1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nêu hoàn cảnh ra đời, nội dung của thuyết phân tâm học và hãy liên hệ khả năng ứng dụng lý thuyết này vào hoàn cảnh Việt Nam

16 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 43,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Tại sao con người lại phạm tội hay nguyên nhân gốc rễ của tội phạm là gì?” Đã có nhiều học thuyết, trường phái khác nhau ra đời và phát triển theo những con đường riêng nhưng đều cố gắng lý giải vấn đề này. Mỗi học thuyết, trường phái đều có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nghiên cứu tội phạm học. Thuyết phân tâm học của Sigmund Freud cũng vậy, có thể đánh giá thuyết phân tâm học là một trong những học thuyết về tâm lý có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực cuộc sống và có giá trị thực tiễn cho đến ngày hôm nay. Để hiểu rõ hơn về thuyết phân tâm học của Sigmund Freud, em xin chọn đề số 4: “Nêu hoàn cảnh ra đời, nội dung của thuyết phân tâm học và hãy liên hệ khả năng ứng dụng lý thuyết này vào hoàn cảnh Việt Nam”.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC 2

1 Hoàn cảnh ra đời 2

2 Nội dung của Thuyết Phân tâm học 4

3 Ý nghĩa của Thuyết Phân tâm học 7

II VỀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VÀO VIỆT NAM 9

1 Sự tiếp cận phân tâm học ở Việt Nam 9

2 Khả năng ứng dụng của thuyết phân tâm học tại Việt Nam 10

KẾT LUẬN 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 2

MỞ ĐẦU

“Tại sao con người lại phạm tội hay nguyên nhân gốc rễ của tội phạm là gì?”

Đã có nhiều học thuyết, trường phái khác nhau ra đời và phát triển theo những con đường riêng nhưng đều cố gắng lý giải vấn đề này Mỗi học thuyết, trường phái đều có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nghiên cứu tội phạm học Thuyết phân tâm học của Sigmund Freud cũng vậy, có thể đánh giá thuyết phân tâm học là một trong những học thuyết về tâm lý có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực cuộc sống và có giá trị thực tiễn cho đến ngày hôm nay Để hiểu rõ hơn về thuyết phân tâm học của Sigmund Freud,

em xin chọn đề số 4: “Nêu hoàn cảnh ra đời, nội dung của thuyết phân tâm học và hãy liên hệ khả năng ứng dụng lý thuyết này vào hoàn cảnh Việt Nam”.

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC

1 Hoàn cảnh ra đời

a) Cha đẻ của Phân tâm học

Người sáng lập ra Phân tâm học là Sigmund Freud (1856 – 1939), bác sỹ thần kinh và tâm thần người Áo gốc Do Thái, sinh ở Tiệp Khắc Cha ông là một nhà buôn vải, một người khắc nghiệt và gia trưởng Thuở nhỏ đối với cha Freud có thái độ pha lẫn sợ hãi và yêu mến Trái ngược với cha, mẹ Freud là người phụ nữ dịu dàng chu đáo vì vậy ông luôn cảm thấy có sự gắn bó mật thiết với mẹ Khi còn đi học ông luôn là học sinh xuất sắc, tốt nghiệp phổ thông loại ưu Năm 1873 Freud đỗ vào ngành y học trường đại học tổng hợp Viên Năm 1884 ông cho xuất bản một công trình về những ưu thế trong việc

sử dụng Côcain nhưng bị phản đối quyết liệt từ phía xã hội Năm 1881 Freud

Trang 3

nhận được học vị tiến sĩ y học và thực hành với tư cách nhà thần kinh lâm sang Năm 1882 – 1885 Freud làm việc tại Viện đa khoa Viên, đi sâu về phần não và bệnh lý học thần kinh Tại đây ông làm quen với Breuer vừa là người thầy vừa là người bạn tri kỉ Tháng 10/1885 Freud qua Pari, tại đây ông được làm việc với Charcot (nhà thần kinh học nổi tiếng), Freud đã tích cực sử dụng phương pháp thôi miên và thanh trừ Nhưng sau đó ông đưa ra môt kĩ thuật trị liệu mới: phương pháp liên tưởng tự do Năm 1885 Freud cùng với Breuer xuất bản cuốn “Nghiên cứu về Hysteri” Đây được coi là khởi đầu chính thức của phân tâm học Năm 1896 Freud đọc báo cáo tại Hội tâm thần và thần kinh học Viên về hiệu quả tiến hành các buổi chữa bệnh rối nhiễu tâm lý bằng liên tưởng tự do Năm 1899 cho ra đời cuốn “Giải mã những giấc mơ” – một tác phẩm chính và đánh dấu sự thành công của ông Giai đoạn 1990 – 1910 vị thế chuyên môn của Freud được cũng cố một cách nhanh chóng Năm, 1905 xuất bản cuốn “Ba bài luận về thuyết tình dục” Những năm sau đó Freud đã cho ra đời hàng loạt tác phẩm: Dẫn luận phân tâm học (1910), Totem và Taboo (1913), Bên ngoài các nguyên tắc khoái lạc(1920), Bản ngã và xung đột bản năng (1923) Năm 1902, ông cùng A.Adler thành lập Hội các nhà phân tâm học Năm 1908, Chi hội phân tâm học quốc tế ra đời ở Viên, 1910 thành lập Hội phân tâm quốc tế, 1918 thành lập nhà xuất bản phân tâm học và năm

1924 công bố những tập đầu của Toàn Tập Freud

b) Sự ra đời của Phân tâm học

Thuyết Phân tâm học ra đời chịu nhiều chi phối từ các điều kiện, quan điểm khác nhau, Freud đã tiếp thu có sáng tạo các quan điểm và học thuyết của các nhà triết học, khoa học tự nhiên để vực dậy sự khủng hoảng tâm lý học trong

xã hội châu Âu lúc đó Freud đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chủ nghĩa phi

lý tính của Schopenhaur: “Triết học quay trở về với thế giới nội tâm của mình, tìm tòi bản tính thật sự của con người và thế giới” Cái vô thức là đối

Trang 4

tượng quan tâm và nghiên cứu phổ biến trong không khí học thuật ở châu Âu vào những năm 80 của thế kỷ XIX

Thuyết Phân tâm học của Freud ra đời cũng xuất phát từ hoàn cảnh đời sống tinh thần trong thời đại mà ông đang sống lúc bấy giờ, đó là thái độ của xã hội đối với vấn đề tình dục Một xã hội mà tôn giáo và pháp luật đã mất đi sức mạnh, lấy cái tôi làm trung tâm, khuynh hướng vô chính phủ của con người không được kiểm soát, hướng dẫn Ở thời đại này, chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ chống đè nén tính dục trong xã hội khổ hạnh, có hàng loạt nghiên cứu về bệnh tính dục, tính dục trẻ em và ảnh hưởng của những dồn nén ham muốn tính dục đến sức khỏe tinh thần, thể chất Dấu ấn thời thơ ấu đã ảnh hưởng rất lớn đến quan điểm của Freud, góp phần vào việc hình thành phương pháp lý luận trong phân tâm học

Ngoài ra, Thuyết Phân tâm học của Freud ra đời cũng xuất phát từ sự tác động của ngành khoa học tự nhiên lúc đó, bởi trong giai đoạn này khoa học tự nhiên đã có sự phát triển vượt bậc, ông đã chịu ảnh hưởng khá nhiều bởi tư tưởng của các nhà tâm vật lý như Fexner, hình ảnh tâm lý như tảng băng trôi, phần lớn hoạt động tâm lý được dấu dưới cái vỏ ý thức và chịu sự tác động mạnh mẽ của những sức mạnh không nhìn thấy được Tất cả những tư tưởng, quan điểm đó đã được Freud sử dụng để giải thích về khả năng tồn tại năng lực tính dục thúc đẩy hành vi của nhân loại

2 Nội dung của Thuyết Phân tâm học

2.1 Nội dung cơ bản của Thuyết Phân tâm học

a) Cấu trúc nhân cách

Freud xây dựng 2 mô hình cấu trúc tâm thần của con người:

- Cấu trúc tâm thần I (1900): Freud nêu 3 thành phần là Vô thức (unconscious), Ý thức (conscious), và Tiềm thức (preconscious)

Trang 5

Thông qua các quá trình vô thức (chủ yếu) sẽ điều khiển các hành vi, ngôn ngữ của con người Tuy nhiên, việc duy trì cách tiếp cận bộ máy tâm trí bằng

bộ ba trên đôi khi làm Freud gặp khó khăn trong việc lý giải một số hiện tượng tâm trí (vd sự lặp đi lặp lại mang tính cưỡng chế của một số hành vi mặc cho sự nhận thức của thân chủ) cũng như trong tiến trình trị liệu phân tâm cổ điển, vào năm 1923, Freud cho phát hành cuốn “Cái Tôi và cái Ấy” Trong quyển sách này, Freud đề nghị một bộ ba mới nhằm tiếp cận đầy đủ hơn guồng máy tâm trí con người, biết rằng bộ ba mới này không xóa bỏ hay mâu thuẫn với bộ ba cũ mà ngược lại, bổ sung cho nhau

- Cấu trúc tâm thần II (1923): Freud tái xây dựng và bổ sung bằng bộ 3 nổi tiếng và chặt chẽ hơn: Cái ấy (Id), Cái tôi (ego) và Siêu tôi (superego)

Id: Phần ích kỷ, nguyên thủy, có tính trẻ con, phần nhân cách được định

hướng bởi khoái lạc, không có khả năng trì hoãn sự đòi hỏi đáp ứng Hoàn

toàn nằm ở vô thức Superego:Phần nhân cách luôn tiếp thu các tiêu chuẩn xã

hội và học từ cha mẹ: thế nào là “tốt” và “ xấu” , hành vi “đúng” và “sai” Một phần lớn nằm ở vô thức và tiềm thức, phần còn lại nằm ở ý

thức Ego: Yếu tố đứng giữa tìm cách thỏa hiệp cho id và superego Nó có thể

được xem là "ý nghĩa về thời gian và địa điểm" của chúng ta Nằm ở cả vô thức, tiềm thức và ý thức

Xung năng của id được dựa trên những nguyên tắc khoái lạc: tức là được thỏa

mãn ngay lập tức các ước muốn và nhu cầu Sigmund Freud tin rằng xung

năng của id đại diện cho bản năng sinh học của mỗi người, như gây hấn (aggression) (Thanatos hoặc bản năng chết) và tính dục (sexuality) (Eros hay bản năng sống)

Trang 6

c) Các giai đoạn phát triển nhân cách

Freud cũng tin rằng cuộc xung đột giữa id và superego dẫn đến các xung đột

trong Các giai đoạn trong phát triển Tâm lý tính dục Từng giai đoạn khác nhau thì năng lượng khoái cảm tính dục (libido: cả gây hấn, và tính dục ) tập

trung ở các vùng khoái cảm khác nhau:

- Giai đoạn môi miệng (oral stage): từ khi sinh ra cho đến 1.5 tuổi Sự

thỏa mãn được thực hiện qua ăn uống, mút, bú mẹ Nếu đứa trẻ trong thời kỳ này không được thoản mãn nhu cầu này, thì nó sẽ có những cảm giác tiêu cực như tự ti, lo âu về sự an toàn vào những giai đoạn sau của cuộc đời

- Giai đoạn hậu môn (anal stage): từ 1.5 – 3 tuổi Sự thỏa mãn được thực

hiện qua sự đi đại tiện, tiểu tiện Thời kỳ này trẻ bắt đầu học cách kiểm soát cơ thể và môi trường xung quanh qua việc hướng dẫn của cha mẹ, việc quy định vệ sinh và các hoạt động giáo dục khác

- Giai đoạn dương vật (phallic stage): từ 3 – 5 tuổi Trong giai đoạn này

có 3 mặt phát triển chính: hứng thú tình dục, phát triển của siêu tôi, mở rộng phạm vi quá trình bảo vệ cái tôi

- Giai đoạn tiểm ẩn (latance stage): từ 5 tuổi trở lên đến tuổi vị thành

niên Khi này trẻ học cách thăng hoa tình yêu đối với bố mẹ, nó được thể hiện bằng sự tôn kính

- Giai đoạn cơ quan sinh dục ngoài (genital stage): là giai đoạn tuổi

thanh niên và sang tuổi trưởng thành, khi này cá nhân đã có thể nhận thức và ý thức hành vi ở người lớn

d) Các liệu pháp Freud dùng trong trị liệu phân tâm:

- Bầu không khí thư giãn (Relaxed atmosphere): Thân chủ phải cảm thấy

tự do để thể hiện mọi thứ

Trang 7

- Liên tưởng tự do (Free association): tự do kể chuyển, những “dấu vết”

có vẻ bất chợt và vô nghĩa có thể mang một “câu chuyện” bị dồn nén từ thời thơ ấu

- Tập trung vào sự kháng cự (Resistance): những điều gây đau khổ thường bị phớt lờ hay cố gắng tránh, thay đổi chủ đề

- Phân tích giấc mơ (Dream analysis): Trong giấc ngủ, chúng ta có ít kháng cự hơn đối với vô thức của mình Những ham muốn đến từ cái ấy này cung cấp cho nhà trị liệu và thân chủ nhiều dấu hiệu hơn Thông qua diễn dịch giấc mơ sẽ giải phóng nhữ xung năng và đau khổ bị dồn nén

- Sự lỡ hụt (Parapraxes): hầu hết mọi thứ đều có ý nghĩa gì đó hầu như mọi lúc - quay nhầm số điện thoại, rẽ sai hướng, viết sai chính tả một từ, đều

là những đối tượng nhiêm túc đối với Freud

2.2 Thuyết Phân tâm học về học tội phạm

Về nguyên nhân của tội phạm, Freud cho rằng: Tội phạm là kết quả khi mà ở một cá nhân nào đó phần bản năng đã trỗi dậy đến mức thái quá, lấn át đến mức không thể nào kiểm soát được trong sự kết hợp với biểu hiện kém của siêu ngã; cùng lúc đó, bản ngã tức là phần lý trí có chức năng kiểm soát sự tác động qua lại giữa bản năng và siêu bản ngã hoạt động kém hiệu quả Bên cạnh đó, Freud còn cho rằng: sự thăng hoa không tương xứng có thể là nguyên nhân khác dẫn đến tội phạm, đây là một quá trình tâm lý mà nhờ đó trạng thái tỉnh táo của cá nhân bị thay thế biểu tượng bởi một trạng thái khác Ngoài ra, Freud còn cho rằng: Chứng loạn thần kinh chức năng cũng là một nguyên nhân dẫn đến tội phạm, ông lấy ví dụ về trường hợp này như sau: một người thường xuyên dùng giấy ăn để mở nắm cửa mỗi khi ra vào, ông ta không dám trực tiếp cầm nắm cửa vì lúc nào cũng bị ám ảnh nắm cửa có nhiều vi trùng gây bệnh Cần lưu ý là không phải mọi người bị chứng loạn

Trang 8

thần kinh chức năng đều phạm tội, chỉ có một số người thuộc nhóm này thực hiện hành vi phạm tội mà thôi

Tuy nhiên ngay từ thời đại của ông cũng như cho đến hiện nay vẫn có những học giả phê phán quan điểm của ông Trong tội phạm học, hai quan điểm của ông bị phê phán nhiều nhất đó là:

Thứ nhất, khi đề cập đến nguyên nhân của tội phạm, ông coi nhẹ vai trò của môi trường sống, vai trò của giáo dục cá nhân và đề cao tính quy định sinh học của hành vi tình dục

Thứ hai, ông có quan điểm coi thường phụ nữ khi cho rằng, vì phụ nữ không

có dương vật nên họ không đi qua “giai đoạn dương vật thèm muốn” như đàn ông và vì vậy họ thất bại việc phát triển sức mạnh siêu bản ngã như đàn ông Quan điểm này đã bị một số nhà tội phạm học phản đối vì nó thể hiện tư tưởng bất bình đẳng nam nữ và cổ vũ cho những người theo tư tưởng này

3 Ý nghĩa của Thuyết Phân tâm học

a) Với xã hội

Thứ nhất, Thuyết Phân tâm học ra đời đã cung cấp một ý tưởng khoa học đúng đắn cho sự phát triển của nhân loại nói chung, ngành khoa học, đặc biệt

là khoa học nghiên cứu về tâm lý con người nói riêng, để từ đó hiểu rõ hơn về những suy nghĩ của cá nhân tức là sự tri giác của cá nhân đó đối với các giá trị đạo đức và xã hội nói chung, từ sự hiểu rõ bản chất của suy nghĩ của cá nhân đó, chúng ta có thể tìm ra những giải pháp để kiềm chế những xung đột của cá nhân đó do có sự nhận thức không đúng đắn về các giá trị đạo đức và

xã hội mà xâm hại đến những giá trị đó, đưa cá nhân đó trở lại trạng thái bình thường, phát triển bình thường;

Thứ hai, các kết quả của Phân tâm học được rút ra từ những nghiên cứu thực hành chữa bệnh tâm thần do chính Freud thực hiện, những thành tựu mà ông mang đến cho khoa học loài người nói chung, khoa học nghiên cứu về tâm lý

Trang 9

con người nói riêng là một khám phá vô cùng lớn về một mảng hiện tượng vô thức ở con người mà cho đến nay chưa ai vượt qua được những nghiên cứu của ông Thuyết Phân tâm học có ảnh hưởng rộng khắp trên toàn thế giới, nó

đã tạo ra một phương pháp cho việc ứng dụng vào những ngành liên quan, hiện nay thuyết này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như điều trị bệnh nhân bằng liệu pháp tâm lý, điều tra tội phạm, tội phạm học để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những phản kháng tiêu cực đối với các chuẩn mực xã hội do hành vi, để đưa cá nhân đó đi theo con đường đúng đắn;

Thứ ba, với Thuyết Phân tâm học, Freud đã đề xuất được một phương pháp

“liên tưởng tự do” nhằm giải tỏa tâm lý, chữa trị cho những người bị bệnh tâm thần Nói chung, với việc xuất hiện một học thuyết mới trong lĩnh vực nghiên cứu về con người bởi tâm lý của họ, nó đã đóng góp một phần quan trọng vào kho tàng khoa học, làm phong phú hơn cho lĩnh vực khoa học, hơn nữa, cũng giúp cho xã hội có thể giải quyết được những trường hợp thuộc lĩnh vực nghiên cứu của Phân tâm học mà trước đó, các ngành khoa học khác vẫn chưa thể giải quyết được

e) Với ngành tội phạm học

Phân tâm học giúp cho ngành tội phạm học có thể áp dụng học thuyết đó để tìm ra nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm Nghiên cứu về bản thân của

người phạm tội từ nhiều khía cạnh của đời sống để giúp cho quá trình nghiên cứu tội phạm được diễn ra nhanh và hiệu quả hơn, không bỏ sót người, sót tội

Từ đó mà có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nhằm ngăn chặn, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hôi Việc sử dụng thuyết phân tâm học trong lĩnh vực tội phạm học để tìm ra tội phạm là một trong những phương pháp có tính chất ôn hòa nhất và hiệu quả, việc phân tích tâm lí, đặc điểm hay những phương thức tâm lí khác giúp cho các nhà

Trang 10

làm luật có cơ sở để tìm ra được tội phạm nhanh hơn và cũng là phương pháp nhẹ nhàng hơn trong khi cứ điều tra người phạm tội một cách mông lung, không có căn cứ Điểm đặc trưng cho phương pháp can thiệp của liệu pháp

đầu và phân tách rõ các cơ chế phòng vệ, những ước muốn và cảm giác tội lỗi mang tính bệnh lý của bệnh nhân Qua sự phân tích những xung đột và sự tác động của nó gây ra những kháng cự tâm lý và hiện tượng chuyển di vào nhà phân tích qua những hành vị bị bóp méo, liệu pháp phân tâm có thể đưa ra những giả thuyết về vô thức chính là những kẻ thù tệ hại nhất của các bệnh nhân: Cách thức mà những hành động mang tính biểu trưng và vô thức đã bị kích thích bởi những trải nghiệm đang gây ra các triệu chứng Vấn đề này giúp cho ngành tội phạm học có thể đi sâu nghiên cứu vấn đề cá nhân của người phạm tội bằng việc để họ tự nói ra mà không phải dùng những cách tra hỏi hay những cưỡng ép bắt người phạm tội phải khai ra từ đó có thể đưa ra những biện pháp phòng ngừa tội phạm sảy ra từ những người có đặc điểm tương tự Lý thuyết này đã bị chỉ trích rất nhiều, có quan điểm cho rằng đó là một hệ lý thuyết phi khoa học Tuy nhiên, liệu pháp phân tâm vẫn đang được rất nhiều nhà tâm lý hiện nay ứng dụng

II VỀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC VÀO VIỆT NAM

1 Sự tiếp cận phân tâm học ở Việt Nam

Trước 1975, phân tâm học vào Việt Nam chủ yếu là do tầng lớp trí thức có dịp học tập và nghiên cứu ở nước ngoài đưa về nước, tuy nhiên do nhiều nhân

tố chi phối, phân tâm học xuất hiện chưa thành hệ hình lý thuyết hoàn chỉnh Các ngành nghiên cứu tiếp nhận phân tâm học ở một số khía cạnh hoặc một phần của học thuyết (phù hợp với ngành họ nghiên cứu), vì vậy chưa có tính liên kết đa chiều Theo nghĩa đó thì phân tâm học chưa trở thành lý thuyết có

Ngày đăng: 23/08/2021, 05:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w