1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên

176 35 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạnh phúc của cá nhân có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau không chỉ do các điều kiện bên ngoài như hoàn cảnh gia đình, môi trường sinh sống hay làm việc mà còn liên quan đến va

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Minh Quân

MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ BẢN THÂN

VÀ HẠNH PHÚC TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Minh Quân

MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ BẢN THÂN

VÀ HẠNH PHÚC TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN

Trang 3

kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

Trang 4

đã cho phép tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này

Tôi xin cảm ơn giảng viên hướng dẫn luận văn – TS Kiều Thị Thanh Trà Cô

đã giúp tôi rất nhiều từ những bước đầu tiên trong việc xây dựng, phát triển đề tài cũng như hoàn thiện nội dung của luận văn

Tôi xin được cảm ơn gia đình và bạn bè đã là động lực tinh thần cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu Bên cạnh đó, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên tại các trường đại học và học viện đã dành thời gian hoàn thành phiếu khảo sát trong nghiên cứu này

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ BẢN THÂN VÀ HẠNH PHÚC TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN 5

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý 5

1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam 20

1.2 Lý luận về giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý 23

1.2.1 Lý luận về giá trị bản thân 23

1.2.2 Lý luận về hạnh phúc tâm lý 32

1.3 Thanh niên sinh viên và đặc điểm tâm lý thanh niên sinh viên 40

1.3.1 Khái niệm thanh niên sinh viên 40

1.3.2 Một số đặc điểm tâm lý của thanh niên sinh viên 42

1.4 Mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên 50

1.4.1 Định nghĩa về giá trị bản thân của sinh viên 50

1.4.2 Định nghĩa về hạnh phúc tâm lý của sinh viên 50

1.4.3 Mối quan hệ giữa giá trị bản thân với hạnh phúc tâm lý của sinh viên 51

Tiểu kết chương 1 67

Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ BẢN THÂN VÀ HẠNH PHÚC TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN 68

2.1 Thể thức nghiên cứu 68

2.1.1 Mẫu nghiên cứu 68

Trang 6

2.2.1 Kết quả khảo sát về giá trị bản thân của sinh viên 72

2.2.2 Kết quả khảo sát về hạnh phúc tâm lý của sinh viên 82

2.2.3 Kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên 90

2.2.4 Kết quả phỏng vấn bốn trường hợp 92

2.2.5 Một số bàn luận về kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên 107

Tiểu kết chương 2 117

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130 PHỤ LỤC

Trang 7

ảng 2.2 Thông tin mẫu phỏng vấn 69

ảng 2.3 Phân chia mức độ dựa trên điểm trung bình 1 câu 71

ảng 2.4 Phân chia mức độ dựa trên điểm trung bình từng mặt 71

ảng 2.5 Hệ số tin cậy các thang đo 71

ảng 2.6 Mức độ giá trị bản thân tổng quát của sinh viên 72

ảng 2.7 Mức độ những lĩnh vực xác định giá trị bản thân của sinh viên 74

ảng 2.8 Kết quả kiểm định Anova và Welch giá trị bản thân xét theo trường 75

ảng 2.9 Kết quả kiểm định Anova và Welch giá trị bản thân xét theo ngành học 76

ảng 2.10 Kết quả kiểm định Anova và Welch giá trị bản thân xét theo năm học 77

ảng 2.11 Kết quả kiểm định t-test giá trị bản thân xét theo giới tính 78

ảng 2.12 Kết quả kiểm định Anova giá trị bản thân xét theo học lực 78

ảng 2.13 Kết quả kiểm định Anova giá trị bản thân xét theo kết quả rèn luyện 79

ảng 2.14 Kết quả kiểm định t-test giá trị bản thân xét theo tôn giáo 80

ảng 2.15 Kết quả kiểm định Anova và Welch giá trị bản thân xét theo điều kiện kinh tế 80

ảng 2.16 Kết quả kiểm định Anova giá trị bản thân xét theo vị trí trong gia đình 81

ảng 2.17 Mức độ hạnh phúc tâm lý của sinh viên 82

ảng 2.18 Mức độ các chiều kích hạnh phúc tâm lý của sinh viên 83

ảng 2.19 Kết quả kiểm định Anova và Welch hạnh phúc tâm lý xét theo nhóm trường 83

ảng 2.20 Kết quả kiểm định Anova và Welch hạnh phúc tâm lý xét theo nhóm ngành học 84

ảng 2.21 Kết quả kiểm định Anova hạnh phúc tâm lý xét theo năm học 85

ảng 2.22 Kết quả kiểm định t-test hạnh phúc tâm lý xét theo giới tính 86

ảng 2.23 Kết quả kiểm định Anova hạnh phúc tâm lý xét theo học lực 86

Trang 8

ảng 2.25 Kết quả kiểm định t-test hạnh phúc tâm lý xét theo tôn giáo 88

ảng 2.26 Kết quả kiểm định Anova hạnh phúc tâm lý xét theo điều kiện kinh tế 88

ảng 2.27 Kết quả kiểm định Anova hạnh phúc tâm lý theo vị trí trong gia đình 89

ảng 2.28 Tương quan Pearson giữa giá trị bản thân tổng quát và hạnh phúc tâm lý của sinh viên 90

ảng 2.29 Tương quan Pearson giữa các lĩnh vực xác định giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên 90

ảng 2.30 Tương quan Pearson giữa các lĩnh vực xác định giá trị bản thân và các chiều kích hạnh phúc tâm lý của sinh viên 91

ảng 2.31 Tự đánh giá về năng lực và phẩm chất của sinh viên 93

ảng 2.32 Nhận định của sinh viên về giá trị bản thân 93

ảng 2.33 Tác động của các lĩnh vực xác định giá trị bản thân 94

ảng 2.34 Xếp hạng các lĩnh vực theo thang đo CWS và tự xếp hạng 95

ảng 2.35 Chiến lược giải quyết vấn đề bảo vệ giá trị bản thân của sinh viên 96

ảng 2.36 Một số đặc điểm bản thân của sinh viên 97

ảng 2.37 Chất lượng các mối quan hệ xã hội của sinh viên 98

ảng 2.38 Một số kỹ năng cần thiết trong cuộc sống của sinh viên 99

ảng 2.39 Cách thức quản lý môi trường của sinh viên 100

ảng 2.40 Mục đích cuộc sống của sinh viên 101

ảng 2.41 Một số hoạt động phát triển cá nhân của sinh viên 102

ảng 2.42 Mức độ giá trị bản thân tổng quát và hạnh phúc tâm lý 4 trường hợp 103

ảng 2.43 Tác động của giá trị bản thân đến các mô hình hạnh phúc 104

ảng 2.44 Mức độ duy trì hạnh phúc tâm lý khi thay đổi giá trị bản thân 104

Trang 9

Biểu đồ 2.2 Phân bố hạnh phúc tâm lý của sinh viên 82

Trang 10

Thực trạng gia tăng những vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần đã cho thấy

sự cần thiết trong việc tìm hiểu những hiện tượng mới nảy sinh trong bối cảnh xã hội hiện nay có liên quan đến sự phát triển tâm – sinh lý mà trong đó hạnh phúc cá nhân là chủ đề cần được quan tâm nghiên cứu đặc biệt, bởi đó là mong muốn lớn nhất của con người trong suốt các giai đoạn phát triển Hạnh phúc của cá nhân có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau không chỉ do các điều kiện bên ngoài như hoàn cảnh gia đình, môi trường sinh sống hay làm việc mà còn liên quan đến vai trò của những đặc điểm tâm lý bên trong như nhận thức và nhân cách, đặc biệt trong mối liên quan với sự nhìn nhận của một người về năng lực, phẩm chất và giá trị bản thân Cá nhân có mức độ tự đánh giá giá trị bản thân phù hợp sẽ có thể chấp nhận chính mình với đầy đủ những mặt tích cực lẫn tiêu cực, từ đó nâng cao trải nghiệm hạnh phúc

Trong khi đề tài về hạnh phúc được nghiên cứu từ sớm trong các nghiên cứu

Trang 11

tâm lý trên thế giới, những khía cạnh phân biệt liên quan đến cấu trúc và các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc tâm lý chỉ được quan tâm nghiên cứu gần đây với sự phát triển của Tâm lý học tích cực Mô hình hạnh phúc tâm lý được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu là cấu trúc sáu mặt do Carol Ryff (1989) phát triển Trong khi

đó với giá trị bản thân, tuy còn nhiều quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận, đối với khách thể là sinh viên nói riêng, các tác giả đã xác định những lĩnh vực mà cá nhân dựa vào để phát triển giá trị bản thân trải từ những lĩnh vực bên ngoài đến lĩnh vực bên trong Các tác giả cũng đưa ra bằng chứng về mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý trên nhiều nghiên cứu với khách thể khác nhau Những kết quả bước đầu cho thấy có sự liên quan tiêu cực của việc xác định giá trị bản thân vào những lĩnh vực bên ngoài đến hạnh phúc tâm lý Cá nhân nào dựa vào những lĩnh vực bên ngoài để xác định giá trị bản thân có nguy cơ đối mặt với những hệ quả của nó lên hạnh phúc tâm lý của mình (Sanchez và Crocker, 2005)

Trong khi đó, tại Việt Nam, các nghiên cứu có liên quan hướng đến việc làm

rõ những khía cạnh ảnh hưởng đến lòng tự trọng, tự đánh giá, giá trị bản thân cũng như hạnh phúc nói chung và hạnh phúc tâm lý nói riêng trên các khách thể khác nhau Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa sự tự đánh giá, lòng tự trọng và hạnh phúc tâm lý Tuy nhiên, hướng nghiên cứu về mối quan

hệ giữa giá trị bản thân và lĩnh vực xác định giá trị bản thân bao gồm bảy lĩnh vực theo thang đo của Crocker và cộng sự với mô hình hạnh phúc tâm lý sáu mặt của Ryff trên sinh viên vẫn còn khá hạn chế

Để có cái nhìn khoa học, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa mức độ và những lĩnh vực xác định giá trị bản thân với hạnh phúc tâm lý trên thanh niên Việt Nam

nói chung, sinh viên nói riêng, đề tài “Mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên” được xác lập

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định thực trạng giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên, trên cơ

sở đó đánh giá mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên

Trang 12

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên

4 Giả thuyết nghiên cứu

- Giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của đa số sinh viên ở mức trung bình – khá Bên cạnh đó, sinh viên chủ yếu xác định giá trị bản thân dựa trên sự công nhận

từ người khác theo thang đo CWS

- Có sự khác biệt ý nghĩa khi so sánh giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên dựa trên các tham số nghiên cứu, bao gồm giới tính, năm học, ngành học, học lực và kết quả rèn luyện

- Giá trị bản thân tổng quát có tương quan thuận với hạnh phúc tâm lý của sinh viên Bên cạnh đó, giá trị bản thân được xác định trên các lĩnh vực bên ngoài có tương quan nghịch với khía cạnh tự chủ và tự chấp nhận của hạnh phúc tâm lý

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu được xác định như trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài bao gồm giá trị bản thân, hạnh phúc tâm lý, mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý, đặc điểm tâm lý của thanh niên sinh viên

- Khảo sát thực trạng và làm rõ mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên

6 Giới hạn nghiên cứu

6.1 Về nội dung

Đề tài tiếp cận khái niệm giá trị bản thân (self - worth) dưới góc độ là một thành tố của lòng tự trọng (self - esteem), khái niệm hạnh phúc tâm lý (psychological well-being) theo mô hình cấu trúc sáu mặt của Carol Ryff

6.2 Về khách thể nghiên cứu

Đề tài tiến hành khảo sát trên 728 sinh viên từ năm 1 đến năm 4 tại thành phố

Trang 13

Hồ Chí Minh

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Với mục đích xây dựng cơ sở lý luận về giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên, phương pháp nghiên cứu lý luận được tiến hành bằng cách tập hợp tài liệu liên quan, phân tích thành từng đơn vị kiến thức và khái quát thành một hệ thống lý thuyết riêng phù hợp cho đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

a Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp được tiến hành bằng việc xây dựng bảng hỏi dựa trên cơ sở lý luận của đề tài và phát bảng hỏi đến các sinh viên nhằm khảo sát về mức độ, cách thể hiện giá trị bản thân, hạnh phúc tâm lý và sự khác biệt giữa các sinh viên Về giá trị bản thân, bảng hỏi sử dụng thang đo những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bao gồm ngoại hình, sự công nhận từ người khác, sự cạnh tranh, năng lực học tập, sự hỗ trợ từ gia đình, phẩm chất đạo đức và niềm tin tôn giáo của Crocker, Luhtanen, Cooper và Bouvrette (2003), đồng thời xây dựng thang đo mức độ giá trị bản thân tổng quát của sinh viên trong các hoạt động học tập, kinh tế - văn hóa – xã hội và giao tiếp

Về hạnh phúc tâm lý, sử dụng thang đo hạnh phúc tâm lý trên sáu mặt bao gồm sự tự chấp nhận, mối quan hệ tích cực với người khác, sự tự chủ, quản lý môi trường, mục đích trong cuộc sống và sự phát triển cá nhân của Ryff (1989)

b Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn được sử dụng như công cụ hỗ trợ làm rõ hơn mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý của sinh viên Phương pháp được tiến hành bằng việc xây dựng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc dựa trên cơ sở lý luận của đề tài Kết quả sau đó được xử lý dựa trên các kỹ thuật phân tích định tính

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý và phân tích các số liệu thu thập được từ bảng hỏi thông qua chương trình SPSS Các thông số thống kê nghiên cứu cần thực hiện bao gồm điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định trung bình và hệ số tương quan

Trang 14

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ

TRỊ BẢN THÂN VÀ HẠNH PHÚC TÂM LÝ

CỦA SINH VIÊN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về giá trị bản thân và hạnh phúc tâm

1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

a Một số nghiên cứu trên thế giới về giá trị bản thân

Xu hướng nghiên cứu về giá trị bản thân hiện nay xoay quanh hai chủ đề chính bao gồm việc xác định những lĩnh vực quan trọng đối với giá trị bản thân của một người và các cách thức hay chiến lược cá nhân sử dụng nhằm bảo vệ giá trị bản thân

* Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân

Năm 2003, với nghiên cứu “Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân của sinh viên đại học: Lý thuyết và cách đo lường” (Contingencies of self-worth in college students: Theory and measurement), Crocker và cộng sự (2003) đã xây dựng một

thang đo với mục đích xác định xu hướng lựa chọn những lĩnh vực mà sinh viên dựa vào để phát triển giá trị bản thân Những lĩnh vực này bao gồm ngoại hình, sự công nhận từ người khác, sự cạnh tranh, năng lực học tập, sự hỗ trợ từ gia đình, phẩm chất đạo đức và niềm tin tôn giáo Từ đó, nhiều nghiên cứu đã thích nghi thang đo này sang các phiên bản khác nhau chẳng hạn như bản tiếng Nhật trong

nghiên cứu "Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân trong văn hóa Nhật Bản: Kiểm định thang đo những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bản tiếng Nhật" (Contingencies of self-worth in Japanese culture: Validation of the Japanese contingencies of self-worth scale) của Uchida (2008), tiếng Thổ Nhĩ Kỳ trong "Tính giá trị và độ tin cậy của thang đo những lĩnh vực xác định giá trị bản thân" (The validity and reliability of contingencies of self-worth scale) của Çetin, Akin và Eroglu (2011) và tiếng Rumani trong nghiên cứu "Đặc điểm đo lường tâm lý của thang đo những lĩnh vực xác định giá trị bản thân trên một mẫu sinh viên người Rumani" (Psychometrical properties of the contingencies of self worth scale on a

Trang 15

Romanian student sample) của Bentea (2015) Bên cạnh việc xác định tính giá trị và

độ tin cậy cao như các phiên bản tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (Çetin, Akin và Eroglu, 2011)

và tiếng Rumani (Bentea, 2015), phiên bản tiếng Nhật của thang đo này đã phát triển thêm lĩnh vực mối quan hệ hài hòa làm cơ sở xác định giá trị bản thân (Uchida, 2008)

Trong bảy lĩnh vực xác định giá trị bản thân theo thang đo CSW, các nghiên cứu hiện nay tiếp cận nhiều hơn đến lĩnh vực ngoại hình và năng lực học tập Với lĩnh vực ngoại hình, các nghiên cứu tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa việc đặt giá trị bản thân dựa trên ngoại hình với sự giám sát chặt chẽ về cơ thể, từ việc bị xã hội

từ chối đến hành vi thể hiện bản thân trên mạng xã hội, với các hoạt động nhằm bảo

vệ giá trị bản thân dựa trên ngoại hình hay tìm hiểu mối quan hệ trong việc tìm kiếm và xử lý thông tin liên quan đến hình ảnh cơ thể Các nghiên cứu về lĩnh vực này nói riêng thường được thực hiện trên khách thể là nữ giới Mối quan hệ giữa giá trị bản thân dựa trên ngoại hình với sự không hài lòng về cơ thể hay mức độ giám

sát cơ thể được nghiên cứu trong các năm 2012 với nghiên cứu "Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân và mối quan tâm ngoại hình: Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân liệu có quan trọng?" (Contingencies of self-worth and appearance concerns: Do domains of self-worth matter?) của Overstreet và Quinn, năm 2018 với nghiên cứu "Một cuộc điều tra về sự ức chế trở lại thông tin cơ thể trong bạn với giá trị bản thân dựa trên hình dáng hay cân nặng cao hay thấp" (An investigation of inhibition of return to body information in you with high or low shape/weight-based self-worth) của Forsyth và trong năm 2019 với nghiên cứu "Từ chối giữa các cá nhân và khẳng định bản thân: Tác động điều tiết của giá trị bản thân dựa vào cân nặng đến sự đánh giá về hình ảnh cơ thể của phụ nữ" (Interpersonal rejection and self-affirmation: The moderating eect of body weight contingent self worth on women’s body image evaluation) của O’Driscoll Kết quả

các nghiên cứu cho thấy, việc đặt giá trị bản thân dựa trên ngoại hình nói chung và trọng lượng hay hình dáng cơ thể nói riêng của nữ giới có khả năng tăng cường sự giám sát cơ thể và làm suy giảm mức độ hài lòng về ngoại hình của cá nhân nhiều hơn so với các lĩnh vực khác (Overstreet và Quinn, 2012; O’Driscoll, 2019) ên

Trang 16

cạnh đó, những phụ nữ không đặt giá trị bản thân dựa trên hình dáng hoặc cân nặng

ít chú ý đến hình ảnh về một cơ thể không được lý tưởng hơn so với kích thích hình ảnh đối chứng, tuy nhiên kết quả này trái ngược với các kích thích từ ngữ liên quan đến cơ thể không được lý tưởng (Forsyth, 2018)

Trong lĩnh vực năng lực học tập, các nghiên cứu đã xem xét mối quan hệ giữa việc đặt giá trị bản thân dựa trên năng lực học tập với thành tích trong nghiên

cứu "Liên hệ giữa giá trị bản thân dựa trên học thuật và thành tích của sinh viên phụ thuộc vào lĩnh vực nhận dạng bản thân và môi trường học thuật" (The link between basing self-worth on academics and student performance depends on domain identification and academic setting) của Lawrence và Charbonneau (2009), với động cơ học tập và sự cầu toàn trong nghiên cứu "Bảo vệ bản thân? Khám phá mối liên hệ giữa sự cầu toàn, những lĩnh vực xác định giá trị bản thân và định hướng mục tiêu thành tích của sinh viên" (Maintaining the self? Exploring the connections between students' perfectionistic profiles, self-worth contingency, and achievement goal orientations) của Ståhlberg, Tuominen, Pulkka và Niemivirta (2019), với phản ứng sinh lý và hành vi trong nghiên cứu "Phản ứng sinh lý và hành

vi khi giá trị bản thân dựa trên năng lực" (Physiological and behavioral reactivity when one’s self-worth is staked on competence) của Blom, Johnson và Patching

(2011), bên cạnh các yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần chẳng hạn như căng

thẳng, lo âu và trầm cảm trong học tập với nghiên cứu "Sự lo âu giải thích lý do người có giá trị bản thân dựa trên các lĩnh vực thực hiện kém hơn trong các bài kiểm tra đánh giá khả năng" (Anxiety explains why people with domain-contingent self-worth underperform on ability-diagnostic tests) của Lawrence và Williams (2013) và nghiên cứu "Căng thẳng trong học tập và cảm nhận tích cực: Giá trị châu Á và những lĩnh vực xác định giá trị bản thân là những biến điều tiết trong sinh viên quốc tế người Trung Quốc" (Academic stress and positive affect: Asian value and self-worth contingency as moderators among Chinese international students) của Liao và Wei (2014) Kết quả các nghiên cứu cho thấy, cá nhân có giá

trị bản thân dựa trên năng lực nhiều hơn có phản ứng mạnh mẽ được chỉ báo bởi chỉ

số huyết áp và lực phản ứng cao (Blom, Johnson và Patching, 2011) Việc đặt giá trị

Trang 17

bản thân dựa trên việc học còn có khả năng gia tăng sự lo âu và giảm hiệu suất trong việc học nếu cá nhân trong một môi trường mang tính đánh giá về khả năng (Lawrence và Williams, 2013) và bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như sự công nhận từ gia đình với thành tích của cá nhân (Liao và Wei, 2014) Trong mối quan hệ giữa việc sở hữu giá trị bản thân dựa trên năng lực học tập với thành tích học tập, một số yếu tố liên quan có thể bao gồm sự nhận dạng bản thân với môn học (Lawrence và Charbonneau, 2009) và sự cầu toàn cá nhân (Ståhlberg, Tuominen, Pulkka và Niemivirta, 2019)

Các nghiên cứu về những lĩnh vực còn lại trong thang đo Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân còn khá hạn chế, đặc biệt đối với hai lĩnh vực bên trong bao

gồm phẩm chất đạo đức và niềm tin tôn giáo Hai lĩnh vực sự công nhận từ người khác và sự cạnh tranh đã được tìm hiểu trong các nghiên cứu năm 2016 của

Shimizu, Niiya và Shigemasu, "Mục tiêu thành tích và sự cải thiện sau thất bại: Vai trò điều tiết của tự trắc ẩn và những lĩnh vực xác định giá trị bản thân" (Achievement goals and improvement following failure: Moderating roles of self- compassion and contingency of self-worth), nghiên cứu năm 2017 của Enjaian, Zeigler-Hill và Vonk, "Mối quan hệ giữa lòng tự trọng dựa trên sự công nhận từ người khác và sự tuân thủ bị ảnh hưởng bởi giới tính và nhiệm vụ khó khăn" (The relationship between approval-based contingent self-esteem and conformity is influenced by sex and task difficulty) hay nghiên cứu của Jung, Ha và Lee (2017),

"Ảnh hưởng của những lĩnh vực xác định giá trị bản thân (sự vượt trội và sự chấp thuận của người khác) trên sự điều chỉnh và kì vọng cho thành công trong tương lai của sinh viên đại học: Vai trò trung gian của tính linh hoạt nhận thức" (The effects

of contingencies of self-worth (superiority and others’ approval) in college students’ adjustment and expectancy for future success: The roles of cognitive flexibility as mediators) Kết quả các nghiên cứu cho thấy, giới tính và giá trị bản

thân dựa trên sự chấp thuận đã điều tiết mối quan hệ giữa mức độ tự trọng và sự tuân thủ theo những cách thức đa dạng (Enjaian, Zeigler-Hill và Vonk, 2017) Xét riêng giá trị bản thân dựa trên sự cạnh tranh, trong điều kiện xem nhiệm vụ như là một thách thức thay vì là một mối đe dọa, mục tiêu thành thạo sẽ khuyến khích cá

Trang 18

nhân học hỏi từ thất bại nhiều hơn so với mục tiêu về thành tích, đặc biệt khi dưới một mối đe dọa lớn đến cái tôi (Shimizu, Niiya và Shigemasu, 2016) Bên cạnh đó, trong khi sự cạnh tranh có liên quan tích cực, sự chấp thuận của người khác lại liên quan tiêu cực với sự điều chỉnh trong môi trường đại học và sự kì vọng vào thành công trong tương lai của sinh viên, bên cạnh vai trò trung gian của tính linh hoạt nhận thức trong các mối quan hệ này (Jung, Ha và Lee, 2017)

Trong lĩnh vực sự hỗ trợ từ gia đình, năm 2015, McCormick, Turner và Foster

với nghiên cứu "Một mô hình về nhận thức phong cách nuôi dạy của cha mẹ, tính xác thực, những lĩnh vực xác định giá trị bản thân và sự xung đột nội tâm của sinh viên đại học" (A model of perceived parenting, authenticity, contingent self-worth and internalized aggression among college students) đã kiểm tra sự kiểm soát về

mặt tâm lý của cha mẹ liên quan đến tính xác thực và những lĩnh vực xác định giá trị bản thân cùng sự xung đột nội tâm Kết quả cho thấy, trong khi việc kiểm soát tâm lý của cha mẹ có tương quan nghịch với tính xác thực, tính xác thực thấp hơn lại có liên quan đến một giá trị bản thân dựa trên các lĩnh vực cao hơn và giá trị bản thân này lại có liên quan tích cực với sự xung đột nội tâm (McCormick, Turner và Foster, 2015)

Bên cạnh việc tìm hiểu về các lĩnh vực xác định giá trị bản thân theo thang đo CWS, các nghiên cứu còn mở rộng sang những lĩnh vực khác trên các khách thể khác nhau chẳng hạn nghiên cứu về giá trị bản thân dựa trên sự nam tính với

"Thang đo lĩnh vực nam tính (MSC): Sự phát triển thang đo và đặc điểm đo lường tâm lý" (The masculinity contingency scale (MSC): Scale development and psychometric properties) của Burkley, Wong và Bell (2016), giá trị bản thân dựa trên thành công tài chính trong nghiên cứu "Tiền bạc là tất cả (đối với một số người): Hệ quả của giá trị bản thân dựa trên tài chính" (It’s all about the money (for some): Consequences of financially contingent self-worth) của Park, Ward và Naragon-Gainey (2017) hay dựa trên hoạt động thể chất trong "Nghiên cứu tính giá trị và độ tin cậy của Bảng kiểm kê giá trị bản thân dựa trên hoạt động thể chất của

nữ giới bản tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (WPASWI)" (A validity and reliability study of the Turkish version of the Women’s physical activity self-worth inventory (WPASWI))

Trang 19

của Yurtçiçek và Kömürcü (2019) Các nghiên cứu trên cho kết quả xác nhận các cấu trúc và đặc tính đo lường khác nhau trong các thang đo như thang đo tình trạng nam tính (MCS) với lĩnh vực nam tính là nhân tố siêu cấp (superordinate factor) và

2 nhân tố bao gồm MCS–Đe dọa (giá trị bản thân bị đe dọa bởi sự thiếu nam tính)

và MCS–Thúc đẩy (giá trị bản thân được tăng lên nhờ xác nhận có nam tính)

( urkley, Wong và ell, 2016) hay thang đo Bảng kiểm kê giá trị bản thân liên quan đến hoạt động thể chất của phụ nữ phiên bản Thổ Nhĩ Kỳ (Yurtçiçek và

Kömürcü, 2019) Kết quả từ các nghiên cứu còn cho thấy những khía cạnh khác nhau liên quan đến các lĩnh vực có thể ảnh hưởng đến giá trị bản thân Ví dụ như, việc đặt giá trị bản thân dựa trên lĩnh vực tài chính có thể làm suy giảm khả năng tự chủ của cá nhân đồng thời gia tăng nhận thức tiêu cực hay tránh né giải quyết các vấn đề tài chính, tuy nhiên tác động này bị ảnh hưởng bởi cơ hội tự khẳng định bản thân và có thể đem lại nhiều lợi ích chẳng hạn như giảm quyết định chi tiêu (Park, Ward và Naragon-Gainey, 2017)

* Các chiến lƣợc bảo vệ giá trị bản thân

Các nghiên cứu theo chủ đề này xoay quanh việc tìm hiểu những cách ứng phó

đa dạng của cá nhân nhằm bảo vệ giá trị bản thân trước nguy cơ bị tổn hại như

chiến lược giảm đi sự nỗ lực trong nghiên cứu "Xây dựng và kiểm định ban đầu Thang đo bảo vệ giá trị bản thân" (Construction and initial validation of the Self- worth protection scale) của Thompson và Dinnel (2003), tự điều chỉnh với nghiên cứu "Theo đuổi lòng tự trọng: Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân và sự tự điều chỉnh" (The pursuit of self-esteem: Contingencies of self-worth and self- regulation) của Crocker, Brook, Niiya và Villacorta (2006), sử dụng tính hài hước trong nghiên cứu "Không có cơ hội cho niềm vui: Lĩnh vực xác định giá trị bản thân sau một thất bại và đối phó cùng sự hài hước" (No occasion for pleasure: The self- worth contingency of a setback and coping with humor) của Geisler và Assunção (2014), tự trắc ẩn và tự khẳng định với nghiên cứu "Đối phó với mối đe dọa bản thân: Tác động của sự tự trắc ẩn và tự khẳng định bản thân trên giá trị bản thân dựa trên lĩnh vực bên trong" (Coping with self-threat: The impact of self- compassion and self-affirmation on intrinsic contingent self-worth) của Gibson

Trang 20

(2016), tự chấp và bi quan phòng thủ với các nghiên cứu "Mối quan hệ giữa lòng tự trọng và chiến lược bảo vệ giá trị bản thân của sinh viên đại học" (The relationship between self-esteem and self-worth protection strategies in university students) của del Mar Ferradás và cộng sự (2016), nghiên cứu "Việc bảo vệ giá trị bản thân và cách tiếp cận việc học trong giáo dục đại học của sinh viên: Dự báo và hệ quả" (Students’ self-worth protection and approaches to learning in higher education: Predictors and consequences) của Cano, Martin, Ginns và Berbén (2017) và nghiên cứu "Mối liên hệ giữa đặc điểm lòng tự trọng và mục tiêu thành tích với việc bảo vệ giá trị bản thân của sinh viên đại học" (Associations between profiles of self-esteem and achievement goals and the protection of self-worth in university students) của

del Mar Ferradás, Freire, Núñez và Regueiro (2019)

Kết quả các nghiên cứu trên cho thấy, mặc dù đều có mục đích bảo vệ giá trị bản thân trước những thách thức, các phương thức bị ảnh hưởng bởi các yếu tố liên quan có thể đem lại những tác động khác nhau đến giá trị bản thân Chẳng hạn như, việc đặt giá trị bản thân dựa trên một lĩnh vực nào đó có thể tạo điều kiện cho sự tự điều chỉnh của cá nhân mặc dù một số nguy cơ có thể xảy khi những thử thách thật

sự khó khăn và có khả năng thất bại (Crocker, Brook, Niiya và Villacorta, 2006) Bên cạnh đó, việc sử dụng sự hài hước để đối phó với một thất bại lớn đối với giá trị bản thân bị cản trở bởi hai quá trình kích hoạt mục tiêu và che chắn mục tiêu và

do đó giá trị bản thân càng dựa vào một lĩnh vực nào đó thì cá nhân càng ít có khả năng sử dụng sự hài hước để đối phó với sự thất bại trong cùng lĩnh vực (Geisler và Assunção, 2014) Các chiến lược bao gồm tự khẳng định và tự trắc ẩn lại chỉ có tác động nhất định đến những lĩnh vực bên ngoài mà không ảnh hưởng đáng kể đến giá trị bản thân dựa trên những lĩnh vực bên trong, bất kể là có hay không sự tồn tại mối

đe dọa (Gibson, 2016) Trong khi đó, các chiến lược như sự tự chấp và bi quan phòng thủ của sinh viên có sự khác biệt giữa nam và nữ (del Mar Ferradás et al., 2016), giữa các mức độ lo âu, giữa mức độ tích cực hay tiêu cực của trải nghiệm trong việc học, giữa cách thức học tập đơn giản hay một phương pháp học tập phù hợp, giữa động lực học tập bên trong và động lực học tập bên ngoài (Cano, Martin, Ginns và Berbén, 2017) hay giữa các mức độ lòng tự trọng tổng quát (del Mar

Trang 21

Ferradás, Freire, Núñez và Regueiro, 2019) Một số thang đo cũng đã được phát

triển như thang đo ảo vệ giá trị bản thân (SWPS) để hỗ trợ xác định các cá nhân

có biểu hiện bảo vệ giá trị bản thân trong các tình huống liên quan đến thành tích với giả định về chiến lược cố tình giảm đi sự nỗ lực để chống lại kết luận về khả năng thấp kém nhằm bảo vệ giá trị bản thân của cá nhân (Thompson và Dinnel, 2003)

b Một số nghiên cứu trên thế giới về hạnh phúc tâm lý

Do quá trình phát triển lâu dài, nghiên cứu về hạnh phúc nói chung và hạnh phúc tâm lý nói riêng đã mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, có ba khía cạnh chính thường được quan tâm trong các nghiên cứu về hạnh phúc tâm lý bao gồm việc xác định cấu trúc hạnh phúc tâm lý, mối liên hệ giữa hạnh phúc tâm

lý với các vấn đề liên quan đến sức khỏe cũng như hạnh phúc tâm lý trong các môi trường xã hội khác nhau

on the meaning of psychological well-being) Theo đó, sáu nhân tố của hạnh phúc

tâm lý bao gồm sự tự chấp nhận, mối quan hệ tích cực với người khác, sự tự chủ, quản lý môi trường, mục đích trong cuộc sống và sự phát triển cá nhân (Ryff, 1989) Cấu trúc này được đánh giá lại trong những năm sau đó trên nhiều khía cạnh như

xem xét tính giá trị về nhân tố và giá trị nội dung của thang đo trong "Giá trị khái niệm của thang đo của Ryff về hạnh phúc tâm lý và sự mở rộng của nó với hạnh phúc tâm linh" (The construct validity of Ryff’s scales of psychological well-being

and its extension with spiritual well-being) của van Dierendonck thực hiện năm

2003 hay nhằm phân biệt hai khái niệm là cảm nhận hạnh phúc (subjective

well-being) và hạnh phúc tâm lý (psychological well-well-being) với các nghiên cứu "Đo

Trang 22

lường hạnh phúc: Cấu trúc nhân tố bậc cao của các thang đo cảm nhận hạnh phúc

và hạnh phúc tâm lý" (Measuring happiness: The higher order factor structure of

subjective and psychological well-being measures) của Linley, Maltby, Wood,

Osborne và Hurling (2009) và nghiên cứu "Hai khái niệm hay hai cách tiếp cận? Một phân tích bifactor về hạnh phúc tâm lý và cảm nhận hạnh phúc" (Two concepts

or two approaches? A bifactor analysis of psychological and subjective well-being) của Chen, Jing, Hayes và Lee (2013) Từ các nghiên cứu, chất lượng đo lường tâm

lý của thang đo hạnh phúc tâm lý đã được thử nghiệm cho các phiên bản 3 items/mặt, 9 items/mặt và 14 items/mặt, theo đó có sự khác biệt về giá trị nhân tố và nội dung giữa các phiên bản (van Dierendonck, 2003) Các nghiên cứu còn sử dụng nhiều phương pháp thống kê khác nhau như phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố xác nhận hay mô hình bifactor trên các mẫu đại diện khi kiểm tra sự khác biệt giữa hai mô hình hạnh phúc Theo đó, cảm nhận hạnh phúc và hạnh phúc tâm

lý có liên quan chặt chẽ ở cấp độ nhân tố hạnh phúc tổng quát nói chung bên cạnh các nhân tố riêng biệt khi xem xét từng mô hình (Chen, Jing, Hayes và Lee, 2013; Linley, Maltby, Wood, Osborne và Hurling, 2009) Gần đây, đánh giá tổng quan về

hạnh phúc tâm lý của Carol Ryff (2014) trong "Nhìn lại hạnh phúc tâm lý: Những tiến bộ trong khoa học và thực hành eudaimonia" (Psychological well-being revisited: Advances in the science and practice of eudaimonia) đã xem xét những

công trình nghiên cứu có liên quan đến cấu trúc hạnh phúc tâm lý nói riêng và các chủ đề chính xoay quanh hạnh phúc tâm lý Theo đó, qua nhiều nghiên cứu khác nhau, để đảm bảo chất lượng đánh giá của cấu trúc, người nghiên cứu cần sử dụng thang đo 14 items hoặc tối thiểu là phiên bản 7 items Bên cạnh đó, thang đo cũng

đã được chuẩn hóa trên 30 ngôn ngữ hay thậm chí phát triển một phiên bản phỏng vấn trong nỗ lực hoàn thiện thang đo theo mô hình hạnh phúc tâm lý (Ryff, 2014)

* Hạnh phúc tâm lý và các vấn đề sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần

Hạnh phúc tâm lý được tìm hiểu trong mối quan hệ với một số vấn đề liên

quan đến sức khỏe chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp với nghiên cứu "Những dự báo tâm lý về mức độ nghiêm trọng của cơn đau, sự cản trở bởi những cơn đau, trầm cảm và lo âu ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đau mãn tính" (Psychological

Trang 23

predictors of pain severity, pain interference, depression, and anxiety in rheumatoid arthritis patients with chronic pain) của Ryan và McGuire (2016), việc nhiễm HIV với nghiên cứu "Tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống khi sống với HIV: Xác nhận thang đo ý nghĩa HIV mới trong số những người tham gia nhiễm HIV sống ở Tennessee" (Finding meaning in life while living with HIV: Validation of a novel HIV meaningfulness scale among HIV-infected participants living in Tennessee) của Audet, Wagner và Wallston (2015), các vấn đề về tim mạch với nghiên cứu "Hạnh phúc tâm lý tích cực và bệnh tim mạch" (Positive psychological well-being and cardiovascular disease) của Kubzansky và cộng sự (2018), với đau khổ tinh thần trong nghiên cứu năm 2015 của Knowlden, Hackman và Sharma, "Lối sống và sức khỏe tâm thần tương quan với đau khổ tinh thần của sinh viên đại học" (Lifestyle and mental health correlates of psychological distress in college students) và với bệnh tâm thần không gây rối loạn tâm thần trong nghiên cứu năm 2018 của Ho, Ngai, Wu và Hou, "Sự liên kết giữa trải nghiệm cuộc sống hàng ngày và hạnh phúc tâm lý của những người có bệnh tâm thần không gây rối loạn tâm thần: Hồ sơ đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp" (Association between daily life experience and psychological well-being in people living with nonpsychotic mental disorders: Protocol for a systematic review and meta-analysis) Kết quả các nghiên cứu cho

thấy, hạnh phúc tâm lý có mối quan hệ với sức khỏe thể chất lẫn sức khỏe tinh thần của cá nhân Các khía cạnh của hạnh phúc tâm lý có mối liên hệ khác nhau với sức khỏe tùy thuộc vào vấn đề gặp phải chẳng hạn như sự lạc quan và duy trì quan điểm tích cực có liên quan đến các chỉ số về sức khỏe tim mạch và có thể được trung gian thông qua các con đường sinh học, hành vi và tâm lý xã hội (Kubzansky et al., 2018), giúp kiểm soát căng thẳng tốt hơn, gia tăng năng lực bản thân và chất lượng cuộc sống, dẫn đến nâng cao khả năng ứng phó và kết quả sức khỏe tốt hơn với những cá nhân nhiễm HIV (Audet, Wagner và Wallston, 2015) cũng như giảm mức

độ đau khổ về tinh thần (Knowlden, Hackman và Sharma, 2015) Bên cạnh sự lạc quan, các khía cạnh khác như sự tự chủ và sự thân mật đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hạnh phúc tâm lý của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp (Ryan và McGuire, 2016) trong khi quá trình điều trị các bệnh tâm thần không gây rối loạn

Trang 24

tâm thần nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của việc duy trì trải nghiệm cuộc sống hàng ngày giúp bệnh nhân phục hồi khỏi các rối loạn, duy trì hoặc tăng cường hạnh phúc tâm lý và tái hòa nhập xã hội (Ho, Ngai, Wu và Hou, 2018)

Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy những tác động khác nhau của hoạt

động chăm sóc sức khỏe đến hạnh phúc tâm lý như nghiên cứu "Những lợi ích của hiện hữu thực tại: Chánh niệm và vai trò của nó với hạnh phúc tâm lý" (The benefits of being present: Mindfulness and its role in psychological well-being) của

rown và Ryan (2003) đã kiểm tra cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm về vai trò

của chánh niệm đối với hạnh phúc tâm lý, nghiên cứu "Sức khỏe thể chất và hạnh phúc tâm lý của trẻ thừa cân tham gia can thiệp dài hạn dựa trên luyện tập judo" (Physical and psychological well-being in overweight children participating in a long-term intervention based on judo practice) của Geertz và cộng sự (2017) đã

kiểm tra những thay đổi về sức khỏe thể chất lẫn hạnh phúc tâm lý của trẻ thừa cân

sau quá trình luyện tập judo, hay gần đây nhất, nghiên cứu "Hạnh phúc tâm lý và nhận thức về sức khỏe: Những dự báo cho quá khứ, hiện tại và tương lai" (Psychological well-being and health perception: Predictors for past, present and future) của Leite, Ramires, MOURA, Souto và Marôco thực hiện năm 2019 trên

1155 người Bồ Đào Nha ở nhiều môi trường đã cho thấy sự tác động khác nhau của các chiều kích hạnh phúc tâm lý đối với nhận thức sức khỏe Nhìn chung, các kết quả cho thấy, nhận thức về sức khỏe hiện tại của cá nhân là một trong những yếu tố

dự báo hạnh phúc tâm lý mạnh mẽ (Leite, Ramires, MOURA, Souto và Marôco, 2019) Bên cạnh đó, các hoạt động chăm sóc sức khỏe có tác động đáng kể đến hạnh phúc tâm lý, chẳng hạn như thiền định dự đoán hành vi tự điều chỉnh, trạng thái cảm xúc tích cực, làm suy giảm rối loạn tính khí và căng thẳng (Brown và Ryan, 2003) hay việc luyện tập judo như một phương pháp hỗ trợ lối sống năng động và có ảnh hưởng đến thể lực và hạnh phúc tâm lý ở trẻ em và vị thành niên thừa cân và béo phì (Geertz et al., 2017)

* Hạnh phúc tâm lý trong các mối quan hệ xã hội

Hạnh phúc tâm lý còn được quan tâm nghiên cứu trong các mối quan hệ xã hội, đặc biệt xem xét trong môi trường gia đình và môi trường lao động của cá

Trang 25

nhân Các nghiên cứu về hạnh phúc tâm lý liên quan đến gia đình được tìm hiểu

trên nhiều lứa tuổi khác nhau chẳng hạn như học sinh tiểu học với nghiên cứu "Dự báo về hạnh phúc tâm lý theo chức năng gia đình và nhu cầu tâm lý cơ bản của học sinh" (The prediction of psychological well-being according to family function and basic psychological needs of students) của Akhbarati và Bashardoust (2016), vị thành niên với nghiên cứu "Gia đình rối loạn chức năng, sự hỗ trợ xã hội và hạnh phúc tâm lý của người vị thành niên ở Greater Accra" (Dysfunctional family, social support and psychological well-being of adolescents in Greater Accra) của Akwei (2015), sinh viên với nghiên cứu "Ảnh hưởng của lo âu, trầm cảm, nhân cách và sự tương tác trong gia đình đối với hạnh phúc tâm lý và ý định tự tử của sinh viên điều dưỡng người Úc" (Influences of Australian nursing students’ anxiety, depression, personality and family interaction on their psychological well-being and suicidal ideation) của Yeh, Moxham, Patterson và Antoniou (2016) và trên người trưởng thành trẻ tuổi nói chung với nghiên cứu "Sự cô đơn của người trưởng thành trẻ tuổi: Các hình thức giao thoa và mối liên hệ với hạnh phúc tâm lý và đặc điểm gia đình ở miền Bắc Đài Loan" (Loneliness in young adulthood: Its intersecting forms and its association with psychological well-being and family characteristics in Northern Taiwan) của Chiao, Chen và Yi (2019)

Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của gia đình đối với hạnh phúc tâm lý của cá nhân qua các giai đoạn phát triển Cá nhân có một gia đình với đầy đủ chức năng có hạnh phúc tâm lý tốt hơn (Akwei, 2015), chẳng hạn như một gia đình mà cá nhân có thể biểu đạt cảm xúc, tự chủ và thể hiện năng lực cá nhân (Akhbarati và Bashardoust, 2016) Sự xung đột trong quan hệ giữa phụ huynh với nhau có mối quan hệ tiêu cực với hạnh phúc tâm lý của người vị thành niên (Akwei, 2015) và để lại hệ quả đến những giai đoạn sau đó Sự gắn kết kém trong gia đình hay những kỷ luật khắc nghiệt của phụ huynh có mối quan hệ tiêu cực với hạnh phúc tâm lý (Yeh, Moxham, Patterson và Antoniou, 2016), gia tăng khả năng

cô đơn, tăng tỷ lệ các triệu chứng trầm cảm, ý nghĩ tự tử cũng như tần suất sử dụng rượu hay hạ thấp lòng tự trọng (Chiao, Chen và Yi, 2019) Vai trò của gia đình không chỉ đến từ gia đình gốc của cá nhân mà còn được tìm hiểu liên quan đến gia

Trang 26

đình riêng mà cá nhân xây dựng sau này chẳng hạn như sự gắn kết trong hôn nhân làm suy giảm mức độ ảnh hưởng của sự cô đơn về mặt tình cảm so với những người sống một mình (Chiao et al., 2019)

Hạnh phúc tâm lý trong môi trường công việc được tìm hiểu trên nhiều nhóm

ngành khác nhau chẳng hạn như dệt may với nghiên cứu "Hạnh phúc tâm lý và hiệu suất công việc: Vai trò trung gian của sự gắn kết trong công việc" (Psychological well-being and job performance: The mediating role of work engagement) của Sahin và Cankir (2018), quản lý khách sạn với nghiên cứu "Những ảnh hưởng của chủ nghĩa cầu toàn tích cực và cầu toàn tiêu cực đến sự gắn kết trong công việc, hạnh phúc tâm lý và cạn kiệt cảm xúc" (The effects of positive and negative perfectionism on work engagement, psychological well-being and emotional exhaustion) của Kanten và Yesıltas (2015), chăm sóc y tế với nghiên cứu "Nghiên cứu về sự can thiệp giữa công việc và gia đình vào sự hài lòng trong công việc và hạnh phúc tâm lý của các nữ chuyên gia làm việc trong lĩnh vực y tế" (The study of work-family interference and facilitation on job satisfaction and psychological well being among working women professionals in health sector) của Haider, Hafeez, Shafiq, Mubashir và Mahmood (2019), giáo dục với nghiên cứu "Trí thông minh cảm xúc và cam kết với tổ chức có liên quan thông qua sự điều tiết của hạnh phúc tâm lý và cân bằng giữa cuộc sống với công việc: Một nghiên cứu về giáo viên trong các tổ chức phi chính phủ" (Relating emotional intelligence and organisational commitment through moderated mediation of psychological well being and work life balance: A study on teachers of NGOs) của Singh (2016) Một

số nghiên cứu tìm hiểu trên người lao động nói chung với nghiên cứu "Căng thẳng trong công việc và hạnh phúc tâm lý: Một nghiên cứu định lượng xem xét ảnh hưởng của căng thẳng trong công việc đến hạnh phúc tâm lý trong suốt cuộc đời làm việc" (Straining work and psychological well-being: A quantitative study examining the effects of straining work on psychological well-being over a lifetime

of work) của Löfman (2018) hay liên quan đến các cấp lãnh đạo với nghiên cứu

"Tác động của lãnh đạo tiêu cực đến hạnh phúc tâm lý và xung đột giữa công việc

và gia đình: Những ý nghĩa đối với sự thành công trong dự án của các công ty

Trang 27

Bahrain" (Dark leadership impact on psychological well-being and work-family conflict: Implications for project success of Bahrain companies) của Saleh, Hu,

Hassan và Khudaykulova (2018)

Kết quả những nghiên cứu trên cho thấy, một số yếu tố tham gia vào mối quan

hệ giữa hạnh phúc tâm lý với hiệu suất làm việc của nhân viên có thể bao gồm sự gắn kết với công việc, sự cầu toàn của nhân viên, mức độ căng thẳng trong môi trường lao động, đặc điểm nhân cách của người lãnh đạo hay mâu thuẫn vai trò gia đình và công việc Trong khi sự gắn kết với công việc trung gian một phần mối quan hệ giữa hạnh phúc tâm lý và hiệu suất công việc (Sahin và Cankir, 2018), các mức độ cầu toàn có ảnh hưởng khác nhau đến hạnh phúc tâm lý và sự gắn kết trong công việc Nhân viên có đặc điểm cầu toàn tích cực ảnh hưởng đến sự gắn kết công việc và hạnh phúc tâm lý một cách tích cực, trong khi sự cầu toàn tiêu cực làm suy giảm hạnh phúc tâm lý cá nhân (Kanten và Yesıltas, 2015) Một môi trường làm việc đầy căng thẳng với mức độ yêu cầu cao và sự kiểm soát thấp cũng được chứng minh gây tổn hại lớn đến hạnh phúc tâm lý (Löfman, 2018) Bên cạnh đó, các đặc điểm nhân cách tiêu cực của người đứng đầu tổ chức có ảnh hưởng tiêu cực đến hạnh phúc tâm lý cũng như gia tăng mâu thuẫn vai trò trong công việc và gia đình của nhân viên, theo đó tác động tiêu cực đến thành công trong kinh doanh và dự án (Saleh, Hu, Hassan và Khudaykulova, 2018) Các mâu thuẫn trong vai trò khác nhau ở gia đình và công việc cũng có tác động tiêu cực đến sự hài lòng trong công việc và hạnh phúc tâm lý (Haider, Hafeez, Shafiq, Mubashir và Mahmood, 2019) Theo đó, một sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc điều tiết sự liên kết giữa hạnh phúc tâm lý với sự gắn kết trong tổ chức của cá nhân (Singh, 2016)

c Một số nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc, hạnh phúc tâm lý

Năm 2005, trong "Sự xem trọng lý tưởng giới ảnh hưởng đến hạnh phúc như thế nào: Vai trò của những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài" (How investment in gender ideals affects well-being: The role of external contingencies of self-worth), Sanchez và Crocker đã nghiên cứu trên sinh viên về ảnh hưởng của lý

tưởng về giới đối với hạnh phúc tâm lý thông qua những lĩnh vực xác định giá trị

Trang 28

bản thân bên ngoài Theo đó, cá nhân nào để người khác định mức giá trị bản thân

và lý tưởng về giới cho mình sẽ bị giới hạn trong sự đánh giá về hành vi, vai trò theo giới và có thể cảm nhận sự thiếu khả năng tự chủ, thông qua đó làm giảm đi niềm vui và sự thỏa mãn cá nhân (Sanchez và Crocker, 2005)

Cũng trong năm 2005, trong "Nhu cầu được chấp nhận và hạnh phúc của trẻ em" (Need for approval and children's well-being), Rudolph, Caldwell và Conley

đã kiểm chứng sự ảnh hưởng của khuynh hướng xác định giá trị bản thân dựa vào

sự chấp nhận từ bạn đồng trang lứa đến những khía cạnh của hạnh phúc Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhu cầu được chấp nhận từ bạn bè của trẻ làm tăng hoặc giảm giá trị bản thân, theo đó ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sự tự đánh giá về cá nhân (Rudolph, Caldwell và Conley, 2005)

Năm 2008, trong "Tự khách thể hóa và hạnh phúc trong đời sống hằng ngày của phụ nữ" (Self-objectification and well-being in women’s daily lives), Breines,

Crocker và Garcia đã nghiên cứu trên nữ sinh viên về sự nội hóa nhận thức của người quan sát về cái tôi với hạnh phúc tâm lý Kết quả nghiên cứu cho thấy mức

độ tăng dần của việc khách thể hóa cái tôi có liên quan đến sự suy giảm hạnh phúc dưới sự điều tiết của lòng tự trọng thuộc tính và việc sử dụng ngoại hình nhằm xác định giá trị bản thân (Breines, Crocker và Garcia, 2008)

Năm 2010, trong "Mối quan hệ giữa ứng phó, giá trị bản thân và cảm nhận hạnh phúc: Một mô hình cấu trúc tuyến tính" (The relationship of coping, self- worth, and subjective well-being: A structural equation model), Smedema, Catalano

và Ebener đã nghiên cứu mối quan hệ giữa những biến số khác nhau liên quan đến việc ứng phó với đánh giá về giá trị bản thân và cảm nhận hạnh phúc trên những khách thể bị chấn thương cột sống Kết quả nghiên cứu cho thấy, cảm nhận tích cực

về giá trị bản thân có mối liên quan tích cực với cảm nhận hạnh phúc Sự ứng phó tích cực có tác động một cách tích cực đến cảm nhận hạnh phúc trước hết bằng việc gia tăng cảm nhận tích cực về giá trị bản thân (Smedema, Catalano và Ebener, 2010)

Năm 2014, trong "Lòng tự trọng liên cá nhân, hạnh phúc tâm lý và sự hỗ trợ

xã hội ở trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV" (Relational self-esteem, psychological

Trang 29

well-being, and social support in children affected by HIV), Du và cộng sự đã nhận định

lòng tự trọng liên cá nhân có mối liên quan tích cực đến hạnh phúc tâm lý từ những mối quan hệ đặc biệt đến giá trị bản thân Sự ảnh hưởng HIV đến thành viên gia đình càng nhiều thì càng ít trẻ em trong gia đình đó gắn kết giá trị bản thân trong quan hệ gia đình với hạnh phúc tâm lý của trẻ Thay vào đó, trẻ sẽ có xu hướng gắn kết giá trị bản thân trong quan hệ với bạn bè nhiều hơn (Du, Li, Chi, Zhao và Zhao, 2014)

1.1.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về giá trị bản thân và những lĩnh vực xác định giá trị bản thân còn nhiều hạn chế Liên quan đến giá trị bản thân, các công trình nghiên

cứu tập trung vào sự tự trọng và sự tự đánh giá như trong “Tự đánh giá của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội” của Đỗ Ngọc Khanh (2005), “Khả năng tự đánh giá các phẩm chất ý chí của học sinh trung học phổ thông” của Bùi Thị Hồng Thắm (2010) và nghiên cứu “Khảo sát việc tự đánh giá của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh” của Ngô Thị Đẹp và Dư Thống Nhất (2014) Năm 2018, trong "Giá trị bản thân của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh", Nguyễn

Minh Quân đã nhận định sinh viên nhìn chung có giá trị bản thân ở mức độ khá nhưng có sự chênh lệch mức độ giữa giá trị bản thân tổng quát và giá trị bản thân tạm thời trong các hoạt động khác nhau bao gồm hoạt động học tập, kinh tế - văn hóa - xã hội và giao tiếp Sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu xác định giá trị bản thân dựa trên phẩm chất đạo đức theo thang đo CWS Bên cạnh đó, có sự khác biệt về giá trị bản thân tổng quát, giá trị bản thân tạm thời và những lĩnh vực xác định giá trị bản thân xét theo các tham số nghiên cứu (Nguyễn Minh Quân, 2018)

Đối với đề tài hạnh phúc tâm lý nói riêng và hạnh phúc nói chung, các nghiên cứu tại Việt Nam đã tìm hiểu trên các khách thể là sinh viên và học sinh trung học

Với sinh viên, năm 2015, trong "Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên", tác giả Hoàng

Thị Trang đã nghiên cứu biểu hiện cảm nhận hạnh phúc trên ba mặt cảm xúc, tâm

lý, xã hội của sinh viên và một số yếu tố khách quan và chủ quan có liên quan đến cảm nhận hạnh phúc Theo đó, mức độ cảm nhận hạnh phúc về mặt tâm lý là cao

Trang 30

nhất (Hoàng Thị Trang, 2015) Năm 2017, trong "Cảm nhận hạnh phúc ở trường học của học sinh trường Trung học phổ thông Vĩnh Bảo - Hải Phòng" của tác giả

Nguyễn Thị Thùy Anh, kết quả nghiên cứu cho thấy cảm nhận hạnh phúc của học sinh tại trường Trung học phổ thông Vĩnh ảo có sự phân hóa rõ nét xét theo khối lớp và có tương quan thuận với sự trợ giúp từ phía nhà trường và bạn bè cũng như tương quan nghịch với áp lực học tập của học sinh (Nguyễn Thị Thùy Anh, 2017)

Năm 2018, trong "Ảnh hưởng của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên", Đặng Hoàng Ngân đã nghiên cứu về mối quan hệ và cơ chế ảnh hưởng

của tiêu điểm kiểm soát đến cảm nhận hạnh phúc thông qua các yếu tố trung gian như stress, cơ chế ứng phó với stress và định hướng giá trị cá nhân - cộng đồng Từ

đó, nghiên cứu tìm hiểu việc nâng cao cảm nhận hạnh phúc thông qua điều chỉnh tiêu điểm kiểm soát và các yếu tố trung gian này Kết quả nghiên cứu cho thấy tiêu điểm kiểm soát bên ngoài thúc đẩy stress, từ đó làm giảm cảm nhận hạnh phúc tâm

lý (Đặng Hoàng Ngân, 2018) Năm 2018, trong "Psychological well-being of students in Ho Chi Minh City", Kiều Thị Thanh Trà đã nghiên cứu về hạnh phúc

tâm lý của 500 sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu sử dụng thang đo hạnh phúc tâm lý của Ryff phiên bản 42 items được dịch sang tiếng Việt Kết quả nghiên cứu cho thấy đa phần sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh (68%) có hạnh phúc tâm lý ở mức trung bình Theo đó, sinh viên có điểm số cao nhất trong khía cạnh sự phát triển cá nhân (điểm trung bình là 28,23 và độ lệch chuẩn là 4,99) và có điểm thấp nhất trong khía cạnh tự chủ (điểm trung bình là 25,70 và độ lệch chuẩn là 4,90) Giữa các khía cạnh của hạnh phúc tâm lý có tương quan tích cực với hệ số tương quan từ 0,327 đến 0,516 Nghiên cứu còn cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa về hạnh phúc tâm lý xét theo tham số giới tính nhưng có sự khác biệt đáng kể trong cả sáu khía cạnh cũng như trong hạnh phúc tâm lý nói chung giữa các sinh viên với các chuyên ngành khác nhau bao gồm y dược, giáo dục, kinh tế và dịch vụ, trong đó sinh viên ngành y dược có điểm trung bình hạnh phúc tâm lý thấp nhất

(Kiều Thị Thanh Trà, 2018) Năm 2019, trong "Quan niệm về hạnh phúc của sinh viên tại Hà Nội", Lâm Thanh ình đã xem xét các quan niệm về hạnh phúc và tìm

hiểu thực trạng trên sinh viên, từ đó so sánh theo một số tiêu chí nhân khẩu xã hội

Trang 31

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự khác nhau trong từng quan điểm về hạnh phúc như hạnh phúc thụ hưởng và hạnh phúc giá trị, hạnh phúc định hướng cá nhân và hạnh phúc định hướng xã hội cũng như cho thấy thực trạng quan niệm về hạnh phúc của sinh viên

Về mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý, những nghiên cứu

liên quan còn nhiều hạn chế Năm 2016, trong "Mối liên hệ giữa tự đánh giá và cảm nhận về hạnh phúc của sinh viên", Nguyễn Văn Lượt và Bùi Thị Thu Hà đã chỉ ra

mối tương quan thuận và chặt chẽ giữa tự đánh giá và cảm nhận hạnh phúc của sinh

viên Năm 2018, trong nghiên cứu "Mối quan hệ giữa lòng tự tôn và hạnh phúc tâm

lý của học sinh một số trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh", Miêu Thị Xuân Linh và Lê Tường Cảnh Hân đã nhận định lòng tự tôn và

hạnh phúc tâm lý của học sinh trung học phổ thông có tương quan thuận ở mức trung bình – khá với các mặt biểu hiện cũng có tương quan thuận từ trung bình-thấp đến trung bình-khá, ngoại trừ sự tương quan nghịch của cái tôi gia đình với hạnh phúc tâm lý (Miêu Thị Xuân Linh và Lê Tường Cảnh Hân, 2018)

Nhìn chung, các nghiên cứu về giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý đang được quan tâm làm rõ theo nhiều cách tiếp cận và trên nhiều khách thể khác nhau Với giá trị bản thân, các nghiên cứu hiện nay chú ý đến xu hướng lựa chọn các lĩnh vực xác định cũng như các chiến lược để bảo vệ giá trị bản thân Trong khi đó, nghiên cứu về hạnh phúc tâm lý hiện nay tiếp tục phát triển một thang đo phù hợp và tìm hiểu hạnh phúc tâm lý trong mối liên hệ với sức khỏe cũng như trong các môi trường xã hội khác nhau Theo đó, mối quan hệ giữa hai đối tượng này bước đầu được xác thực, đặc biệt là giữa giá trị bản thân dựa trên những lĩnh vực bên ngoài với hạnh phúc tâm lý Tuy nhiên, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý vẫn còn khá hạn chế, đặc biệt tại Việt Nam khi hai đề tài này vẫn còn khá mới mẻ Điều này đã khẳng định tầm quan trọng của việc nghiên cứu giá trị bản thân, hạnh phúc tâm lý cũng như mối quan hệ giữa hai đối tượng này trong môi trường xã hội Việt Nam nói chung và trên sinh viên nói riêng

Trang 32

1.2 Lý luận về giá trị bản thân và hạnh phúc tâm lý

1.2.1 Lý luận về giá trị bản thân

a Định nghĩa giá trị bản thân

Khái niệm và những vấn đề xoay quanh giá trị bản thân đã được tìm hiểu từ sớm trong các nghiên cứu về lòng tự trọng Tuy nhiên, định nghĩa và cấu trúc của giá trị bản thân chưa được làm rõ Một số nghiên cứu còn đồng nhất cấu trúc giá trị bản thân như một kiểu lòng tự trọng (Kernis, 2006; dẫn theo Mruk, 2006) Các nghiên cứu hiện nay cho thấy, cách tiếp cận giá trị bản thân như một chiều kích hay thành phần của lòng tự trọng là phù hợp hơn cả (Mruk, 2006)

Theo Nathaniel Branden:

"Lòng tự trọng có hai khía cạnh liên quan đến nhau: nó đòi hỏi một ý thức về hiệu quả cá nhân và ý thức về giá trị cá nhân Đó là sự tổng hợp của sự tự tin và sự

tự tôn Đó là niềm tin rằng một người có năng lực để sống và xứng đáng sống"

(Branden, 2001, trang 110)

Bên cạnh các nghiên cứu thực nghiệm đã xác định lòng tự trọng theo hướng tiếp cận này như mô hình kép của lòng tự trọng của Franks và Marolla (1976), lý thuyết hai nhân tố của Tafarodi và Swann (1995) hoặc tiếp cận đa chiều kích của một số tác giả như Harter (1999), O' rien và Epstein (1983, 1988) (dẫn theo Mruk, 2006), một số nghiên cứu đã kiểm tra thang đo phổ biến về lòng tự trọng một chiều kích của Rosenberg (1979) và nhận thấy có hai chiều kích độc lập được phản ánh trong thang đo (dẫn theo Ervin và Stryker, 2001; Mruk, 2006) Hầu hết các biến số tích cực xuất hiện thống nhất trên một chiều kích có thể được xác định là sự tự tin (self-confidence) (Owens, 1993) hay năng lực bản thân (self-competency) (Tafarodi

và Swann, 1995) và hầu hết các biến số tiêu cực xuất hiện thống nhất trên một chiều kích khác có thể được xác định là sự tự ti (self-deprecation) (Owens, 1993) hay yêu thương bản thân (self-liking) (Tafarodi và Swann, 1995) Các thuật ngữ sự tự tin hay năng lực bản thân liên quan đến phản hồi nhận được từ những người khác, với chức năng quan sát tính hiệu quả của các hành động mà cá nhân thực hiện Trong khi đó, sự tự ti hay yêu thương bản thân gắn liền với những phản hồi mang tính đánh giá nhận được từ người khác (Ervin và Stryker, 2001) Các biến số trong thang

Trang 33

đo lòng tự trọng Rosenberg còn có thể được nhóm thành hai chiều kích lòng tự trọng khác bao gồm chiều kích phẩm chất đạo đức hay giá trị bản thân và chiều kích hiệu quả bản thân (Owens và King, 2001)

Như nhận xét của Victor Gecas:

“Tuy nhiên, ngày càng nhiều khía cạnh của lòng tự trọng đã được phân biệt -

ví dụ: ý thức về quyền lực và ý thức về giá trị (Gecas, 1971); lòng tự trọng bên trong và lòng tự trọng bên ngoài (Franks và Marolla, 1976); sự đánh giá và tình yêu thương (Wells và Marwell, 1976); ý thức về năng lực và giá trị bản thân (Smith, 1978); tự đánh giá và giá trị bản thân (Brissett, 1972); và năng lực và đạo đức (Rokeach, 1973, Vallacher, 1980, Hales, 1980) Các lĩnh vực này nhìn chung là sự phân biệt giữa (a) lòng tự trọng dựa trên cảm nhận về năng lực, quyền lực hoặc tính hiệu quả, và (b) lòng tự trọng dựa trên cảm nhận về đạo đức hay giá trị đạo đức” (dẫn theo Mruk, 2006, trang 20)

Dựa trên sự tương đồng của các lý thuyết về những chiều kích khác nhau của lòng tự trọng, thuật ngữ hiệu quả bản thân và giá trị bản thân (Ervin và Stryker, 2001) hay thuật ngữ năng lực và giá trị (Mruk, 2006) tương ứng nhằm chỉ hai chiều kích khác nhau của lòng tự trọng Theo đó, lòng tự trọng bao gồm cảm nhận về tính hiệu quả dựa trên những quan sát về tác động của hành động của chính mình cũng như dựa trên những so sánh mang tính xã hội và cảm nhận về giá trị bản thân chủ yếu dựa trên những đánh giá mang tính phản ánh Hiệu quả bản thân hay năng lực liên quan đến việc giải quyết vấn đề hiệu quả và đạt được các mục tiêu cá nhân quan trọng, bao gồm phần lớn các quá trình tâm lý bên trong cá nhân chẳng hạn như động lực, hiệu quả bản thân và các khía cạnh khác của kiểu nhận thức cũng như khả năng thực tế Chiều kích năng lực của lòng tự trọng được kết nối với thành tích Trong khi đó, giá trị bản thân là một cảm nhận hơn là một hành vi, là đánh giá hơn

là kết quả và liên quan đến việc đánh giá chủ quan về giá trị chẳng hạn như đúng hay sai, tốt hay xấu, có đáng được tôn trọng hay không và ngụ ý nhiều nền tảng liên

cá nhân và xã hội (Mruk, 2006) Sự thất bại ảnh hưởng đến mức độ ý thức về năng lực bản thân và các sự kiện xã hội tiêu cực ảnh hưởng đến giá trị bản thân (dẫn theo Mruk, 2006)

Trang 34

Vì mỗi thành phần đều quan trọng như nhau, mối quan hệ của chúng dựa trên

sự cân bằng là yếu tố quan trọng nhất hay còn được xem là trung tâm của lòng tự trọng (Mruk, 2006) Hai chiều kích này có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau và ảnh hưởng đến hiệu suất theo những cách khá khác nhau ở cả vai trò cụ thể và mức độ tổng quát của lòng tự trọng (Ervin và Stryker, 2001) Năng lực cần thiết cho giá trị bản thân bởi vì chỉ có một số loại hành động có giá trị mới dẫn đến những cảm xúc, thái độ, hay niềm tin về sự xứng đáng (Mruk, 2006) Tuy nhiên, giá trị bản thân cũng cân bằng năng lực vì không phải tất cả hành động có hiệu quả đều nhất thiết phải xứng đáng hoặc có giá trị Năng lực không đi kèm với giá trị có thể dẫn đến hành vi tiêu cực như làm tổn thương người khác vì lợi ích cá nhân và có giá trị bản thân mà không đi kèm với năng lực có thể dẫn đến nguy cơ ái kỉ (Mruk, 2006) Như vậy, giá trị bản thân có thể được xem là một thành tố của lòng tự trọng Thuật ngữ về chiều kích này được sử dụng khác nhau tùy theo ngữ cảnh nghiên cứu, chẳng hạn như giá trị đạo đức, yêu thương bản thân hay sự xứng đáng Về bản chất, chiều kích giá trị bản thân gắn với giá trị, chất lượng hay ý nghĩa các hành động của cá nhân, là chiều kích giá trị của lòng tự trọng và nằm trong khoảng từ thấp đến cao Trong số các hành động của con người, nhiều hành động có tính chất vượt trội hơn so với các hành động khác bởi vì chúng ít phổ biến hơn, đáng được tôn trọng hơn và chứng minh cho phẩm chất đạo đức Cảm nhận về giá trị có liên quan đến lòng tự trọng phản ánh chất lượng hoặc ý nghĩa của các hành vi nhất định chẳng hạn như hành động được đánh giá mang tính đúng đắn sẽ tạo ra lòng tự trọng tích cực vì chúng có giá trị hoặc ý nghĩa tích cực Các hành vi khác dẫn đến việc mất đi lòng tự trọng vì thiếu vắng giá trị đó hoặc vì chúng có giá trị thực sự tiêu cực hoặc không trung thực (Mruk, 2006) Bên cạnh đó, giá trị bản thân liên quan đến sự

tự đánh giá chủ quan của một cá nhân về hành động và chịu sự chi phối từ những phản hồi mang tính đánh giá xã hội Mô hình giá trị bản thân đại diện cho vị trí nhất định của mỗi cá nhân trong xã hội dựa trên mức độ đánh giá sự xứng đáng của cá nhân có được sự tôn trọng hay mở rộng hơn là có đầy đủ đặc tính con người như một người phải là

Trang 35

Cấu trúc giá trị bản thân có thể bao gồm giá trị bản thân tổng quát và giá trị bản thân tạm thời (Nguyễn Minh Quân, 2018) Ở cấp độ tổng quát, giá trị bản thân

là cảm nhận nói chung mang tính ổn định của một người về giá trị của chính họ Đây là một cấu trúc bên trong và khó được nhận thấy Ở cấp độ tạm thời, giá trị bản thân là cảm nhận về sự xứng đáng của chính cá nhân trong những tình huống nhất định được xem như là điều kiện thách thức hay nguy cơ cho sự suy giảm giá trị bản thân Cấu trúc này mang tính dao động và thường được cá nhân nhắc đến khi nhìn nhận về giá trị bản thân của mình Tuy nhiên, việc xác định cấu trúc giá trị bản thân hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế liên quan đến đặc tính ổn định hay linh hoạt theo từng thời điểm của giá trị bản thân Việc đo lường giá trị bản thân tích hợp cả hai hướng tiếp cận rất phức tạp cùng với việc đo lường tính ổn định của giá trị bản thân trong những tình huống nhất định vẫn còn thiếu sót và thường không được tập trung nghiên cứu như cách tiếp cận xem xét mức độ giá trị bản thân như một đặc điểm ổn định dẫn đến việc các nghiên cứu tập trung vào một hướng tiếp cận thay vì kết hợp

cả hai (Mruk, 2006)

Bên cạnh đó, mức độ giá trị bản thân của cá nhân tuy nhìn chung ổn định nhưng bị tác động bởi một số lĩnh vực mà cá nhân xem là quan trọng với giá trị của mình Việc xem xét những lĩnh vực xác định giá trị bản thân phản ánh các lĩnh vực

mà tại đó con người được đầu tư về mặt tâm lý và có động lực để chứng minh cho bản thân và người khác rằng họ có những phẩm chất nhất định (Park và Crocker, 2013) Việc xem xét giá trị bản thân dựa trên những lĩnh vực nào có vai trò quan trọng bởi nó giải thích cho sự khác biệt giữa các cá nhân khi xem xét mức độ giá trị bản thân tổng quát trong mỗi lĩnh vực khác nhau

Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu, giá trị bản thân có thể được xem là cảm nhận của một người về chính bản thân họ như một con người có đầy đủ giá trị, bao gồm những phẩm chất đẹp và những thành tích tốt, xứng đáng được đối xử tôn trọng bởi người khác Bên cạnh đó, theo hướng tiếp cận phổ biến trong việc đo đạc giá trị bản thân, nghiên cứu tập trung xem xét giá trị bản thân tổng quát như một đặc điểm đại diện cho cảm nhận nói chung của cá nhân về sự xứng đáng của bản thân và

Trang 36

xu hướng lựa chọn những lĩnh vực mà cá nhân sử dụng để xác định phẩm chất hay giá trị của mình

b Giá trị bản thân tổng quát

Giá trị bản thân tổng quát có thể được xem xét theo hai hướng tiếp cận bao gồm giá trị bản thân tổng quát toàn thể và giá trị bản thân tổng quát trong từng lĩnh vực Ở cấp độ toàn thể, giá trị bản thân là cảm nhận của một người về giá trị của chính họ nói chung, không suy xét các điều kiện liên quan chẳng hạn như môi trường sống, lĩnh vực hoạt động, trong khi giá trị bản thân tổng quát trong từng lĩnh vực đặc biệt nhấn mạnh đến các điều kiện cụ thể chẳng hạn như giá trị bản thân tổng quát trong hoạt động học tập, giá trị bản thân tổng quát trong hoạt động kinh

tế, …

Nhìn chung, giá trị bản thân tổng quát là một cấu trúc bao gồm cảm nhận cá nhân về các giá trị bên trong và sự xứng đáng được đối xử tôn trọng như một con người trong xã hội Cảm nhận về giá trị bên trong cá nhân bao gồm sự đánh giá những thành tích mà cá nhân đạt được và những phẩm chất đạo đức gắn cho những hành động của cá nhân một ý nghĩa nhất định Từ cảm nhận về giá trị của cá nhân, cảm nhận về sự xứng đáng được đối xử tôn trọng được phát triển

Việc xem xét giá trị bên trong của cá nhân là một quá trình phức tạp bởi cá nhân có thể dựa vào nhiều nguồn khác nhau để định giá bản thân cũng như khó khăn trong việc tự nhìn nhận chính bản thân mình Thông thường, cá nhân có thể dễ dàng đánh giá và công nhận giá trị của mình thông qua những thành tích đạt được

Sự đánh giá này thể hiện vai trò của tự đánh giá về năng lực trong cấu trúc giá trị bản thân Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét giá trị bản thân dựa trên năng lực, cá nhân có

xu hướng không thỏa mãn do yêu cầu phải liên tục đạt được các thành tích nhằm củng cố giá trị bản thân (Crocker và Park, 2003) Do đó, cá nhân không chỉ cho rằng bản thân có giá trị khi thực hiện được một nhiệm vụ nào đó mà còn thông qua những phẩm chất bên trong chẳng hạn như tình yêu thương, lòng tốt hay sự thỏa mãn Lúc này, cá nhân gắn những hành vi của mình với một ý nghĩa nhất định cho bản thân, xây dựng nên tính giá trị của hành vi cá nhân Tính giá trị của hành vi cá nhân cho thấy mức độ vượt trội của hành vi và cho phép nó đảm bảo mức độ giá trị

Trang 37

bản thân của một người Sự kết hợp các mặt đánh giá này tạo nên cơ sở cho cảm nhận về sự xứng đáng của bản thân, theo đó cấu trúc nên giá trị bản thân tổng quát Cảm nhận về sự xứng đáng được đối xử tôn trọng là yếu tố quan trọng nhất cấu trúc giá trị bản thân của mỗi người Yếu tố này đại diện cho sự yêu thương bản thân khi nhìn nhận bản thân một cách ngang hàng và có phần nổi trội so với những người khác Cảm nhận về sự xứng đáng được xem xét dựa trên cảm nhận của cá nhân về thành tích và các phẩm chất của chính họ Tuy nhiên, sự tự đánh giá của cá nhân rất có thể trở nên sai lầm nếu chỉ cho rằng một người nào đó là tốt hoặc xấu một cách phiến diện mà không suy xét các yếu tố liên quan (Mruk, 2006) Theo đó, cảm nhận về sự xứng đáng nếu không được dựa trên những đánh giá về năng lực thực tế và phẩm chất đạo đức bên trong dễ dẫn đến những hình thức biểu lộ mức độ cao nhất khi nhìn nhận bản thân mình như tính tự phụ, sự kiêu ngạo hay tính ái kỷ (Baumeister, Smart và Boden, 1996) Ở chiều ngược lại, một người có thể tự nhận định bản thân hoàn toàn không có giá trị nào cả và do đó không xứng đáng được đối

xử theo cùng một cách với những người khác

Giá trị bản thân tổng quát có sự ổn định nhất định trong từng giai đoạn phát triển Thông qua quá trình sống của cá nhân, giá trị bản thân tổng quát có sự phát triển về chất lượng Những hoạt động của cá nhân trong việc thích nghi với môi trường sống hay trong mối tương tác với người khác giúp cá nhân xem xét năng lực

và phẩm chất của chính mình Cá nhân dần phát triển những kỹ năng quan trọng để xem xét mức độ giá trị bản thân hợp lý mà không đi lệch quá xa so với thực tế năng lực và phẩm chất của bản thân Theo đó, mức độ giá trị bản thân của một người có thể dao động từ thấp đến cao, từ việc cảm thấy bản thân rất có giá trị hay rất xứng đáng được tôn trọng cho đến cảm nhận bản thân hoàn toàn không có giá trị hoặc rất không xứng đáng được tôn trọng (Mruk, 2006) Tuy nhiên, mức độ giá trị bản thân tổng quát chỉ có thể nói lên cảm nhận chung nhất về giá trị của một người, trong khi chưa giải thích được sự phụ thuộc hay dao động của giá trị bản thân trong các tình huống nhất định, đặc biệt liên quan đến các lĩnh vực mà cá nhân cho rằng quan trọng để xây dựng giá trị bản thân

Trang 38

c Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân

Từ những nghiên cứu đầu tiên về lòng tự trọng, James (1890) đã nhận định:

"Cảm nhận về bản thân của chúng ta trong thế giới này phụ thuộc hoàn toàn vào những gì chúng ta hỗ trợ bản thân để trở thành và thực hiện" (James, 1890, tr

45)

Theo đó, giá trị bản thân của cá nhân có xu hướng dựa trên một số lĩnh vực mà

cá nhân đặc biệt xem trọng trong khi xem nhẹ những lĩnh vực khác Những lĩnh vực

là cơ sở cho giá trị bản thân có thể bao gồm sự công nhận từ người khác, năng lực học tập, ngoại hình, sự cạnh tranh, sự hỗ trợ từ gia đình, phẩm chất đạo đức, niềm tin tôn giáo (Crocker et al., 2003), tình bạn (Cambron, Acitelli và Steinberg, 2010), các mối quan hệ lãng mạn (dẫn theo Park và Crocker, 2013), trọng lượng và hình dáng cơ thể (Forsyth, 2018), mối quan hệ hài hòa (Uchida, 2008), sự nam tính (Burkley et al., 2016), thành công tài chính (Park et al., 2017), bản sắc xã hội, quyền lực (dẫn theo Crocker et al., 2003), hoạt động thể chất (Yurtçiçek và Kömürcü, 2019), …

Sự lựa chọn các lĩnh vực làm cơ sở để xác định giá trị bản thân có sự khác nhau khi xét theo giới tính, tuổi tác, dân tộc, tôn giáo, môi trường sống nói chung,…

Sự đa dạng trong các lĩnh vực được sử dụng để xác định giá trị bản thân cho thấy mức độ liên quan của môi trường sống cũng như sự khó khăn trong việc xác định giá trị bản thân của một người Một số lĩnh vực ít được cá nhân lựa chọn làm cơ sở

để xác định giá trị bản thân còn bị tác động bởi những hạn chế trong việc tự nhận thức bản thân Chẳng hạn như đối với những lĩnh vực phụ thuộc vào các yếu tố liên quan cũng như vào yêu cầu được xác nhận từ người khác nhiều hơn như lĩnh vực sự công nhận từ người khác hay ngoại hình, cá nhân thường không đánh giá cao tác động của những lĩnh vực này bởi tính chủ quan trong việc tự báo cáo cũng như cách tiếp cận hạn chế vào các quá trình tâm lý thực sự có ảnh hưởng đến lòng tự trọng (Vonk, Radstaak, de Heus và Jolij, 2019) Việc cá nhân có thể đánh giá giá trị bản thân qua hai hệ thống bao gồm một sự đánh giá rõ ràng, trực tiếp nhận biết thông qua báo cáo bằng lời nói và một sự tự đánh giá ngầm chỉ có thể suy luận được (Epstein và Morling, 1995) cũng góp phần tạo nên hiện tượng này

Trang 39

Mức độ giá trị bản thân thay đổi dựa trên tác động liên quan của các sự kiện cuộc sống đến các lĩnh vực được cá nhân xem là quan trọng với giá trị bản thân của

họ Theo đó, giá trị bản thân có nguy cơ bị tổn hại nhiều hơn khi các mối đe dọa nhằm vào những lĩnh vực mà giá trị bản thân đặt để (Crocker và Wolfe, 2001) Việc xác định và dành nhiều thời gian để phát triển trong những lĩnh vực mà bản thân xem trọng có thể giúp cá nhân nâng cao cảm nhận về giá trị bản thân Do đó, tuy gắn kết vào một lĩnh vực với mức độ ổn định nhất định, cảm nhận của cá nhân về giá trị bản thân thường dễ thay đổi do sự tồn tại các sự kiện cuộc sống dẫn đến những nguy cơ làm suy giảm hoặc các cơ hội giúp nâng cao cảm nhận về giá trị bản thân

Việc dựa vào những lĩnh vực để xác định giá trị bản thân đã định hình các mục tiêu theo đuổi và điều chỉnh việc tham gia các hoạt động của một người Bởi mức

độ giá trị bản thân được dựa trên những cách thức mà con người lựa chọn và phát triển, mỗi cá nhân có thể xây dựng cho mình những chiến lược khác nhau nhằm củng cố cảm nhận về giá trị bản thân Động cơ hoạt động của cá nhân cũng bị ảnh hưởng bởi chiến lược bảo vệ giá trị bản thân của cá nhân Theo đó, cá nhân có động

cơ tránh né các hoạt động nguy cơ nhằm hạn chế sự suy giảm mức độ giá trị bản thân, trong khi có động cơ tiếp cận với các hoạt động là cơ hội để tăng cường mức

độ cảm nhận giá trị của mình (Assor, Vansteenkiste và Kaplan, 2009) Khi xem xét các lựa chọn thực hiện một hành vi nào đó, sự khác biệt về những lĩnh vực xác định giá trị bản thân giữa các cá nhân khác nhau cho thấy mức độ thực hiện các hoạt động có sự khác nhau Việc lựa chọn chiến lược để bảo vệ giá trị bản thân còn dựa trên sự tương tác giữa mức độ lòng tự trọng tổng quát với giá trị bản thân Sau một thất bại ảnh hưởng đến giá trị bản thân, người có lòng tự trọng thấp có xu hướng từ

bỏ những mục tiêu thể hiện bản thân ban đầu và chuyển sang mục tiêu khác trong khi người có lòng tự trọng cao xem đó như một thử thách cần phải vượt qua và tiếp tục cố gắng đạt được mục tiêu (Park, Crocker và Kiefer, 2007)

Thông qua hoạt động sống, cá nhân có thể chuyển từ lĩnh vực xác định giá trị bản thân này sang lĩnh vực xác định giá trị bản thân khác, đặc biệt tập trung vào những lĩnh vực quan trọng giúp nâng cao cảm nhận tốt về bản thân mình trong từng

Trang 40

giai đoạn phát triển Trong khi giai đoạn sinh viên có thể dựa trên các lĩnh vực như năng lực học tập hay sự hỗ trợ từ gia đình để xác định giá trị bản thân, người trưởng thành có thể xây dựng giá trị bản thân của mình dựa trên sự thành công về mặt tài chính, sức khỏe thể chất hay sự thành công của con cái,…

d Mối quan hệ giữa giá trị bản thân tổng quát và những lĩnh vực xác định giá trị bản thân

Nhìn chung, giá trị bản thân là một cấu trúc tương đối ổn định Cấu trúc này đại diện cho cái nhìn tích cực về cái tôi dựa trên việc đánh giá những giá trị và sự xứng đáng mà cá nhân có được Mỗi cá nhân xây dựng cho mình một mức độ giá trị bản thân tổng quát nhất định Đó là nguồn động lực nói chung, mang tính ổn định trong từng giai đoạn phát triển và được xem như một nguồn hỗ trợ tiềm năng giúp con người nhìn nhận chính bản thân với đầy đủ giá trị và phẩm chất

ằng việc xác định và tác động trực tiếp đến những lĩnh vực cuộc sống mà cá nhân xem là quan trọng, cảm nhận về giá trị bản thân của cá nhân có thể được củng

cố hoặc gia tăng Có thể nói, việc đầu tư phát triển vào những lĩnh vực xác định giá trị bản thân là cách thức để cá nhân góp phần bằng chính hoạt động của mình nhằm đảm bảo mức độ giá trị bản thân ên cạnh đó, những lĩnh vực xác định giá trị bản thân giải thích cho sự khác biệt cá nhân về mức độ giá trị bản thân tổng quát (dẫn theo Geng và Jiang, 2013) Các lĩnh vực bên ngoài được xem như là nguy cơ đe dọa trong khi các lĩnh vực bên trong góp phần duy trì mức độ ổn định cảm nhận giá trị bản thân và cả giá trị bản thân tổng quát (dẫn theo Mandal và Morón, 2019) Theo

đó, khi dựa trên một số lĩnh vực xác định bên ngoài, giá trị bản thân tổng quát có thể ở mức thấp hơn trong khi ở mức cao hơn với giá trị bản thân dựa trên các lĩnh vực bên trong

Theo chiều ngược lại, mức độ giá trị bản thân tổng quát góp phần tác động đến việc lựa chọn thực hiện các chiến lược nhằm đảm bảo cảm nhận về giá trị bản thân trong từng lĩnh vực Cá nhân sở hữu giá trị bản thân tổng quát nói riêng và lòng tự trọng cao có xu hướng hạ thấp tác động của những mối đe dọa, sử dụng giá trị bản thân tổng quát như động lực thúc đẩy việc lựa chọn những chiến lược tiếp cận nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến mức độ cảm nhận về giá trị bản thân, theo đó

Ngày đăng: 29/04/2021, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w