TÓM TẮT NGHIÊN c ứ uMục tiêu: Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa
Trang 1V Ũ T H Ị H Ò N G N H U N G
THƯC TRANG CHẤT LƯƠNG c u ô c SỐNG VÀ MÔT SỐ • • • • • YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRI NGOAI TRÚ TAI BÊNH VIÊN ĐA KHOA TỈNH • • • • •
NAM ĐỊNH NĂM 2018
LUÂN VĂN THAC s ĩ ĐIÊU DƯỠNG• •
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Trang 2YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIÈU TRI NGOAI TRÚ TAI BÊNH VIÊN ĐA KHOA TỈNH • • • • •
NAM ĐINH NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC s ĩ ĐIÈU DƯỠNG
Mã số: 87.20.301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HOC: TS.VŨ VĂN THÀNH
NAM ĐINH - 2018
Trang 3TÓM TẮT NGHIÊN c ứ u
Mục tiêu: Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên
quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2018
Đối tượng và phương pháp:
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang ừên một nhóm đối tượng với bộ công cụ chuẩn bị trước là ba thang đo: thang đo sức khỏe SF 36 (thang điểm 100), thang đo trầm cảm Beck II (thang điểm 63) và thang đo mức độ hỗ trợ xã hội MSPSS (thang điểm 84) để đánh giá chất lượng cuộc sống của 125 người bệnh tăng huyết áp
Kết quả: Tuổi trung bình của nghiên cứu là 71,43 tuổi Tám lĩnh vực
chất lượng cuộc sống phần lớn có điểm số thấp, có 5/8 lĩnh vực có điểm số trung bình thấp dưới 50 điểm, chỉ có 3 lĩnh vực có điểm số trung bình trên 50 điểm gồm cảm nhận đau (57 ± 17,78 điểm), trạng thái tâm lý (51,49 ±10,1 điểm) và chức năng xã hội (55,92 ± 14,65 điểm) Chất lượng cuộc sống chung
có điểm số trung bình thấp: 47,65 ± 13,95 điểm Chất lượng cuộc sống của người bệnh tăng huyết áp có mối liên quan với tuổi, trình độ học vấn, thời gian mắc bệnh, yếu tố trầm cảm và yếu tố hỗ trợ xã hội
Kết luận: Điểm số chất lượng cuộc sống chung của người bệnh tăng
huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Nam Định là tương đối thấp; trong đó, điểm số của nhóm sức khỏe tinh thần cao hơn nhóm sức khỏe thể chất Chất lượng cuộc sống của người bệnh tăng huyết áp có liên quan đến tuổi, trinh độ học vấn, thời gian mắc bệnh, yếu tố trầm cảm và yếu tố hỗ trợ
xã hội
LỜI CẢM ƠN
Trong suôt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận
Trang 4được sự hướng dẫn giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp, các anh chị em, bạn bè và gia đình Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được đi học suốt 2 năm qua, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn những người thầy, người cô kính mến đã nhiệt tình giảng dạy, động viên hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Nhân cơ hội này tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến thầy hướng dẫn của tôi TS.VŨ Văn Thành, người đã luôn tận tâm hướng dẫn, cho tôi những ý kiến quý báu, khuyến khích, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin cảm ơn toàn thể bác sỹ, điều dưỡng tại khoa Khám nội bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định đã hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu tại khoa Cám ơn những người bệnh đã cho tôi những thông tin quý giá để nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn thiện luận văn này
Cuối cùng, có được thành quả như ngày hôm nay tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bố mẹ, chồng con đã luôn ủng hộ, giúp đỡ tôi rất nhiều cả
về vật chất lẫn tinh thần trong suốt 2 năm tham gia học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Vũ Thị Hồng Nhung LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Vũ Thị Hồng Nhung, học viên lớp cao học Điều dưỡng khóa
3 tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Tôi xin cam đoan luận văn thạc
sỹ “Thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
Trang 5năm 2018” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã đuợc ghi rõ ràng nguồn gốc, số liệu nghiên cứu thu đuợc từ thực nghiệm và không sao chép, kết quả trung thục và chua từng đuợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào truớc đây.
Vũ Thi Hồng Nhung
Trang 61.3 Tình hình nghiên cứu CLCS của người bệnh THA trên thế giới và ở
1.4 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống 16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚƯ 23
Trang 72.10 Sai số và biện pháp khắc phục 31
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 32
4 EQ-5D (EuroQol-5D Bộ câu hỏi 5 khía cạnh về hệ số
Trang 85 HATT
6 HATTr
7 JNC VII (United States Joint
National Committee VII)
8 MSPSS (Multidimensional Scale
of Perceived Social Support)
9 NHP (Nottingham Health Profile)
10 QWB (The Quality of Well-Being
Scale)
11 THA
12 SF-36 (Short-form health survey -
36 questions)
13 SIP (Sickness Impact Profile)
Bảng 3.5: Điểm sức khỏe thể chất của đối tượng nghiên cứu 36Bảng 3.6 : Điểm sức khỏe tinh thần của đối tượng nghiên cứu 37Bảng 3.7: Chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 37
chất lượng cuộc sốngHuyết áp tâm thuHuyết áp tâm trương
ủ y ban liên quốc gia về tăng huyếtáp
Thang đo quy mô đa chiều về nhận thức xã hội
Thang đo sức khỏe Nottingham Thang đo chất lượng của cuộc sống tốt
Tăng huyết ápThang đo sức khỏe với 36 câu hỏi ngắn
Thang đo đánh giá tác động của bệnh tật
Tổ chức Y tế thế giới
Phân loại quốc tế của tổ chức Y tế thế giới về chức năng người khuyết tật và sức khỏe
Trang 9Bảng 3.8: Phân lọai mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 38Bảng 3.9: Điểm trung bình trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 38Bảng 3.10 :Phân loại mức độ hỗ trợ xã hội của đối tượng nghiên cứu 3 8Bảng 3.11: Điểm trung bình hỗ trợ xã hội của đối tượng nghiên cứu 39Bảng 3.12: Liên quan giữa tuổi và chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 39 Bảng 3.13: Liên quan giữa giới tính và chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên
Bảng 3.16: Liên quan giữa thời gian mắc bệnh và chất lượng cuộc sống của đối
Bảng 3.17: Liên quan giữa hoàn cảnh sống với chất lượng cuộc sống của đối tượng
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa trầm cảm với sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần và
chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 44Bảng 3.19: Mối liên quan giữa hỗ trợ xã hội với sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh
thần, chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 45
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Biểu đồ 3.1: Phân bố theo giới tính của đối tượng nghiên cứu 33Biểu đồ 3.2: Phân bố theo hoàn cảnh sống của đối tượng nghiên cứu 34Biểu đồ 3.3: Phân bố theo thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 35 Hình 1.1 Mô hình chất lượng cuộc sống của Ferrans (2005) 19
Trang 10Theo thống kê năm 2015 của Hội Tim mạch học Việt Nam trên 5.454 người trưởng thành (> 25 tuổi) trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc, kết quả cho thấy, có 52,8% người có huyết áp bình thường (23,2 triệu người), có 47,3% người (20,8 triệu người) bị tăng huyết áp Đặc biệt, trong những người bị tăng huyết áp, có 39,1% (8,1 triệu người) không được phát hiện bị tăng huyết áp; có 7,2% (0,9 triệu người) bị tăng huyết áp không được điều trị; có 69% (8,1 triệu người) bị tăng huyết áp chưa kiểm soát được [19].
Tăng huyết áp là một trong những vấn đề của sức khỏe cộng đồng cần được quan tâm, không những vì tần suất mắc bệnh cao mà còn do những ảnh hưởng của bệnh đối với chất lượng cuộc sống của người bệnh Việc điều trị không đơn thuần là hạ trị số huyết áp để đạt huyết áp mục tiêu, làm giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch, phòng ngừa và điều trị các tổn thương cơ quan đích mà còn là cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh tăng huyết áp
Tuy mới xuất hiện vài thập kỷ gần đây nhưng vấn đề chất lượng cuộc
Trang 11sống đã và đang thu hút nhiều chú ý của y học [4] Trong bối cảnh đó, các nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống được tiến hành để đo lường tác động của bệnh, biến chứng tới người bệnh; đồng thời, là một công cụ lượng giá hiệu quả của các giải pháp can thiệp y tế lên đời sống sức khỏe Vì vậy, các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống được tiến hành rất phổ biến trên thế giới với đối tượng, phương pháp và công cụ phong phú, đa dạng Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn ít được nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định Với mong muốn có được cái nhìn tổng quát về chất lượng cuộc sống của
người bệnh tăng huyết áp, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của người bệnh tăng huyết áp điều tri ngoai trú tai Bênh viên Đa khoa tỉnh Nam Đinh năm 2018”
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về tăng huyết áp
1.1.1 Khái niêm
Định nghĩa: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) một người trưởng thành (>18 tuổi) được gọi là tăng huyết áp (THA) khi huyết áp tâm thu (HATT) >140 ĩĩimHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) > 90 miĩiHg [61]
Trang 13Chẩn đoán xác định tăng huyết áp dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đứng quy trinh Ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo Cán bộ y tế đo đứng quy trình: huyết áp tâm thu (HATT)
>140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATT) > 90mmHg; đo bằng máy
đo huyết áp tự động 24 giờ: HATT >130 mmHg và/hoặc HATTr > 80mmHg;
tự đo tại nhà (đo nhiều lần) HATT > 135mmHg và/hoặc HATTr > 85mmHg được gọi là tăng huyết áp [1], [54]
1.1.2 Phân loại tăng huyết áp
Có nhiều cách phân loại tăng huyết áp
Phân loại theo nguyên nhân gồm có tăng huyết áp vô căn hay nguyên phát (chiếm khoảng 95%) và THA thứ phát hay còn gọi là tăng huyết áp có nguyên nhân (chiếm 5%)
Phân loại theo mức độ THA: theo WHO 2003 hoặc JNC VII 2003 (Bảng 1.1; 1.2)
Phân loại theo mức độ tổn thương cơ quan đích
Bảng 1.1 Phân loại huyết áp ở người lớn theo WHO 2003 [61].
Trang 14Bảng 1.2 Phân loại huyết áp ở người lớn >= 18 tuổi (JNC VII2004) [53].
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ của THA
Tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng nhiều, do thành động mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn, vì thế làm cho huyết áp tâm thu tăng cao hơn gọi là THA tâm thu đơn thuần [13]
- Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình:
Theo thống kê của nhiều tác giả cho thấy bệnh THA có yếu tố di truyền Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh THA thì con cái có nguy
cơ mắc bệnh này nhiều hơn [13]
Nguyên nhân di truyền của THA [22]:
Sự hiểu biết về các hê thống cơ thể có liên quan đến THA được kết luận từ các yéu tố di truyền THA thường có tính gia đình Các nghiên cứu đã xác định được nhiều gen và đột biến khác liên quan đến THA như quy định
và renin-angiotensin-aldosterone thận Các yếu tố di truyền được biết đến chiếm 2-3% của tất cả các trường họp Hiện nay đang có rất nhiều các nghiên cứu cho thấy rằng những thay đổi ADN nhất định trong quá trình phát hiển của thai nhi cũng có thể gây ra sự phát triển của bệnh THA sau này trong cuộc sống
- Hút thuốc lá:
Trang 15Nicotin trong khói thuốc lá gây co mạch ngoại biên, tăng nồng độ serotonin cathecholamin ở não tuyến thượng thận Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh [13].
- Uống nhiều rượu/bia:
Rượu có mối liên quan chặt chẽ với THA [13]
- Ăn mặn: lượng muối ăn hàng ngày quá cao là một nguyên nhân gây
ra THA Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những biện pháp phòng ngừa THA và là cách điều trị không dùng thuốc tốt nhất [13]
- ít vận động, sang chấn tâm lý, béo phì, đái tháo đường, rối loạn lipid máu là những yếu tố nguy cơ thói quen lối sống gây ảnh hưởng đến huyết áp
và bệnh lý tim mạch [13]
- Hội chứng chuyển hóa: THA là một trong những biểu hiện của hội chứng chuyển hóa Hội chứng chuyển hóa bao gồm béo phì, rối loạn chuyển hóa glucose, rối loạn chuyển hóa lipid và THA [13]
- Nguyên nhân khác của THA: bao gồm các điều kiện khác như các bệnh lý mạn tính ở thận, ngưng thở khi ngủ, các vấn đề về tuyến giáp, hoặc khối u nhất định Điều này xảy ra vì các nguyên nhân này làm thay đổi sự cân bằng dịch, natri và hormone trong máu, dẫn đến THA thứ phát [22]
1.1.4 Triệu chứng của tăng huyết áp.
Phần lớn người bệnh THA không có triệu chứng cơ năng, phát sinh bệnh có thể do đo huyết áp thường quy hoặc khi đã có biến chứng Tuy nhiên
có một số biểu hiện do chính mức huyết áp gây ra như: đau đầu xây xẩm hồi hộp, dễ mệt và bất lực (ở nam giới) Đau đầu thường chỉ xảy ra khi có THA nặng thông thường ở vùng chẩm sau gáy và thường vào buổi sáng
- Chảy máu mũi, tiểu ra máu, mờ mắt cơn yếu hay chóng mặt do thiếu máu não thoáng qua, cơn đau thắt ngực, khó thở do suy tim [10]
Trang 16- Có thể có các biểu hiện do bệnh căn gây ra gồm: uống nhiều tiểu nhiều, yếu cơ do hạ kali máu ở người bệnh cường aldosteron tiên phát, hoặc tăng cân dễ xúc động ở người bị hội chứng Cushing Ở người bệnh u tủy thượng thận thường bị nhức đầu hồi hộp toát mồ hôi xây xẩm tư thế, [10]
Những biểu hiện trên không phải đặc hiệu cuả THA và không phải lúc nào cũng thường xuyên xảy ra cho đến khi huyết áp có thể đạt đến một giai đoạn nghiêm trọng hoặc khi xuất hiện các biến chứng đe dọa tính mạng Như yậy THA chỉ có thể khẳng định được bằng đo huyết áp Đa số các trường họp THA được phát hiện qua đo huyết áp thường quy, tuy nhiên với một số trường họp cần đo huyết áp liên tục trong 24 giờ [10]
1.1.5 Hậu quả của tăng huyết áp
Tăng huyết áp thường không có triệu chứng, không gây khó chịu cho người bệnh nên ít người biết để đề phòng hoặc biết mà vẫn chủ quan Khi có triệu chứng thì cũng là lúc có biến chứng rồi và THA đã ở giai đoạn muộn Một số biến chứng xảy ra thì những cơ quan chịu ảnh hưởng nhiều nhất của THA là:
- Não: THA có thể gây tai biến mạch máu não như xuất huyết não, nhồi máu não, [1]
Trang 17Thận là cơ quan bị ảnh hưởng muộn nhất THA có thể dẫn đến tổn thương thận và là nguyên nhân của bệnh thận mạn tính Tuy nhiên rất khó phân biệt suy thận do THA hay THA do bệnh thận mạn tính gây nên.
- Phình tách động mạch chủ, xơ vữa động mạch
THA là thủ phạm gây ra 67% nhồi máu cơ tim, 77% đột quỵ, 74% suy tim và 26% suy thận mạn tính Nguyên nhân chính là xơ vữa động mạch ở người bệnh THA [18] THA làm thay đổi cấu trúc mạch xơ hóa và xơ vữa hẹp lòng mạch rồi dẫn tới phình tách mạch [37]
1.2 Tổng quan về chất lượng cuộc sống
1.2.1 Khái niệm về chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống (CLCS) là một khái niệm đa chiều, chất lượng cuộc sống đã đạt được tầm quan trọng đáng kể như là một vấn đề nghiên cứu trong y tế và quản lý cũng như trong một số lĩnh vực khác Nó là một khái niệm rộng được nghiên cứu bỏi nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau bao gồm
cả kinh tế, chính trị, tâm lý học, xã hội học, khoa học giáo dục, quản lý, khoa học môi trường và khoa học sức khỏe liên quan Mỗi lĩnh vực có định nghĩa khác nhau đối với các lĩnh vực nghiên cứu của mình [32],
Chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng bởi văn hóa, giá trị, mục đích, niềm tin, kinh nghiệm, mong đợi và nhận thức Nhận thức CLCS có thể thay đổi theo thời gian Nó liên quan đến các mối quan hệ về thể chất, tinh thần và
xã hội với người trong gia đình và ngoài xã hội, hoạt động môi trường là tốt Ngày nay y học phát triển ngày càng nhiều, không chỉ chữa bệnh mà còn có mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh [61]
Tổ chức Y tế thế giới đã mô tả chất lượng cuộc sống từ năm 1970 Khái niệm về chất lượng cuộc sống có ba đặc điểm chính: thứ nhất, nó phản ánh tình huống cuộc sống cá nhân và nhận thức của họ hơn là chất lượng cuộc sống của một quốc gia; thứ hai, đó là một khái niệm đa chiều, bao gồm nhiều
Trang 18lĩnh vực đời sống như điều kiện nhà ở, giáo dục, việc làm, cân bằng công việc, tham gia cho các tổ chức và các dịch vụ công cộng và các tương tác của họ; cuối cùng, nó tập họp thông tin khách quan về điều kiện sống với quan điểm và thái độ chủ quan để cung cấp một hình ảnh tốt đẹp trong xã hội [42].
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Chất lượng cuộc sống là sự nhận thức của một cá nhân về tình trạng hiện tại của cá nhân đó theo những chuẩn mực về văn hóa và sự thẩm định về giá trị của xã hội mà cá nhân đó đang sống Những nhận thức này gắn liền với mục tiêu, kỳ vọng và những mối quan tâm của cá nhân đó” [61]
1.2.2 Chất lượng cuộc sổng liên quan đến sức khỏe
WHO (1948) đã định nghĩa về sức khỏe là: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế” [53]
Ngoài ra, khái niệm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (CLCS-SK) được định nghĩa rằng: CLCS-SK là một cấu trúc đa chiều bao gồm ít nhất ba lĩnh vực rộng lớn - về thể chất, tâm lý và hoạt động xã hội - bị ảnh hưởng bởi bệnh tật và/hoặc điều trị của một người Hoạt động thể chất thường được định nghĩa là khả năng thực hiện một loạt các hoạt động của cuộc sống hàng ngày, cũng như triệu chứng thực thể do bản thân bệnh hoặc
do điều trị Chức năng tâm lý dao động từ căng thẳng tâm lý nghiêm trọng đến một ý nghĩa tích cực, hạnh phúc và cũng có thể bao gồm chức năng nhận thức Chức năng xã hội đề cập đến khía cạnh số lượng và chất lượng của các mối quan hệ xã hội và hội nhập [30]
Có thể thấy rằng chất lượng cuộc sống được dùng để phản ánh các khái niệm hạnh phúc, sự hài lòng về cuộc sống, sự thỏa mãn, tự hiện thực hóa, mong muốn tự do, sự hoàn thiện về thể chất, tinh thần và xã hội Đánh giá chi tiết về chất lượng cuộc sống có thể cung cấp một mô tả toàn diện hơn
Trang 19các vấn đề tiềm tàng đang và có thể xảy ra có ảnh hưởng đến người bệnh và
có thể có ích trong việc cân nhắc những rủi ro và lợi ích của việc lựa chọn điều trị [6]
1.2.3 Các thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống đang được sử dụng
Đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sưc khỏe là việc thiết yếu của công tác chăm sóc y tế Có nhiều công cụ đánh giá CLCS tổng quát
và chuyên biệt cho từng loại bệnh Thang đo CLCS tổng quát được thiết kế để phù hợp với biện pháp can thiệp cụ thể hoặc trong nhóm quần thể nhất định Các bộ công cụ đánh giá CLCS tổng quát liên quan đến sức khỏe phổ biến là:
SF 36 (Short-form health survey - 36 questions); NHP (Nottingham Health Profile); SIP (Sickness Impact Profile); QWB (The Quality of Well-Being Scale) và EQ-5D (EuroQol-5D questionnaire) Các công cụ này được chọn vì chúng được sử dụng phổ biến và được trích dẫn trong các tài liệu tiếng Anh
+ SF 36 (Short-form health survey-36 questions): có từ năm 1980, dựa trên bộ câu hỏi có 36 mục, khảo sát các tiêu chí trong vòng 4 tuần qua [20]
+ QWB (The Quality of Well-Being Scale): đánh giá những thay đổi lâm sàng sau điều trị nội ngoại khoa như COPD, ADIS, đái tháo đường, bệnh thận giai đoạn cuối, ung thư, trầm cảm, ghi nhận những giới hạn chức năng qua 3 ngày trước khi khảo sát [20]
+ SIP (Sickness Impact Profile) Do Bergner đề xuất năm 1976, phát triển ở Mỹ, gồm 136 mục trả lời có/không, về thể chất (đi đứng, chuyển động, chăm sóc cơ thể và cử động), tâm lý xã hội (ngủ nghỉ, xúc cảm, việc nhà, tương tác xã hội, hoạt bát, giao tiếp, việc làm, giải trí, ăn uống) Sử dụng cho các bệnh lý cấp hay mạn [20]
+ EQ-5D (EuroQol-5D questionnaire): ra đời từ năm 1987, chủ yếu sử dụng ở các nước Châu Âu, gồm 5 mục đánh giá trong chính ngày phỏng vấn với thang điểm từ 0-100 [20]
Trang 20+ NHP (Nottingham Health Profile): Loại thang tự điền, được xây dựng bởi Hunt năm 1981, phát triển ở Anh, khởi thủy là cho các nghiên cứu cộng đồng để tìm những yếu tố tiên báo sự cần thiết chăm sóc sức khoẻ, đo những cảm nhận liên quan bệnh lý nặng Thang ngắn, đơn giản, chính vì vậy
mà không đánh giá toàn diện [20]
Trong số các công cụ được xem xét, bộ công cụ SF 36 thường được sử dụng nhất Nó được phát ừiển như là một công cụ đo lường chức năng và mức độ hạnh phúc trong nghiên cứu y tế [27]
Thang đo SF 36 có ưu điểm là khái quát được nhiều lĩnh vực chất lượng cuộc sống, có thể sử dụng cho nhiều đối tượng người bệnh khác nhau hoặc đối tượng có can thiệp thủ thuật phẫu thuật; do đó, có thể so sánh kết quả chất lượng cuộc sống giữa những người bệnh tăng huyết áp với các nhóm người bệnh khác hoặc so sánh trước và sau can thiệp
Thang đo sức khỏe với 36 câu hỏi ngắn là thang đo phổ biến dùng để đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim vì thang đo có độ tin cậy cao Brazier và cộng sự (1992) [24] đã sử dụng thang đo SF 36 để thử nghiệm trên 1890 người bệnh tuổi từ 16-74, kết quả cũng cho thấy thang đo này có độ tin cậy cao với Cronback a > 0,75 trừ lĩnh vực xã hội Cronback a = 0,73 Theo tổ chức RAND các lĩnh vực trong thang đo sức khỏe với 36 câu hỏi ngắn đã được các nghiên cứu y khoa kiểm tra, thẩm định và đã chứng minh đạt độ tin cậy cao với Cronback a dao động từ 0,78-0,93
Do vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi đã sử dụng thang đo SF 36 để tiến hành nghiên cứu
Thang đo trầm cảmĩ
Vấn đề trầm cảm ở người bệnh tăng huyết áp được đo lường thông qua thang
đo trầm cảm Beck II (Beck Depression Inventory II: BDI-II) được phát triển
và sửa đổi bởi Beck và cộng sự (1996)
Trang 21Theo Wang và Gorenstein (2013) đây là thang đo được sử dụng rộng rãi nhất để kiểm tra tâm lý đo lường mức độ trầm cảm Ngoài ra, Lahlou- Laforeta (2015) nhận xét rằng thang đo trầm cảm Beck là công cụ đáng tin cậy để đánh giá trầm cảm ở người bệnh tăng huyết áp.
Thang đo trầm cảm Beck II đã được Wang và Gorenstein (2013) đánh
giá về sự thống nhất nội bộ, độ tin cậy cao với Cronback a là 0,9 dao động
trong khoảng từ 0,84 - 0,94 Thang đo này đã được dịch sang tiếng Việt và đang được sử dụng thường quy tại Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia
Thang đo hễ trợ xã hội:
Vấn đề hỗ trợ xã hội của người bệnh THA được đo lường thông qua thang đo Quy mô đa chiều nhận thức các hỗ ừợ xã hội (Multidimensional Scale of Perceived Social Support: MSPSS) được phát ừiển bởi Zimet (1988) [63]
Thang đo đã được dịch sang tiếng Việt và sử dụng trong một số nghiên cứu như nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền (2013), của Dương T.o (2014)
Thang đo này đã chứng minh là đạt độ tin cậy cao và thường được dùng trong các nghiên cứu trên người bệnh tăng huyết áp Năm 1988 Zimet
và cộng sự đã kiểm tra độ tin cậy của thang đo Quy mô đa chiều về nhận thức các hỗ trợ xã hội (MSPSS) với 275 đối tượng lần đầu hệ số Cronback a dao động từ 0,85 - 0,91, lần 2 được tiến hành sau 2 -3 tháng trên 69 đối tượng trong số 275 đối tượng ban đầu giá trị Cronback a dao động từ 0,72 - 0,85 cho thấy sự ổn định độ tin cậy của thang đo quy mô đa chiều về nhận thức các hỗ trợ xã hội (MSPSS) khá tốt Năm 1990 Zimet và cộng sự đánh giá sự thống nhất nội bộ và độ tin cây của thang đo quy mô đa chiều về nhận thức các hỗ trợ xã hội (MSPSS) trên mẫu 265 phụ nữ mang thai với Cronback a dao động 0,84 - 0,92 [63] Ngoài ra, trong nghiên cứu của Dương T.o (2014) thang đo này đã được kiểm tra có độ tin cậy cao với hệ số Cronback a là 0,84
Trang 221.3 Tình hình nghiên cứu CLCS của người bệnh THA trên thế giới và ở Viêt Nam
1.3.1 Tinh hình nghiên cứu CLCS của người bệnh THA trên thế giới
Một nghiên cứu F J Cuevas Fermandez nghiên cứu trên 361 người bệnh tăng huyết áp đăng ký tại trung tâm chăm sóc chính ở Tenerife, Tây Ban Nha với độ tin cậy tổng thế của Cronbach thống kê 0,88, kết quả cho thấy 58% người bệnh tập thể dục, 75% duy trì chế độ ăn uống và 89% dùng thuốc huyết áp Từ tất cả các phương pháp điều trị được đánh giá, chỉ có tập thể dục
là có liên quan trực tiếp với tất cả các thang PECVEC, đặc biệt đối với phụ nữ
và người bệnh trên 65 tuổi [29]
Nghiên cứu của s R Erickson [32], B c Williams and L D Gruppen
trên tổng số 222 người bệnh kết luận rằng người bệnh tăng huyết áp có nhiều triệu chứng về tâm thần so với người bệnh có kiểm soát Nghiên cứu khác ở
Trung Quốc của R.Wang nghiên cứu trên 1034 đối tượng tham gia cũng kết
luận tăng huyết áp làm suy giảm chất lượng cuộc sống cả về thể chất lẫn tinh
thần [60] Nghiên cứu của Maryam Tajvar năm 2014 cũng chỉ ra rằng điểm
sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và điểm trung bình chất lượng cuộc
sống nói chung của người bệnh tăng huyết áp là tương đối cao (55,01 ± 25,66 điểm, 63,86 ± 23,86 điểm và 59,44 ± 24,76 điểm), trong đó điểm của tất cả
các lĩnh vực đều đạt mức khác, lĩnh vực chức năng xã hội là có điểm trung
bình cao nhất 70,93 ± 25,93 điểm, lĩnh vực hoạt động thể chất thấp nhất tuy nhiên vẫn đạt 54,94 ± 30,65 điểm [46]
Người bệnh đã kết hôn và sống cùng với gia đình thường sẽ có chất lượng cuộc sống tốt hơn nhờ có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình không chỉ về mặt thể chất mà còn về cả mặt tâm thần, kết quả này được thể hiện rõ trong nghiên cứu của Iqbal (2010) [42]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu CLCS của người bệnh THA ở Việt Nam
Trang 23Tại Việt Nam cũng đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về CLCS của người bệnh THA Điển hình như nghiên cứu của Trần Kim Trang - Trường Y dược TP.HCM, trong tổng số 260 người tham gia nghiên cứu thì có tới 16,2%
là trên 76 tuổi, nữ mắc nhiều hơn nam chiếm 63,1%, tỷ lệ ở thành thị cao hơn nông thôn, chiếm 63,1%; tuy nhiên chỉ có 1,5% là không biết chắc về tinh hình sức khỏe của mình [21]
Một nghiên cứu khác của Trần Công Duy (2014) cũng thống kê cho thấy các người bệnh THA có tuổi càng cao thi điểm CLCS càng giảm Phân tích đa biến cho thấy trình độ học vấn cao là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến CLCS của người bệnh THA ở lĩnh vực GHTL [4] Nguyên nhân có thể được giải thích là những người THA có trình độ học vấn cao sẽ có sự nhận thức và hiểu biết về bệnh tật tốt hơn nên họ có tâm lý dễ thích nghi với bệnh hơn so với những người có trình độ học vấn thấp
Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 275 người bệnh THA của Duy Thị Hoa được chọn ngẫu nhiên đã đưa ra kết luận CLCS người bệnh THA thấp ở lĩnh vực SKTT với điểm trung bĩnh CLCS về quan hệ xã hội, môi trường sống, sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của người bệnh THA lần lượt là: (64,12 ± 14,06), (59,52 ± 10,39), (54,73 ± 14,94) và (49,42 ± 12,73) [5]
Nghiên cứu của Duy Thị Hoa năm 2013 cũng chỉ ra rằng điểm trung bình chất lượng cuộc sống là 52,07 ± 13,83 điểm, trong đó điểm trung bình sức khỏe tinh thần lại thấp hơn điểm trung bình sức khỏe thể chất (49,42 ± 12,73 điểm so với 54,73 ± 14,94 điểm) [5] Nghiên cứu của Lê Thị Hoàn năm
2014 điểm chất lượng cuộc sống chung là 55,55 ± 11,26 điểm , trong đó nhóm sức khỏe thể chất là có điểm trung bình thấp nhất 50,1 ± 10,1 điểm[9]
Nghiên cứu của Dương Huy Lương trên 870 người cao tuổi cho thấy chất lượng cuộc sống của người cao tuổi ở Hải Dương khá cao 62,5 ± 10,3 điểm, đa
số người cao tuổi có chất lượng cuộc sống mức trung bình, chiếm 68,1%, tỷ lệ có
Trang 24chất lượng cuộc sống xếp loại tốt chiếm 24.8% Các khía cạnh chất lượng cuộc sống đều đạt mức trung bình, chỉ có chất lượng xã hội đạt mức tốt, và chất lượng cuộc sống có xu hướng giảm dần theo tuổi [12].
1.4 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống
Nghiên cứu của Duy Thị Hoa (2013) chỉ ra điểm TB CLCS về quan hệ
xã hội, môi trường sống, sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của người bệnh THA lần lượt là: (64,12 ± 14,06), (59,52 ± 10,39), (54,73 ± 14,94) và (49,42 ± 12,73) Các yếu tố liên quan đến CLCS của người bệnh THA gồm tuổi, giới tính, hôn nhân, học vấn, nơi cư trú, hoạt động thể lực, tuân thủ điều trị, tình trạng dinh dưỡng [5]
Yếu tố tuổi đã được các nhà nghiên cứu xác định là có liên quan đến chất lượng cuộc sống ở người bệnh tăng huyết áp Năm 2011, nghiên cứu của Demir và Unsar [29] đã chỉ ra rằng tuổi tác càng tăng thì chất lượng cuộc sống càng giảm với (r = 0,305; p < 0,05) Ngược lại với các nghiên cứu trên, một số nghiên cứu cũng cho thấy yếu tố tuổi có mối liên quan rất yếu với chất lượng cuộc sống
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Nhung (2017) cũng chỉ ra điểm số chất lượng cuộc sống của nam giới cao hơn so với nữ giói cả về thể chất lẫn tinh thần [15] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Minh (2013) đưa ra kết luận tương tự người bệnh có trình độ học vấn cao, người bệnh vẫn đang làm việc
có điểm số chất lượng cuộc sống cao hơn người bệnh có trình độ thấp và đang không làm việc ở cả lĩnh vực sức khỏe thể chất và tinh thần [14]
- Yếu tố trầm cảm và chất lượng cuộc sống
Trầm cảm là một vấn đề khá phổ biến ở người bệnh suy tim mạn và nó cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trầm cảm làm tăng mức độ suy giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh tăng huyết áp
Trang 25Một nghiên cứu của Lý Thị Phương Hoa (2010) tiến hành trên 151 người bệnh tăng huyết áp đã chỉ ra rằng có 26,5% người bệnh THA có biểu hiện trầm cảm, nữ bị trầm cảm nhiều hơn nam (p = 0,002), nữ: 39,4% và nam: 15% Trĩnh độ học vấn cao ít bị trầm cảm hơn (p = 0,005), 43,1% người bệnh
có trình độ tiểu học bị trầm cảm, trong khi người bệnh có trình độ trung cấp
và đại học chỉ có 10% [8]
Cũng trong nghiên cứu của Lý Thị Phương Hoa, tỷ lệ trầm cảm ở người bệnh tăng huyết áp đã được điều trị trên 1 năm là 23,7% thấp hơn nhiều so với 58,3% người bệnh điều trị dưới 1 năm [8]
Theo Rabins và cộng sự, sự hỗ trợ của nhân viên y tế trong chăm sóc sức khỏe ban đầu giữ một vị trí chiến lược trong việc đánh giá và điều trị trầm cảm ở người cao tuổi [54] Trong nghiên cứu của Hillary và Heather , về sự kết họp giữa điều trị trầm cảm và điều trị tăng huyết áp đã giúp thành công trong việc cải thiện kết quả điều trị của người bệnh [40]
- Yếu tố hỗ trợ xã hội và chất lượng cuộc sống: Trong nghiên cứu của chúng tôi, hỗ trợ xã hội đề cập đến nhận thức của người bệnh THA về sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè, của những người quan trọng khác (như các chuyên gia chăm sóc sức khỏe) Những ảnh hưởng của các mối quan hệ này đã được chỉ ra là có tác động đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Đây cũng chính là kết luận trong nghiên cứu của Netuveli G năm 2006 [52]
1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu
Hiện nay, có nhiều mô hĩnh chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được áp dụng dựa trên các tình trạng sức khỏe và bệnh tật khác nhau, tuổi tác, giữa các cá nhân trong gia đình và cộng đồng Theo Bakas và cộng
sự (2012) [24] trong 10 năm qua có 3 mô hình chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, được sử dụng nhiều nhất đó là mô hình của Wilson và Cleary,
Trang 26mô hình của WHO về chức năng người khuyết tật và sức khỏe (WHO ICF) và
mô hình của Ferrans Trong 3 mô hình đó, mô hình của Ferrans là mô hình có tiềm năng lớn nhất để hướng dẫn nghiên cứu và thực hành vì mô hình Wilson
và Cleary có 2 lĩnh vực cá nhân và môi trường không được định nghĩa một cách rõ ràng, mô hĩnh của WHO về chức năng người khuyết tật và sức khỏe (WHO ICF) không cụ thể và có sự chồng chéo định nghĩa giữa khái niệm các hoạt động và sự tham gia
Mô hình chất lượng cuộc sống của Ferrans và cộng sự (2005) [34] là
mô hình được sửa đổi từ mô hình của Wilson và Cleary (1995) Năm yếu tố của mô hình Wilson và Cleary vẫn được giữ lại, đồng thời 2 yếu tố đặc điểm
cá nhân và môi trường đã được định nghĩa rõ ràng hơn Ngoài ra mô hình của Ferrans cũng được đơn giản hóa hơn, loại bỏ bớt các yếu tố phi y tế Do đó, chúng tôi chọn mô hình chất lượng cuộc sống của Ferrans để sử dụng làm khung lý thuyết cho nghiên cứu này
Trang 27Hình 1.1 Mô hình chất lượng cuộc sổng của Ferrans (2005) [34]
Theo mô hình này, có 4 yếu tố quyết định chính của chất lượng tổng thể của cuộc sống: (1) chức năng sinh học, (2) triệu chứng, (3) tình trạng chức năng và (4) sức khỏe tổng quát (nhận thức chung về sức khỏe)
Ngoài ra mô hình của Ferrans còn đề cập đến 2 yếu tố quan trọng khác
là yếu tố đặc điểm cá nhân và yếu tố đặc điểm môi trường Hai yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống mà còn ảnh hưởng đến các yếu tố khác trong mô hình
Trang 28Trong mô hĩnh này, yếu tố chức năng sinh học đề cập đến chức năng của các tế bào, cơ quan và hê thống cơ quan trong cơ thể thường được đo lường thông qua các xét nghiệm, đánh giá thể chất và chẩn đoán y khoa.
Yếu tố triệu chứng là nhận thức của người bệnh về những bất thường
về thể chất, tâm lý tình cảm, tinh trạng nhận thức, chúng được phân thành triệu chứng chứng thể chất, chức năng và tâm lý
Yếu tố tình trạng chức năng đánh giá khả năng người bệnh thực hiện một nhiệm vụ nào đó trong các lĩnh vực thể chất, xã hội, tâm lý hoặc nhận thức và có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố chức năng sinh học và yếu tố triệu chứng Tình trạng chức năng bao gồm chức năng thể chất, chức năng xã hội, chức năng vai trò và chức năng tâm lý
Yếu tố nhận thức về sức khỏe nói chung là đánh giá chủ quan của cá nhân về tổng thể các khía cạnh khác nhau của sức khỏe Yếu tố chất lượng cuộc sống chung của một người là cảm giác hạnh phúc bắt nguồn từ sự hài lòng hoặc không hài lòng với các lĩnh vực quan trọng của cuộc sống
Theo Ferrans (2005) [34] yếu tố đặc điểm cá nhân được phân loại: nhân khẩu học, phát triển, tâm lý và yếu tố sinh học có ảnh hưởng đến kết quả sức khỏe Đặc điểm nhân khẩu học bao gồm tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân và dân tộc,
Yếu tố môi trường gồm có môi trường vật chất và môi trường xã hội, trong đó môi trường vật chất là những môi trường như nhà cửa, khu phố, câu lạc bộ, nơi làm việc có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sức khỏe Còn môi trường xã hội là những ảnh hưởng giữa các cá nhân hoặc xã hội đến sức khỏe bao gồm ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, hàng xóm Sự hỗ trợ xã hội là một trong những yếu tố thuộc môi trường xã hội và rất quan trọng đối với người bệnh tăng huyết áp
Trang 29Dựa vào mô hình chất lượng cuộc sống của Ferrans và tổng quan tài liệu, nghiên cứu đưa ra khung lý thuyết để tìm mối liên quan giữa các yếu tố với chất lượng cuộc sống của người bệnh tăng huyết áp.
Hình 1.2: Khung lý thuyết nghiên cứu
1.6 Địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định là bệnh viện đa khoa hạng 1 thuộc
sở Y tế tỉnh Nam Định Bệnh viện nằm trên đường Trần Quốc Toản - TP Nam Định, với diện tích 2,7 ha Bệnh viện có quy mô 600 giường với 7 phòng chức năng, 21 khoa lâm sàng, 09 khoa cận lâm sàng với tổng số gần 600 y, bác sỹ và điều dưỡng viên Trong quy hoạch tổng thể phát triển ngành Y tế Nam Định, bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định sẽ nâng cấp lên một nghìn
Trang 30giường bệnh năm 2020 nhằm đảm bảo khám, chữa bệnh cho nhân dân vùng đồng bằng sông hồng.
Ước tính tại phòng khám tăng huyết áp bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định trung bình 1 ngày có khoảng 40 - 50 lượt người bệnh đến khám và phòng quản lý người bệnh THA ngoại trú có khoảng 3 0 - 4 0 người bệnh đến khám lại và được cấp thuốc Tổng số người bệnh ngoại trú đang được quản lý tại khoa ở thời điểm nghiên cứu vào gần 1000 người
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đổi tượng: Người bệnh được chẩn đoán xác định tăng huyết áp (theo
tiêu chuẩn của bộ Y tế) điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2018
- Tiêu chuẩn chọn mẫu
+ Người bệnh được chẩn đoán xác định tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định từ tháng 01 đến tháng 4 năm 2018
Trang 31+ Người bệnh từ 18 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức và giao tiếp.+ Người bệnh đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Phụ nữ mang thai.
+ Đang mắc các bệnh cấp tính nặng: tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim cấp,
+ Người bệnh diễn biến nặng lên phải vào điều trị nội trú
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2017 đến hết tháng 8/2018
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa khám bênh Bệnh viện đa khoa tỉnh NĐ
2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả với điều tra cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu được tính theo công thức chọn mẫu cho ước lượng một tỷ lệ:
n=Z2( i_/2) (1)Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu
a: xác suất sai số, chọn a = 0,05, ưa bảng ta có z (l-a/2) = 1,96
p: tỷ lệ NB tăng huyết áp có chất lượng cuộc sống tốt p = 0,2 (dựa theo nghiên cứu của Trần Kim Trang năm 2011 về chất lượng cuộc sống của người bệnh tăng huyết áp)
q = 1-p = 0,8
d: sai số cho phép = 0,07
Thay vào (1) ta có n = 1,962 = 125
Cỡ mẫu điều ưa là: 125 người bệnh tăng huyết áp
- Phương pháp chọn mẫu: sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, người bệnh được chẩn đoán xác định là tăng huyêt áp đáp ứng tiêu chuẩn lựa
Trang 32chọn trong thòi gian từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2018, chọn đến khi đủ 125 người bệnh tham gia vào nghiên cứu.
Thực tế đã chọn được 125 người bệnh tăng huyết áp đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Các bước thu thập số liệu:
+ Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm, hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứuCác bộ công cụ: thang đo sức khỏe với 36 câu hỏi ngắn (SF 36), thang
đo quy mô đa chiều nhận thức các hỗ trợ xã hội (MSPSS), thang đo trầm cảm Beck II là những bộ công cụ đã được dịch sang tiếng Việt và sử dụng trong một số nghiên cứu trước [15] Sau khi được các tác giả cho phép sử dụng trong nghiên cứu này, nghiên cứu viên đã tiến hành điều tra thực nghiệm trên
30 người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viên đa khoa tỉnh Nam Định (người bệnh này không tham gia vào đối tượng nghiên cứu); từ đó điều chỉnh, bổ sung, hoàn thành bộ công cụ Bộ công cụ nghiên cứu hoàn thiện đã được tác giả kiểm định độ tin cậy Cronback a lần lượt là 0,85; 0,9 và 0,84
+ Bước 2: Tập huấn cho điều tra viên
Lựa chọn 3 điều tra viên là giảng viên của trung tâm tiền lâm sàng đang đi lâm sàng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định để thống nhất về nội dung, cách thức thu thập số liệu
+ Bước 3: Tiến hành thu thập số liệu (sử dụng bộ câu hỏi tự điền)
Trước khi tiến hành điều tra, nghiên cứu viên sẽ giải thích rõ mục đích nghiên cứu cho người bệnh Những người bệnh tăng huyết áp có đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và đồng ý tham gia vào nghiên cứu sẽ được yêu cầu ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu
Việc phỏng vấn sẽ được tiến hành vào tất cả các ngày trong tuần sau khi người bệnh đã được khám và làm xét nghiệm kiểm tra Trong khi người
Trang 33bệnh chờ xét nghiệm và kê đơn cấp thuốc, điều tra viên phỏng vấn trực tiếp người bệnh tại phòng chờ, thời gian phỏng vấn một người bệnh là 45 phút.
Điều tra viên sẽ đọc câu hỏi và câu trả lời để người bệnh lựa chọn, nếu câu hỏi nào người bệnh chưa hiểu sẽ được điều tra viên giải thích kỹ để người bệnh hiểu và trả lời, sau đó người bệnh ghi lại đáp án theo lựa chọn của họ
+ Bước 4: Tổng hợp phiếu điều tra
Sau mỗi buổi điều tra, các phiếu điều ừa sẽ được nghiên cứu viên tổng hợp, kiểm tra một cách kỹ lưỡng về số lượng, chất lượng nội dung câu hỏi và loại trừ những phiếu điều tra không đạt yêu cầu
2.6 Các biến số nghiên cứu
Các biến số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (phụ lục 2):
? rin_Ạ •
- Hoạt động thể chất
- Hạn chế vai trò hoạt động thể chất
- Hạn chế vai trò chức năng cảm xúc
- Cảm nhận sức sống
Trang 34Nhóm biến số nhận thức về hỗ trợ xã hội gồm 12 biến số (phụ lục 2)
2.7 Thang đo, tiêu chuẩn đánh giá
Phiếu khảo sát: gồm 4 phần
Phần 1: Đặc điểm nhân khẩu xã hội học: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình
độ học vấn, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh sống, phân độ tăng huyết áp, thời gian mắc bệnh tăng huyết áp, bệnh kèm theo của đối tượng nghiên cứu
Phần 2: Thang đo chất lượng cuộc sống (SF 36):
Bảng 2.1 Các vẩn đề đánh giá trong bộ câu hỏi SF 36
Trang 358 Chức năng xã hội 20, 32 2
- Trong mỗi câu hỏi, người trả lời đánh dấu vào ô vuông ở sau mỗi lựa chọn
Bảng 2.2 Cách tỉnh điểm chất lượng cuộc sống
+ Điểm cho từng mục đánh giá của CLCS (bảng 2.1) được tính bằng điểm trung bình cộng của các mục đó
+ Điểm sức khỏe thể chất được tính bằng điểm trung bình cộng của các mục
số 1, 2, 3 và 4 (bảng 2.1)
Trang 36+ Điểm sức khỏe tinh thần được tính bằng điểm trung bình cộng của các mục
Cách tính điểm: Mỗi câu trả lời cho mỗi mục sẽ có một mức điểm tương ứng từ 0 - 3 điểm Tổng số điểm của 21 mục tương ứng từ 0 - 63 điểm
Phần 4: Thang đo về hỗ trợ xã hội:
Thang đo gồm 12 câu được thiết kế để đo lường nhận thức sự hỗ trợ từ 3
nguồn: gia đình (4 câu), bạn bè (4 câu) và những người quan trọng khác (4 câu) Mỗi câu hỏi có 7 phương án trả lời từ 1 “rất không đồng ý” đến 7 “rất đồng ý” Tổng điểm nhận thức hỗ trợ xã hội càng cao thì người bệnh càng nhận được nhiều về sự hỗ trợ xã hội
Cách tính điểm:
Điểm số nhận thức sự hỗ trợ từ gia đình được tính bằng tổng điểm các câu 3, 4, 8, 11 Điểm số nhận thức sự hỗ trợ từ bạn bè được tính bằng tổng điểm các câu 6, 7,9, 12 Điểm số nhận thức sự hỗ trợ từ những người quan trọng khác được tính bằng tổng điểm các câu 1,2, 5,10 Trong từng lĩnh vực, điểm số thấp nhất là 4 điểm và cao nhất là 28 điểm Điểm số nhận thức hỗ trợ
xã hội là tổng điểm của tất cả 12 câu, điểm số thấp nhất là 12 điểm và cao
Trang 37nhất là 84 điểm.
* Đánh giá chất lượng cuộc sống: chất lượng cuộc sống có điểm
trung bình từ 0 - 100 điểm, điểm càng cao chất lượng cuộc sống càng tốt Sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và chất lượng cuộc sống chung được phân thành 4 mức dựa vào điểm số trung bình :
+ Từ 0 - 25: chất lượng cuộc sống kém
+ Từ 26 - 50: chất lượng cuộc sống trung bình
+ Từ 51 - 75 : chất lượng cuộc sống khá
+ Từ 75 - 100: chất lượng cuộc sống tốt
* Đánh giá mức độ trầm cảm: Dựa vào tổng số điểm của 21 mục,
mức độ trầm cảm của BDI-II được phân làm 4 loại [60]
+ Từ 0 “ 13 điểm: không trầm cảm
+ Từ 14 - 19 điểm: trầm cảm nhẹ
+ Từ 20 29 điểm: hầm cảm vừa
+ Từ 30 - 63 điểm: trầm cảm nặng
* Đánh giá mức hỗ trợ xã hội: dựa vào tổng số điểm của 12 câu mức
hỗ họ xã hội được chia làm 3 loại [63]:
+ Từ 12 - 48 điểm: hỗ trợ xã hội mức thấp
+ Từ 49 - 68 điểm: hỗ trợ xã hội mức trung bĩnh
+ Từ 69 - 84 điểm: hỗ trợ xã hội mức cao
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
Nhập số liệu và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
Dùng thống kê mô tả và thống kê phân tích Nhận định sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê với p < 0.05
Trang 38biệt thống kê bằng chi bỉnh phương hay Fisher test.
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Việc thực hiện nghiên cứu được sự thông qua của hội đồng đề cương trường đại học điều dưỡng Nam Đinh, được sự chấp thuận và cho phép của bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định Mặt khác, nghiên cứu cũng được tiến hành dưới sự đồng ý tham gia của đối tượng nghiên cứu, và tất cả các đối tượng đã được giải thích rõ về mục đích, lợi ích và yêu cầu trước khi được tiến hành phỏng vấn, đảm bảo tính khách quan và tương đối của nghiên cứu
Các thông tin thu được trong quá trình nghiên cứu được đảm bảo giữ kín, và chỉ nhằm mục đích nghiên cứu, không nhằm mục đích nào khác
+ Thử nghiệm bộ công cụ để xác định tính tin cậy
+ Trước khi phỏng vấn điều ưa viên phải giải thích rõ mục đích, ý nghĩa để đối tượng nghiên cứu họp tác chặt chẽ
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u
Trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 4 năm 2018, qua nghiên cứu chất lượng cuộc sống của 125 người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, thu được kết quả sau
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đăc điểm về tuổi 9
Bảng 3.1: Phân bố theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu
Trung bình ± Độ lệch chuẩn: 71,43 ± 7,33 Khoảng: 41-91
Qua bảng 3.1 ta thấy nhóm tuổi trung bình của người bệnh tăng huyết
áp là 71,43 ± 7,33 tuổi Tuổi thấp nhất là 41 và tuổi cao nhất là 91 tuổi, nhóm tuổi 71-80 chiếm tỷ lệ cao nhất 49,6%, sau đó đến nhóm tuổi 61-70 chiếm 36,8% và nhóm tuổi trên 80 chiếm tỷ lệ thấp nhất 6,4%
3.1.2 Đặc điểm về giới
I 51,2% I
Trang 40Biểu đồ 3.1: Phân bổ theo giới tính của đốỉ tượng nghiên cứu (n=125)
Biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ nam và nữ mắc tăng huyết áp là tưong đương nhau (51,2% so với 48,8%) Tỷ lệ nam/nữ là 1/1.05
tỷ lệ thấp nhất 12%
3.1.4 Đặc điểm về trình độ học vẩn
Bảng 3.3: Phân bổ theo trình độ học vẩn của đổi tượng nghiên cứu