1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ nấm lỗ polyporaceae tại vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ

85 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA HỌ NẤM LỖ POLYPORACEAE TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ PHẠM BÌNH MINH CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI, NĂM

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ

CỦA HỌ NẤM LỖ POLYPORACEAE TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

PHẠM BÌNH MINH

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ

CỦA HỌ NẤM LỖ POLYPORACEAE TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

Trang 3

Cán bộ hướng dẫn chính: TS Lê Thanh Huyền

Cán bộ chấm phản biện 1: PSG.TS Dương Minh Lam

Cán bộ chấm phản biện 2: TS Nguyễn Thành Vĩnh

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày tháng năm 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan luận văn Thạc sĩ là kết quả thực hiện của riêng em Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, khảo sát tình hình thực tiễn tại Vườn quốc gia Xuân Sơn và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tại Khoa Môi trường – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thanh Huyền Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu thông tin được đăng tải trên các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Bình Minh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và toàn thể quý thầy, cô giáo trong khoa Môi trường Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện, cũng như đã tạo điều kiện cho em được thực hiện thí nghiệm trên phòng thí nghiệm của Khoa

Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới giáo viên hướng dẫn TS Lê Thanh Huyền đã tận tình hướng dẫn, góp ý và truyền đạt những kiến thức bổ ích cũng như những định hướng chuyên đề cho em Với luận văn này, em cũng đã củng cố, hiểu biết và đào sâu thêm những kiến thức đã học, kinh nghiệm thực tế thu mẫu để áp dụng vào mục đích cụ thể

Em xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô Bộ môn Công nghệ sinh

học-Vi sinh thuộc Khoa Sinh, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho em được sử dụng kính hiển vi hiện đại của Khoa Sinh

Đồng thời, em xin cảm ơn Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn đã tạo điều kiện cho em được đến khu vực nghiên cứu để tiến hành thực địa tại vườn Cảm ơn em Hoàng Thị Ngọc Ánh đã đồng hành trong quá trình nghiên cứu, cảm ơn vì đã giúp đỡ và đóng góp cho bài luận văn của mình được hoàn thiện hơn

Trong giới hạn khuôn khổ của một luận văn, chắc chắn sẽ không thể bao quát trọn vẹn được hết các vấn đề xoay quanh nội dung của luận văn nghiên cứu Vì vậy em xin chân thành cảm ơn và mong nhận được nhiều ý kiến từ các thầy, cô giáo góp ý bổ sung cho luận văn này

Qua các ý kiến đóng góp, giúp em có thể hoàn thiện hơn vốn kiến thức của mình trong quá trình vận dụng vào thực tế cuộc sống

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của luận văn 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan về Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ 15

1.1.1 Vị trí địa lý 15

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 16

1.1.3 Kinh tế xã hội 18

1.2 Lịch sử nghiên cứu họ nấm lỗ Polyporaceae 4

1.2.1 Tình hình nghiên cứu họ nấm lỗ Polyporaceae trên thế giới 4

1.2.2 Tình hình nghiên cứu của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Việt Nam 5

1.3 Tổng quan về họ nấm lỗ Polyporaceae 6

1.3.1 Khái quát chung họ nấm Lỗ (Polyporaceae) 6

1.3.2 Đặc điểm sinh học của họ nấm Lỗ (Polyporaceae) 8

1.3.3 Đặc điểm họ nấm lỗ Polyporaceae ngoài tự nhiên 11

1.3.4 Đặc điểm của nấm lỗ Polyporaceae trong nuôi cấy thuần khiết 12

1.3.5 Giá trị tài nguyên, ý nghĩa, vai trò của họ nấm lỗ (Polyporaceae) 14

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Địa điểm nghiên cứu 19

Trang 7

2.2.1 Địa điểm thu mẫu 19

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 19

2.3 Thiết bị nghiên cứu 20

2.4 Phương pháp nghiên cứu 20

2.4.1 Phương pháp thu mẫu 20

2.4.2 Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu vật 21

2.4.3 Phương pháp phân tích mẫu vật 21

2.4.4 Phương pháp đánh giá đa dạng về loài 24

2.4.5 Phương pháp định loại nấm lớn 24

2.4.6 Phương pháp phân tích xử lý số liệu 24

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN 26

3.1 Thành phần nhóm loài thuộc họ Polyporaceae và độ đa dạng của loài nấm lỗ thuộc họ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn 26

3.2 Độ đa dạng của các loài nấm tại VQG Xuân Sơn 29

3.2.1 Độ phong phú của các loài nấm tại VQG Xuân Sơn 29

3.2.2 Danh mục các loài nấm đã ghi nhận 31

3.1.3 Kết quả định loại các loài thuộc họ nấm lỗ (Polyporaceaee) 35

3.3 Nghiên cứu đặc điểm phân bố của họ nấm Lỗ Polyporaceae 55

3.3.1 Đặc điểm phân bố của rừng thu mẫu 55

3.3.2 So sánh các đặc điểm phân bố của các loài nấm tại khu vực thu mẫu 58

3.3.3 Lược đồ về sự phân bố của họ nấm tại VQG Xuân Sơn 59

3.4 Vai trò và giá trị sử dụng của họ nấm lỗ Polyporaceaee tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ 60

Trang 8

3.5 Đề xuất các giải pháp tối ưu, nhằm quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú

Thọ 62

3.5.1 Hiện trạng khai thác sử dụng 62

3.5.2 Các giải pháp bảo tồn 63

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Vị trí địa lý Vườn quốc gia Xuân Sơn 16

Hình 1.2 Quả thể và mặt cắt của quả thể 9

Hình 1.3 Đặc điểm hình thái hiển vi [4] 10

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu 19

Hình 2.2 Cấu tạo của nấm 22

Hình 2.3 Một số hình dạng của bào tử 23

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ (%) các mẫu thuộc họ nấm Lỗ Polyporaceae thu được tại khu vực nghiên cứu 28

Hình 3.2 Đặc điểm hình thái bên ngoài và đặc điểm hình thái hiển vi vi loài Hexagonia tenuis 36

Hình 3.3 Đặc điểm hình thái bên ngoài và đặc điểm hình thái hiển vi loài Microporus vernicipes 38

Hình 3.4 Đặc điểm hình thái bên ngoài và đặc điểm hình thái hiển vi loài Microporus xanthopus 39

Hình 3.5 Đặc điểm hình thái bên ngoài và đặc điểm hình thái hiển vi Microporus aff flabelliformis 41

Hình 3.6 Đặc điểm hình thái bên ngoài và đặc điểm hình thái hiển vi loài Microporus affinis 43

Hình 3.7 Đặc điểm hình thái bên ngoài và hình thái hiển vi loài Polyporus arcularius 45

Hình 3.8 Đặc điểm hình thái bên ngoài và hình thái hiển vi loài Polyporus badius 47

Hình 3.9 Đặc điểm hình thái bên ngoài và hình thái hiển vi loài Polyporus leptocephalus 48

Trang 10

Hình 3.10 Đặc điểm hình thái bên ngoài và hình thái hiển vi loài Polyporus

Trang 11

Lỗ (Polyporaceae) tại VQG Xuân Sơn 29Bảng 3.4 Danh mục liệt kê các loài nấm thuộc họ Polyporaceae tại VQG Xuân Sơn 31

Bảng 3.5 Thành phần các loài nấm thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae phân bố

theo sinh cảnh ở KVNC 57Bảng 3.6 Giá trị thực tiễn của các loài thuộc nhóm nấm lớn tại 61VQG Xuân Sơn [30] 61

Trang 13

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Họ và tên học viên : Phạm Bình Minh

Cán bộ hướng dẫn : TS Lê Thanh Huyền

Tên đề tài : Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Tóm tắt:

Bài luận văn trình bày kết quả thu mẫu, xác định thành phần loài, đặc điểm phân bố và độ phong phú của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Tổng cộng thu thập được 30 mẫu thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae Các kết quả nghiên cứu bao gồm: Định danh được 12 loài, thuộc

5 chi nấm của họ nấm lỗ, đồng thời ghi nhận mới 12 loài nấm họ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn; Tính toán độ phong phú và tần suất của các chi nấm thuộc họ nấm Pluteaceae; Xây dựng được lược đồ về sự phân bố của họ nấm lỗ Polyporaceae và đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát triển và khai thác các loài nấm họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Nấm là một trong những thành viên của hệ sinh thái rừng, góp phần tạo nên tính đa dạng của hệ sinh thái Nấm có ở mọi nơi - trong đất, không khí, trong hồ, sông, biển, trên thực vật và động vật, thực phẩm và quần áo, và cả trong cơ thể con người Nấm đã và đang có vai trò rất quan trọng trong tự

nhiên, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong đời sống thực tiễn của

chúng ta, nấm chịu trách nhiệm phá vỡ các chất hữu cơ và giải phóng carbon, oxy, nitơ, phốt pho vào trong đất và bầu khí quyển Nấm còn có thể gây ngộ

độc, ký sinh trên cơ thể con người nhưng cũng cung cấp thực phẩm, chữa lành các vết thương và nhiều bệnh hiểm nghèo Chính vì dựa trên cả hai phương diện khoa học và thực tiễn, việc đẩy mạnh nghiên cứu nấm đều có ý nghĩa to lớn và ngày càng được quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới

Là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với cấu trúc địa chất độc đáo, địa lý thủy văn đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, những kiểu sinh thái khác nhau… đã góp phần tạo nên sự đa dạng của khu hệ nấm Việt Nam Nếu ước tính số loài nấm có thể có trên lãnh thổ Việt Nam gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao (theo ước tính của Hawksworth, 1991-2001) thì số loài nấm có thể có trên lãnh thổ lên tới 70.000 loài Điều đó có nghĩa là hiện nay chúng ta mới ghi nhận được khoảng 1/5 số loài có thể có trên lãnh thổ Việt Nam

Vườn quốc gia Xuân Sơn thuộc địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có

hệ sinh thái rừng khá phong phú, đa dạng của miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung Ở đây, với kiểu rừng nhiệt đới và á nhiệt đới còn tồn tại khá nhiều loài động, thực vật quý hiếm đặc trưng cho vùng núi Bắc Bộ, không chỉ

có giá trị nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, mà còn có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế, khai thác tài nguyên (đặc biệt là tài nguyên sinh vật) và

Trang 15

giáo dục bảo vệ môi trường Ngoài ra, Vườn quốc gia Xuân Sơn còn được coi

là “lá phổi xanh”, là điểm du lịch hấp dẫn nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, có tác dụng to lớn trong việc điều hòa khí hậu, hấp thụ CO2 - chất gây hiệu ứng nhà kính Đó là chưa kể, vai trò phòng hộ đầu nguồn của nó, cũng như việc cung cấp và bảo vệ nguồn nước, cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp

Tại Việt Nam, bên cạnh các nghiên cứu về đa dạng động – thực vật đã có lịch sử lâu dài thì các nghiên cứu thành phần nấm mới chỉ ở mức độ nêu lên danh mục một số loài gặp trong tự nhiên Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về sự đa dạng của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn Chính vì vậy, nhằm xác định thành phần loài, bổ sung cho danh mục khu

hệ nấm Việt Nam, đánh giá tính đa dạng sinh học, xác định loài mới, loài đặc hữu của các chi nấm thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae là rất cần thiết, có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn đa dạng sinh vật tại Việt Nam và trên thế giới

Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được thành phần loài và đặc điểm phân bố của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ;

- Đề xuất các giải pháp tối ưu, nhằm quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ

3 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Điều tra, khảo sát, thu mẫu, phân tích thành phần các loài

thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Trang 16

Nội dung 2: Đánh giá độ phong phú của loài nấm lỗ Polyporacea tại VQG Xuân Sơn

Nội dung 3: Đánh giá sự phân bố của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ

Nội dung 4: Vai trò và giá trị sử dụng của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ

Nội dung 5: Đề xuất các giải pháp tối ưu, nhằm quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ

Trang 17

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2 Lịch sử nghiên cứu họ nấm lỗ Polyporaceae

1.2.1 Tình hình nghiên cứu họ nấm lỗ Polyporaceae trên thế giới

Thế kỷ XVIII - XIX là giai đoạn Nấm học phát triển mạnh mẽ với nhiều công trình nổi tiếng của nhiều các tác giả Năm 1821, Fries chia Polyporaceae

thành 2 dưới chi: Daedalea và Polyporus Năm 1836, Elias Fries tách chi

Trametes từ Daedalea là một chi riêng biệt và được công nhận Cyclomyces

và chi Hexagonia là hợp lệ

Trong 1907-1908, Murill [9] công bố một phân loại họ Polyporaceae của Bắc Mỹ Trong này, ông được coi là không ít hơn bảy mươi tám chi, đặt dưới bốn họ Porieae, Polyporaceae, Fomiteae và Daedaleae Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M.C Aime mà trong đó Kirk P.M.,Cannon P.F.,Stalpers J.A [5] đã viết trong cuốn

từ điển nấm của mình muốn nhấn mạnh nâng ngành phụ nấm Đảm (Basidiomycotina) thành ngành chính (Basidiomycota)

- Theo thống kê trên thế giới đã có đến 500.000 tài liệu nói về nấm, trong

đó nhiều tài liệu đề cập đến những lĩnh vực thành phần loài, đặc điểm sinh thái, đa dạng sinh học của nấm Lỗ

Theo Mao Xiaolan đã nghiên cứu vào năm 2000 ở Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần 2000 loài Phần lớn chúng thuộc các loài nấm Lỗ Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã nghiên cứu về nấm Lỗ ở một

số vùng khác nhau như Radarivetal đã nghiên cứu phát hiện 256 loài nấm Lỗ

ở Tây Ghats bang Maharashtra trong danh lục nấm Lỗ Israel, Daniel Tura (2010) và cộng sự đã ghi chép được 242 loài thuộc 11 chi

Trang 18

Trong rừng mưa nhiệt đới Brazil (2002), Tatiana B Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc trong rừng trên các dạng khác nhau như trên

gỗ, trên cây sống, trên đất

Năm 2013, nhà nấm học cây rừng Nhật Bản Tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia và Thái lan; Nakason K.K đã công bố một số loài thuộc chi Epithele (Polyporales) ở Thái Lan và một số nước khác như Côngô, Nam Phi và Đài Loan Đăc biệt những năm gần đây các nhà nấm học tập trung viêc phân loại nấm Linh chi ở các nước nhiệt đới Mabel Gisela Torres- Torres & Laura Guzmán-Dávalos (2013) đã điếu tra phân loại nấm ở Thái Lan, Malaysia, Singapor và công bố

33 loài mới

Hiện nay ở Nhật Bản, Trung Quốc và nhiều nước khác gần đây rất ưa chuộng nấm Vân Chi dùng để làm thuốc rất hiệu quả Nấm này có Tên tiếng Anh là Turkey tails, tiếng Nhật là Kawaratake, tiếng Trung Quốc là Yun Zhi,

tên khoa học là Trametes versicolor (Linnaeus :Fries) Pilat Trước đây còn có các tên khác như Coriolus versicolor, Polyporus versicolor Về hệ thống phân

loại nấm này thuộc họ Polyporaceae, bộ Aphyllophorales, lớp Hymenomycetes, ngành Basidiomycota

1.2.2 Tình hình nghiên cứu của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Việt Nam

- Ở Việt Nam, nghiên cứu về thành phần loài nấm Lớn nói chung, nấm

Lỗ nói riệng phải kể đến nhiều công trình của Trịnh Tam Kiệt Năm 2014 đã công bố 1821 taxa nấm lớn trong " Danh lục nấm lớn ở Việt Nam”

Trần Văn Mão với đề tài “Góp phần nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số nấm phá gỗ ở vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh” đã công

bố 239 loài

Năm 2001, Lê Bá Dũng nghiên cứu về thành phần loài của chi

Hexagonia Fr ở vùng Tây Nguyên” gồm 5 loài, trong đó Hexagonia rigida

Trang 19

Berk là loài mới cho khu hệ nấm Việt Nam Hội thảo quốc tế sinh học năm

2001 tại Hà Nội có các báo cáo như: Ngô Anh với công trình “Sự đa dạng về công dụng của khu hệ nấm ở Thừa Thiên Huế” gồm 326 loài trong 6 nhóm nấm có ích và có hại; Phan Huy Dục báo cáo “Nấm (Macromyces) ở Vườn quốc gia Tam Đảo Vĩnh Phúc” công bố 41 loài, 17 họ trong 2 lớp Ascomycetes và Basidiomycetes; Trịnh Tam Kiệt và Henrich Dorfelt (2001) báo cáo “Các taxon mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam và ý nghĩa của hệ thống sinh thái của chúng” công bố 9 loài mới cho lãnh thổ Việt Nam

Tổng kết cho đến năm 2001 đã có 1250 loài thuộc khu hệ nấm Việt Nam được công bố

Năm 2017, Đoàn Kim Ngân nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố của họ nấm lỗ (Polyporaceae) tại Vườn quốc gia Cúc Phương, kết quả đạt được là thu được tổng cộng có 170 mẫu được thu thập, định loại được

18 mẫu thuộc 13 chi của họ nấm Lỗ Polyporaceae; tính toán độ phong phú và tần suất của các chi nấm thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae; xây dựng được lược

đồ phân bố của họ nấm lỗ Polyporaceae

Năm 2018, Hoàng Thị Ngọc Ánh nghiên cứu xác định thành phần loài

của chi nấm Polyporus, thuộc họ nấm Lỗ (Polyporaceae) tại Vườn quốc gia

Tam Đảo, kết quả đạt được là 105 mẫu nấm, trong đó có 27 mẫu nấm thuộc

chi Polyporus với 12 loài khác nhau, đã xác định được tên danh pháp cho 12 loài; tính toán độ phong phú và tần suất của chi nấm Polyporus, đánh giá được đặc điểm phân bố của chi nấm Polyporus; đưa ra hiện trạng và phương pháp bảo tồn chi nấm Polyporus

1.2 Tổng quan về họ nấm lỗ Polyporaceae

1.2.1 Khái quát chung họ nấm Lỗ (Polyporaceae)

Nấm có mặt ở tất cả các môi trường trên trái đất và có ý nghĩa rất quan trong đời sống của con người Chúng có vai trò thực tiễn trong nền kinh tế,

Trang 20

khoa học và các chu trình vật chất, năng lượng trong thiên nhiên Cùng với vi khuẩn, nấm là sinh vật phân hủy chính ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn (và một số là ở dưới nước), bởi vậy nên chúng cũng có vai trò quan trọng các chu trình sinh địa hóa

- Phân loại khoa học của họ nấm Polyporaceae:

Phân loại khoa học

Giới (Kingdom) Nấm (Fungi) Ngành (Phylum) Basidiomycota Lớp (Class) Agaricomycetes

 Nhiều loài là dấu ngoặc nhưng những loài khác có một định hình thân cây nấm

 Thân quả thường là một kệ phẳng, hoặc hình móng, nhô ra trực tiếp từ

bề mặt, mặc dù đôi khi nó có thể có một cuống ngắn

 Đôi khi thân quả với nhiều mũ cá nhân và một thân trung tâm rộng

Trang 21

 Trong một số chi, các bức tường giữa một số lỗ chân lông có thể bị ăn mòn hoặc vắng mặt, do đó bề mặt phì nhiêu gồm các tấm (đôi khi rất lang thang hoặc giống như mê cung) chứ không phải là các lỗ chân lông Nhưng trong trường hợp này các đĩa rất cứng và gỗ, không giống như tấm thịt mềm dẻo mà đặc trưng của nấm

 Trong một số trường hợp, bề mặt màu mỡ có thể bị ăn mòn đến độ phì nhiêu gồm các răng cực kỳ hiếm Các loài này cũng được coi là Polyporaceae

1.2.2 Đặc điểm sinh học của họ nấm Lỗ (Polyporaceae)

 Hình dạng quả thể

Quả thể hay thể sinh bào tử của nấm rất đa dạng cụ thể như sau:

- Dạng mũ đính bên (Consolen) mũ hình bán cầu dẹp hay dạng sò, hến, dạng quạt đính vào giá thể trên một diện rộng Quả thể nấm trong trường hợp này thường phẳng, dẹp (Dimidat) Chúng đính đơn độc hay xếp thành dạng ngói lợp, cái nọ trên cái kia Một số nấm có quả thể dày, dạng móng, đính vào giá thể ở toàn bộ bề dày và rộng nhất của móng (ungulut)

- Dạng chải cuộn ngược (Effux – Reflex) có thể nấm dạng rộng trên giá thể và cuộn lên thành dạng vành, dạng mũ hoàn chỉnh, chuyển tiếp nhau Chúng rất phổ biến ở các nấm sống trên gỗ

- Quả thể dạng gò, dạng gối, dạng u lồi (Exioit) rất hay gặp ở những nấm sống trên gỗ Chúng chưa hình thành dạng mũ nấm hoàn chỉnh nhưng dày hơn nhiều so với dạng chải

 Thịt nấm

Thịt nấm cũng rất khác nhau Chúng bao gồm chất thịt - bì, chất bì, chất lie mềm, chất gỗ cứng, chất sừng Họ nấm Lỗ thì đa phần thịt đều cứng Chúng có cấu trúc đồng nhất phân tầng gồm 2,3 lớp có khi có đường đen chạy qua Cấu trúc của thịt nấm và mô của thể sinh sản (Hymenophor) có thể đồng nhất hay khác nhau Thịt nấm rất khác nhau về màu sắc, mùi, vị cũng như

Trang 22

phản ứng với không khí và các chất hóa học, ví như phản ứng với KOH chuyển sang màu tối ở nhiều nấm có mô màu tối

Hình 1.2 Quả thể và mặt cắt của quả thể

a Quả thể; b Mặt cắt; c Thịt nấm (Nguồn sách: Polypores of British Columbia 2017) [4]

 Cuống nấm

Cuống nấm: Thể quả (Basidicocarp) họ nấm Lỗ đa phần chúng không cuống, nếu có thì chúng gồm các kiểu chính sau:

Cuống ngắn

Cuống đính bên (Microporus affinis)

Cuống nấm rất khác nhau về hình dạng: Hình trụ nếu kích thước ở các phần đều nhau Cuống nấm có thể đặc, xốp hay giỗng giữa Chất thịt của

c

Trang 23

cuống tương tự như mũ hay khác nhau như chất thịt dạng sợi, sụn, sừng, gỗ

Trên cuống có thể nhẵn hay có các phần phụ như vảy, lông (như Polyporus

arcularius), vết nứt cũng như vòng và bao gốc đã nêu ra ở trên

 Cấu trúc hệ sợi

Họ nấm Lỗ thường có cấu trúc hệ sợi 2 loại hoặc 3 loại

Hình 1.3 Đặc điểm hình thái hiển vi [4]

a Hệ sợi; b bào tử; c Cấu trúc lỗ nấm; d Cuống sinh bào tử

Dựa vào sự có mặt của các sợi trên trong mô, người ta chia ra các hệ thống sợi nấm sau (Corner, 1950):

Hệ sợi đơn độc (Monomitic hyphesystem) chỉ gồm những sợi nấm nguyên thủy

b

c

d

a Sợi nguyên thủy

Sợi cứng

Trang 24

Hệ sợi hai loại (Dimitic hyphesystem) gồm những sợi nguyên thủy và sợi cứng (Amphimitic hyphesystem) gồm sợi nguyên thủy và sợi bện, cũng còn được gọi là hệ sợi hai loại với sợi bện

Hệ sợi ba loại (Trimitic hyphesystem) gồm cả 3 loại sợi nguyên thủy, sợi cứng, sợi bện trong thành phần của mình Trong đó: Sợi nguyên thủy (Generativ hyphe) là những sợi nấm khởi đầu, màng mỏng, còn chữa nội chất,

có vách ngăn điển hình Chúng có thể có khóa hay không Chúng có thể khác nhau về độ dày, chiều dài của các tế bào, cấu trúc của nội chất bên trong, nhưng bao giờ cũng còn giữ màng ngăn ngang

Sợi cứng (Skleretiv hyphe) Gồm sợi nấm có màng dày, ít hay hầu như không phân nhánh Chúng không có vách ngăn và dĩ nhiên không bao giờ hình thành khóa; thường không chứa nội chất ngay từ giai đoạn đầu của quá trình phát triển, vì vậy thường có dạng ống vách dày Chúng xuất hiện ở phần dính vào giá thể của quả thể nấm và như vậy cùng với sự phát triển của quả thể sẽ kéo dài dần ra và hầu như toàn bộ quả thể nấm

Sợi bện (Bindel hyphe) Sợi nấm trong trường hợp này có màng dày tới màng bình thường, phân nhánh rất nhiều, không có vách ngăn Chúng xuất hiện từ dạng sợi nguyên thủy, mọc xuyên giữa mô, bện kết các sợi khác lại Khi được phân tích rõ cũng có thể nhận thấy đặc điểm sinh học của nấm Lỗ thường rất phong phú

1.2.3 Đặc điểm họ nấm lỗ Polyporaceae ngoài tự nhiên

- Đặc điểm của họ nấm Lỗ trong thiên nhiên một số nấm có khả năng hình thành hạch nấm (Sclerotium) ở nơi mọc tự nhiên của chúng Người ta chia ra 2 loại hạch nấm: hạch nấm thật và hạch nấm giả Hạch nấm thật chỉ tạo nên do sợi nấm bện kết lại, có kích thước rất khác nhau và thường nằm sâu trong gia thể, chỗ mọc lên quả thể Hạch nấm giả (Pseudosclerotium) gồm

Trang 25

cả sợi nấm và giá thể tạo thành Thường gặp ở một số nấm họ nấm Lỗ như

Panus badius

- Về đặc điểm sinh thái bộ nấm Lỗ đã được nghiên cứu nhiều vào thập

kỷ 90 của thế kỷ 20 Theo Trần Tuấn Kha (2014), nghiên cứu của Zong Wu (2009) đã đề cập đến phân bố địa lí của nấm Lỗ mọc trên gỗ Theo tác giả vùng nhiệt đới có 66 loài, chiếm 66%; vùng Cận nhiệt đới (Á nhiệt đới) có 25 loài chiếm 25%, vùng Ôn đới chỉ có 5 loài Wei Yulian (2004) [20] đã kết luận nấm mục gỗ có tác dụng không thể thay thế được trong các khâu tuần hoàn vật chất của hệ sinh thái rừng, làm tăng tính đa dạng của hệ sinh thái, làm giàu rừng

- Mối quan hệ nấm Lỗ với các sinh vật khác, con người và môi trường nhiều tác giả đề cập đến quan hệ với côn trùng, tác dụng diệt tuyến trùng của nấm Lỗ, tác dụng chữa bệnh và kháng ung thư của nấm Lỗ

- Để phân loại tính đa dạng di truyền nấm Lớn Trung Quốc, Zhang Xinbo (2011) đã nghiên cứu tính đa dạng nấm lớn thông qua sinh học phân từ

Về bảo tồn những loài nấm Lỗ nói chung nấm ăn và nấm dược liệu nói riêng, Zhou Liwei (2013) đã chia ra làm 3 loại: loại nguy cơ tuyệt chủng, loại quý và loại hiếm Uỷ ban Bảo tồn nấm Châu Âu (ECCF) cũng đề cập đến và đưa nhiều loài vào danh sách đỏ Châu Âu và từng nước [25]

- Việc ứng dụng toán học để tính toán các chỉ số đa dạng nấm Lớn cũng chỉ mới bắt đầu trong vài năm gần đây sau khi có các chỉ số phong phú, chỉ số đồng đều, chỉ số đa dạng trong nghiên cứu sinh thái thực vật Ví dụ như Rao Jun (2012) đã áp dụng xác định tính đa dạng quần xã nấm Lớn trong 3 kiểu rừng

1.2.4 Đặc điểm của nấm lỗ Polyporaceae trong nuôi cấy thuần khiết

Các công trình nghiên cứu nuôi cấy thuần khiết về nấm tương đối phức tạp và khá công phu Những nghiên cứu ở quy mô ngày càng lớn, toàn diện và

Trang 26

tỉ mỉ hơn đã chỉ ra rằng tốc độ mọc, độ dày, độ lớn, màu săc của sợi, màu sắc của môi trường khác nhau ở những nhóm phân loại khác nhau Có những nhóm nấm, khi nuôi cấy còn giữ màu sắc tự nhiên của mô, tuy có nhạt hơn, ví

dụ như màu đỏ - da cam của chi Pycnoporus

Trong thời gian từ tháng 3/2005 đến tháng 8/2005 tại trung tâm nghiên cứu Linh chi và nấm dược liệu TpHCM và Bộ môn Công Nghệ Sinh Học trường đại học Nông Lâm TpHCM đã có đề tài nghiên cứu tìm kiếm ra các

môi trường nuôi trồng thích hợp đối với vân chi đen Trametes versicolor

Trong đó các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên, lặp lại 3 lần đã thu nhận được một số kết quả như sau: Quan sát hình thái giải phẫu quả thể và hệ sợi nấm vân chi dưới kính hiển vi nhận thấy rằng quả thể nấm vân chi không cuống, hình quạt, cứng, mỏng xếp xen kẽ chồng chất đan xen nhau như ngói lợp, mặt trên tai nấm có nhiều đường đồng tâm có màu sắc thay đổi từ xám tro, nâu đen đến đen, mặt dưới tai nấm màu trắng hay trắng kem, có nhiều lỗ rất nhỏ, thịt nấm mỏng màu trắng Hệ sợi nấm vân chi trong suốt có vách dày, không hoặc ít khi phân nhánh gồm 3 loại: Sợi dinh dưỡng, sợi bện và sợi cứng Bào tử trong suốt, nhẵn, vách mỏng, thon dài hơi cong

Khảo sát môi trường nhân giống cấp một trên các môi trường PSA, BTH, CRA, PSA + Nước dừa 10%, PSA + Nước chiết giá 10%; môi trường BTH ở hai mức nhiệt độ; môi trường BTH ở các pH khác nhau Kết quả cho thấy hệ sợi lan nhanh nhất trên môi trường PSA + Nước dừa 10%, hệ sợi lan tốt ở nhiệt độ phòng (30 ± 2oC ) và ở pH 5 – 5,5 trên môi trường BTH (khoai tây + muối khoáng)

Khảo sát môi trường nhân giống cấp hai với các cơ chất lúa, bắp xay, mùn cưa có bổ sung các thành phần dinh dưỡng khác nhau Kết quả thu được

có sự khác biệt giữa các nghiệm thức và công thức gồm Lúa (80%), Mùn cưa (5%), Cám bắp (5%) là công thức tốt nhất thích hợp cho sự lan của hệ sợi Thí

Trang 27

nghiệm môi trường nuôi trồng ra quả thể vân chi trong điều kiện tại TpHCM với cơ chất mùn cưa có bổ sung cám gạo, cám bắp và các loại phân hữu cơ như Urea, DAP, SA, NPK Qua quá trình khảo sát nhận thấy môi trường Mùn cưa + Cám gạo 10% và Mùn Cưa + Cám bắp 10% có sự hình thành quả thể sớm nhất, tương đối đồng đều và nhiều hơn cả Thí nghiệm khả năng tạo sinh khối nấm vân chi trong môi trường nuôi cấy lỏng PSA, BTH, CRA, PSA + Nước chiết bắp, PSA + Nước chiết giá, PS + Nước dừa với các nồng độ khác nhau Kết quả cho thấy trong tất cả môi trường thí nghiệm, môi trường BTH

có lượng sinh khối cao nhất Ly trích và định lượng các hợp chất trích từ sinh khối thu được ở thí nghiệm trên bằng phương pháp chiết nóng và tủa bằng cồn 96o Kết quả cho thấy sinh khối từ môi trường PSA + Nước dừa 10% có tỉ

lệ polysacharide thô thu được cao nhất qua các lần chiết Khi tiến hành chiết

và định lượng các hợp chất thô từ quả thể và hệ sợi trong môi trường nuôi cấy lỏng BTH cho kết quả: tỉ lệ chất chiết từ sinh khối hệ sợi cao hơn so với chiết

từ quả thể nấm [24]

1.2.5 Giá trị tài nguyên, ý nghĩa, vai trò của họ nấm lỗ (Polyporaceae)

Nấm lớn là nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, là nguồn thức ăn quý được nhân dân ưa chuộng và được xếp vào loại rau sạch rất giàu dinh dưỡng, chứa nhiều protein, các chất khoáng và vitamin (A, B, C, D, E )

Polyporus là một chi nấm trong họ Polyporaceae Nó là một chi được sử dụng

để sản xuất các protein đơn bào để thay thế thực phẩm giàu protein cho người

Trang 28

Kể đến như bệnh tuyến trùng thông là bệnh nguy hiểm của thế giới Gốc chặt cây thông chết có tuyến trùng là một trong những nguồn xâm nhiễm quan

trọng Các tác giả đã đề cập đến sử dụng nấm Lưu huỳnh Laetiporus

sulphureus để diệt tuyến trùng thông Hay chất dioxin được nghiên cứu vào

thập kỷ 90 của thế kỷ trước Đó là một chất độc mạnh có thể chảy theo dòng sông, biển, không khí, đất, tác hại đối với người và ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng

Đặc biệt, nấm lỗ làm nhiệm vụ phân giải lignin, xenlulose, hemixenlulose biến thành các chất hữu cơ đơn giản hoặc thành các chất vô cơ làm chất dinh dưỡng cho các cây con hấp thu, từ đó hoàn thành quá trình tuần hoàn vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái Những năm gần đây các nhà nấm học đã nghiên cứu khả năng làm sạch môi trường của nấm Nhiều loài

nấm Lớn mọc hoang dại như Lentinus, Agaricus bisporus, Auricularia

auricula, Pleurotus pulmonarius có tác dụng tích luỹ và hút các chất độc

trong không khí và đất như Hg, Cd, As, Ag, Ni, Cr còn mạnh hơn cả thực vật (Zhou Qixing, 2008) [21]

Gần đây, các nhà khoa học tìm thấy trong nấm Vân Chi loại hợp chất đa đường PSK (polysaccharide loại Krestin) và loại đạm-đa đường PSP (polysaccharopeptid PSP) có tác dụng ức chế tế bào ung thư và nâng cao hoạt

tính miễn dịch của cơ thể Đối với riêng loài Pycnoporus sanguineus có hình

thành cơ chế liên kết của việc lắng đọng kim loại nặng dùng trong công nghiệp tạo màu và y học [24]

1.3 Tổng quan về Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ 1.3.1 Vị trí địa lý

Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì 80 km, Hà Nội 120 km, có phạm vi ranh giới được xác định như sau:

Trang 29

- Phía Đông: Giáp các xã Tân Phú, Minh Đài, Long Cốc, huyện Tân Sơn

- Phía Tây: Giáp huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La), huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà

Bình)

- Phía Nam: Giáp huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình)

- Phía Bắc: Giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn

Tọa độ địa lý: Từ 21°03' đến 21°12' Vĩ Bắc và từ 104°51' đến 105°01' Kinh Đông

Hình 1.1 Vị trí địa lý Vườn quốc gia Xuân Sơn 1.3.2 Điều kiện tự nhiên

Vườn quốc gia Xuân Sơn mang vẻ đẹp độc đáo của rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, có diện tích vùng lõi 15.048ha và 18.639ha vùng đệm, trong

đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 9.099ha, phân khu phục hồi sinh thái 5.737ha, phân khu dịch vụ - hành chính 212ha; trải rộng trên địa bàn các xã

Trang 30

Xuân Sơn, Đồng Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Kim Thượng, Xuân Đài, thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

- Vườn quốc gia Xuân Sơn có 7 hệ sinh thái chính: rừng trên núi đá vôi; rừng trên núi đất; trảng cỏ cây bụi, tre nứa; nông nghiệp; khu dân cư; rừng trồng và hệ sinh thái các thủy vực Trong số 7 hệ sinh thái thì hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi có nhiều nét độc đáo Với độ cao tối đa so với mặt biển là 1.386m (đỉnh núi Voi), vùng núi đá vôi Xuân Sơn ở độ cao dưới 700m được che phủ bởi kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh cây lá rộng, ẩm, nhiệt đới, cấu trúc 5 tầng, trong đó tầng vượt tán gồm những cây gỗ lớn, đường kính hàng mét, cao tới 30-35m như chò chỉ, sâng, trai, nghiến v.v Ở độ cao

từ 700m trở lên, là kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh, cây lá rộng á nhiệt đới Ngoài một số loại thường xanh hay rụng lá thuộc các họ long não,

dẻ, hồ đào v.v còn gặp một số loại thuộc ngành hạt trần như dẻ tùng sọc trắng hẹp, kim giao núi đá, thông tre lá dài Cấu trúc của kiểu rừng này có 4 tầng, không có tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái cao tối đa không vượt quá 25m Cả hai kiểu thảm thực vật vừa nêu hiện không có nhiều ở nước ta

- Hệ thực vật ở rừng quốc gia Xuân Sơn phong phú với 1.259 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 699 chi, 185 họ, 6 ngành Trong đó có 47 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam, 3 loài được ghi trong sách đỏ thế giới Đặc biệt, rừng chò chỉ ở đây là một trong những rừng chò chỉ giàu đẹp bậc nhất miền Bắc; và có trên 660 loài cây thuốc, 300 loài rau ăn

- Hệ động vật ở Vườn quốc gia Xuân Sơn đa dạng với 370 loài động vật

có xương sống, trong đó: 94 loài thú gồm 22 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam, 223 loài chim với 9 loài quý hiếm cần được bảo vệ, và 53 loài bò sát ếch nhái

Vườn quốc gia Xuân Sơn (KVNC) nằm về phía tây của huyện Thanh Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hoà Bình và

Trang 31

Sơn La Địa hình Vườn quốc gia Xuân Sơn có độ dốc lớn với nhiều chỗ dốc, núi đất xen núi đá vôi, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc Khí hậu tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa; mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô VQG Xuân Sơn có các hệ thống sông suối khá dày, tổng chiều dài của sông 120km, chiều rộng trung bình 150m

1.3.3 Kinh tế xã hội

Thu nhập bình quân trên đầu người trong khu vực vùng lõi và vùng đệm VQG khoảng 7,9 triệu đồng/người/năm Nguồn thu nhập chính của người dân trong khu vực chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc Theo kết quả thống kê năm 2012, VQG Xuân Sơn và khu vực vùng đệm gồm 29 thôn/xóm có 12.559 người với 2.908 hộ; trong đó nằm trong vùng lõi Vườn quốc gia có 2.984 người với 794 hộ

Với lợi thế và tiềm năng, Vườn quốc gia Xuân Sơn có thể khai thác tốt nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh thái, mạo hiểm, khám phá rừng, núi, hang động, các loài động thực vật; du lịch nghỉ dưỡng, nghiên cứu; du lịch cộng đồng tìm hiểu nét độc đáo trong đời sống sinh hoạt của cư dân bản địa,

du khách có thể cùng sinh hoạt với người dân địa phương, tham gia các lễ hội truyền thống, các khâu sản xuất trong làng nghề Mỗi năm, Vườn Quốc gia Xuân Sơn đón từ 5.000-10.000 khách đến làm việc, nghiên cứu, tham quan; trong đó có từ 5-10% khách tham quan du lịch; khách ngủ qua đêm khoảng

700 người

Trang 32

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nấm thuộc họ nấm lỗ (Polyporaceae)

2.2 Địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm thu mẫu

- Địa điểm : Tại Vườn quốc gia Xuân Sơn

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu

+ Quá trình thu mẫu nấm được thực hiện theo tuyến đường 01 tại bản Dù

và tuyến 02 và 03 tại bản Lấp Khu vực thích hợp để thu mẫu là những nơi ẩm ướt có bóng dâm hay ven rừng và trong rừng thì việc thu mẫu cũng diễn ra thuận lợi hơn

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: VQG Xuân Sơn

Trang 33

- Thời gian: Thu mẫu từ ngày 14/04/2018- 06/10/2018

2.3 Thiết bị nghiên cứu

 Dụng cụ, thiết bị trong phòng thí nghiệm:

-Kính hiển vi, lamen kính, lá kính

-Nước, dầu soi kính, KOH 10%

-Isopropamol

-Bút, giấy, máy ảnh

 Dụng cụ để lấy mẫu ngoài thực địa:

- Dao nhỏ: dùng khi đào, lấy mẫu;

- Giấy bạc để gói, đựng mẫu hoặc hộp nhựa

- Máy ảnh để chụp ảnh mẫu ngoài hiện trường;

- Giấy bút ghi chép mô tả nhanh ngoài hiện trường, bút đánh dấu mẫu;

- Máy định vị tọa độ

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu mẫu

Thu thập mẫu:

- Vị trí lấy mẫu: Mẫu nấm được lấy ngẫu nhiên tại các nơi dưới gốc cây, trên thân cây gỗ mục và chủ yếu dọc theo trục đường di chuyển chính của Vườn quốc gia Xuân Sơn

- Thời gian thích hợp lấy mẫu: Sau mưa khoảng 2-3 ngày ta tiến hành lấy mẫu vì mưa nấm phát triển rất nhanh

Lưu ý: Khi thu mẫu cần phải cẩn thận không để mẫu bị dập nát, thu mẫu với các kích thước khác nhau, cả còn non lẫn trưởng thành, nếu mẫu là loài phổ biến với số lượng lớn, cần thu với lượng thích hợp Lấy mẫu: khi phát hiện mẫu nấm lấy máy ảnh chụp ảnh toàn bộ cây nấm (gồm mũ nấm, lá nấm, cuống nấm) Chụp cùng thước kẻ để đo kích thước của nấm có thể đo nhanh

- Định vị khu vực có mẫu nấm và ghi chép lại tọa độ

Trang 34

- Quan sát và ghi chép nhanh các đặc điểm bên ngoài của nấm là: màu sắc, khí hậu đặc điểm tự nhiên tại khu vực lấy mẫu có những loài cây chủ yếu mọc xung quanh cây nấm Nếu biết tên nấm có thể ghi nhanh tên mẫu vào giấy

- Tiếp đến tiến hành lấy mẫu: Dùng dao tách nấm ra khỏi giá thể, khi tách cần lấy cả một mẩu nhỏ gỗ mà nấm sống trên đó Nếu nấm mọc trên đất thì cần lấy cả rễ và loại bỏ bớt đất đi Không lấy những mẫu bị hư hỏng Lưu ý: Những mẫu nấm có kích thước nhỏ, dễ gãy vỡ được đựng riêng trong các

lọ nhỏ, hộp nhựa Không dùng túi nilon để đựng mẫu vì nó không thoát khí

và hơi nước, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển

2.4.2 Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu vật

Mẫu lấy được bảo quản nơi thoáng mát Nếu giấy bọc bị bẩn hay ướt thì được thay thế, mô tả, ghi chép tiếp những đặc điểm của nấm vào phiếu điều tra theo mẫu Chụp ảnh toàn cây nấm, khi bị cắt lớp và rõ mũ nấm

- Nấm được xử lý bằng cách phơi khô tự nhiên, làm khô trong tủ lạnh hoặc sấy bằng máy sấy hoa quả ở nhiệt độ 40-45oC Sau khi nấm đã khô thì cho vào hộp hoặc phong bì giấy kèm theo nhãn, tất cả mẫu đựng trong 1 bao

to hoặc hộp to, cho silicagel để hút ẩm chống mốc, hỏng mẫu

2.4.3 Phương pháp phân tích mẫu vật

 Mô tả đặc điểm bên ngoài cần thể hiện rõ:

- Mũ nấm (pileus): Kích thước, hình dạng, bề mặt, màu sắc

- Thịt nấm (context): Độ dày và màu sắc

- Lá nấm (lamellae): cách đính, khoảng cách, độ rộng, màu sắc

- Cuống nấm (stipe): kích thước, hình dạng, bề mặt, màu sắc ở đỉnh và ở chân, các đính ở rễ

- Mùi, vị, màu sắc bào tử

- Cách mọc và chất nền, địa điểm thu mẫu

Trang 35

Trong ngày sau khi thu mẫu nấm về, dung dao cắt mũ nấm ra khỏi cuống, úp xuống một tờ giấy, lấy cốc úp lại để thu bào tử nấm Tiến hành phân tích mẫu nhờ các thiết bị: kính hiển vi

Hình 2.2 Cấu tạo của nấm

a quả thể nấm; b thịt nấm; c lỗ nấm; d phiến nấm; e cuống nấm

 Cách soi mẫu qua kính hiển vi:

- Mẫu vật phân tích tốt nhất là mẫu tươi vừa mới thu hái hoặc ngay ngày hôm sau sử dụng kính hiển vi để soi mẫu nấm:

- Cắt một mảnh thật nhỏ và mỏng từng bộ phận của nấm như lá nấm, mũ nấm

và cuống nấm để soi các cấu trúc hiển vi Thường dùng các vật kính phóng to

4 lần và 100 lần để soi mẫu

- Bào tử nấm thường được tìm thấy tại lỗ nấm, ta có thể thấy hình dạng phóng

to của chúng dưới vật kính 100 Bào tử thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae thấy dưới một số dạng như hình 2.3 dưới đây

Trang 36

Hình 2.3 Một số hình dạng của bào tử

A Bào tử hình trụ; B Bào tử hình trụ lõm; C Hạt điều; D Dạng hạt thóc; E Thuôn elip; F Elip rộng; G Gần với hình cầu; H Hình cầu; I Gai; J Gai lồi hình hạt thóc; K Vách dày, có nhân, đỉnh lõm

(Nguồn sách: Polypores of British Columbia 2017) [4]

- Lỗ nấm, mũ nấm, thân nấm thường được soi để xem cấu trúc cấu tạo, ví dụ như ở thân nấm sẽ quan sát được cấu trúc dạng sợi (stipitipellis) khi soi bằng vật kính 100

- Những lát cắt mẫu tươi thường được quan sát trong nước cất Khi mẫu nấm quá bé và khô lại, trước khi cắt có thể ngâm vào trong nước cho mẫu phình to

Trang 37

ra để dễ dàng cho việc cắt mảnh mẫu nấm ở từng bộ phận Khi soi tại vật kính

100 phải dung dầu soi kính, sau khi sử dụng xong cần sử dụng isopropamol

để lau sạch kính hiển vi, tấm kính và lamen kính được rửa bằng nước xà phòng tại phòng thí nghiệm

Lưu ý: mô tả hình thái soi kính hiển vi cần vẽ và chụp ảnh lại các hình ảnh: -Hình dạng của bào tử

-Cấu trúc của thân nấm, lá nấm và cuống nấm

2.4.4 Phương pháp đánh giá đa dạng về loài

Các tiêu chí để phân loại các loài

- Đặc điểm bên ngoài: dựa vào các đặc điểm đã mô tả trên phiếu mô tả bao gồm màu sắc, lá nấm, thân nấm, mùi, vị, và môi trường sống, ảnh chụp thực

tế, cần nhận xét các đặc điểm của loài, so sánh sự khác và giống nhau với một

số mẫu vật trên các vùng trên thế giới

- Đặc điểm hình thái trên kính hiển vi: hình dạng của bào tử

2.4.5 Phương pháp định loại nấm lớn

Luận văn dựa theo phương pháp định loại theo khoa phân loại của một số tài liệu dung để định loại nấm Lỗ

+ Nấm lớn ở Việt Nam (tập 1)- GS.TSKH Trịnh Tam Kiệt (2011) [32]

+ Danh mục nấm lớn ở Việt Nam - GS.TSKH Trịnh Tam Kiệt (2014) [35] + Polypores of British Columbia 2017- James Ginns [4]

+ The Macrofungus Flora Of China’s Guangdong Province – Bi Zhishu, Zheng Guoyang, Li Taihui [2]

2.4.6 Phương pháp phân tích xử lý số liệu

Thông tin về phân bố của loài được căn cứ vào mức độ phong phú của loài tại địa điểm nghiên cứu

Trang 38

+ Độ phong phú của loài đƣợc tính theo công thức của Kreds [6]:

P%=(ni/∑n)x100 Trong đó:

P : là độ phong phú của loài

ni: là số cá thể trong khu vực nghiên cứu;

∑ : là tổng số cá thể trong khu vực nghiên cứu;

Trang 39

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN 3.1 Thành phần nhóm loài thuộc họ Polyporaceae và độ đa dạng của loài nấm lỗ thuộc họ Polyporaceae tại Vườn quốc gia Xuân Sơn

 Nhận xét chung về đặc điểm các chi nấm thuộc họ nấm Lỗ Polyporaceae tại VQG Xuân Sơn

Điều kiện môi trường để thu thập được các mẫu nấm thuộc họ Polyporaceae thường ở nơi ẩm ướt, sau mưa từ 7-15 ngày là thời điểm nấm mọc rất nhiều, có thể mọc trên thân cây đang sống, thân cây đổ gần suối hoặc chủ yếu là cành gỗ mục, đang bị phân hủy hoặc chết Kết quả nghiên cứu tại Vườn quốc gia Xuân Sơn thuộc khu vực Phú Thọ sau 3 lần đi khảo sát và thu mẫu thực địa đã thu được 30 mẫu thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae trong đó có

12 loài thuộc 5 chi

Bảng 3.1 Tổng số mẫu và số mẫu thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae ở VQG

Xuân Sơn STT Thời gian lấy

mẫu

Tổng số mẫu

Mẫu thuộc họ Polyporaceae

Trang 40

Bảng 3.2 Phân loại các chi và loài nấm thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae ở

VQG Xuân Sơn ST

Số lƣợng

1 XS.18.19 Hexagonia Fr Hexagonia tenuis

Ngày đăng: 01/03/2019, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w