình 1.2)

Khung sinh kế bền vững của DFID đưa ra được nhiều giới học giả và các cơ

quan phát triển ứng dụng rộng rãi Khung phân tích này được trình bày chi tiết và có

hệ thống trong Các bản hướng dẫn sinh kế bền vững (Sustainable livelihoods

Trang 36

Guidance Sheets) do DFID công bố vào năm 1999, để thúc đẩy các chính sách, hành

động vì sinh kế bền vững và giảm nghèo Khung sinh kế bền vững đề cập đến các yếu

tố và thành tố hợp thành sinh kế đó là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) chiến lược sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) các quy trình về thể chế và chính sách, và (v) bối cảnh bên ngoài

Việc sử dụng cách tiếp cận khung sinh kế bền vững này sẽ “giúp chúng ta hiểu được việc con người sử dụng các loại vốn mình có để kiếm sống, thoát nghèo, hay tránh bị rơi vào đói nghèo như thế nào, vì nó không chỉ minh họa các chiến lược tìm kiếm thu nhập, mà nó còn phân tích và lý giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn lực mà các cá thể và hộ gia đình sử dụng để biến các nguồn lực đó thành sinh kế” [44]

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá hoạt động sinh kế là một vấn đề tổng hợp của nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa và chính sách Vì vậy, các phương pháp cụ thể được

sử dụng trong nghiên cứu là:

2.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu:

Thu thập, phân tích, đánh giá, tổng hợp tài liệu thứ cấp gồm:

- Số liệu thống kê các cấp có liên quan từ UBND các xã Vùng đệm, Ban Quản

lý (BQL) VQG Xuân Sơn, Chi cục Thống kê huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

- Các kết quả điều tra, nghiên cứu đã được công bố

Phương pháp này giúp tổng hợp và đánh giá được tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.2.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa:

Phương pháp khảo sát thực địa được tiến hành theo 3 đợt nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu Cụ thể là:

- Phương pháp phân tích sử dụng khung sinh kế bền vững: Dựa vào cách tiếp cận hệ

thống nông nghiệp và khung sinh kế bền vững của DFID (2001, 2007), cùng với những

khảo sát tại địa bàn nghiên cứu, tác giả đã xây dựng một khung phân tích sinh kế nông hộ bền vững cho vùng đệm VQG Xuân Sơn nói riêng, và có tính ứng dụng để phân tích sinh

kế nông hộ cho các khu vực vùng đệm khác trên cả nước Với mục tiêu để phân tích các loại vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của cộng đồng cư dân vùng đệm VQG Xuân Sơn

Trang 37

- Phương pháp xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0: Thu thập các thông tin dựa trên việc thiết kế hệ thống câu hỏi có thể thực hiện để phân tích thống kê (Phụ lục 1)

Đây là phương pháp chính của nghiên cứu giúp đánh giá được thực trạng hoạt động sinh kế của cộng đồng cư dân vùng đệm VQG Xuân Sơn 90 phiếu điều tra bằng bảng hỏi được xử lý thống kê toán học với phần mềm SPSS 16.0 Kết quả của phương pháp này là toàn bộ kết quả định lượng luận văn

Cuộc điều tra lựa chọn các đối tượng ngẫu nhiên tại 2 xã vùng đệm (Xuân Đài)

và vùng lõi (Xuân Sơn) thuộc phần quản lý hành chính của huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Tổng số phiếu khảo sát là 90 phiếu Trong đó, số phiếu điều tra ở xã Xuân Đài chiếm 54,5%, xã Xuân Sơn chiếm 45,6% tổng số phiếu điều tra Số lượng phiếu ở 2 xã

có sự chênh lệch không đáng kể, mục đích là để phân tích được tương quan giữa hai

xã Mẫu phiếu khảo sát trong 2 đợt được phân ra như sau:

Bảng 2.2 Cơ cấu phiếu phân theo đợt khảo sát

xã Xuân Sơn

67 (8 phiếu xã Xuân Sơn + 49 phiếu xã Xuân Đài)

Phương pháp nghiên cứu được tiến hành dưới sự hỗ trợ rất lớn từ chính quyền địa phương Đối với đợt thực địa thứ 2 và thứ 3, tác giả đã có được sự giúp đỡ trực tiếp của cán bộ Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Bí thư xã Xuân Sơn, Phó chủ tịch xã Xuân Đài, trong việc; 1) lựa chọn đối tượng khảo sát theo để đảm bảo tính khác quan nhất; 2) vận động người dân tham gia khảo sát; 3) cung cấp thông tin đa chiều về tình hình của địa phương

Cách thức tiến hành khảo sát và phỏng vấn diễn ra theo 3 hình thức: 1) tập trung tại nhà văn hóa xã; 2) tập trung thành từng nhóm nhỏ tại nhà dân; 3) đến từng hộ gia đình Đối với mỗi cách thức này đều có ưu, nhược điểm riêng Do đó, tác giả cố gắng sàng lọc thông tin theo hướng khách quan, cố gắng kiểm chứng thông tin qua nhiều nguồn khác nhau để đưa ra kết luận chính xác nhất

- Phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) là một hoạt

động học hỏi kinh nghiệm được tiến hành trong cộng đồng, có tính tập trung, hệ thống,

Trang 38

bán cơ cấu, trong một thời gian ngắn Hoạt động này thường được thực hiện bởi một nhóm chuyên viên liên ngành và bao gồm tất cả các thành viên của cộng đồng [35]

Nghiên cứu này sử dụng 5 công cụ trong PRA (1) Khảo sát trực tiếp; 2) Phỏng vấn sâu có định hướng; 3) Hồ sơ lịch sử hiểm họa thiên nhiên (Historical Timeline); 4) Lịch thiên tai và mùa vụ (Seasonal Calendar); 5) Sơ đồ Venn (Venn Diagram); 6) Phân tích SWOT (Strengths – Weeks – Opportunity – Threarts) để thu thập thông tin thứ

cấp từ cộng đồng cư dân và chính quyền địa phương (Phụ lục 3) Qua đó đánh giá

được các rủi ro và nguy cơ xảy ra thiên tai trên địa bàn, những tổn thất mà thiên tai gây

ra cho cộng đồng và HST, thực trạng phát triển sinh kế và đánh giá vai trò của các bên liên quan trong công tác phòng chống thiên tai

Phương pháp này được sử dụng trong đợt khảo sát thứ 2 tại xã Xuân Sơn Nhóm nghiên cứu lựa chọn mẫu phiếu dưới sự hỗ trợ của chính quyền địa phương nhằm đảm bảo tính khách quan và đa dạng của đối tượng được khảo sát Trong đó, nhóm người được khảo sát phải mang tính đại diện với đủ thành phần dân tộc, có trình

độ văn hóa và sinh kế khác nhau Nhóm nghiên cứu đã có một buổi làm việc tập trung tại nhà văn hóa xóm Dù với toàn bộ đối tượng được khảo sát mà không có sự tham dự của chính quyền địa phương Mục đích để giúp cho người dân có thể thoải mái trình bày quan điểm của mình

Trang 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hiện trạng sinh kế của cư dân sinh sống tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn

3.1.1 Các hoạt động sinh kế

Kết quả điều tra cho thấy, trong vùng đệm VQG Xuân Sơn đang tồn tại hai thành phần kinh tế chính là kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại, với 4 loại hình sinh kế chủ yếu: sinh kế nông nghiệp; sinh kế lâm nghiệp; sinh kế sản xuất tiểu thủ công nghiệp; và sinh kế dịch vụ du lịch

3.1.1.1 Sinh kế nông nghiệp

* Trồng trọt

- Tổng diện tích đất nông nghiệp cả vùng đệm và vùng lõi là 994,57 ha Trong

đó, diện tích đất ruộng lúa 1 vụ chiếm 30,5%; diện tích đất ruộng lúa 2 vụ chiếm 29,4

%; diện tích đất trồng màu chiếm 16,2%; và diện tích đất nương rẫy chiếm 23,9%

(Phụ lục 2.6)

- Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, khoai, sắn, một số sản phẩm cây trồng phục vụ cho chăn nuôi Do thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn nên thời gian sinh trưởng của cây trồng kéo dài hơn Bên cạnh đó, phần lớn nguồn nước tưới phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, những tháng mùa khô thường xảy ra thiếu nước nên diện tích lúa nước ít, chủ yếu canh tác 1 vụ

- Diện tích khoai, sắn canh tác ở các sườn đồi, nơi đất có độ dốc thấp và hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất và sản lượng chưa cao

- Các loại cây trồng khác: ngô, đậu, lạc được trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng không đủ điều kiện để làm ruộng nước

* Chăn nuôi

Bình quân mỗi hộ gia đình có từ 1 đến 2 con trâu hoặc bò, 1 đến 2 con lợn, 5 - 8

con gà hoặc ngan, vịt (Phụ lục 2.4)

Giống chăn nuôi ở đây chủ yếu là các loại giống địa phương, tốc độ tăng trưởng chậm Tuy nhiên, những loại này cho thịt rất ngon như lợn Mán, gà nhiều cựa, gà ri, vịt, ngan

Dịch vụ thú y trong khu vực chưa phát triển Hầu hết các xóm chưa có cán bộ thú

y hoặc cán bộ chưa qua lớp đào tạo chính quy

Trang 40

* Trồng cây công nghiệp

Sản lượng cây công nghiệp còn rất thấp, diện tích manh mún chủ yếu là cây chè, đậu tương, lạc phục vụ sinh hoạt và cải thiện đời sống trong gia đình hàng ngày

* Thuỷ sản

Trong thời gian gần đây, có một số hộ gia đình đã xây dựng đập, đào ao thả cá Tuy nhiên, số hộ này không nhiều Ao cá chỉ được làm tạm bợ, kỹ thuật chăn nuôi theo lối quảng canh; chưa đầu tư thâm canh

Điều kiện tự nhiên trong khu vực cho phép phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, đào ao thả cá Nhiều khu vực có thể trở thành đồng cỏ, có nguồn cung cấp thức ăn, đủ nguồn nước để phát triển nuôi cá

3.1.1.2 Sản xuất lâm nghiệp

- Khai thác lâm sản ngoài gỗ và trồng rừng

Trước đây, lâm sản chính được người dân khai thác từ rừng là gỗ, và các loài động vật Từ khi thành lập khu bảo tồn thiên nhiên cho đến nay, hiện tượng săn bắt động vật và khai thác gỗ không còn diễn ra Các sản phẩm lâm nghiệp người dân thu hái chủ yếu là mật ong, song mây, sa nhân, lá cọ, các loài cây thuốc

Ngoài ra, người dân xã Xuân Sơn, Kim Thượng và Tân Sơn còn tham gia bảo vệ rừng, trồng rừng bằng cây bản địa do Ban quản lý Vườn quốc gia triển khai Hiện nay, mỗi xã kể cả vùng lõi và vùng đệm đều có lực lượng bảo vệ rừng hợp đồng với Ban quản

lý thực thi công tác theo dõi, quản lý bảo vệ rừng

Từ khi thành lập đến nay, Ban quản lý VQG đã làm tốt công tác tuyên truyên giáo dục đến các hộ dân cùng tham gia quản lý bảo vệ rừng Người dân ký cam kết với Ban quản lý tham gia nhiều lĩnh vực như hợp đồng bảo vệ rừng, phối hợp với lực lượng kiểm lâm để tuần tra, kiểm soát rừng, trồng rừng, phòng chống lửa rừng Do đó, diện tích trước đây là nương rẫy hoặc đất trống có cây gỗ rải rác, nay đã phục hồi thành rừng

Về kết quả trồng rừng giai đoạn 2002 – 2012, diện tích rừng đã trồng mới là 1.184 ha, với tổng vốn đầu tư là 5.705 triệu đồng

- Bảo vệ rừng

Quản lý bảo vệ rừng là nhiệm vụ rất quan trọng đối với ngành lâm nghiệp của cả

Ngày đăng: 17/03/2021, 18:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w