1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm và giá trị của Triết học Hi lạp cổ đại

13 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 33,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học Hy Lạp cổ đại vừa là sự thể hiện của truyền thống văn minh phương tây, đồng thời còn là kết quả của sự giao lưu văn hoá của các dân tộc thời cổ đại, trong đó có những đóng góp quan trọng của văn hoá phương đông cổ đại mà trực tiếp là Ba Tư và Ấn Độ cổ đại. Vì vậy, nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại và có quan điểm đúng về nó không chỉ giúp ta hiểu được nguồn gốc của tư tưởng và ...

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

Vào thời cổ đại Hy Lạp là nước phát triển nhất Châu âu với lãnh thổ rộng lớn Hy Lạp là cầu nối, là điểm nút của giao lưu kinh tế và văn hoá giữa

ba châu lục Âu - Á- Phi, việc giao lưu quan hệ với các nước rất phát triển Mặc dù ra đời muộn hơn so với các quốc gia phương đông như Ai Cập, Ân

Độ, Trung Quốc cổ đại nhưng nhờ được kế thừa và phát triển những tri thức tinh hoa của nhân loại nên kinh tế Hy Lạp phát triển nhanh, đặc biệt là công

cụ lao động

Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời vào thế kỷ VI TCN và đạt đến đỉnh cao vào thế kỷ III TCN

Vào thế kỷ IX đến thế kỷ VII TCN, nền sản suất chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp đã phát triển cao,thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp Sự phát triển của thủ công nghiệp đã dẫn đến sự phát triển của thương nghiệp và hình thành các thành thị như Aten và SPác nổi tiếng thế giới Người Hy Lạp đã đóng được những chiến thuyền lớn cho phép họ vượt Địa Trung Hải đến những vùng đất mới, tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc Nền văn hoá Hy Lạp thời kỳ này cũng phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của hai tập trường ca bất hủ là I li át và Ô đi xê đây là hai viên ngọc quý trong di sản văn hoá cổ đại của nhân loại Sự phân công lao động trong xã hội Hy Lạp cổ đại

đã làm hình thành một tầng lớp những người lao động trí óc Nhờ đó các tri thức khoa học nảy nở và phát triển , chính sự xuất hiện các tri thức khoa học

sơ khai, như việc phát hiện ra lịch năm 12 tháng với 365 ngày của Ta lét, những phát kiến về toán học của Ta Lét và Pi Ta Go, về hình học của Ơ Cơ Lít, về vật lý học của Ác Si Mét … đã tạo điều kiện rất lớn thúc đẩy sự hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp Mặt khác cuộc đấu tranh giữa giai

Trang 2

cấp chủ nô và giai cấp nô lệ trên lĩnh vực tư tưởng, triết học đã diễn ra hết sức gay gắt

Tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại phát triển hết sức phong phú và sâu sắc, một số trường phái còn ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều thế kỷ sau

Quá trình hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại qua ba giai đoạn sau :

Thứ nhất, triết học Hy Lạp trong giai đoạn hình thành và bước đầu phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ

Từ thế kỷ VI đến thế kỷ V TCN là giai đoạn hình thành và bước đầu phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp Đây cũng là giai đoạn khởi đầu của triết học Hy Lạp cổ đại và được đánh dấu bằng sự ra đời của trường phái duy vật Milê với các đại biểu là Talét, Anaximanđrơ, Anaximen và trường phái Êlê với các đại biểu như Xênôphan, Pácmênít, Dênông … Cũng trong giai đoạn này nổi bật lên đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật là Hêraclít Về phía chủ nghĩa duy tâm nổi lên trường phái của Pitago

Thứ hai, triết học Hy Lạp cổ đại trong giai đoạn phồn vinh của chế độ chiếm hữu nô lệ

Từ thế kỷ V TCN trở đi là thời kỳ hưng thịnh của chế độ chiếm hữu nô

lệ ở Hy Lạp chiến thắng của người Hy Lạp trong cuộc chiến tranh Hy

Lạp-Ba Tư (500- 449 TCN) đã giúp họ mở rộng lãnh thổ và ảnh hưởng của mình trên toàn vùng Địa Trung Hải Hy lạp giờ đây bao gồm hàng trăm quốc gia thành bang với những hình thức nhà nước và trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau Các thành bang nói trên tuy liên minh với nhau nhưng lại mâu thuẫn với nhau, đôi khi dẫn đến chiến tranh thôn tính lẫn nhau Cuộc chiến tranh Pơlôpônedơ(431- 404TCN) là biểu hiện của mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là bộ phạn chủ nô dân chủ do Aten đứng đầu với một bên là bộ phận chủ

Trang 3

nô quý tộc do Spáctơ đứng đầu Trong cuộc chiến tranh này phía Aten bị thất bại kéo theo sự suy giảm lực lượng của phái chủ nô dân chủ Về sau, phía Aten tuy khôi phục được chính quyền nhưng đến nửa cuối thế kỷ IV TCN lại

bị Maxeđoan chinh phục Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội phức tạp và đầy biến động nói trên về khách quan đã thúc đẩy triết học Hy lạp cổ đại phát rtiển lên đỉnh cao : vừa sâu sắc, vừa phong phú về nội dung, vừa đa dạng, vừa phức tạp trong hình thức thể hiện của các trường phái và của các hệ thống Trường phái duy vật tiếp tục phát triển đạt đến đỉnh cao với học thuyết nguyên tử luận của Đêmôcrít Trường phái duy tâm thông qua đại biểu xuất sắc là Platon cũng phát triển thành một hệ thống hoàn chỉnh Ngoài hai trường phái lớn nói trên còn xuất hiện một trường phái mới, đó là trường phái nguỵ biện (Sôphít) Cũng trong thời kỳ này đã sản sinh ra một bộ óc bách khoa toàn thư, một nhà triết học uyên bác nổi tiếng thời cổ đại là Arixtốt

Thứ ba, triết học Hy Lạp trong thời kỳ khủng hoảng và suy tàn của chế

độ chiếm hữu nô lệ

Thời kỳ khủng hoảng và suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp kéo dài từ thế kỷ IV TCN cho đến khi chế độ nô lệ ở Hy Lạp, La Mã bị sụp đổ ( thế kỷ V sau công nguyên ) Trong thời kỳ lịch sử này đã có nhiều sự kiện ảnh hưởng đến sự phát triển và suy tàn của triết học Hy Lạp cổ đại Sự kiện đầu tiên là sự thôn tính của một nước ở phía bắc Hy Lạp đối với toàn bộ bán đảo Hy Lạp Tiếp theo là cuộc viễn chinh của Alếchxăngđrơ tới nhiều nước ở châu Á, châu Phi đã biến Hy Lạp thành một đế chế rộng nhất thời cổ đại Đây cũng là thời kỳ mà ngôn ngữ và văn hoá của Hy lạp đã theo đội quân viễn chinh bành trướng đến các nước bị nó xâm lược.Tuy nhiên chính La Mã lại bị nền văn hoá rực rỡ lâu đời của Hy Lạp chinh phục lại.Có thể nói thời kỳ Hy Lạp hoá là đỉnh cao của sự giao lưu văn hoá giữa các quốc gia thuộc đế chế

Trang 4

Hy Lạp, đồng thời nó cũng mang đến cho triết học Hy Lạp cổ đại những sắc thái mới và những nét đặc thù so với thời kỳ trước Trong thời kỳ này các nhà triết học ít chú ý đến những vấn đề về tự nhiên, xã hội mà tập trung tìm hiểu vấn đề hạnh phúc của con người , làm thế nào để con người thoát khỏi khổ đau Đây cũng là thời kỳ lan truyền của chủ nghĩa triết trung và chủ nghĩa hoài nghi Còn các nhà yêu nước ,dân chủ, tiến bộ vẫn kiên trì chủ nghĩa duy vật chống lại chủ nghĩa duy tâm.Tiêu biểu nhất trong số họ là Êpiquya

Những điều kiện đặc thù về kinh tế, xã hội giai cấp ,văn hoá và khoa học ở xã hội hội Hy Lạp đã quy định nét đặc thù của triết học Hy Lạp thời kỳ này

Thứ nhất, triết học hy lạp cổ đại gắn chặt với khoa học tự nhiên, nó là

sự thống nhất giữa triết học với khoa học tự nhiên, chưa có sự tách rời giữa triết học với khoa học nên gọi là triết học tự nhiên , hay triết học là khoa học của mọi khoa học Triết Học Hy Lạp cổ đại thể hiện tính bao trùm của nó về mọi lĩnh vực thế giới quan của con người cổ đại, nó ra đời trong bối cảnh các tri thức khoa học còn quá ít và sơ khai, nên trình độ phát triển của tư tưởng và của văn hoá tinh thần nhân loại loại lúc bấy giờ nói chung là còn thấp

Triết học Hy Lạp cổ đại gắn chặt với khoa học tự nhiên bởi nó xuất phát từ nhu cầu sản xuất hàng hoá, nhu cầu mở rộng chiến tranh để có thêm

nô lệ và tài nguyên Đặc trưng của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp - La Mã

cổ đại là nền kinh tế dựa trên buôn bán nô lệ, nô lệ được coi là công cụ lao động biết nói, là hàng hoá mà các chủ nô đem trao đổi buôn bán với nhau, nô

lệ được sử dụng để để sản xuất ra của cải vật chất cho giai cấp chủ nô Để có nhiều nô lệ, người ta phải mở rộng chiến tranh, còn chiến tranh thì còn nô lệ

để buôn bán và phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ Để đáp ứng đòi hỏi đó thì thần thánh không thể giúp họ được mà đòi hỏi người ta phải có tri thức, có

Trang 5

khoa học, điều đó được lặp đi lặp lại trong thực tế cuộc sống của người Hy lạp - La mã cổ đại và nó thúc đẩy khoa học và triết học cùng phát triển , triết học luôn gắn chặt với khoa học tự nhiên

Thời Hy Lạp cổ đại những nhà triết học đồng thời cũng là các nhà toán học, thiên văn học, vật lý học…và họ cũng là những người có điều kiện đi đây

đó khắp nơi Họ có điều kiện để học hỏi và tiếp thu những tinh hoa tri thức văn hoá, khoa học của nhân loại mà trực tiếp là của Ba- Tư và Ấn Độ cổ đại Điều đó lý giải vì sao triết học và khoa học Hy Lạp cổ đại ra đời sau nhưng phát triển rất mạnh mẽ

Thứ hai, sự phân chia và đối lập giữa các trường phái triết học,duy vật

và duy tâm, biện chứng và siêu hình, vô thần và hữu thần là nét nổi bật của quá trình phát sinh phát triển triết học Hy Lạp- La Mã cổ đại, trong đó nổi bật

là cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học, đường lối duy vật của Đê Mô

Cơ Rít và đường lối duy tâm của Platon

Đấu tranh giữa đường lối triết học duy vật vô thần của Đêmôcrít với đường lối triết học duy tâm khách quan thần bí của Platôn là cuộc đấu tranh điển hình trong lịch sử triết học, nó thể hiện ở nhiều lĩnh vực như : bản thể luận, nhận thức luận, lô- gích học,đạo đức học, và chính trị xã hội

Ở bản thể luận, tính quyết liệt và triệt để của cuộc đấu tranh này là cơ

sở cho những vấn đề khác Đêmôcrít kiên định lập trường duy vật vô thần Ông cho rằng cội nguồn của thế giới là nguyên tử, là vật chất Đêmôcrít đã phát triển thuyết nguyên tử của Lơxíp, người thầy của mình lên trình độ mới Ông cho rằng, nguyên tử là hạt vật chất cực nhỏ, không phân chia được, không nhìn thấy được, không mùi ,vị, âm thanh và tồn tại vĩnh viễn Các nguyên tử đồng nhất về chất, chỉ khác nhau về lượng,về hình thức (cấu tạo ),

về tư thế (xoay trở) và về trật tự (kế tiếp).Sự hình thành ,tan rã và sự khác

Trang 6

nhau của các sự vật hiện tượng là do sự kết hợp hay tách ra của các nguyên tử theo những cách thức khác nhau của nguyên tử ,Thuyết vũ trụ của ông cũng không có chỗ cho thần thánh, trong đó chỉ có các nguyên tử vận động theo những cơn lốc xoáy Các nguyên tử cùng loại cố kết với nhau làm thành những vòng lớp nguyên tử, càng nặng càng ở gần tâm, càng nhẹ càng xa tâm Đất, nước, lửa,không khí là những vòng ở trung tâm cơn lốc Từ đó hình thành các hành tinh và trái đất còn sự sống và con người, theo ông là kết quả tất yếu của tự nhiên phát triển từ thấp đến cao, từ sự vật tới sinh vật, từ sinh vật tới con người Con người có linh hồn, còn sự vật không có linh hồn Linh hồn của con người được cấu tạo từ những nguyên tử hình cầu, giống như nguyên tử lửa vận động với vận tốc lớn Linh hồn mất đi cùng với sự chết của con người Như vậy, ông đã bác bỏ thuyết linh hồn bất tử của tôn giáo, của Platon

Đối lập với Đêmôcrít, Platon đứng trên lập trường duy tâm thần bí ông khẳng định rằng bản nguyên của thế giới là “thế giới ý niệm”, mà ông gọi là

“những ý tưởng có trước”, một thế giới trừu tượng , bất biến, tĩnh tại, đông lạnh không có sự sống.Chỉ có cái chung là tồn tại chân thực Linh hồn do thánh tạo ra có động cơ và mục đích khác nhau đã khuyến khích các ý niệm vận động rồi in dấu vào “ không tồn tại”, cái mà ông gọi là “ vật chất” theo những “tương quan toán học” những hoà điệu khác nhau mà sinh ra giới tự nhiên, “ thế giới các sự vật cảm tính” muôn hình muôn vẻ , xấu đẹp khác nhau Chẳng hạn từ ý niệm nhà sinh ra cái nhà cụ thể, từ ý niệm cây sinh ra những loài cây cụ thể…Như vậy, “thế giới các sự vật cảm tính” chỉ là sản phẩm của “thế giới ý niệm”, chỉ là cái bóng của “của thế giới ý niệm” nên nó

là tồn tại không chân thực.Chúng giống như những cái bóng của các sự vật in vào vách hang, khi chúng lướt qua ở ngoài hang, còn người ngồi ở cửa

Trang 7

hang,quay mặt vào trong thì chỉ nhìn thấy những cái bóng ấy mà thôi Bàn về

sự sống của con người, Platon đưa ra thuyết linh hồn bất tử Cơ thể con người

do lửa, không khí, và đất tạo ra nên cơ thể không bất diệt, còn linh hồn do thánh ban nên bất tử

Sự đối lập còn thể hiện rõ trong quan niệm về vận động Tuy Đêmôcrít chưa tìm ra nguyên nhân của sự vận động và ông còn tách không gian “không tồn tại” ) ra khỏi sự vật, nhưng ông đã cố gắng giải thích sự vận động gắn với vật chất, vận động có động cơ tự thân của nguyên tử, còn không gian là điều kiện của vận động Kết luận của Đêmôcrít cho rằng thế giới là sự thống nhất giữa tồn tại của nguyên tử với không tồn tại (không gian) là một kết luận duy vật triệt để Ngược lại, Platon đi tìm nguyên nhân của sự vận động ở lực tinh thần, “ở thần tình ái” của linh hồn, linh hồn thế giới làm cho vũ trụ vận động,còn linh hồn riêng biệt làm cho sự vật vận động Dựa trên sự vận động của nguyên tử, Đêmôcrít đã khái quát được quy luật nhân quả Ông nói rằng “tìm được cách giải thích hiện tượng theo nguyên nhân của nó còn thích hơn là chiếm được ngôi vua Ba Tư” Nhược điểm của ông là phủ nhận tính ngẫu nhiên Theo ông, mọi cái đều là tất yếu, đều đã được quyết định sẵn theo nguyên nhân của nó Đó là bản chất thuyết quyết định luận duy vật mang màu sắc “định mệnh” của ông Ngược lại, Platon đưa ra thuyết mục đích luận cho rằng mọi vật được tạo ra như thế nào là phụ thuộc vào mục đích của thần thánh

Về nhận thức luận, nếu Platon vẫn duy tâm hoá nó thì Đêmôcrít lại phát

triển nhận thức luận duy vật Ở Đêmôcrít, đối tượng của nhận thức là giới tự nhiên, mục tiêu là đạt tới bản chất của sự vật Còn ở Platon, đối tượng và mục tiêu của nhận thức lại là “ thế giới ý niệm” Theo Đêmôcrít, trình độ nhận

Trang 8

thức cảm tính mờ tối, tuy chỉ theo dư luận nhưng là cơ sở của trình độ lý tính Nhận thức cảm tính cung cấp tài liệu để nhận thức lý tính Trong khi đó Platon lại tuyệt đối hoá nhận thức lý tính Platon cho rằng nhận thức cảm tính chỉ là những tưởng tượng, những kiến giải về “ cái bóng của ý niệm” nên nó không chân thực chỉ có lý tính ở trình độ “ trực giác trí tuệ” mới thấy được “ý niệm” , đó mới là chân thực “trực giác trí tuệ” chính là quá trình hồi tưởng của linh hồn, linh hồn nhớ lại những gì mà nó đã thấy rõ khi nó tồn tại ở “ thế giới ý niệm”, cái mà nó đã quên đi khi nhập vào thể xác con người Để hồi tưởng tốt, phải đoạn tuyệt với thế giới cảm tính Platon cho rằng chỉ có những con người có linh hồn ưu tú mới thực hiện được, đó là phương pháp đàm thoại trực tiếp ( đặt ra và trả lời những câu hỏi) nhằm phát hiện ra mâu thuẫn của đối phương trên cơ sở đối chiếu những khái niệm đối lập nhau từng cặp Tuy có một số yếu tố biện chứng nhưng đó là phương pháp biện chứng duy tâm, nó tách rời khỏi sự vật, chỉ hoàn toàn sử dụng khái niệm với tư duy tự biện

Về lô gích học, hai ông đều có công phát triển lô gích học, nhưng trong

đó tính chất đối lập cũng rất rõ Nếu Đêmôcrít coi lô gích là công cụ của nhận thức, nhấn mạnh phương pháp quy nạp nhằm vạch ra bản chất của giới tự nhiên, thì Platon lại xem xét lô gích xen kẽ với phép biện chứng duy tâm nhằm đạt tới “ý niệm”, coi trọng phương pháp diễn dịch

Về đạo đức học, Đêmôcrít hướng đạo đức học vào đời sống hiện thực.

Hạt nhân của nó là lương tâm trong sáng, tinh thần lành mạnh của từng cá nhân.Tư tưởng về đời sống kinh tế- xã hội là cơ sở của đời sống đạo đức, là tư tưởng có giá trị của ông Một người có đạo đức, theo ông là người sống đúng mức, không gây hại cho người khác Ngược lại, Platon hướng đạo đức vào đời sống của thế giới “ ý niệm” trong sự tha hoá của nó thành thiện, ác, thành

Trang 9

sự thông thái và lòng dũng cảm Ông cho rằng chỉ có tầng lớp các nhà triết học và quý tộc mới đạt tới đạo đức thanh cao Còn đạo đức của thường dân chỉ là sự kiềm chế dục vọng thấp hèn Nô lệ không có đạo đức Như vậy, đạo đức của Platon là thứ đạo đức học duy tâm tôn giáo, phân biệt đẳng cấp, hoàn toàn đối lập đạo đức học tiến bộ duy vật của Đêmôcrít

Cuộc đấu tranh giữa đường lối Đêmôcrít với đường lối Platon là sự phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt giữa tầng lớp chủ nô tiến bộ mà Đêmôcrít

là người đại diện với tầng lớp chủ nô quý tộc phản dân chủ mà platon là người đại diện Đêmôcrít ca ngợi chế độ dân chủ chủ nô, bảo vệ tự do, tinh thần nhân ái và lợi ích công dân Còn Platon lại bảo vệ chế độ quân chủ chủ

nô, bảo vệ lợi ích của tầng lớp quý tộc chống lại dân chủ

Thứ ba, các hệ thống triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại nói chung đều có

xu hướng đi sâu giải quyết các vấn đề về bản thể luận triết học, là những vấn

đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Khác với các nhà triết học Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại đi sâu vào nghiên cứu con người, nghiên cứu đời sống chính trị, đạo đức xã hội và đời sống tâm linh con người Các nhà triết học Trung Quốc và Ấn Độ cổ trung đại cũng đề cập đến vấn đề bản thể luận, nhận thức luận nhưng hết sức mờ nhạt

và cũng chỉ nhằm làm sâu sắc thêm vấn đề con người và đời sống chính trị, đạo đức và tâm linh của con người mà thôi Còn các nhà triết học Hy Lạp - La

Mã cổ đại thì ngược lại, từ hêracơlít, Talét,Pitago, Arixtốt, Đêmôcỏrít, Platon… đều có xu hướng đi sâu giải quyết các vấn đề về bản thể luận, nhận thức luận

Họ đều tập trung lý giải thế giới xung quanh ta là gì, nó tồn tại như thế nào, con người có thể nhận thức được thế giới hay không Các nhà triết học và khoa học thời Hy Lạp cổ đại đều hướng vào giới tự nhiên để nghiên cứu lý

Trang 10

giải về nó Họ đều tập trung làm rõ thế giới này do cái gì tạo nên, là nước, nguyên tử, hay là lửa…Thế giới này là vật chất hay là thế giới do “ ý niềm” tạo nên các sự vật hiện tượng trong thế giới này tồn tại như thế nào, chúng có quan hệ, liên hệ gì với nhau không, có vận động biến đổi hay không Tất cả những vấn đề đó nhằm giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, là giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Vì vậy, quan điểm triết học của người Hy Lạp cổ đại là phải có bốn học thuyết khai thác trên bốn mặt:

Bản thể luận

Vũ trụ luận

Tri thức luận

Nhận thức luận

Thứ tư, nền triết học Hy lạp - La Mã cổ đại nói chung còn ở trình độ

trực quan, chủ nghĩa duy vật còn thô sơ mộc mạc và phép biện chứng còn ở trình độ tự phát chưa được chứng minh bởi khoa học

Những quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ này, về cơ bản là đúng đắn nhưng mang tính trực quan dựa vào quan sát trực tiếp và suy luận của các nhà triết học, chứ chưa có cơ sở khoa học để chứng minh vì lúc này các ngành khoa học chưa phát triển

Chẳng hạn như Ta lét cho rằng thế giới có bản nguyên là nước, mọi sự vật hiện tượng đều sinh ra từ nước và khi bị phân huỷ thì trở lại thành nước

Ta Lét nhìn thế giới tồn tại tựa như một vòng tuần hoàn khép kín của nước, thế giới tồn tại thống nhất ở nước

Anaximanđrơ cho rằng bản nguyên đầu tiên sinh ra các sự vật hiện tượng là “Apâyrôn”, Apârôn không có hình dạng xác định, là chất vô định hình, vô cùng vô tận , tồn tại vĩnh viễn, không do ai sinh ra và tiêu diệt được,

là cái mang tính vật chất “Apâyrôn” là cơ sở của sự vận động biến đổi của sự

Ngày đăng: 30/03/2021, 22:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w