1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan của học sinh trường trung học phổ thông tô hiệu, huyện thường tín, hà nội

123 447 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu “Thực trạng bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan của học sinh trường THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2017” được thực hiện tại trường trung học phổ thông Tô

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thị Thi Thơ và Ths Nguyễn Thị Nga đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình trong quá trình tôi học tập và hoàn thành luận văn thạc sỹ

Tôi xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ, động viên, giúp tôi thêm nhiều kinh nghiệm, kiến thức và nghị lực để hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn các thầy cô và học sinh Trường THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín, các điều tra viên đã tham gia nhiệt tình giúp tôi thu thập số liệu cho nghiên cứu này

Cho phép tôi thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bố mẹ tôi đã luôn khuyến khích, động viên tôi trong học tập giúp tôi vượt qua mọi khó khăn, để hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 13 tháng 6 năm 2017

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ……… …1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN 4

1.1 Khái niệm và phân loại bạo lực 4

1.2 Bạo lực học đường 5

1.3 Bạo lực gia đình 6

1.4 Thực trạng bạo lực học đường trên thế giới và Việt Nam 7

1.5 Một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực ở học sinh 10

1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 19

KHUNG LÝ THUYẾT 21

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.3 Thiết kế nghiên cứu 22

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 22

2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 24

2.6 Biến số và chủ đề nghiên cứu 25

2.7 Các bước tiến hành thu thập số liệu 26

2.8 Thang đo, tiêu chuẩn đánh giá 27

2.9 Quản lý, phân tích số liệu 28

2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 29

2.11 Đạo đức nghiên cứu 30

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

Chương 4: BÀN LUẬN 61

Chương 5: KẾT LUẬN 73

Chương 6: KHUYẾN NGHỊ 74

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC 1: PHIẾU TÌNH NGUYỆN THAM GIA NGHIÊN CỨU 82 PHỤ LỤC 2: Q1 - BỘ CÂU HỎI PHÁT VẤN VỀ VẤN ĐỀ BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 83 PHỤ LỤC 3: Q2a - HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU BAN GIÁM HIỆU 95 PHỤ LỤC 4: Q2b - HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU ĐẠI DIỆN BCH ĐOÀN TRƯỜNG 96 PHỤ LỤC 5: Q3a - HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM HỌC SINH 97 PHỤ LỤC 6: Q3b - HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM 98 PHỤ LỤC 7: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 99 PHỤ LỤC 8: KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 103 PHỤC LỤC 9: KINH PHÍ 104

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CDC Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh dịch

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2 1: Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu định tính 24

Bảng 3 1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3 2: Đặc điểm về gia đình của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3 3: Đặc điểm về gia đình và bạn bè của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3 4: Tỷ lệ học sinh thường xem phim và chơi trò chơi theo giới tính 34

Bảng 3 5: Tỷ lệ hành vi nguy cơ của học sinh theo giới 34

Bảng 3 6: Phân bố tỷ lệ học sinh có hành vi BLHĐ trong 6 tháng qua, 35

Bảng 3 7: Phân bố tỷ lệ học sinh có hành vi BLHĐ (theo 4 nhóm hình thức và nói chung) trong 6 tháng qua theo giới tính và khối học 37

Bảng 3 8: Sự tham gia của người khác trong các cuộc BLHĐ 38

Bảng 3 9: Đối tượng bị học sinh thực hiện hành vi bạo lực 38

Bảng 3 10: Tỷ lệ học sinh là nạn nhân của BLHĐ trong 6 tháng qua phân loại theo từng hình thức bị bạo lực 40

Bảng 3 11: Phân bố tỷ lệ học sinh bị BLHĐ trong 6 tháng qua 41

Bảng 3 12: Thái độ của học sinh khi chứng kiến hành vi BLHĐ gần đây nhất 43

Bảng 3 13: Phản ứng của bố/mẹ, giáo viên đối với hành vi BLHĐ 44

Bảng 3 14: Mối liên quan giữa hành vi BLHĐ và đặc điểm cá nhân của học sinh 46

Bảng 3 15: Mối liên quan giữa hành vi BLHĐ và một số đặc điểm của gia đình 47

Bảng 3 16: Mối liên quan giữa hành vi BLHĐ và một số đặc điểm 49

Bảng 3 17: Mối liên quan giữa hành vi BLHĐ và thói quen xem phim, chơi trò chơi của học sinh 50

Bảng 3 18: Mối liên quan giữa hành vi BLHĐ và một số hành vi nguy cơ 50 Bảng 3 19: Mô hình hồi quy Logistic dự đoán một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo

Trang 8

Bảng 3 20: Mối liên quan giữa tình trạng là nạn nhân BLHĐ và đặc điểm chung của học

sinh 54

Bảng 3 21: Mối liên quan giữa tình trạng là nạn nhân BLHĐ và một số 55

Bảng 3 22: Mối liên quan giữa tình trạng là nạn nhân BLHĐ và một số đặc điểm về trường học và bạn bè 56

Bảng 3 23: Mối liên quan giữa tình trạng là nạn nhân BLHĐ và một số 57

Bảng 3 24: Mô hình hồi quy Logistic dự đoán một số yếu tố liên quan tới tình trạng là nạn nhân bạo lực học đường 58

Biểu đồ 3 1: Địa điểm thường xảy ra BLHĐ 39

Biểu đồ 3 2: Đối tượng thực hiện hành vi BLHĐ 42

Biểu đồ 3 3: Phân loại BLHĐ của đối tượng nghiên cứu 42

Biểu đồ 3 4: Nguyên nhân dẫn đến hành vi BLHĐ của học sinh 45

Biểu đồ 3 5: Nguyên nhân học sinh bị BLHĐ trong lần gần đây nhất 53

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

BLHĐ không chỉ gây hậu quả tới những người bị bắt nạt mà còn có tác động xấu tới cả những người tham gia gây bạo lực, tác động xấu tới gia đình, trường học và cả xã hội Nghiên cứu “Thực trạng bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan của học sinh trường THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2017” được thực hiện tại trường trung học phổ thông Tô Hiệu trong thời gian từ tháng 12/2016 đến tháng 6/2017 với 2 mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng bạo lực học đường của học sinh trường trung học phổ thông Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2017; (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến bạo lực học đường của học sinh trường trung học phổ thông Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2017

Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang có phân tích với sự kết hợp phương pháp thu thập thông tin định tính và định lượng Áp dụng công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ và phương pháp chọn mẫu cụm, nhiều giai đoạn, nghiên cứu đã thực hiện với 841 học sinh trường THPT Tô Hiệu, năm học 2016 – 2017 Trên thực tế, số phiếu thu

về hợp lệ, sử dụng cho nghiên cứu là 836 Thông tin thu thập được bằng phương pháp phát vấn cho học sinh với bộ câu hỏi tự điền Nghiên cứu cũng đã thực hiện được 02 cuộc phỏng với Ban giám hiệu nhà trường và đại diện ban chấp hành đoàn; 01 cuộc thảo luận nhóm với giáo viên chủ nhiệm và 03 cuộc với học sinh 3 khối Thông tin định tính thu thập được để bổ sung cho nghiên cứu định lượng về thực trạng và nguyên nhân gây ra BLHĐ từ quan điểm từ phía nhà trường, thầy cô bạn bè Sử dụng phần mềm SPSS 18.0,

số liệu định lượng được phân tích đơn biến và đa biến với mô hình hồi quy logistic nhằm xác định mối tương quan giữa BLHĐ và các yếu tố nguy cơ, có xét đến sự tương tác giữa các yếu tố trong mô hình Thông tin định tính được phân tích theo chủ đề

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong vòng 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu, tỷ lệ học sinh đã từng tham gia hành vi bạo lực học đường chiếm 12,3% Trong đó tỷ lệ học sinh có hành vi bạo lực thể chất là 1,7%, bạo lực lời nói 11,0%; bạo lực mối quan hệ xã hội 1,6%; bạo lực điện tử 0,6% Lý do chính của các hành vi bạo lực học đường là trêu

Trang 10

chọc hoặc nói xấu nhau (48,5%) Đa số các vụ bạo lực học đường thường do 1 học sinh thực hiện (55,3%) và thực hiện với bạn cùng lớp (66%), hoặc với bạn cùng khối nhưng khác lớp (23,3%) Nơi thường xảy ra các vụ bạo lực học đường phần lớn là trong lớp học (46%)

Tỷ lệ học sinh từng bị bạo lực là 10,6% Trong đó tỷ lệ học sinh bị bạo lực dạng thể chất là 1,8%; dạng lời nói 8,4%; dạng mối quan hệ xã hội 1,9% và bị bạo lực điện tử

là 0,1% Lý do chính học sinh bị các hành vi này là do trêu chọc nói xấu nhau (59,6%) Người thực hiện các hành vi với các nạn nhân chủ yếu là các bạn cùng lớp (73,0%)

Các yếu tố được xác định có liên quan đến hành vi bạo lực học đường bao gồm: giới tính, hạnh kiểm và nghĩ đến việc tự tử Cụ thể, nhóm học sinh nam có khả năng thực hiện hành vi cao hơn so với học sinh nữ với OR = 2,0 (95%CI: 1,1 – 3,5) Học sinh có hạnh kiểm khá trở xuống có khả năng thực hiện hành vi bạo lực cao hơn nhóm có hạnh kiểm tốt với OR = 1,8 (95%CI: 1,1 – 3,2) Học sinh đã từng nghĩ đến việc tự tử có khả năng thực hiện hành vi bạo lực cao hơn nhóm chưa từng nghĩ đến, OR = 1,8 (95%CI: 1,1 – 3,2) Tình trạng bị bất kỳ hành vi bạo lực học đường nào trong vòng 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu được xác định có mối liên quan với: giới tính và nghĩ đến việc tự tử Cụ thể: nhóm học sinh nam có nguy cơ bị bạo lực cao hơn so với học sinh nữ với OR = 2,7 (95%CI: 1,1 – 6,3) Học sinh đã từng nghĩ đến việc tự tử có nguy cơ bị bạo lực cao hơn nhóm chưa từng nghĩ đến, OR = 3,0 (95%CI: 1,2 – 7,2)

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã định nghĩa: Bạo lực là hành vi cố tình sử dụng sức mạnh hoặc quyền lực, đe dọa hoặc làm thật, chống lại một người hoặc một nhóm người dẫn đến tổn thương về tâm lý, thể chất, thương tật hoặc tử vong [74] Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh dịch Hoa Kỳ (CDC), bạo lực học đường (BLHĐ) là một phần trong nhóm bạo lực ở thanh thiếu niên xảy ra ở những người trong độ tuổi từ 10 – 24 tuổi Các hành vi bạo lực bao gồm một loạt các hành động như bắt nạt, tát, đấm và sử dụng vũ khí [19] Có thể chia BLHĐ thành 4 nhóm: bạo lực về thể chất, bạo lực bằng lời nói, bạo lực xã hội, bạo lực điện tử [19]

Xã hội hiện đại ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng của nạn bạo lực, đặc biệt trong môi trường học đường Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), trong năm 2014, tại Mĩ có khảng 486400 nạn nhân bị bạo lực

ở trường học trên các học sinh (HS) từ 12-18 tuổi [19] Một nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng học sinh trung học cơ sở tại Iran đã chỉ ra rằng, có 5,4% HS có hành vi bạo lực, 22,1% chỉ là nạn nhân của bạo lực và 11% số HS tham gia nghiên cứu vừa là người bạo lực vừa là nạn nhân[43]

Tại Việt Nam, BLHĐ là vấn nạn, thậm chí người có hành vi bạo lực cũng đã từng là nạn nhân của các vụ BLHĐ Trong năm học 2011-2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thống kê trên toàn quốc đã xảy ra gần 1.600 vụ việc HS đánh nhau, tình trạng đánh nhau có sự tham gia tổ chức thành các nhóm có hung khí ngày càng phổ biến hơn [1] Báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe HS 13 – 17 tuổi ở Việt Nam năm

2013 của Bộ Y tế cho thấy tỷ lệ HS đã từng bị đánh trong vòng 1 năm là 21,0%; 16,5% đã từng tham gia các cuộc đánh nhau[72]

BLHĐ có thể xảy ra ở bất cứ giới tính, độ tuổi nào và gây hậu quả cho cả nạn nhân và người gây ra bạo lực BLHĐ làm ảnh hưởng đến kết quả học tập, gây đau khổ cho các nạn nhân, không chỉ về thể xác mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tinh thần Không chỉ gây ra tác hại trên nạn nhân, người có hành vi bạo lực có thể sẽ phát triển không toàn diện dẫn đến thiếu hụt về nhân cách, mất dần nhân tính, là mầm mống của tội phạm, tội ác; là căn nguyên tạo ra sự biến đổi của

xã hội, của lương tri con người[4]

Trang 12

Nghiên cứu về BLHĐ tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong thời gian gần đây đã phần nào mô tả được thực trạng BLHĐ cũng như một số yếu tố liên quan tới vấn đề này Tuy nhiên, các nghiên cứu thường tập trung nhiều ở khu vực nội thành, mà ít chú trọng nhiều đến khu vực ngoại thành – nơi mà HS còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế, ít nhận được quan tâm, đầu tư hơn của bố mẹ Trong khi đó, hiện nay thành phố Hà Nội có 206 trường Trung học phổ thông (THPT), với gần 190 nghìn HS, số HS ngoại thành chiếm trên 60% tổng số HS Tình hình BLHĐ ở khu vực ngoại thành hiện nay như thế nào vẫn là một câu hỏi chưa được giải đáp Thường Tín là huyện nằm ở phía nam Hà Nội, với những đặc điểm chung đại diện cho khu vực ngoại thành như: địa lý, cơ cấu kinh tế cũng như

về giáo dục - y tế [2] Vì thế, nghiên cứu “Thực trạng bạo lực học đường và một

số yếu tố liên quan của học sinh trường THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2017” được tiến hành nhằm cung cấp thêm số liệu về thực trạng cũng như

yếu tố liên quan đến tình hình bạo lực ở HS khu vực ngoại thành Qua đây, tôi mong muốn góp một phần trong nỗ lực chung tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu ngăn chặn BLHĐ

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng bạo lực học đường của học sinh trường trung học phổ thông

Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2017

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến bạo lực học đường của học sinh trường trung học phổ thông Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2017

Trang 14

Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm và phân loại bạo lực

1.1.1 Khái niệm bạo lực

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, bạo lực là hành vi cố tình sử dụng sức mạnh hoặc quyền lực, đe dọa hoặc làm thật, chống lại một người hoặc một nhóm người dẫn đến tổn thương về tâm lý, thể chất, thương tật hoặc tử vong [74]

1.1.2 Phân loại bạo lực:

Theo cách phân loại của WHO, bạo lực chia làm 2 nhóm:

- Bạo lực tự thân bao gồm các hành vi tự tử và các hành vi tự làm đau, ngược đãi bản thân Hành vi tự tử thể hiện ở mức độ suy nghĩ về việc tự tử, lên kế hoạch tự tử thành công và chưa thành công [22, 74]

- Bạo lực giữa các cá nhân được chia thành 2 nhóm:

o Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục Trong nhóm này, hành vi bạo lực xảy ra chủ yếu giữa các thành viên trong gia đình và bạn tình [74]

o Bạo lực cộng đồng - bạo lực giữa cá nhân có liên quan, và những người có thể quen biết hoặc không quen biết nhau, thường xảy ra ở các khu vực ngoài nhà ở Một số loại bạo lực cộng đồng thường gặp như là lạm dụng trẻ em, lạm dụng người cao tuổi Sau này, các nghiên cứu đã chỉ ra thêm rằng bạo lực thanh thiếu niên, hiếp dâm, hay tấn công tình dục với người

lạ, bạo lực trường học, nơi làm việc, nhà dưỡng lão cũng được đưa vào nhóm bạo lực cộng đồng [74, 75]

Theo một cách phân loại khác của Newfoundland Labrador thì bạo lực/lạm dụng được chia thành 8 nhóm [50]:

- Bạo lực thể chất: bạo lực xảy ra khi có ai đó sử dụng một phần cơ thể của họ

để điều khiển hành động của người khác một cách có chủ đích

- Bạo lực tình dục: bạo lực xảy ra khi một người không sẵn sàng tham gia vào hành vi tình dục, bị ép buộc thực hiện hành vi tình dục

- Bạo lực cảm xúc: xảy ra khi người khác nói hay làm việc gì đó làm người khác cảm thấy bản thân xấu hổ

Trang 15

- Bạo lực tâm lý: xảy ra khi ai đó sử dụng các mối đe dọa và gây ra nỗi sợ hãi đối với một cá nhân để kiểm soát người khác

- Bạo lực tôn giáo: xảy ra khi ai đó sử dụng tín ngưỡng tinh thần của một người để thống trị hoặc kiểm soát người đó

- Bạo lực văn hóa: xảy ra khi một cá nhân bị tổn hại, bị tổn thương như là một phần của văn hóa hay truyền thống ở nơi họ sinh sống

- Bạo lực bằng lời nói: xảy ra khi một người nào đó sử dụng ngôn ngữ, nói ra hoặc viết tay, gây thiệt hại cho người khác

- Bạo lực tài chính: xảy ra khi một người kiểm soát nguồn tài chính cá nhân

mà không cần sự đồng ý của người đó hoặc lợi dụng nguồn tài chính của người khác

1.2 Bạo lực học đường

1.2.1 Khái niệm

Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh dịch Hoa Kỳ (CDC), BLHĐ

là một phần trong nhóm bạo lực ở thanh thiếu niên xảy ra ở những người trong độ tuổi từ 10 – 24 tuổi Các hành vi bạo lực bao gồm một loạt các hành động như bắt nạt, tát, đấm và sử dụng vũ khí Nạn nhân có thể bị chấn thương nghiêm trọng về thể chất hoặc tinh thân, thậm chí có thể gây tử vong [19]

Theo định nghĩa của Trung tâm phòng chống BLHĐ Bắc Carolina, BLHĐ có thể thể hiện ở nhiều hình thức như là bắt nạt, hăm dọa, hoạt động theo băng đảng,

sử dụng vũ khí tấn công BLHĐ là hành vi bất kỳ vi phạm hoặc gây nguy hiểm cho người khác trong khu vực trường học, chống lại thầy cô hoặc chiếm đoạt tài sản, sử dụng vũ khí để đe dọa thầy cô, HS khác [23]

Ngoài các khái niệm về BLHĐ, nghiên cứu cũng làm rõ, phân biệt với bắt nạt học đường Bắt nạt học đường theo định nghĩa của tác giả Dan Olweus: “Bắt nạt học đường là hành vi gây ra giữa các HS với nhau Người bắt nạt sử dụng quyền lực của mình để ép buộc người khác nghe theo hoặc ép buộc người khác làm việc mình không mong muốn Hành vi này thực hiện liên tục xảy ra trong khoảng thời gian dài Các hành vi bắt nạt có thể bao gồm: vật chất, thể chất (đánh, đá, nhổ nước bọt, đẩy), lời nói (chế nhạo, trêu, đe dọa), hoặc tâm lý (lan truyền tin đồn, tống tiền )”

Trang 16

[19] Hay theo tác giả Besag định nghĩa: ”Bắt nạt là một hành động lặp đi lặp lại một cách hiếu chiến để cố ý làm tổn thương về tinh thần hoặc thể xác cho người khác Bắt nạt là đặc trung của một cá nhân hành xử theo một cách nào đó để đạt được quyền lực trên người khác” [18]

Như vậy, có thể thấy, bắt nạt học đường là một phần của BLHĐ Trong khuôn khổ nghiên cứu này, khái niệm BLHĐ được hiểu là bạo lực giữa các HS hay nhóm HS, hành vi bạo lực thực hiện trong khu vực trường học, trên đường tới trường hoặc từ trường về nhà, hoặc trong các hoạt động ngoại khóa mà nhà trường

tổ chức

1.2.2 Phân loại

Bạo lực có thể chia thành nhiều nhóm, theo các nhóm phân loại khác nhau Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, BLHĐ được phân loại dựa trên tài liệu Phòng chống bạo lực của CDC [19] Trong đó, có thể chia BLHĐ thành 4 nhóm sau:

- Bạo lực về thể chất: bao gồm các hành vi như đánh, đấm, đá, đẩy, tát, dứt tóc, kéo tai, xé quần áo, trấn lột, cướp đồ vật của một/một nhóm HS khác;

- Bạo lực bằng lời nói: bao gồm các hành vi như gán/gọi biệt danh (mang ý nghĩa xấu), chế nhạo làm tổn thương nhau, sỉ nhục, dùng lời nói đe dọa/ép buộc một/một nhóm HS khác làm theo ý mình;

- Bạo lực xã hội: Bao gồm các hành vi như phân biệt biệt đối xử, cô lập, tẩy chay, tạo/phát tán tin đồn (mang ý nghĩa xấu) cho một/một nhóm HS khác;

- Bạo lực điện tử: Bao gồm các hành vi như nhắn tin, gọi điện để uy hiếp đe dọa/ép buộc một/một nhóm HS khác làm theo ý mình, lập/tham gia các hội trên mạng để cô lập/tẩy chay một/một nhóm HS khác

1.3 Bạo lực gia đình

Theo Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007: ”Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”[3]

Phân loại bạo lực gia đình:

Trang 17

- Bạo lực về thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ

- Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình

- Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành viên gia đình (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động…)

- Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con

1.4 Thực trạng bạo lực học đường trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 Trên thế giới

BLHĐ không chỉ gây hậu quả tới những người bị bắt nạt mà còn có tác động xấu tới cả những người tham gia gây bạo lực, tác động xấu tới gia đình, trường học

và cả xã hội Ngoài ra, BLHĐ cũng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng hơn

như là ảnh hưởng tới hành vi, tâm lý của nạn nhân thậm chí gây tự tử

Theo thống kê của WHO, trên thế giới mỗi ngày có từ 20-40 nạn nhân phải nhập viện vì chấn thương do bạo lực trong giới trẻ, có khoảng 565 trẻ em và thanh thiếu niên từ 10-29 tuổi tử vong bởi nguyên nhân liên quan đến bạo lực Vũ khí phổ biến được sử dụng trong các vụ bạo lực gây tử vong là súng, súng ngắn Ngoài ra những vũ khí khác như dao, gậy, dùi cui cũng được sử dụng trong các vụ bạo lực[74]

Tại Mỹ, Theo nghiên cứu thực hiện từ năm 1993 đến năm 1995 đã cho kết quả 9/10 ca tử vong xảy ra là do các HS nam tham gia các cuộc bạo lực hoặc là nạn nhân của bạo lực [28] Tỷ lệ tử vong do bạo lực tại Quốc gia này rất đáng báo động Mỗi ngày có gần 13 trẻ em bị chết do bị bắn ở châu Mỹ [61] Cứ 4 tiếng lại có một trẻ vị thành niên bị bắt vì các tội danh có liên quan đến bạo lực [73] Trong một nghiên cứu khác năm 2001 trên 15.686 HS từ lớp 6 đến lớp 10 tại các trường trong toàn nước Mỹ cho thấy, tỷ lệ tham gia thường xuyên bắt nạt tại trường học là 29,9% [46] Trong năm học 2005-2006, có tới 23% HS tham gia các băng đảng trong trường và có khoảng 38% số trường công lập có ít nhất một vụ BLHĐ cần tới sự can thiệp của cảnh sát [47] Nghiên cứu của Jing Wang và cộng sự tiến hành trên

7182 HS từ lớp 6 đến lớp 10 trên toàn nước Mỹ cho thấy 13,3% HS báo cáo rằng đã

Trang 18

thực hiện bạo lực dạng thể chất, 37,4% bằng lời nói, 27,2% về mặt xã hội, và 8,3%

về điện tử Tỷ lệ HS là nạn nhân tương ứng với các loại bạo lực như sau: 12,8% bị bạo lực về thể chất, 36,5% về lời nói, 41,0% bị bạo lực mối quan hệ xã hội, và 9.8% đối với các hình thức bạo lực điện tử [68] BLHĐ dẫn tới tăng tỷ lệ phạm tội và bạo lực trong cộng đồng Nghiên cứu ở 4 trường trung học tại Nam Mĩ củaVusumzi Nelson Ncontsa Nam chỉ ra có tới 91% số HS cho biết bạo lực ngoài cộng đồng chủ yếu là do BLHĐ Điều này dẫn tới việc bạo lực trở nên phổ biến, HS đi học mang theo vũ khí ngày càng tăng [49] Theo CDC: năm 2013, 12% HS từ 12-18 tuổi đã báo cáo rằng có sự xuất hiện của các băng nhóm trong trường; năm 2014, có khảng

486400 nạn nhân bị bạo lực ở trường học trên các HS từ 12-18 tuổi Hệ quả của bạo lực cũng được chỉ ra rằng, số HS nghỉ học, trốn học ngày càng tăng vì lo sợ BLHĐ

và cảm thấy trường học là không an toàn [64] Trong năm 2015, theo một nghiên cứu được thực hiện trên mẫu đại diện với nhóm HS lớp 9 đến lớp 12, có 5,6% HS trả lời rằng họ không dám đi học vì cảm thấy không an toàn ở trường hoặc trên đường đến trường [19] Theo một nghiên cứu được thực hiện trên mẫu đại diện vào năm 2015 với nhóm HS lớp 9 đến lớp 12, có 7,8% số HS xảy ra bạo lực thể chất trong trường; 4,1% HS báo cáo có mang vũ khí (súng, dao hoặc vật khác) đến trường [19] Cũng tại nước Mỹ, theo báo cáo của Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia, trong năm học 2014-2015, tỷ lệ bị bạo lực trong trường học ở nhóm HS

từ 12-18 tuổi là 20,8% trong tổng số Trong đó, tỉ lệ bị bạo lực bằng cách đưa ra làm trò cười, gọi tên chiếm 13,3% Bị làm chủ đề bàn tán chiếm 12,2% tỉ lệ HS nữ bị bắt nạt cao hơn ở HS nam lần lượt là 22,8% và 18,8% [48]

Tại Nga, trong 100.000 người tuổi từ 10-29 tuổi, có 16 người đã bị giết hại mỗi năm do bạo lực ở HS trong vòng từ năm 2004 đến năm 2007 Albania và Kazakhstan xếp hạng thứ hai và thứ ba, tỷ lệ tương ứng 11,2 và 10,7 trên 100.000

ca tử vong ở lứa tuổi HS [71]

Theo kết quả điều tra nghiên cứu năm 2005, trên 692 HS từ 5 trường THPT thuộc Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy, toàn bộ HS đều từng là nạn nhân của BLHĐ ít nhất 1 lần, trong vòng 1 năm trước nghiên cứu Các hình thức bạo lực chủ yếu là

Trang 19

bạo lực thể chất (35,5%), bạo lực tinh thần (28,3%), bạo lực lời nói (33,5%) và bạo lực tình dục (19,6%) [34]

Tại Iran, một nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng HS trung học cơ sở

đã chỉ ra rằng, có 5,4% HS chỉ là người bắt nạt, 22,1% chỉ là nạn nhân bị bắt nạt và 11% số HS tham gia nghiên cứu vừa là người bắt nạt vừa bị bắt nạt Trong đó, tỉ lệ

HS nam tham gia bắt nạt cao hơn so với các HS nữ [43]

Tại Nhật, theo báo cáo thống kê của Bộ giáo dục vào năm 2007, số ca BLHĐ xảy ra trong và ngoài trường là 52.756, tăng hơn 8000 ca so với thống kê năm 2006 Báo cáo cũng chỉ ra rằng, độ tuổi xảy ra BLHĐ ngày cảng giảm Số liệu chỉ ra có

5111 HS tiểu học sử dụng bạo lực, tăng 37% so với năm 2006 [31]

Tại Hàn Quốc, một nghiên cứu khác với mẫu 1756 HS trung học tại Hàn Quốc cho thấy, có tới 40% HS tham gia vào các cuộc bắt nạt Trong đó, tỉ lệ HS là nạn nhân chiếm 14%, vừa là nạn nhân vừa là người bắt nạt chiếm 9% [35]

Như vậy, tình hình BLHĐ đã và đang diễn ra tại rất nhiều các Quốc gia ở các Châu lục khác nhau, số lượng các vụ việc có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là những vụ việc nghiêm trọng ảnh hưởng đến tính mạng con người

tổ chức công phu, có số lượng người tham gia đông với các loại hung khí như dao, côn, ống, kiếm, gậy gộc…

Các nghiên cứu gần đây đã phản ánh phần nào thực trạng BLHĐ của HS THPT Đề tài nghiên cứu của Hoàng Thị Thỏa thực hiện trong năm học 2007-2008, cho thấy thực trạng BLHĐ hiện nay tại Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh ngày càng gia tăng Tổng số vụ đánh nhau xảy ra trong địa bàn thành phố là 269 vụ, với số HS bị

Trang 20

kỷ luật là 445 em Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, một số nguyên nhân khiến tỷ lệ BLHĐ gia tăng là do sự ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng, HS được tiếp xúc nhiều với các phim bạo lực, trò chơi bạo lực Ngoài ra, sự lôi kéo từ phía bạn bè cũng tác động đến hành vi của HS [9]

Trong Điều tra quốc gia về thanh niên và vị thành niên Việt Nam năm 2009 (SAVY 2) đã cho kết quả có tới 2,8% tỷ lệ HS từng mang hung khí trong khi tỷ lệ này chỉ là 2,6% ở SAVY 1 [7]

Trong nghiên cứu của Hoàng Thị Hoài Thư về thực trạng BLHĐ ở trường Trung học Phổ thông tỉnh Thái Nguyên cho thấy, BLHĐ không chỉ xảy ra ở HS nam, mà tỷ lệ này ở HS nữ cũng chiếm tới 60% số vụ BLHĐ Mức độ thường xuyên của BLHĐ xảy ra ở 2 trường tham gia nghiên cứu là 20% Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng các vật dụng HS chủ yếu sử dụng để đánh nhau chủ yếu bao gồm giầy, dép, gạch đá, gậy Ngoài ra, HS còn sử dụng điện thoại di động để quay phim rồi đưa lên mạng internet [10]

Nghiên cứu của Viện nghiên cứu Y học – Xã hội học phối hợp với tổ chức từ thiện Plan thực hiện tại 30 trường THCS và THPT tại Hà Nội cho thấy, 71% HS cho biết đã bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua, trong đó bạo lực tinh thần chiếm 73%, bạo lực thể chất chiếm 41% [15] Trong nghiên cứu "Thực trạng BLHĐ và một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực ở HS trường THPT Trần Phú, Hà Nội năm 2013” cho thấy, 16,8% số HS thực hiện hành vi bạo lực Trong số HS tại trường, 30,1% HS vừa thực hiện hành vi bạo lực vừa là nạn nhân, 12,2% là nạn nhân của các vụ bạo lực trong vòng 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu Bạo lực dạng lời nói là hành vi phổ biến nhất: 41,7%, tiếp theo là bạo lực mối quan hệ xã hội (25,3%); thể chất (17,1%), bạo lực điện tử (13%) [12]

Như vậy, tình hình BLHĐ ở Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp Số vụ bạo lực ngày càng tăng nhanh, mức độ và tính chất nguy hiểm của các vụ bạo lực ngày càng nghiêm trọng

1.5 Một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực ở học sinh

Phần này sẽ tập trung cung cấp các thông tin bằng chứng từ các nghiên cứu, báo cáo trong và ngoài nước về các yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực Các nhóm

Trang 21

yếu tố này được sắp xếp theo lý thuyết “Các yếu tố quyết định của hành vi sức khỏe”, bao gồm: yếu tố tiền đề, yếu tố tăng cường, yếu tố tạo điều kiện thuận lợi

1.5.1 Yếu tố tiền đề

Yếu tố tiền đề là một yếu tố thuộc về cá nhân, liên quan đến niềm tin, thái

độ Yếu tố tiền đề quyết định cách ứng xử, cho ta những suy nghĩ, cảm xúc với thế giới xung quanh Một số yếu tố tác động tới hành vi nguy cơ dẫn đến bạo lực ở HS,

từ góc độ cá nhân bao gồm: Tuổi, giới tính, điểm số học tập, kỹ năng sống, sức khỏe tâm thần, rượu, bia, chất gây nghiện và tình trạng đem/sử dụng vũ khí

Trong nghiên cứu của Arunachalam và Nguyễn Diệp Vy (2015), có sự khác nhau về hành vi sử dụng bạo lực đối với hành vi bạo lực giữa các nhóm HS lớp 10

và HS lớp 11, lớp 12 Nhóm HS lớp 10 sử dụng bạo lực như một cách để thể hiện với các bạn cùng trang lứa, để giải quyết xung đột Điều này khác biệt với nhóm HS lớp 11 đặc biệt là nhóm HS sử dụng bạo lực lớp 12, nhóm này cẩn trọng hơn khi đề cập tới vấn đề BLHĐ HS lớp 12 cho rằng, bạo lực là một giải pháp khó tránh khỏi mặc dù họ không muốn như vậy Và đối với HS học lớp 12 thì việc bạo lực thể hiện quyền lực và sự nam tính của các em Trong nghiên cứu này, có 33,8% số HS lớp

11 trả lời rằng đã tham gia vào BLHĐ trong năm học trước đó, tỉ lệ này ở nhóm HS lớp 12 chỉ chiếm 28,6% [24]

Giới tính

HS nam có khả năng là mục tiêu của bạo lực và là người tham gia vào các cuộc bạo lực cao hơn so với HS nữ Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu giáo dục

Trang 22

quốc gia thực hiện năm 1998 cho thấy, tỷ lệ HS nam tham gia bắt nạt cao hơn ở HS

nữ, với vai trò là nạn nhân và người bắt nạt [40] Điều này cũng được thể hiện trong nghiên cứu của Nansel thực hiện vào năm 2001 [46] Nghiên cứu của Giáo sư Olweus đã lưu ý rằng, giới tính tác động lớn đến hành vi bạo lực Trong đó, nam giới có tỷ lệ tham gia vào hành vi bắt nạt liên quan đến thể chất cao hơn HS nữ từ 3-

4 lần [52] Trong nghiên cứu của Fuchs thực hiện năm 2008 về tác động của những yếu tố trong trường học tác động đến hành vi bạo lực tại trường học chỉ ra rằng, yếu

tố giới tính là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hành vi bạo lực của HS Kết quả phân tích cho thấy những HS nam có xu hướng bạo lực hơn so với HS nữ (p<0,001) [27]

Nghiên cứu của Rezapour thực hiện năm 2014 cũng cho thấy, BLHĐ phổ biến hơn ở các HS nam Tỷ lệ này có sự thay đổi giữa các Quốc gia, ví dụ như ở nam giới tỷ lệ này dao động từ 8,6% đến 45,2% Ở nữ giới tỷ lệ này chiếm từ 4,8% đến 35,8%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê [43]

Trong một nghiên cứu được thực hiện trên mẫu 3 trường trung học tại Hà Nội, cho thấy tỷ lệ HS nam tham gia vào các cuộc bạo lực cao gần gấp 3 lần HS nữ (tỷ lệ ở 2 nhóm lần lượt là 50% và 16,1%) Nữ giới thường có xu hướng tránh đối mặt với các xung đột cùng các bạn đồng trang lứa Khi xung đột với các bạn nữ khác, các HS nữ thường có xu hướng tránh mặt, hay chia nhóm nói xấu người khác Phản ứng với các xung đột của HS nam không giống như vậy, các em cho rằng bạo lực sẽ giúp các em giải quyết xung đột [24]

Điểm số học tập, hạnh kiểm

Có mối liên quan giữa điểm số học tập và hạnh kiểm HS với hành vi BLHĐ [4, 24] Trong một nghiên cứu trên 3 trường trung học tại Hà Nội, nhóm HS có điểm tổng kết ở mức trung bình có tỷ lệ tham gia BLHĐ là lớn nhất Có mối liên quan giữa điểm số của HS và tỷ lệ tham gia vào BLHĐ, tỷ lệ HS tham gia vào BLHĐ ở nhóm có điểm ở mức khá là 60,4%; nhóm có điểm số ở mức tốt là 31,4%

và nhóm xuất sắc là 17,6% [24] Nhóm HS có hạnh kiểm tốt có tỷ lệ thực hiện hành

vi bạo lực thấp hơn nhóm HS có hạnh kiểm từ khá trở xuống [12]

Trang 23

Ý định tự tử và hành vi nguy cơ (sử dụng rượu, bia, thuốc lá, ma túy và tình trạng mang vũ khí)

Một số yếu tố về sức khỏe tâm thần và trầm cảm cũng được các nghiên cứu chỉ ra có ảnh hưởng làm tăng hành vi bạo lực ở HS, bao gồm việc từng có ý định tự

tử [12, 30] Trong nghiên cứu của Devries và cộng sự đã cho thấy rằng có mối liên quan giữa hành vi bạo lực và việc bị BLHĐ ở đối tượng HS Đặc biệt vấn đề sức khỏe tâm thần là yếu tố tăng tường tác động đến hành vi bạo lực đối với HS nam [36] Việc sử dụng rượu bia, thuốc lá và chất gây nghiện cũng được một số nghiên cứu chứng minh là một trong những yếu tố có mối liên quan với hành vi bạo lực ở

HS [12, 26, 41] Trong nghiên cứu được thực hiện trên các bệnh nhân nghiện rượu cho thấy, những người nghiện rượu có xu hướng sử dụng bạo lực cao hơn so với những người khác Ngoài ra, những người đã từng bị bạo lực trong thời ấu thơ, khi trưởng thành có xu hướng sử dụng bạo lực cao hơn so với những người không có trải nghiệm về bạo lực khi còn nhỏ [41] Bên cạnh đó, việc sử dụng các chất gây nghiện (thuốc lá, ma túy) cũng làm trầm trọng thêm hành vi bạo lực ở lứa tuổi vị thành viên và thanh niên, làm tăng thêm tình trạng mang vũ khí và tính bốc đồng của giới trẻ [12] Việc đem theo vũ khí cũng là một hành vi nguy cơ có ảnh hưởng tới BLHĐ ở

HS nam Ở Cape Town, Nam Phi, có 9,8% HS nam và 1,3% HS nữ ở trường trung học cơ sở mang theo dao đến khu vực trường học trong vòng 4 tuần trước đó [26] Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố thuộc nhóm yếu tố tiền đề liên quan tới tình trạng BLHĐ của HS bao gồm: Tuổi, giới tính, điểm số học tập, hạnh kiểm, ý định tự tử, các hành vi nguy cơ: hút thuốc lá, uống rượu bia, sử dụng chất gây nghiện, tình trạng mang vũ khí

1.5.2 Yếu tố tăng cường

Yếu tố tăng cường là những tác động/ảnh hưởng từ người thân, bạn bè, thầy cô, khiến cho HS có xu hướng nghe và làm theo những gì mà những người có uy tín, quan trọng đối với HS đã làm Một số yếu tố tác động tới hành vi nguy cơ dẫn đến bạo lực ở HS ở góc độ này bao gồm:

1.5.2.1 Môi trường gia đình:

Trang 24

Ảnh hưởng từ bố mẹ và môi trường gia đình là yếu tố trung tâm tác động đến các hành vi bạo lực ở giới trẻ Các yếu tố thuộc về gia đình được coi là yếu tố tác động đến hành vi BLHĐ bao gồm:

Sự quan tâm, chăm sóc của bố mẹ:

Mối quan hệ của bố mẹ và HS cũng có mối liên quan đến hành vi của các

em Trong nghiên cứu tác động của sự kết nối giữa các thành viên trong gia đình, trường học, ảnh hưởng của bạn bè trên mẫu đại diện tại Hà Nội đã cho thấy 90,9% các em cho biết cảm thấy buồn khi họ làm bố mẹ thất vọng, 71,4% cảm thấy thoải mái khi ở với bố mẹ Hầu hết các em không thường xuyên chia sẻ, nói chuyện, tâm

sự với bố mẹ Tỷ lệ HS thiếu sự quan tâm chăm sóc của bố mẹ có tỷ lệ tham gia bạo lực cao hơn các HS khác (với tỷ lệ mỗi nhóm lần lượt là 79,4% và 64,9%) [8]

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, sự quan tâm, chăm sóc của

bố mẹ có tác động lớn đến sự phát triển về hành vi của các em Những gia đình thường xuyên xảy ra xung đột, cãi vã sẽ tác động khiến HS có tâm lý chống đối lại người khác, chống đối lại xung quanh Việc thiếu sự tương tác giữa con cái và bố

mẹ trở thành một yếu tố nguy cơ trong việc hình thành hành vi bạo lực của trẻ Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, những gia đình có bố mẹ thường thể hiện những hành vi tiêu cực sẽ tác động đến con cái hình thành các hành vi tiêu cực [37] Tác giả Crowford Brown chỉ ra trong nghiên cứu của mình những gia đình thiếu sự giao tiếp giữa bố mẹ và con cái hay có xung đột sẽ tác động xấu đến con cái, con cái

có xu hướng giải quyết vấn đề bằng các hành vi bạo lực hơn [21]

Sự kiểm soát và định hướng của bố, mẹ

Việc kiểm soát và định hướng theo dõi con cái chưa chặt chẽ của bố mẹ, báo hiệu các hành vi về bạo lực giới trẻ Trong nghiên cứu của tác giả McCord ở Mĩ thực hiện trên 250 trẻ cho thấy, nếu trẻ 10 tuổi thiếu sự giám sát của bố mẹ làm tăng nguy cơ bị kết án do tham gia bạo lực cho đến năm 45 tuổi [44] Một nghiên cứu khác của Thornberry thực hiện năm 1995 cũng cho thấy rằng có mối liên quan giữa

sự kiểm soát và định hướng của bố mẹ tới hành vi bạo lực của trẻ Kết quả này cũng

Trang 25

tương ứng với nghiên cứu về nguyên nhân mối liên quan đối với hành vi bạo lực ở nam thanh niên của tác giả Farrington [38, 61, 65]

Trình độ học vấn (TĐHV), nghề nghiệp của bố, mẹ

Trong nghiên cứu của Fuchs và cộng sự, ông đã chứng minh rằng, những HS

có ít nhất bố hoặc mẹ thất nghiệp có tỷ lệ tham gia bạo lực cao hơn so với các HS khác Tỷ lệ HS có bố hoặc mẹ thất nghiệp tham gia vào các cuộc bạo lực nghiêm trọng chiếm 4%, gấp đôi so với các nhóm khác (p<0,05) [27] Nghiên cứu cũng cho thấy tác động tiêu cực của việc gia đình có ít nhất bố hoặc mẹ thất nghiệp Tác động của việc thất nghiệp từ phía bố mẹ HS đến hành vi bạo lực của HS là rất lớn Tỷ lệ

bố, mẹ HS thất nghiệp càng cao, tỷ lệ BLHĐ xảy ra tại trường học càng tăng [27]

Bố mẹ có kiến thức hạn chế, nhất là về văn hóa, xã hội, kinh tế, pháp luật, không đủ hiểu biết để định hướng đầy đủ những chuẩn mực xã hội cho con cái cũng

là những yếu tố dễ dẫn đến hành vi bạo lực ở giới trẻ [1, 69]

Bạo lực gia đình

Một số phụ huynh do thiếu hiểu biết về tâm lý trẻ em nên đôi khi không giữ được bình tĩnh khi đối mặt với các hành vi ngỗ ngược của trẻ Vấn đề đặc biệt nghiêm trọng khi trước tình huống đó, một số phụ huynh lại chọn giải pháp là dùng bạo lực Bạo lực khiến cho trẻ ở giai đoạn này càng trở nên lầm lỳ, vô cảm và đẩy các em đến suy nghĩ rằng bạo lực và sự hung hăng là cách ứng xử bình thường trong cuộc sống Các em ở hoàn cảnh này thường có những hành vi không kiềm chế được bản thân, hoặc có xu hướng thờ ơ trước cảnh bạo lực, thích thú với việc gây đau đớn cho người khác [5] Trong nghiên cứu của Musitu y Garcia cho kết quả những trẻ chứng kiến hành vi bạo lực trong gia đình, sẽ có xu hướng và hành vi bạo lực nhiều hơn những đứa trẻ khác [45] Kết quả này cũng tương tự với kết quả của tác giả Weiss và Schwarz, những trẻ bị chịu bạo lực gia đình, hay chứng kiến bạo lực dễ dẫn đến trầm cảm và có xu hướng thể hiện hành vi bạo lực nhiều hơn những trẻ khác [29]

Cấu trúc gia đình

Cấu trúc gia đình cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi bạo lực HS Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng trẻ em lớn lên trong các gia đình chỉ

Trang 26

có bố hoặc mẹ có nguy cơ rất cao với bạo lực [1, 17] Một nghiên cứu trên 5300 trẻ

em đến từ Anh, có bố mẹ ly thân từ khi sinh ra đến lúc 10 tuổi là yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng có liên quan đến bạo lực vào năm 21 tuổi [66]

Điều kiện Kinh tế gia đình

Bên cạnh đó, tình trạng kinh tế của gia đình cũng có ảnh hưởng đến hành vi bạo lực ở HS Theo kết quả điều tra Quốc gia tại Georgia năm 2006, HS ở những gia đình có điều kiện kinh tế thấp có xu hướng bạo lực hơn so với những gia đình có mức thu nhập trung bình (48% và 44%) Tuy nhiên nguy cơ này lại cao hơn ở những gia đình có thu nhập cao, điều này được lý giải rằng những gia đình có điều kiện kinh tế cao, thường ít có thời gian để quan tâm tới con cái, dẫn đến trẻ có hành

vi bạo lực mà thiếu sự quan tâm của bố mẹ (51,5%) [16]

1.5.2.2 Số bạn thân, bạo lực học đường ở bạn thân:

Bạn thân chính là người có nhiều ảnh hưởng tới cuộc sống của mỗi HS Tác động từ bạn thân cùng trang lứa được coi như một yếu tố khá quan trọng và tích cực đối với hành vi của cá nhân nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số tác động tiêu cực Việc có bạn bè có hành vi phạm tội có mối liến quan đến bạo lực ở HS[65] Kết quả nghiên cứu ở một số nước đang phát triển tìm thấy mối liên quan giữa việc

có hành vi bạo lực với việc có bạn bè nghiện hút, bạo lực [38, 70] Một nghiên cứu cắt ngang tại Malayssia trên 4500 HS cho thấy khi chơi với những HS bỏ học thì nguy cơ tham gia vào các hành vi bạo lực ở HS tăng lên [39] Trong nghiên cứu ở Lima, Peru cũng cho thấy kết quả tương tự với những nghiên cứu trên [57]

Như vậy, trong nhóm yếu tố tăng cường, các nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố liên quan tới tình trạng BLHĐ của HS bao gồm: những ảnh hưởng từ môi trường gia đình (sự quan tâm, chăm sóc của bố mẹ; sự kiểm soát và định hướng của bố, mẹ; TĐHV, nghề nghiệp của bố, mẹ; bạo lực gia đình; cấu trúc gia đình; điều kiện kinh tế gia đình), ảnh hưởng từ bạn thân (không có bạn thân, bạn thân tham gia BLHĐ)

1.5.3 Yếu tố tạo điều kiện

Một số yếu tạo điều kiện có thể là yếu tố tác động đến tình trạng HS có hành

vi phạm pháp luật liên quan đến bạo lực như các yếu tố trong xã hội như phân hóa

Trang 27

thu nhập, và ảnh hưởng của văn hóa [53], ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng (ti vi, internet và game online) [12, 64] Bên cạnh đó, những yếu tố trong môi trường học đường như bạn bè, thày cô, kỷ luật nhà trường…cũng có tác động không nhỏ tới việc hình thành nhân cách và hành vi của HS

1.5.3.1 Môi trường học đường

Tại trường học là nơi HS tiếp xúc rất nhiều với những nguy cơ có thể ảnh hưởng tới hành vi BLHĐ của HS Các nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố liên quan tới BLHĐ gồm các nhóm sau: kỷ luật của nhà trường; chương trình học khiến HS bị quá tải, ảnh hưởng từ bạn bè [12, 62]

Áp lực học tập

Trong Khảo sát về BLHĐ tại Huế, có 39,1% HS trả lời rằng việc quá áp lực trong học tập cũng là một yếu tố gây nên BLHĐ [11] Trong báo cáo về hành vi sức khỏe học đường của Ths Mai Mỹ Hạnh và cộng sự năm 2015 cho thấy, những thầy

cô chạy theo thành tích bắt ép HS học để đạt chỉ tiêu của nhà trường, hoặc sự ganh ghét từ bạn bè gây ra áp lực học tập, khiến HS bị căng thẳng tâm lý gây ảnh hưởng lớn đến hành vi của trẻ [6] Hiện nay, những nghiên cứu về tác động của áp lực học tập đến hành vi BLHĐ còn ít Vì vậy, cần tìm hiểu thêm tài liệu về mối quan hệ giữa áp lực học tập và hành vi BLHĐ

Kỷ luật của nhà trường

Trong bài trình bày của Nguyễn Phan Minh Trung cũng đưa ra việc nhà trường đặt nặng về xử lý kỷ luật mà thiếu các biện pháp giáo dục, việc đưa ra kỷ luật quá khắc nghiệt hay quá dễ dãi cũng tác động đến hành vi bạo lực của HS [13] Trong báo cáo tổng kết của hội thảo thực trạng và giải pháp ngăn chặn BLHĐ cũng cho thấy việc quy định, kỷ luật của một số trường học với hành vi bạo lực còn kém hiệu quả, điều này ảnh hưởng tới hành vi, ứng xử về bạo lực của HS [4] Tương tự với kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Đình Tuấn cho thấy, BLHĐ bị ảnh hưởng do thiếu hình phạt nghiêm khắc, nhà trường chưa có những hình thức xử lý hiệu quả [14] Tuy nhiên, những nghiên cứu về yếu tố kỷ luật của nhà trường hiện nay còn rất ít nên mối quan hệ này cần được tìm hiểu kĩ hơn

Trang 28

Yếu tố trường học cũng có những tác động tích cực, như một yếu tố bảo vệ đến hành vi BLHĐ của HS Những trường học có sự quan tâm đúng mực và giúp đỡ ủng hộ HS Các cán bộ trong trường thực hiện hành vi tốt, làm gương cho HS cùng thực hiện theo Tạo cho HS môi trường được học tập, phát triển sự sáng tạo gây hứng thú tới học tập Tạo cho HS những kì vọng nhất định Đưa ra những định hướng đúng đắn đối với HS, giúp HS tránh khỏi những tác động xấu từ bên ngoài Thường xuyên xây dựng kế hoạch học tập cho HS, giúp HS đi theo một con đường đúng đắn Xây dựng cho HS chương trình học dành nhiều thời gian hơn cho thực hành, phát triển cả kĩ năng cá nhân và kĩ năng học tập làm việc trong môi trường tập thể Khuyến khích các em tìm được những lợi thế của bản thân, từ đó phát triển bản thân một cách tốt nhất [62]

1.5.3.2 Tác động của phim, ảnh, trò chơi bạo lực

HS ngày nay có điều kiện được tiếp xúc với các phương tiện giải trí như tivi, truyện tranh, máy tính từ rất sớm Theo tác giả Strasburger, hàng ngày HS dành từ 3-5 giờ để sử dụng các hình thức khác nhau của các phương tiện truyền thông Trong khi đó, những thông tin mà họ thu nhập chủ yếu là những hình ảnh bạo lực thông qua tivi, trò chơi điện tử, internet [63] Tác giả Singer đã kết luận rằng bạo lực trên truyền hình có tác động tới hành vi của trẻ em [60] Trong nghiên cứu của mình, Robinson cũng nhận định rằng, việc chơi trò chơi bạo lực có tác động rất lớn đến hành vi bạo lực của HS [58]

Những nội dung trên là một số yếu tố liên quan đến bạo lực ở HS, đã được

Tổ chức Y tế Thế giới, Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, còn ít những nghiên cứu làm rõ các yếu tố liên quan đến hành vi BLHĐ Vì vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu này, tôi phân tích các yếu tố liên quan theo mô hình Precede – proceed (mô hình tiếp cận can thiệp trong nâng cao sức khỏe) gồm 3 nhóm yếu tố tác động đến tình trạng bạo lực ở HS Như vậy, thông qua rà soát các nghiên cứu liên quan về BLHĐ, các nhóm yếu tố có liên quan đến BLHĐ thuộc về nhóm yếu tố tiền đề bao gồm: Tuổi, giới tính, điểm số học tập, hạnh kiểm, ý định tự tử, các hành vi nguy cơ: hút thuốc lá, uống rượu bia, sử dụng chất gây nghiện, tình trạng mang vũ khí Nhóm yếu tố tăng cường bao gồm: những

Trang 29

ảnh hưởng từ môi trường gia đình (sự quan tâm, chăm sóc của bố mẹ; sự kiểm soát

và định hướng của bố, mẹ; TĐHV, nghề nghiệp của bố, mẹ; bạo lực gia đình; cấu trúc gia đình; điều kiện kinh tế gia đình), ảnh hưởng từ bạn thân (không có bạn thân, bạn thân tham gia BLHĐ) Nhóm yếu tố tạo điều kiện bao gồm: Áp lực học tập,

đánh giá về kỷ luật của nhà trường; tác động của phim, ảnh, trò chơi bạo lực

1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Trong khuôn khổ đề tài luận văn, học viên lựa chọn huyện Thường Tín, là huyện có những đặc trưng về địa lý, cơ cấu kinh tế cũng như về giáo dục - y tế đại diện cho các huyện ngoại thành Hà Nội, sau đó bốc thăm ngẫu nhiên một trường công lập thuộc huyện đó Trường được chọn ngẫu nhiên vào nghiên cứu là trường THPT Tô Hiệu nằm trên địa bàn xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín với 1429 HS ở 36 lớp Huyện Thường Tín là huyện có lịch sử văn hóa lâu đời, huyện nằm về phía Nam thành phố Hà Nội với dân số khoảng 230.000 người Huyện gồm 1 thị trấn Thường Tín và 28 xã Huyện có lịch sử văn hóa lâu đời, phát triển, với cơ cấu kinh

tế chủ yếu là công nghiệp - xây dựng Trên địa bàn huyện có nhiều công trình dự án đầu tư, phát triển kinh tế, đặc biệt là các khu công nghiệp Về giáo dục, trên địa bàn huyện có 6 trường trung học phổ thông (vì điều kiện hạn chế nên nghiên cứu chỉ tiến hành trên 1 trường THPT Tô Hiệu), 30 trường trung học cơ sở và 29 trường tiểu học[2]

1.7 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến BLHĐ ở HS THPT được xây dựng nhằm giải quyết 2 mục tiêu: (1) Thực trạng BLHĐ của HS trường trung học phổ thông Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2017; (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến BLHĐ của HS trường trung học phổ thông Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2017

Khái niệm và phân loại bạo lực học đường được sử dụng trong nghiên cứu này xây dựng dựa trên cách phân loại BLHĐ của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh dịch Hoa Kỳ với 4 dạng bạo lực chính: bạo lực dạng thể chất, bạo lực dạng lời nói, bạo lực dạng mối quan hệ xã hội, bạo lực điện tử

Trang 31

KHUNG LÝ THUYẾT

Bạo lực học đường

ở học sinh THPT

- Bạo lực dạng thể chất

- Bạo lực dạng lời nói

- Bạo lực dạng mối quan hệ xã hội

- Bạo lực điện tử

Yếu tố tăng cường:

- Môi trường gia đình:

+ Sự quan tâm, chăm sóc của bốmẹ;

+ Sự kiểm soát và định hướng của bố

Yếu tố tạo điều kiện

- Môi trường học đường:

+ Kỷ luật của trường

+ Áp lực học tập

- Phim, ảnh, và các trò chơi bạo lực

Trang 32

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh

o Tiêu chuẩn lựa chọn:

 Học sinh trung học phổ thông: từ lớp 10 đến lớp 12, đang học tập tại trường THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội năm học 2016 – 2017;

 Đồng ý tham gia nghiên cứu

o Tiêu chuẩn loại trừ:

 Học sinh bị ốm không thể tham gia nghiên cứu

 Học sinh vắng mặt trong ngày điều tra

 Học sinh được nhà trường báo cáo có vấn đề về sức khỏe tâm thần

- Thành viên Ban giám hiệu (BGH), giáo viên chủ nhiệm (GVCN), đại diện Ban chấp hành (BCH) đoàn trường tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017

- Địa điểm nghiên cứu: Trường THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu cắt ngang có phân tích

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu cho phương pháp định lượng

Mẫu được chọn bằng phương pháp chọn mẫu cụm, đơn vị cụm là 1 lớp học

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ:

n = Z21-α/2Trong đó:

- n: cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu

- Z1-α/2: Hệ số tin cậy (1,96)

- α: Mức ý nghĩa (0,05)

Trang 33

- p: Ước lượng tỷ lệ BLHĐ tại khu vực ngoại thành, vì chưa có nghiên cứu nào về tình hình BLHĐ tại ngoại thành, tác giả tham khảo tỷ lệ bạo lực của trường THPT Trần Phú, Hoàn Kiếm[12], lấy p = 47%

- d: Sai số chấp nhận được của ước lượng Lấy d = 0,05

- DE: Hiệu lực thiết kế Lấy DE = 2

Phương pháp chọn mẫu định lượng:

Áp dụng phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn:

tự từ lớp 10 đến hết lớp 12 để thành một danh sách cho chọn mẫu

 Áp dụng phương pháp chọn ngẫu nhiên hệ thống để chọn ra 22 lớp từ danh sách 36 lớp của trường Cụ thể:

Chọn đến lớp thứ 18 thì hết một vòng Tiếp tục chọn quay vòng 2 thêm 4 lớp

o Giai đoạn 2 - chọn học sinh: Tại mỗi lớp được chọn, chọn toàn bộ học sinh của lớp đó đáp ứng tiêu chí lựa chọn vào nghiên cứu

Trang 34

2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính

Áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với số mẫu theo phương pháp thu thập thu thập thông tin và đối tượng như sau:

Bảng 2 1: Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu định tính

Đối tượng Phương pháp Số cuộc Số người

tham dự

2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Phát vấn: Phương pháp phát vấn với bộ câu hỏi tự điền được sử dụng để thu thập thông tin định lượng Học sinh tự khoanh vào các ý có nội dung tương ứng

- Phỏng vấn sâu: Được sử dụng để thu thập thông tin định tính

- Thảo luận nhóm: Được sử dụng để thu thập thông tin định tính

2.5.2 Công cụ thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi cấu trúc về thực trạng bạo lực học đường ở HS THPT được xây dựng trên cơ sở tổng quan tài liệu và tham khảo một số công cụ trong đề tài nghiên cứu sau: “Việc sử dụng bạo lực trong cộng đồng học sinh PTTH trong bối cảnh đổi mới”(của tác giả Nguyễn Thị Như Trang) và nghiên cứu

“Thực trạng bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực ở học sinh trường THPT Trần Phú, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội năm 2013” (của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang) được sử dụng để thu thập thông tin về BLHĐ ở HS Số liệu được thu thập bằng phương pháp phát vấn

o Bộ công cụ gồm 47 câu, chia làm 5 phần để mô tả về thông tin chung của HS; thông tin về gia đình; thông tin về bạn bè và trường học; sở

Trang 35

thích, hành vi; tình hình bạo lực học đường; phản ứng của người

ngoài cuộc đối với hành vi BLHĐ (tham khảo phụ lục 2 đính kèm)

o Bộ công cụ này đã được thử nghiệm trên 40 học sinh tại trường THPT Quang Trung, quận Đống Đa trước khi điều tra Sau thử nghiệm, một

số câu hỏi đã được chỉnh sửa để dễ hiểu, bổ sung thêm cột ”bước nhảy” để học sinh dễ chuyển câu hơn

- Hướng dẫn phỏng vấn sâu: Đại diện BCH đoàn thanh niên và ban giám hiệu

(tham khảo phụ lục 3 và phụ lục 4 đính kèm)

- Hướng dẫn thảo luận nhóm: Nhóm HS và GVCN (tham khảo phụ lục 5 và

phụ lục 6 đính kèm)

2.6 Biến số và chủ đề nghiên cứu

 Nhóm biến số của mục tiêu 1:

- Biến số nghiên cứu định lượng:

o Tình trạng bạo lực của HS trong 6 tháng qua:

 Chia theo 4 dạng bạo lực

 Địa điểm diễn ra bạo lực

 Lý do dẫn đến hành vi bạo lực

 Người hỗ trợ thực hiện hành vi bạo lực

o Tình trạng HS bị bạo lực (nạn nhân) trong 6 tháng qua:

 Chia theo 4 dạng bạo lực

Trang 36

o Nạn nhân của BLHĐ

o Phản ứng của các đối tượng bên ngoài: HS khác, thầy cô, nhà trường, gia đình, bạn bè

 Nhóm biến số của mục tiêu 2:

- Biến số nghiên cứu định lượng:

o Thông tin chung: Giới tính, lớp, điểm số học tập, hạnh kiểm,

o Gia đình: Cấu trúc gia đình, kinh tế gia đình, bạo lực gia đình, sự chăm sóc của bố mẹ, sự định hướng của bố mẹ

o Bạn bè và trường học: Bạn thân tham gia BLHĐ, áp lực học tập, đánh giá về kỷ luật của nhà trường về vấn đề BLHĐ

o Thói quen, hành vi: Hút thuốc lá, uống rượu bia, sử dụng chất gây nghiện, tình trạng mang vũ khí, ý định tự tử

- Chủ đề nghiên cứu định tính:

o Nguyên nhân dẫn đến BLHĐ: gia đình, bạn bè, trường lớp, xã hội

o Các nội quy/quy chế, biện pháp, chủ trương của nhà trường nhằm ngăn chặn tình trạng BLHĐ

o Sự can thiệp của gia đình và nhà trường đối với hành vi BLHĐ

2.7 Các bước tiến hành thu thập số liệu

 Thu thập thông tin định lượng:

- Chuẩn bị

o Liên hệ với ban giám hiệu trường THPT Tô Hiệu, huyện Thường Tín

o Phát vấn lần lượt các lớp trong danh sách được chọn (3 khối)

- Tổ chức thu thập số liệu:

o Phiếu phát vấn được thử nghiệm trên HS 1 lớp của trường THPT Quang Trung, quận Đống Đa, sau đó chỉnh sửa nếu có bất hợp lý hoặc điểm khó hiểu trong phiếu điều tra

o Tập huấn 5 điều tra viên về nội dung nghiên cứu, nội dung phiếu điều tra và quy trình phát vấn

Trang 37

o Điều tra viên tiếp cận với HS thông qua GVCN Trong quá trình HS điền phiếu, GVCN chỉ có vai trò giúp giữ trật tự lớp học, không can thiệp hoặc gây ảnh hưởng tới HS

o Điều tra viên làm quen với lớp, giới thiệu chi tiết về nghiên cứu Nhấn mạnh tính khuyết danh và chú ý về một số định nghĩa sử dụng cho nghiên cứu Điều tra viên hướng dẫn cách điền phiếu, trả lời các câu hỏi

o Trong quá trình phát vấn, các thắc mắc của HS được trả lời trực tiếp

HS nào hoàn thành xong phiếu thì giơ tay để điều tra viên đến thu phiếu Sau khi thu đủ phiếu, cảm ơn sự tham gia của các em sau đó để các em ra về

 Thu thập thông tin định tính:

- 3 cuộc TLN với HS là bí thư của các lớp (1 cuộc TLN/1 khối) nhằm tìm hiểu thực trạng BLHĐ và một số nguyên nhân của tình trạng này

- 1 cuộc TLN với GVCN và 1 cuộc PVS với đại diện BCH Đoàn trường nhằm tìm hiểu mức độ quan tâm và nắm bắt về thực trạng bạo lực tại trường của các thầy cô, một số nguyên nhân của tình trạng này theo quan điểm cá nhân, các hình thức kỷ luật của nhà trường về vấn đề BLHĐ

- 1 cuộc PVS với ban giám hiệu nhà trường nhằm tìm hiểu chung về tình hình bạo lực trong trường cũng như tìm hiểu những nội quy/quy chế của nhà trường về BLHĐ; các biện pháp, chủ trương của nhà trường nhằm ngăn chặn vấn đề BLHĐ

2.8 Thang đo, tiêu chuẩn đánh giá

Trong nghiên cứu này, BLHĐ được phân loại dựa trên tài liệu Phòng chống bạo lực của CDC, theo đó, có thể chia BLHĐ thành 4 nhóm: Bạo lực dạng thể chất, bạo lực dạng lời nói, bạo lực xã hội và bạo lực điện tử Vì thế, HS có hành vi bạo lực là HS được xác định là đã từng tham gia vào bất kỳ hành vi nào trong các hành vi:

- Hành vi bạo lực thể chất

o Đánh, đấm, đá, tát, dứt tóc, kéo tai, xé quần áo bạn mình

o Trấn lột tiền/đồ vật của bạn

Trang 38

- Hành vi bạo lực lời nói

o Gán/gọi biệt danh (mang ý nghĩa xấu) cho bạn mình

o Chế nhạo làm tổn thương bạn

o Sỉ nhục bạn

o Gọi tên bố mẹ (mục đích xấu)

o Dùng lời nói đe dọa, ép buộc bạn làm theo ý mình

- Hành vi bạo lực mối quan hệ xã hội

o Phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay bạn

o Tạo/phát tán tin đồn (mang ý nghĩa xấu) về bạn

- Hành vi bạo lực điện tử:

o Nhắn tin, gọi điện để uy hiếp đe dọa/ép buộc bạn làm theo ý mình

o Lập/tham gia các hội trên mạng để cô lập/tẩy chay bạn

- HS là nạn nhân của BLHĐ: Những HS được xác định là nạn nhân của BLHĐ trong các hành vi được nêu trên

2.9 Quản lý, phân tích số liệu

2.9.1 Đối với số liệu định lượng

- Số liệu định lượng được làm sạch (loại những phiếu không trả lời phần BLHĐ, điền tên lớp vào những phiếu thiếu tên lớp, rà soát logic trong các câu trả lời, những trường hợp bạo lực xảy ra ở địa điểm như vườn hoa, công viên, quán nước được loại trong quá trình phân tích thực trạng BLHĐ), mã hóa và nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1 Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để phân tích

- Số liệu được mã hóa, đồng thời tùy mục đích phân tích, phân chia lại các nhóm biến số từ dạng biến liên tục sang phân loại, thứ bậc Áp dụng các thuật toán thống kê mô tả để mô tả thông tin chung của HS, gia đình, bạn bè

và tình hình bạo lực học đường tại trường học

- Phân tích số liệu: Sử dụng kiểm định χ2 để kiểm định sự khác biệt giữa 2 tỷ

lệ Sử dụng giá trị OR và khoảng tin cậy để đo lường độ mạnh của sự kết hợp

Trang 39

- Phân tích hồi quy Logistic: Mô hình được trình bày là mô hình phù hợp sau khi dùng phương pháp Enter với mức ý nghĩa α = 0,05 để kiểm soát nhiễu giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Các yếu tố đưa vào mô hình hồi quy đa biến là các yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong phân tích đơn biến (p< 0,05) hoặc trong quá trình tổng hợp tài liệu trước cho thấy mối liên quan với tình trạng BLHĐ Kiểm định Hosmer and Lemeshow được sử dụng

để xác định mức độ phù hợp của mô hình đa biến

2.9.2 Đối với số liệu định tính

- Thông tin từ PVS được ghi âm, sau đó gỡ băng và chọn lọc được các thông tin cần thiết cho mục tiêu nghiên cứu

- Thông tin từ TLN được ghi chép lại và tổng hợp lại nội dung theo các nhóm thông tin chính

Thông tin thu được qua phương pháp định tính được sử dụng để bổ sung, làm dẫn chứng kết hợp với nghiên cứu định lượng trong quá trình báo cáo kết quả hoặc cung cấp thêm những thông tin mà định lượng không thể thu thập được

- Trong quá trình thu thập số liệu: Sai số thu thập thông tin Nhóm nghiên cứu khắc phục bằng cách:

o Xây dựng bộ câu hỏi đơn giản, dễ hiểu

- Sai số nhớ lại Cách khắc phục:

o Phát triển bộ câu hỏi đơn giản, dễ hiểu Bộ câu hỏi được thử nghiệm tại thực địa và được chỉnh sửa để phù hợp với các đối tượng phát vấn

Trang 40

- Trong quá trình phân tích và xử lý số liệu, hoàn chỉnh báo cáo: Sai số có thể xảy ra do nhập liệu không chính xác, nhập nhầm, xử lý, phân tích và phiên giải thông tin không chính xác Biện pháp khắc phục:

o Làm sạch và mã hóa số liệu trước khi nhập vào phần mềm

o Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, với bộ check khống chế các sai số trong quá trình nhập liệu Sau khi nhập liệu xong lấy ngẫu nhiên 10% phiếu nhập lại để kiểm tra, không có sai sót đảm bảo tính chính xác của thông tin

o Trong khi phân tích số liệu, sử dụng phân tích hồi quy đa biến để khống chế yếu tố nhiễu

2.11 Đạo đức nghiên cứu

Để đảm bảo đạo đức nghiên cứu, nghiên cứu đã thực hiện các công việc:

- Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng

- Đối tượng được giải thích đầy đủ về nội dung và mục đích của nghiên cứu Tất cả đối tượng nghiên cứu xác nhận tự nguyện tham gia

- Mọi thông tin của đối tượng được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không vì mục đích khác

- Các thông tin điều tra, những ý kiến đề xuất được phân tích và lưu giữ bí mật

- Khi kết thúc nghiên cứu, chúng tôi có báo cáo phản hồi kết quả cho nhà trường để nhận được sự góp ý

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w