TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Các nghiên cứu trên thế giới về Dẻ tùng sọc trắng hẹp
2.1.1 Nghiên cứu về hình thái và phân bố
Họ Dẻ tùng (Taxaceae) bao gồm 5 chi và 21 loài, trong đó chi Dẻ tùng (Amentotaxus) được Pilger thành lập vào năm 1917 từ loài Podocarpus argotaenia Hance, được mô tả lần đầu năm 1883 tại dãy núi Phật Sơn, Quảng Đông, Trung Quốc Chi này chủ yếu gồm 5 đến 6 loài, đa phần là cây nhỏ và cây bụi Tại Trung Quốc, Dẻ tùng sọc trắng hẹp có thể phát triển thành cây bụi hoặc gỗ nhỏ cao tới 7 m, với lá nhỏ dài 2-11 cm và rộng 5-11 mm, có gân và cuống lá vặn từ 45-95 độ so với cành Hai bên gân chính của lá có hai dải khí khổng màu trắng rộng 1,2-2 mm, tạo thành sự phân biệt với phần lá màu xanh Quả của loài này có hình trứng hẹp, kích thước 1,9-2,6 x 1-1,3 cm, chuyển sang màu đỏ sáng khi chín, với cuống quả dài 1,1-1,4 cm Hoa nở vào tháng 4 và quả chín vào tháng 10, Dẻ tùng sọc trắng có hai thứ (var) là Amentotaxus argotaenia var Brevifolia K.M Lan & F.H Zhang.
Amentotaxus argotaenia var argotaenia) dựa vào kích thước lá, đặc điểm phấn hoa và chiều dài cuống quả (Fu et al, 1999) [19]
Dẻ tùng sọc trắng hẹp là loài cây phân bố chủ yếu ở các khu vực núi đá, hẻm núi và bờ suối ẩm ướt trong rừng tự nhiên Chúng thường sinh trưởng ở độ cao từ 300 đến 1100 mét, tập trung tại các tỉnh như Phúc Kiến, phía Nam tỉnh Cam Túc, Quảng Đông, Quảng Tây và Quý Châu.
Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, Đông Bắc tỉnh Giang Tây, Đông Nam tỉnh Tứ Xuyên, Đài Loan, Đông Nam khu tự trị Tây Tạng và phía nam tỉnh Chiết Giang là những địa danh quan trọng của Trung Quốc, nổi bật với cảnh quan thiên nhiên đa dạng và văn hóa phong phú.
Amentotaxus argotaenia var argotaenia phân bố chủ yếu ở phía bắc Việt Nam, trong khi Amentotaxus argotaenia var brevifolia K.M Lan & F.H Zhang chỉ có mặt tại các núi đá ở phía nam tỉnh Quý Châu, ở độ cao khoảng 900 m (Fu et al, 1999).
Theo nghiên cứu của Phan Kế Lộc và các tác giả (2017), loài cây dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố tại Trung Quốc, Lào và Việt Nam.
2.1.1.3 Nghiên cứu về nhân giống và bảo tồn
Theo danh lục đỏ của IUCN năm 2013, loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp được đánh giá là sắp bị đe dọa (Near threatened), trong khi một biến thể của loài này, Amentotaxus argotaenia var brevifolia K.M Lan & F.H Zhang, lại được xếp vào mức nguy cấp (CR).
Các nghiên cứu về Dẻ tùng sọc trắng hẹp ở Việt Nam
2.2.1 Nghiên cứu về hình thái và phân bố
Dẻ tùng sọc trắng hẹp, theo mô tả của Phạm Hoàng Hộ (1991), là một loại cây gỗ nhỏ với đường kính tối đa đạt 30 cm Loại cây này có lá thon hẹp, hơi cong, dài từ 5-7 cm, với mặt dưới có hai dải màu xám bạc và mép lá uốn xuống Chùy của cây có từ 3 đến 6 túi phấn, trong khi chùy cái mang đặc điểm riêng biệt.
1 noãn, hạt hình trái xoan, áo hạt ban đầu màu đỏ cam sau đỏ đâm [9]
Dẻ tùng sọc trắng hẹp là cây gỗ nhỏ cao từ 6 đến 10 mét, với đường kính tối đa 50 cm và tán cây thưa, cành hướng lên cao Vỏ cây có màu nâu xám, trong khi lớp vỏ bên dưới có màu đỏ da cam Chồi ngọn có hình vuông và vảy chồi không rụng Lá cây có hình dải hoặc hình mác, đôi khi hơi cong lưỡi liềm, tạo thành một góc với thân cây, thường mọc đối với chiều dài khoảng 8 cm và rộng 15 mm Mặt trên của lá có màu xanh bóng thẫm, trong khi mặt dưới có hai dải lỗ khí phân biệt nằm giữa các dải xanh ở mép và hai bên dải xanh dọc gân giữa, với dải lỗ khí rộng gấp 1,5 lần dải xanh ở mép Gân giữa nổi bật ở mặt dưới, và mép lá có thể dẹt hoặc hơi cuộn lại.
Cây có lá nhọn và dài, với dải lỗ khí nhạt màu ở mặt dưới, đặc biệt là ở lá non Hoa đơn tính mọc từ nách lá của chồi ngắn, với nón cái đơn độc có màu đỏ khi chín, hình bầu dục và rủ xuống trên cuống dài 2 cm Hạt và áo hạt dài đến 2,5 cm và có đường kính 1,5 cm, hạt hơi nhô ra và chín trong năm sau, khi chín sẽ nhăn lại Nón đực thường mọc thành cặp hoặc chùm 2-5 cái, thường 3 ở ngọn các cành nhỏ, dài 5-6,5 cm, mỗi lá tiểu bào tử chứa 2-5 túi phấn Hạt có hình bầu dục, dài đến 2,5 cm với đường kính 1,3 cm, có màu tím đỏ khi chín và rủ xuống đất.
Dẻ tùng sọc trắng hẹp, được mô tả bởi Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004), là một cây gỗ nhỏ thường xanh, cao trung bình từ 6-10 m, có thể đạt tới 20 m với đường kính 40-50 cm Cây có tán thưa, cành hướng lên cao, vỏ màu nâu xám và nứt mảnh Lá cây mọc đối chéo chữ thập, thường xếp thành hai dãy do gốc vặn, có hình dải hoặc hình mác, dài từ 3-11 cm và rộng 6-10 mm, với mặt trên xanh bóng thẫm và mặt dưới có hai dải lỗ khí Dẻ tùng sọc trắng hẹp là loài phân tính khác gốc, với nón cái mọc đơn độc từ nách lá cành mới, có áo hạt chín màu đỏ, nón cái hình bầu dục và rủ xuống, dài 2-2,5 cm và đường kính 1,3-1,5 cm Nón đực mọc thành bông đơn độc ở nách lá gần đầu cành, dài 5-6,5 cm, trong khi hạt có hình bầu dục – trứng ngược, dài tới 2,5 cm.
Hoàng Văn Sâm (2013) đã nghiên cứu các loài thực vật họ hạt trần tại Vườn quốc gia Hoàng Liên và phát hiện 4 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp, có chiều cao từ 14-25 m và đường kính từ 25-65 cm Cây có vỏ mảnh nứt màu nâu xám và đỏ da cam bên dưới Lá cây mọc đối chéo chữ thập, nhưng do gốc văn nên xếp thành hai dãy, dài từ 3-11 cm và rộng từ 6-10 mm, với mặt trên màu xanh bóng thẫm và mặt dưới có hai dải lỗ khí phân biệt giữa các dải xanh ở mép và hai bên gân giữa Nón cái của cây có hình bầu dục, dài từ 2-2,5 cm và có đường kính nhất định.
Nón đực có kích thước từ 1,3 đến 1,5 cm, với 4 vảy ở gốc và cuống dài 2 cm Chúng thường mọc thành bông đơn độc hoặc chụm lại ở nách lá gần đầu cành Hạt có hình bầu dục, giống như trứng ngược, dài tới 2,5 cm.
Trần Minh Tuấn (2013) đã nghiên cứu về Dẻ tùng sọc trắng hẹp tại các Vườn quốc gia Tam Đảo, Ba Vì và Xuân Sơn, cho biết cây có đường kính từ 31,4 - 54,8 cm và chiều cao từ 12 - 17,5 m, dựa trên số liệu từ 9 cây (6 cây ở Ba Vì, 1 cây ở Tam Đảo và 2 cây ở Xuân Sơn) Vỏ cây non có màu xanh thẫm, sau đó chuyển sang nâu đỏ, vỏ mỏng và khi cây lớn, vỏ nứt măng màu nâu xám với phần dưới có màu đỏ da cam Lá cây có hình dáng lưỡi liềm, hơi cong, dài 8 cm và rộng.
Cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp có chiều cao lên đến 15 m và đường kính thân đạt 90 cm, thuộc loại gỗ lớn đến gỗ nhỡ Vỏ cây màu nâu xám, nứt và bên dưới có màu đỏ Lá cây đơn, mọc đối, hình dải, dài từ 4-9 cm và rộng 0,8-1,3 cm, với 2 dải khí khổng màu phấn trắng ở mặt dưới gần giữa Nón đơn tính khác gốc, nón đực thường mọc thành cụm 2-3 bông ở nách lá, dài 5-6,5 cm, mỗi nhị có 2-5 bao phấn Nón cái mọc đơn độc ở nách lá của cành mới, có hình bầu dục và rủ trên cuống dài 2 cm, chín màu đỏ, trong khi hạt có hình bầu dục trứng ngược dài 2,5 cm và đường kính 1,3 cm, thường rụng xuống đất khi chín Nghiên cứu của Đỗ Văn Trường và Nguyễn Bá Tâm (2017) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Thanh Hóa) đã chỉ ra sự đa dạng và phân bố của hai loài thông trong khu vực này.
Cây có cuống ngắn và hơi mập, với một vài đôi lá bắc mọc đối chéo chữ thập ở gốc Hạt của cây hình trứng, dài từ 2-2,5 cm và đường kính 1,3 cm, có 5 vảy ở gốc Khi chín, áo hạt chuyển từ màu da cam sang đỏ sẫm.
Dẻ tùng sọc trắng hẹp là cây gỗ cao từ 25-30 m, với đường kính từ 60-80 cm, đôi khi có kích thước lớn hơn Đặc điểm nổi bật của cây là dải sọc trắng khí khổng ở mặt dưới lá hẹp hơn dải xanh hai bên mép lá Quả của cây có hình trứng, kích thước dài từ 19-25 mm và đường kính từ 10-13 mm, vỏ quả ban đầu có màu đỏ sáng và chuyển sang màu nâu đỏ khi chín.
Phạm Hoàng Hộ (1991) cho rằng: Dẻ tùng sọc trắng hẹp có phân bố ở Sapa, Braian ở độ cao từ 1000-1500 m so với mực nước biển [9]
Dẻ tùng, theo Nguyễn Đức Tố Lưu và Thomas (2004), phân bố chủ yếu tại Việt Nam và Nam Trung Quốc Tại Việt Nam, loài cây này xuất hiện ở các tỉnh như Lào Cai, Hòa Bình, Sơn La, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, và Phú Thọ, đồng thời có khả năng xuất hiện ở Lạng Sơn và Quảng Ninh Dẻ tùng thường phát triển ở độ cao từ 950 đến 1500m trong các khu rừng á nhiệt đới thường xanh lá rộng, thường nằm trên núi đa vối.
Nguyễn Tiến Hiệp và các tác giả (2004) khẳng định biết chắc chắn có ở các tỉnh Lào Cai, Sơn La, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và Thanh Hóa [6]
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004) chỉ ra rằng loài này phân bố chủ yếu ở Việt Nam và Nam Trung Quốc Tại Việt Nam, các khu vực có sự hiện diện của loài này bao gồm Lào Cai (VQG Hoàng Liên), Phú Thọ (VQG Xuân Sơn), Vĩnh Phú (VQG Tam Đảo), Hòa Bình (khu BTTN Hang Kia-Pà Cò), Hà Tây (VQG Ba Vì) và Thanh Hóa.
Dẻ tùng sọc trắng hẹp, theo Trần Minh Tuấn (2013), thường phân bố rải rác trong các kiểu rừng hỗn hợp thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở trạng thái IIIa1 Loài cây này thường chiếm lĩnh tầng cây cao với độ tàn che từ 0,5-0,7 trở lên, tại độ cao từ 920 đến 1100 m so với mực nước biển Hoàng Văn Sâm (2013) cũng đã tiến hành điều tra về loài cây này.
Dẻ tùng sọc trắng hẹp ở Vườn quốc gia Hoàng Liên phát hiện 4 cá thể ở độ cao 1800 m so với mực nước biển [14]
Dẻ tùng sọc trắng hẹp, theo Phan Kế Lộc và các tác giả (2017), phân bố chủ yếu ở các tỉnh như Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Phú Thọ, Hòa Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình và Quảng Trị Loài cây này thường mọc rải rác trong rừng nguyên sinh lá rộng thường xanh, đặc biệt trên các dãy núi đá vôi, và hiếm gặp ở các khu vực núi đất, với độ cao từ 700 đến 1600 m so với mực nước biển.
Phan Thị Thanh Huyền và Nguyễn Văn Hùng (2017a) điều tra phân bố
Dẻ tùng sọc trắng hẹp ở Mộc Châu, Sơn La thấy: Dẻ tùng sọc trắng hẹp có phân bố ở núi đật, độ cao từ 1000 m đến 1600m [7]
2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm lâm học
Theo Trần Minh Tuấn (2013), mùa hoa Dẻ tùng sọc trắng diễn ra từ tháng 3 đến tháng 4, trong khi nón trưởng thành và chín từ tháng 5 đến tháng 7 năm sau Đỗ Văn Trường và Nguyễn Bá Tâm (2017) cho rằng nón xuất hiện vào tháng 4 và chín vào tháng 8 đến tháng 10 năm sau Phan Kế Lộc cùng các tác giả (2017) khẳng định rằng hoa có khả năng thụ phấn từ tháng 2 đến tháng 4.
4 và quả chín vào tháng 10 – tháng 11, có một lần thấy quả chín vào tháng
Tổng quan về CSDL GIS và QGIS
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là công cụ mạnh mẽ trên máy tính, cho phép thu thập, cập nhật, lưu trữ, tích hợp, xử lý, tra cứu, phân tích và hiển thị dữ liệu địa lý Điểm khác biệt chính giữa GIS và các hệ thống thông tin thông thường là khả năng ứng dụng rộng rãi của nó trong việc giải thích hiện tượng, dự báo và quy hoạch chiến lược dựa trên không gian và thời gian.
2.3.2 Chức năng cơ bản của GIS
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là sự kết hợp giữa con người và máy tính cùng các thiết bị ngoại vi, nhằm lưu trữ, xử lý, phân tích và hiển thị thông tin địa lý phục vụ cho nghiên cứu và quản lý hiệu quả.
Một hệ thống GIS có những nhóm chức năng cơ bản sau:
Nhập và biến đổi dữ liệu địa lý
Xử lý và phân tích dữ liệu
2.3.3.1 Giới thiệu phần mềm QGIS
Quantum GIS (QGIS) là một ứng dụng GIS mã nguồn mở, thân thiện với người dùng, hoạt động trên nhiều hệ điều hành như Linux, Unix, Mac OSX và Windows Nó hỗ trợ các định dạng dữ liệu vector, raster và cơ sở dữ liệu Ra mắt lần đầu vào tháng 5 năm 2002, QGIS hiện đang ở phiên bản 3.6 và hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong tương lai.
Quantum GIS (QGIS) được phát triển hợp tác với GRASS, mang đến chức năng biên tập và phân tích GIS hiệu quả Tuy nhiên, khả năng trình bày in ấn của QGIS chưa hoàn thiện như các phần mềm GIS thương mại Điểm mạnh của QGIS là có phiên bản tiếng Việt, giúp người dùng dễ dàng tiếp cận.
The article provides a summary of downloading and installing software online, specifically directing users to the QGIS website for installation files Users can visit [QGIS Download Page](https://www.qgis.org/en/site/forusers/download.html#) to access the software and follow the installation instructions for various platforms.
2.3.3.2 Các cửa sổ làm việc chính của QGIS
QGIS cung cấp nhiều cửa sổ làm việc, tiện lợi cho người dùng Các cửa sổ chính trong QGIS:
Cửa sổ hiển thị, quản lý dữ liệu dữ liệu Trong cửa sổ này, có một số cửa sổ con:
- Cửa sổ quản lý các lớp dữ liệu (Các lớp)
- Cửa sổ duyệt dữ liệu (Trình duyệt)
- Cửa sổ hiển thị thuộc tính (Attribute Table)
Hình 2.1: Cửa sổ quản lý dữ liệu
To create a new vector data layer in QGIS, navigate to the main menu and select Layer -> New -> New Shapefile Layer This process allows you to generate a new map layer in shapefile format.
Hình 2.3: Thực đơn tạo 1 lớp mới dạng Shapefile layer
Khi đó xuất hiện hộp hội thoại
Hình 2.4: Hộp thoại nhập các thông số cho lớp mới
Các thông số trên hộp hội thoại bao gồm:
Khi lựa chọn kiểu dữ liệu cho lớp bản đồ, có ba loại chính để xem xét: kiểu điểm, kiểu đường và kiểu vùng Việc chọn kiểu dữ liệu phù hợp phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của lớp bản đồ mà bạn đang làm việc.
Khi tạo lớp bản đồ mới trong QGIS, hệ tọa độ mặc định là WGS84 Người dùng có thể chọn hệ tọa độ khác có sẵn hoặc định nghĩa hệ tọa độ riêng bằng cách nhấn vào nút tương ứng, sau đó hộp thoại sẽ xuất hiện để cho phép lựa chọn hệ tọa độ.
Hình 2.5: Tuỳ chọn hệ quy chiếu
Lớp có thể được mở rộng bằng cách thêm các trường thuộc tính, tương ứng với các cột trong bảng dữ liệu thuộc tính của lớp Mỗi trường thuộc tính được xác định bởi các thông số như tên, kiểu dữ liệu, độ rộng và độ chính xác (nếu có).
- Có 4 kiểu thuộc tính dữ liệu:
Hình 2.6: Kiểu thuộc tính dữ liệu
Dữ liệu văn bản: Định dạng dữ liệu là chữ (bao gồm chữ, số)
Toàn bộ con số: Định dạng số nguyên
Số thập phân: Định dạng số thập phân
Date: Định dạng thời gian
Sau khi chọn thuộc tính theo thiết kế ta bấm chọn “thêm vào danh sách thuộc tính” để thêm
Hình 2.7: Thêm các trường mới
Lần lượt thêm các thuộc tính mới để có toàn bộ các trường thuộc tính theo yêu cầu
Sau khi định nghĩa lớp bản đồ, trong hộp thoại “Lớp vector mới”, nhấn nút để mở hộp thoại “Lưu tệp tin”, nơi bạn có thể đặt tên và chọn thư mục lưu trữ cho lớp bản đồ vừa tạo.
Khi lưu, các tệp tin shapefile với tên xác định được lưa vào ổ đĩa Một lớp dữ liệu dạng Shapefile của QGIS thông thường sẽ gồm các file sau:
.shp Chứa thông tin không gian
.dbf Chứa thông tin thuộc tính
.shx Liên kết giữa thông tin không gian và thuộc tính
.prj Chứa thông tin về phép chiếu
Để thực hiện các thao tác với lớp dữ liệu trong QGIS, người dùng cần chọn lớp dữ liệu tương ứng, lúc này các chức năng phù hợp sẽ được kích hoạt Ví dụ, khi chọn lớp dữ liệu điểm, các chức năng như thêm, di chuyển hoặc xóa điểm sẽ xuất hiện, trong khi các chức năng của các lớp dữ liệu khác như lớp bản đồ đường hay lớp vùng sẽ bị ẩn đi.
2.3.3.4 Hiển thị, truy vấn và cập nhật trong QGIS
Sử dụng công cụ Nhận diện đối tượng:
Trên thanh công cụ Tool nhấp vào công cụ Nhận diện đối tượng nhấp chuột vào đối tượng cần tra cứu thông tin
Cửa sổ Nhận diện các kết quả cho biết thông tin của đối tượng được chọn
Hình 2.9: Xem nhanh thông tin thuộc tính
Tra cứu bằng bảng thuộc tính:
Để mở bảng thuộc tính của một lớp dữ liệu, bạn chỉ cần nhấp chuột phải vào lớp dữ liệu trong cửa sổ Các lớp và chọn "Mở bảng thuộc tính".
Hình 2.10: Bảng thuộc tính của lớp dữ liệu
Sau khi mở bảng dữ liệu thuộc tính của lớp dữ liệu, người dùng có thể thực hiện các thao tác như tìm kiếm, truy vấn, và xuất dữ liệu Việc lựa chọn các đối tượng trên bản đồ sẽ dựa trên các điều kiện khác nhau.
Truy vấn là câu hỏi được viết bằng ngôn ngữ truy vấn đơn giản hoặc cấu trúc như SQL, giúp tìm kiếm và chiết xuất thông tin từ cơ sở dữ liệu Các truy vấn CSDL cho phép người dùng xác định các điều kiện để thu hẹp nhóm dữ liệu, từ đó dễ dàng theo dõi và quản lý thông tin mong muốn.
QGIS cung cấp nhiều công cụ hữu ích để khai thác thông tin, bao gồm công cụ Nhận dạng đối tượng cho phép xem thông tin chi tiết của từng đối tượng, và công cụ truy vấn (theo thuộc tính hoặc theo không gian) giúp tìm kiếm các đối tượng phù hợp với một hoặc nhiều điều kiện nhất định.
Tổng quan khu vực nghiên cứu
Vườn quốc gia Xuân Sơn tọa lạc tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, với tọa độ địa lý từ 21°03' đến 21°12' vĩ bắc và từ 104°51' đến 105°01' kinh đông Nơi đây cách thành phố Việt Trì khoảng 80km và Hà Nội khoảng 120km, mang lại một không gian thiên nhiên hoang sơ và phong phú cho du khách khám phá.
- Phía Đông: Giáp các xã Tân Phú, Minh Đài, Long Cốc, huyện Tân Sơn
- Phía Tây: Giáp huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La), huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình)
- Phía Nam: Giáp huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình)
- Phía Bắc: Giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong vùng đồi núi thấp và trung bình của lưu vực sông Bứa, đánh dấu điểm kết thúc của dãy Hoàng Liên Khu vực này trải dài từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, bao gồm huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Sông Bứa cùng các chi lưu của nó phân nhánh khắp vùng, tạo nên một cảnh quan hùng vĩ với các dãy đồi núi chỉ cao khoảng 600 mét.
Dãy núi Xuân Sơn có độ cao khoảng 700m với hình dáng mềm mại, chủ yếu được cấu tạo từ đá phiến biến chất Đỉnh núi Voi cao nhất đạt 1386m, tiếp theo là núi Ten và núi Cẩn, đều cao trên 1200 - 1300m Địa hình núi này tạo nền tảng cho sự sống phát triển và có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ sinh thái, đồng thời tạo nên sự khác biệt giữa khu hệ động thực vật ở Xuân Sơn so với các vườn quốc gia và khu bảo tồn khác ở miền Bắc.
Vùng đất này không chỉ nổi bật với địa hình núi mà còn có những thung lũng mở rộng và uốn lượn phức tạp Sự chia cắt địa hình theo chiều sâu lớn, với các sườn núi dốc trung bình 20 độ Đây là nơi sinh sống của đồng bào dân tộc, nơi vẫn lưu giữ những dấu ấn văn hóa bản địa đặc sắc trong các nếp sinh hoạt truyền thống.
Vườn quốc gia Xuân Sơn có tổng diện tích 18.369 ha, bao gồm vùng lõi 15.048 ha, với 11.148 ha được bảo vệ nghiêm ngặt Khu vực phục hồi sinh thái kết hợp bảo tồn di tích lịch sử chiếm 3.000 ha, trong khi phân khu hành chính và dịch vụ là 900 ha Điểm đặc trưng của Xuân Sơn là nơi duy nhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với diện tích 2.432 ha.
30 giá là rừng có đa dạng sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao, đa dạng địa hình kiến tạo nên đa dạng cảnh quan
Vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Sơn có diện tích 18.639 ha, bao gồm các xã Kiệt Sơn, Lai Đồng, Minh Đài, cùng một phần của các xã Đồng Sơn, Tân Sơn, Kim Thượng và Xuân Đài, tất cả đều thuộc huyện.
Khí hậu, cùng với địa hình, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền tảng sự sống và sắc thái cảnh quan khu vực Đất, thực vật và động vật là những thành phần tự nhiên thiết yếu, được con người sử dụng từ xa xưa để đảm bảo cuộc sống Sự kết hợp giữa khí hậu, đất và đá mẹ đã thúc đẩy sự hình thành các quần thể thực vật tự nhiên, thường được gọi là các quần hệ cao đỉnh, trong trạng thái cân bằng Do đó, khí hậu có thể được coi là một thành tố quan trọng của cảnh quan.
- Chế độ nhiệt: tại khu vực vườn quốc gia Xuân Sơn, nhiệt độ trung bình năm biến động từ 22 0 - 23 0 , tương đương với tổng nhiệt năng từ 8300 0 C -
Nằm trong vành đai nhiệt đới, khu vực này có nhiệt độ trung bình khoảng 8500 0 C Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, với nhiệt độ thường xuống dưới 20 0 C, tháng 1 là tháng có nhiệt độ thấp nhất Ngược lại, mùa nóng diễn ra dưới tác động của gió mùa Đông Nam, khiến thời tiết luôn nóng ẩm và có lượng mưa lớn, với nhiệt độ trung bình trên 25 0 C Tháng 7 là tháng nóng nhất, đạt 28 0 C, trong khi nhiệt độ cao nhất tuyệt đối có thể lên tới 40,7 0 C vào tháng 6.
Chế độ mưa ẩm ở khu vực này có lượng mưa trung bình từ 1660mm ở Tân Sơn đến 1826mm ở Minh Đài, với gần 90% lượng mưa diễn ra trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Tháng 8 và tháng 9 là hai tháng có lượng mưa cao nhất Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau chỉ chiếm dưới 10% tổng lượng mưa hàng năm, tuy nhiên, hạn hán ít xảy ra nhờ vào đặc điểm khí hậu này.
Mưa phùn giúp hạn chế tình trạng khô hạn trong mùa khô, đặc biệt vào tháng 12 và tháng 1, khi đây là thời điểm hanh khô nhất và lượng bốc hơi thường lớn hơn lượng nước mưa Độ ẩm không khí trung bình đạt 86%, với những tháng có mưa phùn thường có độ ẩm cao nhất Mặc dù lượng bốc hơi không cao (653mm/năm), nhưng điều này cho thấy khả năng che phủ đất của lớp thảm thực bì vẫn tốt, giúp hạn chế lượng nước bốc hơi, tăng cường lượng nước thấm và duy trì nguồn nước ngầm trong khu vực.
Hệ thống sông Bứa và các chi lưu không chỉ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp địa phương mà còn đóng vai trò quan trọng trong giao thông đường thủy nội tỉnh, mở rộng giao lưu giữa Phú Thọ và các địa phương khác Ngoài ra, lưu vực sông Bứa có địa hình thuận lợi cho việc xây dựng hồ thủy lợi, góp phần phục vụ sản xuất và tạo nên nét "hồn" cho cảnh quan núi rừng Tân Sơn.
Sông Bứa có hai chi lưu lớn là sông Mua và sông Gian, trong đó sông Mua bắt nguồn từ vùng núi cao phía Đông huyện Phù Yên, Sơn La, còn sông Gian từ dãy núi trung bình giữa Phú Thọ và Hòa Bình Hai sông này hội tụ tại Làng Kệ Sơn và đổ vào Sông Hồng tại Phong vực Với tổng chiều dài 120km và chiều rộng trung bình 200m, Sông Bứa có khả năng vận chuyển lâm thổ sản từ thượng nguồn về Sông Hồng một cách thuận lợi.
Vườn quốc gia chỉ nằm trong lưu vực đầu nguồn sông Mua với nhiều nhánh suối bắt nguồn từ các đỉnh núi cao trong vườn
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984, khu vực vườn quốc gia có quá trình phát triển địa chất phức tạp, được các nhà địa chất gọi là vùng đồi núi thấp sông Mua Toàn bộ khu vực này có cấu trúc dạng phức nếp.
Nham thạch có nhiều loại và tuổi khác nhau, phân bố thành các dải nhỏ hẹp Ở phía Tây và Tây Nam, các dãy núi thấp và trung bình được hình thành từ đá trầm tích và biến chất màu đỏ, có kết cấu hạt mịn, thuộc thời kỳ Jura - Creta Từ trung tâm xã Xuân Sơn theo hướng Tây Bắc, có những dãy núi đá vôi cao khoảng 1200m, với màu trắng xám và cấu tạo khối, có tuổi Triat trung Trong dãy núi đá vôi này, thường xuất hiện các thung tròn có nước chảy trên mặt, như thung làng Lạng, làng Dù, làng Lấp, được lấp đầy bởi các tàn tích đá vôi và có suối nước chảy quanh năm, tạo thành những cánh đồng phù sa màu mỡ.
Vườn quốc gia Xuân Sơn được hình thành trên nền địa chất phức tạp với nhiều kiểu địa hình và các loại đá mẹ khác nhau, kết hợp với sự phân hóa khí hậu và thủy văn đa dạng Điều này đã dẫn đến sự hình thành nhiều loại đất với giá trị riêng biệt trong khu vực.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phần mềm QGIS và phân bố của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg )
Nghiên cứu này tập trung vào việc ứng dụng phần mềm QGIS để xây dựng bản đồ phân bố của loài Dẻ tùng sọc trắng, một loài có phân bố hẹp tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Nội dung nghiên cứu
3.2.1.Đánh giá cấu trúc rừng nơi Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố tại VQG Xuân Sơn
- Sinh trưởng rừng nơi Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố
- Cấu trúc tổ thành rừng nơi Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố
3.2.2 Ứng dụng QGIS xây dựng bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp
- Bản đồ phân bố theo đai cao
- Bản đồ phân bố theo độ dốc
- Bản đồ phân bố theo theo trạng thái rừng (sinh cảnh)
3.2.3 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài và ứng dụng QGIS xây dựng bản đồ phân bố cây tái sinh
- Mật độ, chất lượng cây tái sinh
- Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh
- Bản đồ phân bố cây tái sinh theo độ cao, độ dốc và trạng thái rừng
3.2.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo tồn và phát triển loài tại VQG Xuân Sơn- Phú Thọ
- Giải pháp về kỹ thuật
- Giải pháp về cơ chế, chính sách và thu hút nguồn vốn đầu tư
- Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật
- Giải pháp về kinh tế - xã hội.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Cấu trúc rừng nơi Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố tại VQG Xuân Sơn
4.1.1 Mật độ và trữ lượng của rừng nơi Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố
Một số chỉ tiêu về sinh trưởng của rừng nơi Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố được tổng hợp trong bảng 4.1
Bảng 4.1 Mật độ và trữ lượng của rừng nơi có phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp
Bảng 4.1 cho thấy mật độ quần thụ dao động từ 290 cây/ha đến 360 cây/ha, với đường kính trung bình từ 17,11 cm đến 23,4 cm Chiều cao trung bình thay đổi giữa các ô tiêu chuẩn, trong đó ô tiêu chuẩn 1 có chiều cao lớn nhất, còn ô tiêu chuẩn 3 có chiều cao thấp nhất Tương tự, tổng tiết diện ngang cũng lớn nhất ở ô tiêu chuẩn 1 và thấp nhất ở ô tiêu chuẩn 3 Trữ lượng quần thụ giữa ba vị trí lập ô tiêu chuẩn khác nhau rõ rệt, dao động từ 53,73 m³/ha đến 203,46 m³/ha.
4.1.2 Cấu trúc tổ thành rừng nơi Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố
Theo Daniel Marmillod (1958), chỉ những loài có chỉ số IV≥ 5% mới có ý nghĩa sinh thái trong lâm phần Thái Văn Chừng (1978) cho rằng loài cây nào chiếm 50% tổng số cá thể của tầng cây cao sẽ được xem là loài ưu thế Do đó, chúng tôi đã tính tổng số loài có trị số lớn hơn 5%, sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp và dừng lại khi đạt được kết quả mong muốn.
47 tổng IVI đạt 50% Kết quả cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Cấu trúc và mật độ cây gỗ của 3 OTC
Stt Tên loài cây Tổng số cây
Công thức tổ thành sinh thái:
18Trl + 15 Mlt + 8 Trtr + 7 Xđ+ 7Gn+6Bqr+6Ct+5Cl
(Ghi chú: Trl - Trai lý, Mlt - Mò lá to, Trtr - Trân Trắng, Xđ - Xi Đá, Gn - Gội Nếp, Bqr - Bồ Quân Rừng, Ct - Côm Tầng, Cl - Cà Lồ… )
Kết quả khảo sát cho thấy có 8 loài xuất hiện trong cấu trúc tổ thành, trong đó loài Trai Lý nổi bật nhất tại khu vực phân bố của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp.
Bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp
Đề tài ứng dụng phần mềm QGIS 3.6 để xây dựng bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo độ cao, độ dốc và trạng thái rừng
4.2.1 Thông tin về vị trí phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp
Bảng 4.3 : Thông tin về vị trí phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp
Stt Vị trí Tọa độ (X,Y) Độ cao (mét) Độ dốc (độ)
Qua bảng 4.3 cho thấy 10 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân ở độ cao từ
778 m đến 1163 m và phân bố ở độ dốc từ 6 độ đến 45 độ
4.2.2 Bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo độ cao
Thông qua ứng dụng phần mềm QGIS, hình ảnh bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo độ cao được trình bày trong hình 4.1 Tọa độ của cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp được phân tích và liệt kê trong bảng 4.3 Kết quả cho thấy tổng số cây mẹ của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp là 10 cây.
10 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp có:
- 03 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ cao dưới 900 m
- 04 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ cao từ 900 m đến 1100 m
- 03 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ cao trên 1100 m
Kết quả phân bố của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp cho thấy chúng tập trung ở độ cao từ 900m đến dưới 1200m, tương tự như nghiên cứu của Phan Kế Lộc và các tác giả (2017) cùng với Phan Thị Thanh Huyền và Nguyễn Văn Hùng (2017a) Loài này được ghi nhận phân bố rải rác trong rừng nguyên sinh lá rộng thường xanh mưa nhiệt đới trên các dãy núi đá vôi, với độ cao từ 700m đến 1600m.
Hình 4.1: Hình ảnh bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo độ cao
4.2.2 Bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo độ dốc
Qua ứng dụng phần mềm QGIS, hình ảnh bản đồ phân bố cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo độ dốc được trình bày trong hình 4.2 Tọa độ phân bố của cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo độ dốc được phân tích và liệt kê trong bảng 4.3 Kết quả cho thấy tổng số cây mẹ loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp là 10 cây.
10 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp có:
- 01 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ dốc dưới 10 độ
- 03 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ dốc từ 10 độ đến 25 độ
- 03 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ dốc từ 25 độ đến 35 độ
- 03 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ dốc lớn hơn 35 độ
Kết quả phân bố theo độ dốc cho thấy loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp có sự hiện diện trên các địa hình với độ dốc đa dạng, từ những khu vực ít dốc dưới 10 độ cho đến những khu vực rất dốc trên 35 độ.
Hình 4.2: Hình ảnh bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo độ dốc
4.2.3 Bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo trạng thái rừng (sinh cảnh)
Bằng cách sử dụng phần mềm QGIS, hình ảnh bản đồ phân bố của Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo trạng thái rừng được trình bày trong hình 4.3 Thêm vào đó, tọa độ của cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp được phân tích và tổng hợp trong bảng 4.4.
Theo bản đồ hiện trạng kế thừa, trong tổng số 10 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp có:
- 04 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố trong rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh giàu nguyên sinh
- 06 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố trong rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh trung bình
Theo tính toán về hiện trạng rừng theo trữ lượng, trong tổng số 10 cây
Dẻ tùng sọc trắng hẹp có:
- 04 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố trong rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh giàu nguyên sinh
- 03 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố trong rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh trung bình
- 03 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố trong rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh nghèo
Trong bài viết này, tác giả chỉ trình bày bản đồ phân bố của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp, dựa trên trạng thái được kế thừa từ bản đồ hiện trạng năm trước.
Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố rải rác trong các khu rừng thứ sinh lá rộng thường xanh trên núi đá, kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đó của Phan Kế Lộc và các tác giả khác.
(2017) và nghiên cứu của Phan Thị Thanh Huyền và Nguyễn Văn Hùng ( 2017a) Các tác giả cho thấy loài này phân bố rải rác ở trong rừng nguyên
Nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của 54 loài cây lá rộng thường xanh trong môi trường mưa nhiệt đới trên các dãy núi đá vôi Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hiệp và các tác giả (2004), chỉ ra rằng Dẻ tùng sọc trắng hẹp không phải là loài cây chiếm ưu thế ở tầng cây cao, mà loài chiếm ưu thế thực sự là Trai Lý.
Bảng 4.4: Phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo trạng thái rừng
Căn cứ Trạng thái Mã trạng thái Số cây
Theo bản đồ hiện trạng
Rừng gỗ tự nhiên núi đá LRTX giàu nguyên sinh TXDG 4
Rừng gỗ tự nhiên núi đá LRTX trung bình nguyên sinh TXDB 6
Rừng gỗ tự nhiên núi đá LRTX giàu nguyên sinh TXDG 4
Rừng gỗ tự nhiên núi đá LRTX trung bình nguyên sinh TXDB 3
Rừng gỗ tự nhiên núi đá LRTX nghèo nguyên sinh TXDN 3
Hình 4.3: Hình ảnh bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp theo trạng thái rừng
4.3 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài và bản đồ phân bố cây tái sinh
4.3.1 Mật độ và tổ thành cây tái sinh
Kết quả điều tra tổ thành và mật độ cây tái sinh dưới rừng có phân bố
Dẻ tùng sọc trắng hẹp có phân bố tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, nơi có mật độ cây tái sinh thấp chỉ đạt 3787 cây/ha Các loài tái sinh chủ yếu bao gồm Trai lý, Gội nếp, Mò lá nhỏ, Chò xanh, Trâm trắng và Phân mã, trong đó Trai lý chiếm tỷ lệ cao nhất với 20,4% Cây tái sinh Dẻ tùng sọc trắng hẹp chỉ chiếm 3,5%, với chỉ 5 cây được phát hiện trong 15 ô điều tra 25 m², bao gồm 1 cây cao dưới 20 cm, 3 cây từ 50-100 cm và 1 cây cao trên 1 m.
Tổ thành cây tái sinh rừng có phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp:
20,4 Tr + 12,0 Gn + 9,2 Mln + 8,5 Chx + 5,6 Tra + 5,6 Phm + 3,5
Ghi chú các loại cây như Trai lý (Tr), Gội nếp (Gn), Mò lá nhỏ (Mln), Chò xanh (Chx), Trâm trắng (Tra), Phân mã (Phm), Trai trắng (Trt), Quế bạc (Qb), Nghiến (N), Đen (Đ), và Loài khác (Lk) rất quan trọng trong việc phân loại và nhận diện các loài thực vật.
4.3.2 Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh Để đánh giá cây tái sinh toàn diện chúng tôi xem xét nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh và thấy rằng: 05 Cây tái sinh tại 03 ô tiêu chuẩn chủ yếu có nguồn gốc từ hạt là 100% và tất cả các cây tái sinh đều có chất lượng từ trung bình đến tốt
Bảng 4.5: Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh
TT Tên cây tái sinh
Hạt Chồi Tốt TB Xấu
Hình 4.4: Cây tái sinh Dẻ tùng sọc trắng hẹp tại VQG Xuân
4.3.3 Bản đồ phân bố cây tái sinh theo độ cao, độ dốc và trạng thái rừng 4.3.3.1 Bản đồ phân bố cây tái sinh theo độ cao
Thông qua ứng dụng phần mềm QGIS, hình ảnh bản đồ phân bố Dẻ tùng sọc trắng hẹp tái sinh theo độ cao được trình bày trong hình 4.5 Kết quả cho thấy tổng số cây tái sinh Dẻ tùng sọc trắng hẹp là 5 cây Trong số 5 cây tái sinh này, có những đặc điểm nổi bật cần được chú ý.
- 03 cây tái sinh Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ cao từ 900 m đến
- 02 cây tái sinh Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ cao từ 600 m đến
Hình 4.5: Hình ảnh bản đồ phân bố cây tái sinh theo độ cao
4.3.3.2 Bản đồ phân bố cây tái sinh theo độ dốc
Hình 4.6 trong ứng dụng phần mềm QGIS cho thấy bản đồ phân bố của cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp tái sinh theo độ dốc Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có tổng cộng 5 cây tái sinh của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp.
Dẻ tùng sọc trắng hẹp có:
- 01 cây tái sinh Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ dốc từ 20 độ đến
- 02 cây tái sinh Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ dốc từ 30 độ đến
- 02 cây tái sinh Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố ở độ dốc lớn hơn 40 độ
Kết quả phân bố theo độ dốc cho thấy loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp có khả năng tái sinh ở những địa hình có độ dốc từ 20 đến trên 40 độ.
Hình 4.6: Hình ảnh bản đồ phân bố cây tái sinh theo độ dốc
4.3.3.3 Bản đồ phân bố cây tái sinh theo trạng thái rừng
Qua ứng dụng phần mềm QGIS, hình ảnh bản đồ phân bố cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp tái sinh cho thấy tổng số cây tái sinh của loài này là 5 cây Theo hiện trạng rừng kế thừa, trong số 5 cây tái sinh, có sự phân bố cụ thể cần được nghiên cứu thêm.
- 01 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố trong rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh giàu nguyên sinh
- 04 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố trong rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh trung bình