Những thành tựu mà Freud mang đến cho khoa học loài người nói chung, tâm lý học nói riêng là một khám phá vô cùng lớn về một mảng hiện tượng vô thức ở con người. Hiện nay, những lý thuyết nền tảng của Freud vẫn mang giá trị khoa học cả về lý luận lẫn thực tiễn đối với các ngành khoa học, đặc biệt là tâm lý học và y học. Các nghiên cứu của Freud và các công sự đã có những đóng góp nhất định trong việc làm rõ lý thuyết vô thức, cấu trúc, các cơ chế biểu hiện đa dạng của nó trong đời sống hiện thực của con người.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong dòng chảy của lịch sử tâm lý học, ở mỗi giai đoạn khác nhau đều cónhững đóng góp nhất định đối với tiến trình hình thành và phát triển của khoahọc tâm lý Đặc biệt, một sự kiện không thể không nhắc tới trong lịch sử tâm lýhọc, vào năm 1879, nhà tâm lý học Wilhelm Wundt (1832-1920) đã sáng lập raphòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới tại thành phố Leipzig (Đức)
Sự kiện này đã có một ý nghĩa vô cùng to lớn, được ghi nhận như là mốc khởiđầu xuất hiện tâm lý học với tính cách là một khoa học độc lập
Tuy nhiên, do những hạn chế về thế giới quan và phương pháp luận trongviệc nghiên cứu tâm lý người nên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tâm lý học rơivào tình trạng khủng hoảng phương pháp luận trên con đường tìm kiếm xâydựng tâm lý học trở thành một khoa học thực sự khách quan phục vụ cho cuộcsống của con người Theo đó, các trường phái tâm lý học nổi tiếng tiếp tục ra đời
để nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của những hiện tượng tinh thần với cơ sở
lý luận riêng, đặc trưng cho từng trường phái, như: tâm lý học hành vi, tâm lýhọc Gestal, tâm lý học nhân văn…Trong đó, không thể không kể đến Phân tâmhọc - một trường phái tâm lý học khách quan đi sâu nghiên cứu hiện tượng vôthức trong con người, coi vô thức là mặt chủ đạo của đời sống tâm lý con người,
là đối tượng thực sự của tâm lý học
Được khởi sướng bởi Sigmund Freud, lúc đầu, Phân tâm học không đượcnhiều chuyên gia trong giới tâm lý học và y khoa đương thời ủng hộ Nhưng dần
về sau, trường phái này lại có sức hưởng ứng mãnh liệt, tiểu biểu là sự bùng nổcủa các phong trào Phân tâm học với sự ra đời của những nhà phân tâm mớingoài Freud như Carl Jung, Alfred Adler hay Karen Horney Mỗi nhà phân tâmtiếp thu lý thuyết của Freud và tự phát triển hay tạo ra những lý thuyết Phân tâmhọc riêng theo quan điểm của họ, đóng góp, bổ sung thêm cho nền tảng cơ sở lýluận của Phân tâm học
Sự xuất hiện của Phân tâm học cùng với các trường phái tâm lý học kháchquan khác như: tâm lý học Gestalt; tâm lý học hành vi; tâm lý học nhân văn…đãlàm cơ sở để mở rộng nghiên cứu và phát triển tâm lý học, tạo điều kiện cho sự
Trang 2ra đời của Tâm lý học Mác xít - một nền tâm lý học thực sự khoa học và cáchmạng, thực sự vì sự phát triển con người.
Những thành tựu mà Freud mang đến cho khoa học loài người nói chung,tâm lý học nói riêng là một khám phá vô cùng lớn về một mảng hiện tượng vôthức ở con người Hiện nay, những lý thuyết nền tảng của Freud vẫn mang giá trịkhoa học cả về lý luận lẫn thực tiễn đối với các ngành khoa học, đặc biệt là tâm
lý học và y học Các nghiên cứu của Freud và các công sự đã có những đóng gópnhất định trong việc làm rõ lý thuyết vô thức, cấu trúc, các cơ chế biểu hiện đadạng của nó trong đời sống hiện thực của con người Đồng thời, nó còn là cơ sơ
để lý giải các cơ chế làm nảy sinh liên quan đến các vấn đề sức khỏe tinh thần ởngười, được ứng dụng trong y học và trong tâm lý học tham vấn, trị liệu lâmsàng, tâm lý học tội phạm…
Với ý nghĩa đó, tôi chọn chủ đề: “Giá trị khoa học của thuyết Phân tâm học và khả năng áp dụng thuyết phân tâm học ở Việt Nam làm nội dung viết tiểu
luận
Trang 3I KHÁI QUÁT THUYẾT PHÂN TÂM HỌC
1 Cơ sở lý thuyết của Phân tâm học
Người sáng lập ra Phân Tâm Học là Sigmund Freud (1856-1939), nhà thầnkinh học, tâm lý học người Áo gốc Do Thái, sinh ra ở Tiệp Khắc, du học ở Áo, Pháp,Đức…Từ nhỏ, Freud đã tỏ ra rất thông minh, ông đặc biệt có thiên khiếu về ngônngữ khi ông tự học tiếng La Tinh, Hy lạp, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Anh và Đức
Trong quá trình học tập và làm việc của mình, Freud đã gặp gỡ, tiếp xúc
và học hỏi ở các bậc thầy đi trước về triết học, y học, sinh học, sinh lý thần kinh
và về các phương pháp chưa bệnh tâm thần Từ đó, lý thuyết phân tâm được hìnhthành dựa trên những cơ sở ấy Sau đây là một số tư tưởng của các học giả đã gợi
ý cho Freud xây dựng thuyết Phân tâm học:
a, Tư tưởng của E.W.Brucke (1819 - 1892):
E.W.Bruke là nhà sinh lý học người Đức, ông đã lấy lý thuyết hóa học và
lý thuyết bảo toàn năng lượng để giải thích cho các hiện tượng sinh lý ở người.Sau này, Freud ứng dụng lý thuyết trên vào học thuyết phân tâm ở hai khái niệm
cơ bản: Năng lượng và sự vận động năng lượng
b, Tư tưởng triết học của Leibniz về trạng thái vô thức của các đơn tử:
Là một nhà triết học, Leibniz giải thích thuyết đơn tử của ông trên phươngdiện duy tâm khách quan như sau: “Đơn tử là những thực thể tinh thần thay đổikhông thể phân chia được nữa Toàn thể vũ trụ được hình thành từ những thựcthể tinh thần đó Đơn tử có nhiều trạng thái, trong đó có: Trạng thái ý thức vàtrạng thái vô thức Trạng thái vô thức là đơn giản Ở trạng thái này, con ngườikhông hay biết” Freud đã tiếp nhận khái niệm vô thức và đưa vào học thuyết củamình, trở thành khái niệm trung tâm của Phân tâm học
c, Tư tưởng triết học của A.Schopenhauer (1788-1860) nghiên cứu về khái niệm phi lý, lực phi lý:
Nhà triết học duy tâm người Đức này quan niệm mỗi con người đều có sựphi lý và mãnh lực phi lý (những ước muốn phi lý) Nó đi ngược với lý trí, thúcđẩy và thậm chí chi phối con người hành động một cách mù quáng tựa như vô
Trang 4nghĩa Đặc biệt, Schopenhauer đã đi trước Freud trong khái niệm thăng hoa(thăng hoa là một cơ chế phòng vệ) khi ông nói rằng chúng ta có thể làm dịu bớthay thoát được các mãnh lực phi lý bên trong chúng ta bằng cách dấn mình vào
âm nhạc, thi ca, hay nghệ thuật
d, Phương pháp thôi miên chữa bệnh tâm thần của J.Breuer( 1842-1925).
J.Breuer là nhà sinh lý học và bác sĩ tâm thần người Áo Freud từng làcộng sự của Breuer và Breuer đã giúp Freud rất nhiều trong những thời kỳ thiếuthốn tài chính Năm 1895, ông và Freud cùng công bố công trình: “Các nghiêncứu về chứng Hysteria” Freud đã học tập được Breuer phương pháp trị liệu bằngthôi miên, cho phép những ký ức chìm sâu trong vô thức và tiềm thức trở lại tầng
ý thức Phương pháp này làm thuyên giảm rõ rệt hoặc mất đi các triệu chứng tâmthần, tuy vậy, người bệnh cũng sẽ trải qua nhiều đau đớn và áp lực
Qua việc chữa trị trên các ca cụ thể, Freud nhận thấy phải tiến hành phântích tâm lý để tìm ra nhân tố vô thức làm phát sinh các triệu chứng bệnh khácnhau Các nhân tố này (các ký ức, xung năng bị dồn nén) hiện đang bị mắcnghẽn, ẩn giấu sâu và bị kháng cự phải nhớ lại bởi bệnh nhân (khi bệnh nhân hồitưởng) Về sau, Freud phát triển phương pháp “liên tưởng tự do”, phương pháp
mà Freud cảm thấy hiệu quả hơn và gây ít áp lực, đau đớn hơn cho bệnh nhân
e, Tư tưởng về sức mạnh của đam mê tính dục trong các hiện tượng tâm thần của bác sỹ tâm thần Pháp M.Charcot (1825-1893):
Tư tưởng này đã ảnh hưởng rất lớn đến Freud trong thời gian ông theo họcCharcot Về sau, Freud đã cất công nghiên cứu nhằm làm rõ hiện tượng đam mêdục tính ở con người trong công trình nổi “Ba tiểu luận về lý thuyết tình dục”(1905) Có thể thấy, các vấn đề trong học thuyết của Freud đều được xây dựngtrên cở sở tính dục Cùng với đó, Freud còn được học hỏi người thầy Charcot củamình rất nhiều về chứng hysteria, loại rối loạn mà Charcot đặc biệt quan tâm
2 Nội dung cơ bản của thuyết Phân tâm học
Học thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud được thể hiện qua các luậnđiểm chủ yếu sau:
a, Quan niệm về bản chất của tâm hồn, tâm lý con người:
Trang 5Vô thức theo Freud chính là bản chất của hiện tượng tâm lý người, trungtâm của lý thuyết Phân tâm học Vô thức được hiểu là các quá trình xảy ra trongtâm trí người một cách tự động mà con người không kiểm soát được Với Freud,mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn từ vô thức Ông cũng thừa nhận sự cómặt của ý thức nhưng ý thức chỉ đóng vai trò nhỏ bé đối với các hiện tượng tinhthần Trong các loại vô thức thì đam mê tính dục có một vị trí đặc biệt quan trọngtrong toàn bộ đời sống tâm lý con người Đam mê tính dục tạo ra nguồn nănglượng cực kỳ mạnh mẽ là libido thúc đẩy con người trong các phương diện nhưsuy nghĩ, tình cảm lẫn hành vi và cũng là nguyên nhân gây ra các bệnh tâm thần.
Vai trò quan trọng của vô thức trong đời sống được Freud làm rõ trong cáccông trình: nghiên cứu về chứng hysteria, giải mã giấc mơ, lý thuyết tính dục vàrất nhiều vấn đề khác
* Những nghiên cứu về chứng Hysteria:
Hysteria là một chứng bệnh tâm thần thường gặp ở phụ nữ với triệu chứng
là các cơn bộc phát cảm xúc, hành vi như đóng kịch (diễn), các triệu chứng độtngột về thể chất như tự nhiên bị câm hoặc bị liệt một chân rồi một thời gian sautrở lại bình thường Người ta tin rằng đây là bệnh tưởng tượng và không quantâm nhiều đến việc chữa trị vì không phát hiện thấy những tổn thương thần kinh,nhất là ở não Freud không chấp nhận cách hiểu này và cố gắng đi tìm cănnguyên Quan sát các ca bị Hysteria, ông nhận ra họ có những nét tâm lý đặc biệtkhông giống những người bình thường ở hành vi của họ (lời nói, cử chỉ, điệu bộ,
…) như có một lực vô hình khiến bệnh nhân không tự chủ được bản thân Cácnghiên cứu của Freud và Breuer chi ra:
Thứ nhất, người mắc chứng Hysteria có nhiều chấn thương bộ phận nhưngkhông có tác động gây ra chấn thương ấy Thứ hai, các triệu chứng của Hysteria
sẽ thuyên giảm hoặc mất đi khi người bệnh được khơi gợi rõ ràng các ký ức vềtác động khởi phát hay cụ thể là ký ức về một hoàn cảnh, sự kiện đã gây nênnhững xúc động mãnh liệt cho bệnh nhân trong quá khứ nhưng bị chôn dấu (đaubuồn, lo âu) và hiện tại mối xúc động liên quan tới ký ức đó được đánh thức gâynên các triệu chứng Thứ ba, trong các ca bệnh, thông thường bệnh nhân khó nhớ
Trang 6lại những điều thực sự gây bệnh Trí nhớ của người bệnh không hề giữ lại mộtdấu vết nào của những tình tiết đã trải qua hoặc nếu có, chúng được lưu giữ ởdạng sơ sài nhất (không rõ ràng, cụ thể) Một khi người bệnh sực nhớ lại nhữngđiều thực sự họ đã trải qua, họ cảm thấy đau đớn và khổ sở.
Cuối cùng, theo Freud, xung lực tình dục đóng vai trò rất lớn cho sự hìnhthành của Hysteria (Quan điểm này của Freud đã bất đồng với Breuer nên haingười sớm kết thúc mối quan hệ bạn bè)
Như vậy, Freud đi đến kết luận: Để hiểu được các chứng nhiễu tâm nóichung và Hysteria nói riêng, cần phải tìm cho được cái vô thức là nguyên nhân gâybệnh nằm ở ẩn dưới các triệu chứng Muốn vậy, cần phải tiến hành phân tích tâm lý(phân tâm) trong vô thức của người bệnh Sự kiện Breuer điều trị cho một bệnhnhân tên Anna.O chính là ví dụ chứng minh cho các luận điểm được nêu trên
* Lý giải giấc mơ:
Năm 1900, ông công bố công trình “Lý giải các giấc mơ” qua một thờigian đi đâu vào phân tích các giấc mơ của con người Đây là một thành công củaFreud giúp mở ra con đường khám phá cái vô thức Từ các ca lâm sàng trongchữa bị bệnh tâm thần, ông đưa đến kết luận rằng: Thứ nhất, các giấc mơ không
xa lạ nhưng khó hiểu với người nằm mơ Thứ hai, các giấc mơ đều có một ýnghĩa nào đó Ý nghĩa này là nguyên nhân gây nên giấc mơ đó Thứ ba, nội dung
mà giấc mơ thể hiện chỉ là sự ngụy trang hợp lý cho một cái “ý tưởng tiềm ẩn”hay nói cách khác là sự “thực hiện trá hình ham muốn bị dồn nén vào vùng vôthức” Qua phân tích nhiều giấc mơ khác nhau, Freud đưa đến nhận định: các vôthức trong giấc mơ đều dùng một tượng trưng nào đó để biểu hiện nhất là đối vớinhững mặc cảm tính dục
Từ việc làm rõ đặc thù của giấc mơ, ông chỉ ra 5 cơ chế chính của giấc
mơ, đó là: Cô đặc, Di chuyển, Kịch hóa, Tượng trưng hóa, Chế biến lần thứ hai
Cơ chế tượng trưng hóa luôn xuất hiện trong các giấc mơ chẳng hạn dương vậtcủa người đàn ông được thay thế bằng các vật tượng trưng như: gậy, que, cây,dao, kiếm, súng lục, Con âm vật của phụ nữ được thay thế bằng: hầm, hố, cácdạng hộp, cổng nhà…Một trong những giấc mơ nổi tiếng của Freud mà ông đã
Trang 7phân tích đó là giấc mơ về người mẹ của ông Nội dung của điều này sẽ được đềcập trong phần “Các giai đoạn phát triển tâm tính dục”.
c, Lý thuyết tính dục:
“Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục” là một trong những tác phẩm quantrọng trong học thuyết Phân tâm của Freud Công trình này nhằm làm rõ cơ cở lýthuyết các chứng nhiễu tâm, giải thích nhu cầu dồn nén và những nguồn năng lựcxúc cảm (libido) nằm bên dưới vận động và những ứng xử của con người Tuyvậy, quan điểm này bị phê bình, chỉ trích do đi ngược lại với nhiều quan niệm cũ
về đời sống tình dục Trong công trình này, Freud chỉ rõ: (1) Đời sống tính dụccủa con người biểu hiện ngay từ khi con người sinh ra Khái niệm tính dục rộnghơn với khái niệm sinh dục, tính dục bao gồm cả những hoạt động không liênquan tới cơ quan sinh dục (quan hệ tình dục), (2) đời sống tính dục bao hàm chứcnăng cho phép thu nhận các khoái cảm từ những vùng khác nhau trên cơ thể
Freud cho rằng, mối liên hệ mật thiết đầu tiên của trẻ đó là sự giao lưu với
mẹ hoặc người chăm sóc giữ vai trò như mẹ khi trẻ được sinh ra Ở tuổi ấu thơ,trẻ say mê mẹ của mình, đặc biệt là bé trai nhưng lại không được giành mẹ nómột cách hoàn toàn trước áp lực và những cản trở của người bố Trẻ ganh tị vàtranh chấp thầm kín việc sở hữu mẹ với người bố Freud đặt tên cho tình huốngnày là mặc cảm Odipe, dựa theo một thần thoại Hy Lạp cổ rằng: Oipipous giếtvua cha để cưới mẹ của mình
Từ những phân tích khá sâu sắc về tính dục, Freud xem xét các hiện tượngloạn luận, ác dâm, khổ dâm, giao hợp với thú vật,…, tất cả đều là những hiệntượng có thật trong đời sống tính dục của con người Đặc biệt, Freud phân tíchkhác sâu sắc những biến đổi tính dục ở tuổi dậy thì sau khi chấm dứt thời kỳ tiềm
ẩn Điều này đã khẳng định khái niệm Libido và chứng minh cho sức mạnh củacái vô thức với sự chi phối của cái gọi là đam mê tính dục
b, Cấu trúc nhân cách theo lý thuyết Phân tâm học của Freud:
Cấu trúc nhân cách trong Phân tâm học gồm có 3 khối cơ bản: ID - cái Nó,Superego - cái Siêu tôi và Ego - cái Tôi:
* ID - cái Nó:
Trang 8Cái Nó bao gồm tất cả những khía cạnh được quy định bẩm sinh (được di truyền), là cái vô thức được ẩn dấu sâu bên trong bộ máy tâm thần Cái Nó đượcvận hành bởi bản năng cơ bản như tính dục và xâm kích với xung lực chính lànăng lượng libido Freud coi những bản năng ấy là xung năng thúc đẩy hành vicon người
Cái Nó hoạt động theo nguyên tắc nguyên tắc thỏa mãn (khoái cảm/khôngđổi) Nó tìm kiếm sự thỏa mãn tối đa ngay lập tức.” (Ngoài bản năng tính dục,cái Nó còn có sự hiện hữu của một xung lực khác là bản năng chết (bản năng tựhủy), thể hiện qua các hành vi gây nguy hiểm cho cơ thể nhằm tự hoại hoặcchấm dứt sự sống như rạch tay, tự tử, Bản năng tính dục được Freud coi là bảnnăng sống, là nguyên nhân đích đến cho mọi hoạt động của con người
* Superego - cái Siêu tôi:
Cái Siêu Tôi được coi là những đạo đức cá nhân và các giá trị xã hội, biểutrưng cho sự áp chế, định khuôn cá nhân theo mong muốn từ bên ngoài Chínhcái Siêu Tôi tạo ra mặc cảm tội lỗi nếu cá nhân vi phạm những chuẩn mực xãhội, kiềm hãm sự thỏa mãn các mong muốn từ cái Nó
* Ego - cái Tôi:
Là thành tố hiện thực của nhân cách, cái Tôi tuân theo nguyên tắc hiệnthực và cũng hướng đến việc tối đa hóa sự thỏa mãn của mình (ảnh hưởng củacái Nó), nhưng dưới sự kiểm tỏa của thế giới thực (ảnh hưởng của cái SiêuTôi).Về mặt nguồn gốc, cái Tôi được xem là một phần của cái Nó nhưng bị táchkhỏi cái Nó để tiếp xúc với cái bên ngoài, tức cái Siêu Tôi
Ba khối này liên tục đấu tranh với nhau để giành quyền kiểm soát Nếu ở
cá nhân mà một trong hai khối là khối Id hoặc khối Superego giành được sựkiểm soát thì cá nhân đó sẽ nảy sinh các vấn đề về sức khỏe tinh thần hoặc cómột sự dị thường về nhân cách Ngược lại, cá nhân có được sự kiểm soát củakhối Ego sẽ có một đời sống tâm lý cùng một nhân cách “khỏe mạnh”
c, Các giai đoạn phát triển của tâm lý tính dục:
Trang 9* Giai đoạn môi miệng (Từ 0 đến 1 tuổi): Đặc trưng bởi việc cá nhân
thỏa mãn ham muốn tính dục qua đường miệng như ngậm, bú, mút hoặc khámphá các sự vật bằng miệng Trong giai đoạn này, trẻ chỉ có cái Nó
* Giai đoạn hậu môn (1 đến 2 hoặc 3 tuổi): Ở giai đoạn này, trẻ thỏa mãn
thông qua con đường hậu môn băng cách đại tiện Freud cho rằng, việc huấnluyện vệ sinh lần đầu tiên giúp trẻ nhận biết được cách hành động của chúng ảnhhưởng đến người khác và học cách thay đổi hành vi bản thân để làm hài lòngnhững người này Bố mẹ đóng vai trò quan trọng trong sự huấn luyện này Nếutrẻ thỏa mãn yêu cầu của bố mẹ, chúng sẽ được tán thương Ngược lại, chúng sẽ
bị trách phạt nếu không làm theo yêu cầu của họ Cái Tôi từ đó được hình thànhtrên kỳ vọng thực tế của bố mẹ và mong muốn đi vệ sinh của trẻ
* Giai đoạn dương vật (từ 3 đến 5,6 tuổi):
Trong giai đoạn này cái siêu Tôi bắt đầu phát triển Giai đoạn dương vậtđặc bởi ở việc: trẻ nam xuất hiện các ham muốn tính dục (loạn luân) đối với mẹcủa mình, những ý muốn này được vận hành bởi sự thôi thúc của cái Nó Cái Tôilúc này có thể phán xét, đánh giá những hậu quả thực tế và nhận ra rằng đứa trẻ
ấy có thể chịu sự áp lực, phản đối của chính bố mình, “người tình địch”
Vì nó thấy cha nó mạnh hơn nó rất nhiều, nên đứa con trai bắt đầu cảmthấy mối lo âu bị thiến, khiến nó kiềm chế các ham muốn tính dục và hiếu chiếncủa nó Đứa con trai giải quyết chuyện này bằng cách tự đồng hóa với cha nó;đồng thời, coi những giá trị đạo đức của cha làm cái Siêu Tôi của chính nó Hiệntương này được Freud gọi là mặc cảm Odipe Tuy vậy, những các ước muốn bị
ức chế này không biến mất; chúng tồn tại như là những mãnh lực trong vô thức
và có ảnh hưởng quan trọng trong cuộc đời con người
Hoàn cảnh của bé gái thì rất khác Nó kinh nghiệm một cảm giác được gọi
là mặc cảm Electra Giống như con trai, con gái bắt đầu có một sức thu hút và gắn
bó mạnh với mẹ nó Nhưng nó sớm biết rằng nó không có dương vật và nó đổ lỗi
mẹ nó về chuyện này Giờ đây nó có cả các tình cảm tích cực lẫn tiêu cực về mẹ
nó Đồng thời nó biết rằng bố nó có của quý và nó muốn sở hữu bộ phận đó của
Trang 10bố Điều năy tạo ra một sự thu hút tính dục đối với cha nó, nhưng sự kiện cha nó
có dương vật mă nó không có, nín nó cảm nghiệm sự ghen tuông dương vật
Nó tin rằng nếu quan hệ tình dục với bố, nó sẽ có dương vật một câch tạmtời (đưa dương vật văo đm hộ hoặc miệng) Hơn nữa, nếu có mang, bĩ gâi sẽ cóthể mang dương vật đến cho thế giới bằng câch sinh một bĩ trai Từ đó, bĩ gâiphât triển những ham muốn loạn luđn với bố dẫn đến việc nó đồng nhất mình với
mẹ của nó Việc năy cho phĩp nó quan hệ tình dục với bố một câch tưởng tượngkhi mẹ nó quan hệ tình dục với bố vă cũng đẫn đến việc nó học tập được nhữnggiâ trị đạo đức của mẹ (trở thănh câi Siíu Tôi của chính nó)
Cơ sở hình thănh nín quan điểm năy nằm ở giấc mơ của Freud về người
mẹ của ông: Trong giấc mơ, mẹ của Freud đang ngủ an lănh, vă có hai người trínmặt có câi mỏ chim bế bă văo một căn phòng Sau khi đưa bă văo phòng, haingười mặt chim năy đặt bă lín giường Freud liín tưởng tự do về giấc mơ năy vẵng khâm phâ ra rằng những người mặt chim lă biểu tượng câi chết vì họ giốngnhững thần mai tâng Ai Cập mă ông đê thấy trong cuốn Kinh Thânh Biểu hiệntrín nĩt mặt của mẹ ông rất giống với biểu hiện Freud đê thấy trín khuôn mặtông nội của Freud ngay trước lúc chết Vì vậy hình ảnh được đưa văo trongphòng lă hình ảnh cô đọng, biểu tượng cho cả mẹ vă ông nội của Freud
Tiếp tục liín tưởng tự do dẫn Freud tới kết luận rằng hình ảnh ông nộiđang hấp hối lă biểu tượng về một người cha đang hấp hối vă việc ông thầm ướccho cha ông chết Freud sau đó nhận ra rằng mặc dù ông thầy mình yíu cha,nhưng trong vô thức ông thù nghịch với cha ông ngay từ tuổi thơ ấu Tiếp tụcliín tưởng tự do thím nữa, ông thấy rằng giấc mơ cũng có bản chất tính dục Mộttrong câc điều dẫn Freud đến kết luận năy đó lă từ tiếng Đức để chỉ về quan hệtình dục rất giống từ chỉ về con chim
Do đó những người mặt chim lă một biểu tượng cô đọng chỉ về cả sự chếtlẫn tính dục Vậy đối tượng của ước muốn tính dục năy mă giấc mơ biểu tượng
lă gì? Freud kết luận rằng, bởi vì mẹ ông đê từng lă nguồn khoâi cảm lớn nhấtcủa ông khi ông có giấc mơ lần đầu tiín, nín bă chính lă đối tượng của ướcmuốn tính dục của ông
Trang 11Ông gọi sự thù nghịch này đối với cha ông và sự thèm muốn mẹ ông làmặc cảm Oedipus vì trong huyền thoại Hy Lạp Vua Oedipus, Oedipus đã giếtcha và lấy mẹ ông làm vợ mà ông không biết Vì mọi con trai đều có một sự gầngũi thể xác với mẹ nó (mẹ tắm cho nó, đánh, vuốt, nựng nó), nên Freud nghĩ rằngcác con trai có thèm muốn tính dục với mẹ nó là điều tự nhiên Đây chính là
cơ sở để hình thành quan điểm về sự phát triển tâm tính dục, đặc biệt là mặc cảmOdipe và Electra
* Giai đoạn tiềm ẩn (từ 6 đến 12 tuổi): Các ham muốn tính dục và xung
năng được ẩn tàng, chuyển thành năng lượng để thực hiện các hoạt động hợp vớilứa tuổi như học tập, vui chơi thể thao, đầu tư cho sở thích
* Giai đoạn sinh dục (12 tuổi trở đi): Các ham muốn tính dục và xung
năng được khơi dậy và kéo dài cho đến hết cuộc đời Cá nhân được điều chỉnhbởi hai xung năng cơ bản: tính dục và xâm kích (bạo lực, tự hủy) Cơ thể cá nhânsinh ra cả năng lượng tính dục (libido) và cả năng lượng xâm kích Cá nhân khỏemạnh giải phóng năng lượng này thông qua các hoạt động thích hợp: Quan hệgiới tính (Tình dục/Tình cảm) với những người trưởng thành, chơi các môn thểthao, lao động, học tập…
Nếu không có những phương thức giải tỏa như vậy, năng lượng sẽ tích tụcho đến khi nó không thể kiềm hãm được nữa và được giải phóng ra với mộthình thức không được kiểm soát (do vô thức dẫn dắt) Để tránh giải tỏa nhữngxung năng này một cách không thích hợp (đi ngược lại với bên ngoài, cái SiêuTôi), cái Tôi lập nên các cơ chế phòng vệ vô thức khác nhau để làm chệch hướng
và phong tỏa chúng
d, Nguyên nhân của các vấn đề sức khỏe tinh thần:
Các vấn đề về sức khỏe tinh thần hoặc là kết quả từ sự lo hãi của cái Tôi,hoặc là do các cơ chế phòng vệ mà cái Tôi dựng lên nhằm ngăn những lo lắngnày chuyển thành ý thức Sự sợ hãi của cái “tôi” liên quan đến những trải nghiệmkhông tốt của cá nhân vào đầu thời kỳ thơ ấu (quá khứ)
Chúng có thể dẫn cá nhân đến chỗ bị cấm chốt ở một giai đoạn phát triển cụthể nào đó (Sự thất bại trong việc cân bằng hai khối ID và Superego) và khiến cho cá
Trang 12nhân cư xử theo cách tương ứng với giai đoạn phát triển đó ngay cả khi mình đãtrưởng thành Những hành vi này hình thành nên một cơ chế phòng vệ để chống lại
sự lo âu do trải nghiệm tuổi thơ và ký ức về nó gây ra Chức năng của các cơ chếphòng vệ là để tránh cho các cá nhân khỏi nhận biết nỗi đau mà họ đang trải nghiệm
Bảng 1: Một số đặc trưng nhân cách tuổi trưởng thành liên quan đến thất bại trong các giai đoạn phát triển theo lý thuyết của Freud
Hậu môn Ngoan cố, rối loạn ám ảnh, cưỡng bức, khổ dâm
- bạo dâmDương vật Vấn đề về xác định giới tính, nhân cách chống
đối xã hộiTiềm tàng Kiểm soát bản thân không đúng mức hoặc quá
đáng
Cá nhân còn sử dụng các cơ chế phòng vệ để đương đầu với lo âu của cái Tôi
Bảng 2 Một số cơ chế phòng vệ theo Freud
Dồn nén Yếu tố gây lo âu bị khóa trong vô thức
Phủ nhận Ngăn cho yếu tố gây lo âu bước vào ý thứ/Chối
bỏ sự tồn tại của yếu tố gây lo âuChuyển di/Thay thế Chuyển xung năng gây lo âu (xung năng không
được chấp nhận) cho khách thể khác
Tổ chức phản ứng Bộc lộ những hành động ngược lại với mong
muốn không được chấp nhậnThăng hoa Chuyển xung năng không được chấp nhận theo
cách tượng trưng Thoái lui Quay trở về giai đoạn cảm thấy có sự an toànHuyễn tưởng Thỏa mãn ham muốn trong tưởng tượng
Trang 13Đồng nhất hóa Bắt chước một người có quyền lực
Hoán đổi Bộc lộ các yếu tố gây đau khổ tinh thần thông
qua các triệu chứng cơ thểTháo gỡ Hành động lặp lại nhằm chuộc lỗi cho một
hành vi hay xung năng không được chấp nhậnHợp lý hóa Bào chữa, biện hộ cho hành vi, xung năng gây
lo âu
Lý trí hóa Dùng những lý luận logic để giải thích cho các
hành động và xung năng gây lo âuTri thức hóa Tiếp thu nhiều kiến thức để tạm quên đi các
xung năng gây lo âu
Vào cuối những năm 30 của thế kỷ XX, dựa trên nền tảng về học thuyếtphân tâm của Sigmund Freud, các công sự và học trò của Freud đã kế thừa vàphát triển hình thành phân tâm học mới Carl Jung (1897-1961) - người có côngphát triển học thuyết Freud, người tuyên truyền phổ biến Freud; Adler (1870-1937); K.Horney và người nổi bật trong số này là Erich Fromm (1900-1980)nhằm khắc phục một số hạn chế của phân tâm học của Freud Nhìn chung, cáctác giả trên đã:
Không chấp nhận việc quy tất cả các hoạt động của con người vào bảnnăng tính dục mà có bàn thêm một số yếu tố khác
Họ có chú ý hơn đến yếu tố xã hội trong hình thành nhân cách người
Đồng thời, họ quan tâm nhiều hơn đến các biện pháp tác động nhằm thứctỉnh những yếu tố phê phán trong ý thức cá nhân nhằm thay đổi lý tưởng, cácđịnh hướng giá trị
Xu hướng chung của phân tâm học mới là nhân đạo hơn, thể hiện lo lắngtrước sự tha hoá của con người, muốn xây dựng một phân tâm học mới thực sựtốt đẹp hơn.Về phương diện này, Adler đã đề xuất quan niệm “ý chí hùng bá”nhằm khắc phục mặc cảm tự ty vốn có trong con người, tạo cho con người cómột sức mạnh hơn vượt qua những giới hạn trung bình của cuộc sống
Trang 14Carl Jung (1875-1961) đã nhấn mạnh tới tính cách bẩm sinh Ông phân biệthai loại nhân cách:
Kiểu người hướng nội, luôn thể hiện kín đáo, từ tốn trong xử sự Kiểu
người này luôn có cảm giác bất an trong khung cảnh xã hội hiện tại và xuất hiệnkhuynh hướng muốn tách khỏi xã hội để sống với chính mình
Người hướng ngoại, có xu hướng mở rộng ra thế giới bên ngoài, thích sống trong sự liên hệ và bộc lộ tình cảm với người khác Về vô thức, theo Jung
không chỉ là vô thức của cá nhân mà Ông còn nhấn mạnh đến vô thức tập thểđược thể hiện trong những hình thức và nội dung của tất cả các tôn giáo
E Fromm (1900 - 1980) nhà phân tâm học, nhà xã hội học Mỹ gốc Đức, làmột trong những nhà tâm lý học theo dòng phân tâm nổi tiếng nhất hiện nay.Fromm là người phê phán cả S.Freud và Karl Marx, chủ trương đem phân tâm
học cuả Freud nhập với xã hội học, triết học của Marx để trở thành “Phân tâm học nhân đạo chủ nghĩa”
Trong các nghiên cứu của mình Fromm đã chú ý nhiều đến cái tự nhiêntrong con người và trong xã hội tạo thành cái cơ chế vô thức không nhận thứcđược ở mỗi con người Nhờ cơ chế tự nhiên này mà nhân cách con người cóđược tính cách xã hội Sự tha hoá của con người trong xã hội tư bản theoFromm, không phải là tội lỗi do chế độ tư bản đẻ ra mà là một hiện tượng tâmlý- xã hội tất yếu
Tóm lại, sự xuất hiện của Phân tâm học một cách khách quan đã làm choTâm lý học phát triển Những thành tựu mà Freud mang đến cho khoa học loàingười nói chung, Tâm lý học nói riêng là một khám phá vô cùng lớn về mộtmảng hiện tượng vô thức ở con người mà cho đến nay trên lĩnh vực này chưa có
ai vượt qua được Freud
Đồng thời, Freud đã đề xuất ra một phương pháp ‘‘liên tưởng tự do’’nhằmgiải tỏa tâm lý, chữa trị cho các bệnh nhân tâm thần Phươg pháp này đã được sửdụng rộng rãi và có hiệu quả trong các bệnh viện tâm thần Công lao của Fruedtrong lĩnh vực này rõ ràng không hề nhỏ
Trang 15II GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM.
1 Giá trị khoa học của thuyết phân tâm học
Thứ nhất, chúng ta đều thừa nhận những đóng góp khoa học to lớn mà
S.Freud đã mang đến cho khoa học tâm lý S.Freud là người có ý tưởng đúng đắnrằng: Khoa học tâm lý phải có một con đường đi riêng của mình Cùng với cácdòng phái tâm lý học Gestalt, tâm lý học hành vi,…ông đã bắt tay vào xây dựnghọc thuyết Phân tâm học, khởi đầu cho một trào lưu tâm lý học chống lại các tưtưởng tâm lý học duy tâm nội quan, để xây dựng một nền tâm lý học khách quan,với các phương pháp nghiên cứu khách quan Sự xuất hiện của Phân tâm học vàcông lao của S Freud đã làm cho tâm lý học phát triển theo một xu hướng mới,khắc phục thời kỳ khủng hoảng trong tâm lý học
Các kết quả nghiên cứu về vô thức với sự phong phú, phức tạp, nhiều vẻcủa nó, cùng những nghiên cứu thực hành chữa trị bệnh tâm thần do chính bác sỹ
S Freud tiến hành, đã mang đến cho loài người nói chung, cho y học và tâm lýhọc nói riêng một khám phá vô cùng to lớn về một mảng hiện tượng vô thức ởcon người mà cho đến nay trên thế giới chưa có ai có thể vượt qua được S.Freud Điều này đã được các nhà khoa học trên thế giới đặt tên tuổi của ông vàodanh sách 12 người có trí tuệ siêu việt trên thế giới trong thế kỷ XX
Thứ hai, phân tâm học khi được xem xét như một ngành của tâm lý học
và thần kinh bệnh học, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của bộ môn.Freud đã đưa ra lý thuyết đầy đủ và trọn vẹn về nhân cách, cho phép giải quyếtnhiều vấn đề không chỉ về mặt lý thuyết mà còn mang tính ứng dụng cao Freud
đã đề cao mặt vô thức trong con người, và từ đó đã đưa ra những khái niệm,những cơ chế tâm lý như cơ chế tự vệ, sự dồn nén, các mắc cảm, đồng nhất hóa,
xã hội hóa, các giai đoạn phát triển nhân cách,… những thuật ngữ mà không chỉảnh hưởng rộng khắp trong nghiên cứu lâm sàng mà còn đi sâu vào đời sống
thường nhật Những sáng tác của ông như cuốn “Nghiên cứu về chứng loạn thần kinh” (1985), “Đoán mộng” (1900),… đã đặt ra nền tảng những lý thuyết của
ông để lại cho những người tiếp bước