1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan trên người bệnh ung thư điều trị bằng hóa chất tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2018

46 210 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên,hóa trị vẫn là một trong những phương pháp quan trọng trong điều trị ung thư.Bệnh nhân được hóa trị liệu trải qua một loạt các phản ứng phụ đáng lo ngạilàm ảnh hưởng đến chất l

Trang 1

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ iii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU4

1.1 Đại cương về ung thư 4

1.1.1 Bản chất của bệnh ung thư 4

1.1.2 Chẩn đoán giai đoạn bệnh 4

1.1.3 Tình hình ung thư và xu hướng phát triển ung thư 5

1.2 Hóa trị liệu trong điều trị ung thư 6

1.3.2 Phương pháp đo lường CLCS 13

1.4 Thực trạng CLCS của bệnh nhân ung thư và các yếu tố liên quan

141.5 Học thuyết áp dụng trong nghiên cứu 18

1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 20

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.2.1 Thời gian nghiên cứu 21

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 21

Trang 2

2.6 Phương pháp và qui trình thu thập số liệu 22

2.8 Bộ công cụ 26

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 28

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 28

2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 29

Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN……… 36

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 36

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG.

PHỤ LỤC 2: BỘ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ SỰ HỖ TRỢ GIA ĐÌNH BẠN BÈ

VÀ XÃ HỘI

Trang 3

MSPSS (The Multidimensional Scale of Perceived Social Support):

Thang đo sự hỗ trợ xã hội

TNM (Tumor; Node; Metastasis): Khối u, cục, di căn.

UICC (The Union for International Cancer Control): Hiệp hội phòng

chống ung thư Quốc tế

FACT-G (Funtional Assessment Chronic Treatment- General): Đánh giá

chức năng điều trị bệnh mạn tính chung

Trang 4

nhập bình quân, giai đoạn bệnh, loại ung thư, phương pháp điều trị,

hỗ trợ xã hội……… ………34Bảng 6: Mối tương quan giữa chất lượng cuộc sống và yếu tố giới

tính……… …… 35

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Hình 1 Cơ chế gây nôn và buồn nôn của hóa chất 8Hình 2 Mô hình khái niệm Sức khỏe liên quan tới chất lượng cuộc sống(Ferrans và cộng sự 2005) 19

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư là một bệnh đang rất phổ biến trên thế giới cũng như tại ViệtNam Ung thư có tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết ngày càng tăng, trên thế giới ước tính14,1 triệu người năm 2014 [41] và ở Việt Nam mỗi năm có khoảng 150.000

ca ung thư mới và có khoảng 75.000 ca tử vong [1]

Ngày nay, có nhiều phương pháp mới trong điều trị ung thư Tuy nhiên,hóa trị vẫn là một trong những phương pháp quan trọng trong điều trị ung thư.Bệnh nhân được hóa trị liệu trải qua một loạt các phản ứng phụ đáng lo ngạilàm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, bao gồm mệt mỏi liên quan đếnđiều trị, trầm cảm[22], rối loạn nuốt, ăn không ngon [34], suy giảm khả năngtình dục [6], rối loạn cảm xúc, đau khổ [26] Hóa trị liệu có tác động toànthân, gây ra các tác dụng phụ làm ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộcsống của người bệnh [32]

Có nhiều định nghĩa khác nhau về CLCS, năm 1995 Tổ chức Y tế thếgiới định nghĩa “ chất lượng cuộc sống” là sự nhận thức của một cá nhân vềtình trạng hiện tại của người đó, theo những chuẩn mực về văn hoá và sựthẩm định về giá trị của xã hội mà người đang sống Những nhận thức nàygắn liền với mục tiêu, kỳ vọng và những mối quan tâm, lo lắng của người đó.Đánh giá chất lượng cuộc sống có thể được sử dụng trong chẩn đoán, dựđoán, tiên lượng, giám sát bệnh nhân, ra quyết định lâm sàng, giáo dục sứckhỏe và điều trị Nó giúp phân tích chất lượng chăm sóc sức khoẻ và xác địnhcác lĩnh vực để cải thiện [17]

Nhiều bằng chứng khoa học đã chỉ ra chất lượng cuộc sống thấp là vấn

đề rất đáng lo ngại trên bệnh nhân ung thư Theo nghiên cứu của Bayram và

cs (2014) về CLCS của bệnh nhân ung thư vú điều trị bằng hóa trị cho kết quảCLCS đã bị ảnh hưởng vừa phải và tiêu cực (điểm số CLCS trung bình là 63,

89 ± 16,48) Trong đó: Sức khoẻ tình cảm là lĩnh vực bị ảnh hưởng tiêu cực

Trang 7

nhất, với điểm số là 11, 90 ± 4,68 Sức khoẻ thể chất bị ảnh hưởng tiêu cựcbởi các phản ứng phụ hóa trị liệu và mệt mỏi (1,87 ± 0,89) [10] Theo nghiêncứu của Hellie Lithoxopoulou và cs (2014) bệnh nhân hóa trị liệu lần đầu cónhững suy giảm đáng kể về sức khỏe thể chất (p<0.0001)[31] AdrianaCristina Nicolussi (2014), nhận thấy các phản ứng phụ của bệnh nhân liênquan đến hóa trị liệu là 55,9%; các triệu chứng thể chất 5,9% và 0.7% phànnàn về các triệu chứng về thể chất và dạ dày-ruột [33]

Mong muốn cải thiện chất lượng cuộc sống được coi như một phầnquan trọng trong chiến lược chăm sóc và điều trị bệnh ung thư [21] Một sốtác giả cho rằng cải thiện CLCS của bệnh nhân trong quá trình điều trị sẽ làmtăng sự tuân thủ điều trị bệnh nhân và cho họ sức mạnh để đối phó với cáctriệu chứng của ung thư [9], [12] Do đó, chất lượng cuộc sống và đánh giá nóngày càng trở nên quan trọng hơn trong chăm sóc sức khỏe [33]

Ở Việt Nam chưa có nhiều các công trình nghiên cứu đánh giá chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất Tại tỉnh TháiNguyên chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào đánh giá được mức độ và tìmhiểu các yếu tố liên quan tới CLCS của bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất.Mặc dù, trung tâm Ung bướu, bệnh viện Trung ương Thái Nguyên là nơi tiếnhành hóa trị liệu cho rất nhiều bệnh nhân ung thư ở các tỉnh miền núi phía

Bắc Vì vậy, nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu đề tài “Chất lượng cuộc

sống và một số yếu tố liên quan trên người bệnh ung thư điều trị bằng hóa chất tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2018”.

Trang 8

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư điều trị bằng hóa chất tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2018.

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư điều trị hóa chất tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2018.

Các đóng góp của nghiên cứu:

Kết quả nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư điềutrị hóa chất là cơ sở để có cái nhìn bao quát ban đầu về thực trạng chất lượngcuộc sống của bệnh nhân ở khu vực miền núi phía Bắc Trong thực hành điềudưỡng giúp các điều dưỡng biết được những yếu tố ảnh hưởng tới CLCS vàchú trọng chăm sóc nhằm nâng cao CLCS của bệnh nhân ung thư Về đào tạo,các thông tin về thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh có thể đượccập nhật vào các bài giảng, giáo trình liên quan

Trang 9

Chương 1:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về ung thư

1.1.1 Bản chất của bệnh ung thư [2], [3]

Ung thư là bệnh lý “ác tính” của tế bào Khi bị kích thích bởi tác nhânsinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo

cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể

Đa số người bị ung thư hình thành khối u Khác với các khối u lành tính(chỉ phát triển tại chỗ thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh), các khối u áctính (ung thư) xâm lấn vào các tổ chức lành xung quanh giống như hình “concua” với các càng cua bám vào các tổ chức lành trong cơ thể hoặc giống như

rễ cây lan trong đất Các tế bào của khối u ác tính có khả năng di căn tới cáchạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa hình thành các khối u mới và cuối cùngdần tới tử vong

Đa số ung thư có biểu hiện mạn tính, có quá trình phát sinh và phát triểnlâu dài qua từng giai đoạn Trừ một số nhỏ ung thư ở trẻ em có thể do đột biếngen từ lúc bào thai, còn phần lớn ung thư đều có giai đoạn tiềm tàng lâu dài,

có khi hàng chục năm không có dấu hiệu gì trước khi phát hiện thấy dướidạng các khối u Khi các khối u phát triển nhanh mới có các triệu chứng ungthư Triệu chứng đau thường chỉ xuất hiện khi ung thư ở giai đoạn cuối

1.1.2 Chẩn đoán giai đoạn bệnh

Là một chẩn đoán có vai trò quan trọng trong tiên lượng và định hướngphác đồ điều trị cho bệnh nhân Trên lâm sàng thường dùng xếp loại giai đoạnTNM theo hiệp hội chống ung thư quốc tế (UICC) 2010 Trong đó T(Tumor): xét tới kích thước nguyên thủy của khối u; N (Node): xét tới di cănhạch; M (Metastasis): xét tới di căn Tùy từng loại ung thư sẽ có phân lớp T,

N, M khác nhau và từ đó có chẩn đoán giai đoạn bệnh khác nhau

Trang 10

1.1.3 Tình hình ung thư và xu hướng phát triển ung thư

1.1.3.1 Trên thế giới [42]

Ung thư là một gánh nặng lớn đối với xã hội ở các nước có nền kinh tếphát triển và kém phát triển Sự xuất hiện của bệnh ung thư ngày càng giatăng do sự tăng trưởng và già hóa của dân số, cũng như sự gia tăng các yếu tốnguy cơ đã được thiết lập như hút thuốc, thừa cân, không vận động và thayđổi mô hình sinh sản liên quan đến đô thị hóa và phát triển kinh tế Theo báocáo của Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có khoảng 14,1 triệu ca ung thư mới

và 8,2 triệu ca tử vong xảy ra vào năm 2012 trên toàn thế giới Trong nhữngnăm qua, gánh nặng đã chuyển sang các nước kém phát triển hơn, hiện chiếmkhoảng 57% số trường hợp và 65% tử vong do ung thư trên toàn thế giới Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho bệnh ung thư ởnam giới ở cả những nước đang phát triển và đã vượt qua ung thư vú như lànguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ ở các nước phát triển; ung thư

vú vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở nữ giới ở các nướckém phát triển hơn Các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu khác ở các nướcphát triển bao gồm ung thư đại trực tràng ở nam giới và nữ giới; ung thưtuyến tiền liệt ở nam giới Ở các nước kém phát triển, ung thư gan và dạ dày ởnam giới; ung thư cổ tử cung ở nữ giới cũng là những nguyên nhân gây tửvong do ung thư

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến các nguyên nhân gây tử vong do ungthư bao gồm việc sử dụng thuốc lá (ung thư phổi, ung thư đại trực tràng, dạdày và ung thư gan), thừa cân / béo phì và không hoạt động thể chất (ung thư

vú và ung thư đại trực tràng), nhiễm trùng (ung thư gan, dạ dày và ung thư cổ

tử cung) Một phần đáng kể các trường hợp ung thư và tử vong có thể đượcngăn ngừa bằng cách áp dụng rộng rãi các biện pháp phòng ngừa hiệu quả,

Trang 11

chẳng hạn như kiểm soát thuốc lá, tiêm vắc xin, và sử dụng các xét nghiệmphát hiện sớm.

1.1.3.2 Tại Việt Nam [16]

Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới về các bệnh không lây nhiễm tạiViệt Nam năm 2011 cho thấy: tỷ lệ mới mắc UT ở Việt Nam tăng 50% tronggiai đoạn từ năm 2001-2003 và năm 2010 Mỗi ngày ở Việt Nam có khoảng

350 trường hợp UT được xác định và 190 trường hợp tử vong Trong đó,các loại UT phổ biến nhất với nam giới là UT phổi, dạ dày, UT gan và UTtrực tràng; ở nữ giới là UT vú, trực tràng, phổi và cổ tử cung

1.2 Hóa trị liệu trong điều trị ung thư

1.2.1 Định nghĩa [2]

Là phương pháp sử dụng các thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các tếbào ác tính trong cơ thể bệnh ung thư

1.2.2 Phương pháp [2]

Điều trị hóa chất triệt căn: có hiệu quả trong một số ung thư hệ tạo

huyết như bệnh bạch cầu, u lympho ác tính không Hodgkin vàHodgkin

Điều trị bổ trợ: Hóa chất được thực hiện sau phẫu thuật triệt căn bằng

các phương pháp điều trị tại chỗ, nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư cònsót lại Được áp dụng trong một số bệnh như: ung thư vú, ung thư đạitrực tràng, ung thư dạ dày, ung thư buồng trứng

Điều trị bệnh ung thư giai đoạn di căn, lan tràn: nhằm giảm nhẹ các

triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống và thời gian sống thêm củabệnh nhân Phương pháp này được chỉ định cho hầu hết các bệnh nhânUT

Trang 12

sẽ kích thích nên thể hạch nhân từ đó các sợi ly tâm dẫn tín hiệu kích thích tớitrung tâm nôn với chất dẫn truyền là dopamin, chất P Ngoài ra các gốc tự docủa hóa chất cũng kích thích trực tiếp tới trung tâm nôn tại các thụ thể củachemokinin Một khi các trung tâm nôn đã được kích hoạt, gửi tín hiệu đếncác hệ thống tiết nước bọt, vận mạch, hô hấp, và các trung tâm thần kinh sọ

để kích hoạt các cơ quan có liên quan với phản xạ nôn, cụ thể là các cơ bụng,

cơ hoành, dạ dày và thực quản [19]

Trang 13

Hình 1 Cơ chế gây nôn, buồn nôn của hóa chất

 Hậu quả:

Nôn và buồn nôn là những tác dụng phụ nghiêm trọng của hóa trị Những tácdụng phụ này ảnh hưởng đáng kể tới chất lượng cuộc sống và sự tuân thủ điềutrị của bệnh nhân Cường độ và thời gian của nôn và buồn nôn đều có ảnhhưởng lớn đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư [19]

Nghiên cứu của Sánchez năm 2013 chỉ ra có khoảng 59,6% bệnh nhânung thư qua hóa trị có triệu chứng nôn và buồn nôn [36] Trong nghiên cứucủa Silvia Sommariva cho thấy có 67 nghiên cứu về ảnh hưởng của nôn vàbuồn nôn đến CLCS bệnh nhân ug thư Mặc dù có nhiều lựa chọn điều trị,nôn và buồn nôn được tìm thấy có ảnh hưởng mạnh đến CLCS bệnh nhân ungthư [39]

Trang 14

1.3.2.2 Tiêu chảy và táo bón (Chemotherapy Induced Diarrhea – CID)

 Tiêu chảy:

Triệu chứng này liên quan nhiều tới tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị hơn

là do chính bệnh lý ung thư CID xảy ra 50% - 80% tổng số bệnh nhân tùytheo phác đồ điều trị CID gặp nhiều phác đồ với 5-fluorouracil bolus, số lần

bị tiêu chảy cao gặp nhiều trong phác đồ với irinotecan [13]

Cơ chế gây tiêu chảy tùy từng phác đồ điều trị, với irinotecan đượcchuyển hóa ở gan với sản phẩm là 7-ethyl-10hydroxycamptothecin (SN38).SN38 một phần vào máu và đào thải ra ngoài qua nước tiểu, một phầnglucosid thành SN38-glucuronide (SN38G) vào mật và được bài tiết ra ruột.Tại đây SN38G gây tổn thương trực tiếp các tế bào ruột tại bờ tự do ngăn cảnhấp thu nước, điện giải và gây tăng tiết chất nhờn Đồng thời SN38G tạo điềukiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển làm gia tăng tổn thương biểu mô ruột vàlàm tiêu chảy nặng hơn Ngoài ra, irinotecan kích thích quá trình tự chết củabiểu mô, teo vi nhung mao giảm hấp thu nhưng tăng tiết nhầy càng làm nặnghơn tình trạng tiêu chảy [40]

Táo bón:

Táo bón là sự chuyển động chậm của phân qua ruột già do phân khô,cứng đẫn đến đau và khó chịu cho bệnh nhân Hiểu biết về cơ chế của táo bóntrong ung thư còn hạn chế, ngoài nguyên nhân do hạn chế vận động, bệnh lýthì hóa trị cũng là một trong số các nguyên nhân gây táo bón Theo nghiêncứu của Sánchez năm 2013 có khoảng 31,9% bệnh nhân ung thư điều trị hóachất có triệu chứng này [36]

Trang 15

1.3.2.3 Chán ăn

Chán ăn là một trong những biến chứng hay gặp ở bệnh nhân ung thư24% tại thời điểm chẩn đoán và 80% tại giai đoạn tiến triển và ảnh hưởng tới66% bệnh nhân hóa trị Chán ăn ngoài tình trạng giảm sự thèm ăn, ăn khôngngon miệng còn bao gồm cảm giác no sớm

Triệu chứng này khác nhau tùy từng người liên quan tới các yếu tố nhưtình trạng bệnh, sự hiện diện của đau, lo âu, trầm cảm và các loại thuốc dùngtrong hóa trị Hầu như tất cả các thuốc dùng trong hóa trị có liên quan vớichứng chán ăn Với liều điều trị hiệu quả các loại thuốc này gây chán ăn cấp

do tác động trực tiếp vào trung tâm no nằm ở đồi thị Tuy nhiên chán ăn trongmột thời gian dài là do ảnh hưởng của các triệu chứng trên đường tiêu hóakhác như nôn, buồn nôn, khô miệng, nhiệt miệng [14] Ảnh hưởng của hóa trịphụ thuộc vào độc tính của thuốc và các tác động thứ cấp làm mất cảm giácthèm ăn Chúng không chỉ bao gồm giảm cân mà còn có thể dẫn tới suy dinhdưỡng [11]

1.3.2.4 Rối loạn vị giác

Rối loạn vị giác với mức độ khác nhau là một trong những triệu chứngphổ biến nhất liên quan tới mất cảm giác ngon miệng, được bệnh nhân mô tảmùi khó chịu và vị kim loại trong hương vị Sự thay đổi vị giác và mùi tự báocáo là phổ biến ở trên 86% bệnh nhân ung thư [18] Một nghiên cứu của IreneIjpma (2017) cho thấy tỷ lệ mùi vị kim loại dao động từ 9,7% đến 78% trong

số các bệnh nhân bị ung thư, điều trị hóa trị liệu, và các giai đoạn điều trị[27]

1.3.2.5 Khô miệng

Là tình trạng giảm tiết nước bọt với lưu lượng dưới 0,1ml/phút Cókhoảng 40% bệnh nhân hóa trị có khô miệng sau từ hai đến tám tuần điều trị.Biểu hiện qua các triệu chứng như nứt môi, teo nhú lưỡi, cảm giác bỏng rát

Trang 16

trong miệng Nguyên nhân do hóa chất và sản phẩm chuyển hóa của nó cạnhtranh thụ thể của các chất dẫn truyền thần kinh phó giao cảm – Acetylcholin.

Hệ phó giao cảm lại có vai trò trong kiểm soát các tuyến nước bọt, khi bị

ức chế sẽ làm giảm tiết nước bọt và dẫn đến khô miệng [29]

1.3.2.6 Viêm niêm mạc miệng

Thường xuất hiện sau hóa trị 2-14 ngày với các tổn thương ban đỏ, loétkèm theo đau rát và có thể nhiễm trùng Các triệu chứng nuốt khó, nuốt đaucũng có thể xuất hiện gây hạn chế trong ăn uống, ảnh hưởng tới chất lượngcuộc sống Do hóa chất tác động đến chu kỳ tế bào đặc biệt là các mô tế bào

có chu kỳ ngắn hay thay đổi như biểu mô niêm mạc miệng Thêm vào đó ảnhhưởng gián tiếp của hóa trị do suy tủy hoặc ức chế miễn dịch càng làm choviêm, nhiễm trùng dễ dàng phát triển Nghiên cứu của Rajesh chỉ ra 303 trêntổng số 599 bệnh nhân (51%) hóa trị có tình trạng viêm niêm mạc miệng [29]

Có 75-80% bệnh nhân nhận liều hóa trị cao trước khi cấy ghép tủy có viêmniêm mạc miệng [46]

1.3.2.7 Nuốt khó

Nuốt là động tác phức tạp cần sự phối hợp của khoang miệng, lưỡi, hầuhọng và thực quản với 50 cơ và 6 dây thần kinh chi phối [35] Bởi thế, thườnggặp nuốt khó trong ung thư hầu họng và thực quản Nuốt khó, nuốt đau xảy rasau hóa trị phần nhiều liên quan tới các triệu chứng khô miệng, nhiệt miệng,viêm lưỡi…Quản lý chứng nuốt khó ở bệnh nhân ung thư đầu và cổ là vấn đềrất khó khăn [37]

1.3.2.8 Mệt mỏi

Nghiên cứu của Karthikeyan G cho thấy mức độ mệt mỏi nặng nề phổbiến hơn trong hóa trị 98, 30%, hóa trị và xạ trị cùng một lúc 78, 57%, với xạtrị là 45% Mức độ nghiêm trọng của mệt mỏi có mối liên quan đến chấtlượng cuộc sống của người bệnh ung thư [28] Hóa chất dùng trong hóa trị

Trang 17

qua hàng rào máu não gây nhiễm độc cho thần kinh dẫn đến mệt mỏi Bêncạnh đó các tác động khác của hóa trị khác trên đường tiêu hóa như nôn, tiêuchảy, táo bón cũng góp phần làm gia tăng mệt mỏi cho bệnh nhân [23].

1.3 Tổng quan về CLCS và phương pháp đánh giá CLCS

1.3.1 Tổng quan về CLCS

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về chất lượng cuộc sống TheoKnippenberg FC (1988), CLCS là đánh giá chủ quan của một cá nhân về tínhchất tốt và thỏa mãn của toàn bộ cuộc sống của họ [45] Đối với Calman KC(1984), thuật ngữ “chất lượng cuộc sống” được định nghĩa là khoảng cáchgiữa mong đợi của bệnh nhân và mục tiêu đạt được của họ Khoảng cách đócàng nhỏ thì chất lượng cuộc sống càng cao [15] Alain Leplege và SoniaHunt (1997), CLCS được định nghĩa là sự thỏa mãn của cá nhân đối với cuộcsống và cảm nhận chung về hạnh phúc cá nhân [38]

Theo trung tâm nâng cao sức khỏe của Canada [38] “Chất lượng cuộcsống được xem như mức độ bằng lòng của một người về những khả năngquan trọng của người đó”

Tổ chức Y tế Thế giới (1995) định nghĩa “chất lượng cuộc sống” là sựnhận thức của một cá nhân về tình trạng hiện tại của người đó theo nhữngchuẩn mực về văn hoá và sự thẩm định về giá trị của xã hội mà người đangsống Những nhận thức này gắn liền với mục tiêu, kỳ vọng và những mốiquan tâm, lo lắng của người đó

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được sử dụng tập trungvào tác động của sức khỏe, bệnh tật và điều trị tới chất lượng cuộc sống, loạitrừ các khía cạnh khác không liên quan đến sức khỏe Hơn nữa, đối với bệnhmạn tính, hầu hết các khía cạnh của cuộc sống bị ảnh hưởng bởi sức khỏe, do

đó mà khái niệm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được sử dụnghợp lý [24] Khái niệm CLCS liên quan đến sức khỏe bao gồm các nhận thức

Trang 18

chủ quan về các khía cạnh tích cực và tiêu cực của các triệu chứng của bệnhung thư, bao gồm các chức năng về thể chất, tình cảm, xã hội và nhận thức, vàquan trọng là các triệu chứng bệnh và các phản ứng phụ của điều trị [30].Như vậy, Chất lượng cuộc sống là một khái niệm đa chiều rộng màthường bao gồm những đánh giá chủ quan của cả hai khía cạnh tích cực vàtiêu cực của cuộc sống Thuật ngữ "chất lượng cuộc sống" đối với mọi người

và mọi ngành có thể quan niệm rất khác Do đó, trong nghiên cứu này, chấtlượng cuộc sống được sử dụng để đánh giá các nhận thức của bệnh nhân vềtình trạng sức khoẻ, khả năng giao tiếp với gia đình/xã hội, tình trạng tinhthần, chức năng bị ảnh hưởng bởi hóa chất trị liệu

1.3.2 Phương pháp đo lường CLCS

Trong khi có bằng chứng ngày càng tăng về giá trị của việc đánh giáCLCS, một trong những nhiệm vụ thực sự khó khăn nhất là đo lường nó.CLCS là chủ quan và là một thách thức để đo lường Nhiều thành phần, chẳnghạn như chức năng xã hội và tâm linh, không thể được quan sát trực tiếp Do

đó, chúng được đo bằng các mô hình đo lường cổ điển Quá trình đo lườngdựa trên nhiều nguyên tắc khác nhau, bao gồm cả tâm lý học và thống kê.May mắn thay, đa số các nhà nghiên cứu nhận ra rằng khi đo lường chấtlượng cuộc sống, điều quan trọng là phải tập trung rất rõ ràng vào những lĩnhvực cụ thể quan trọng đối với bệnh nhân ung thư, sự không rõ ràng trong cáchtiếp cận có thể dẫn đến những khó khăn trong việc giải thích [8] Việc sửdụng bảng hỏi bệnh nhân đã được báo cáo đã trở thành một thực hành chuẩntrong việc đánh giá CLCS bệnh nhân ung thư

Hiện nay, có nhiều bộ công cụ đánh giá CLCS của bệnh nhân nói chung

và bệnh nhân ung thư nói riêng Một số bộ công cụ được sử dụng rộng rãi như

SF – 12 và SF – 36 (Medical Outcomes Study Short Forms), SIP (SicknessImpact Profile), QOWBS (Quality of Well-being Scale)….Ngoài ra, với bệnh

Trang 19

nhân ung thư đã có rất nhiều bộ công cụ để đánh giá CLCS đối với ung thưchung và đối với từng loại ung thư riêng biệt như EORTC QLQ-C30, FACT-

G, VAS-C, HADS, POMS, RSCL…

Nghiên cứu này sử dụng bộ công cụ FACT-G thuộc bản quyền, được sựchấp nhận và được chính tổ chức FACIT dịch ra tiếng Việt Bảng câu hỏi vềChất lượng Cuộc sống và tất cả các phần phụ, bản dịch và các bản chuyển thểliên quan ("Hệ thống FACIT") thuộc sở hữu và bản quyền của David Cella,Ph.D Bộ công cụ cũng đã được sử dụng rộng rãi ở trên thế giới và tại ViệtNam, để đánh giá CLCS bệnh nhân ung thư chung

Đây là bộ công cụ được tổ chức FACIT (Đánh giá chức năng của cácliệu pháp điều trị bệnh mạn tính – Functional Assessment of Chronic IllnessTherapy) phát triển Bộ công cụ này hài hòa với văn hóa người Việt, mangtính toàn diện và khả thi khi đánh giá về CLCS của người bệnh Bộ công cụnày gồm 27 câu hỏi tự đánh giá chia làm 4 phần: Tình trạng sức khỏe, tìnhtrạng giao tiếp với gia đình xã hội, tình trạng tinh thần, tình trạng chức năng.Trong đó, tình trạng sức khỏe gồm 7 câu hỏi (câu hỏi GP1, GP2, GP3, GP4,GP5, GP6, và GP7), từ 0-28 điểm Tình trạng giao tiếp với gia đình xã hộigồm 7 câu hỏi (câu hỏi GS1, GS2, GS3, GS4, GS5, GS6, GS7), từ 0-28 điểm.Tinh thần gồm 6 câu hỏi (câu hỏi GE1, GE2, GE3, GE4, GE5, GE6), từ 0-24điểm Tình trạng chức năng gồm 7 câu hỏi (câu hỏi GF1, GF2, GF3, GF4,GF5, GF6, GF7), từ 0-28 điểm Các câu hỏi sẽ chia làm bốn mức độ từ: Hoàntoàn không (0 điểm), chút ít (1 điểm), đôi chút (2 điểm), khá nhiều (3 điểm),rất nhiều (4 điểm) tương ứng với thang điểm từ 0 đến 4 điểm Tổng điểmchung từ 0 đến 108 điểm, điểm càng cao thì CLCS càng tốt và ngược lại

1.4 Thực trạng CLCS của bệnh nhân ung thư và các yếu tố liên quan

Trên thế giới, những bằng chứng đã chứng minh rằng hóa trị liệu gây ranhững tác dụng phụ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống

Trang 20

của người bệnh Theo nghiên cứu của K.S Grotmol (2017), khi tiến hànhnghiên cứu trên 563 bệnh nhân chăm sóc giảm nhẹ cho thấy điểm chất lượngcuộc sống chung của những bệnh nhân này là 50, 5 (SD= 23, 3) [22] Nghiêncứu đánh giá ảnh hưởng của cisplatin và paclitaxel đối với vị giác và mốiquan hệ của chúng với chất lượng dinh dưỡng và sức khoẻ liên quan đến chấtlượng cuộc sống ở những bệnh nhân ung thư phổi không phải là tế bào nhỏ,chỉ ra rằng CLCS tồi tệ hơn và giảm lượng chất dinh dưỡng ở những bệnhnhân này [43].

Một nghiên cứu khác về CLCS bệnh nhân ung thư vú điều trị bằng hóatrị cho kết quả CLCS đã bị ảnh hưởng vừa phải và tiêu cực (điểm số CLCStrung bình là 63, 89 ± 16, 48) Trong đó: Sức khoẻ tình cảm là lĩnh vực bị ảnhhưởng tiêu cực nhất, với điểm số là 11, 90 ± 4, 68 Sức khoẻ thể chất bị ảnhhưởng tiêu cực bởi các phản ứng phụ hóa trị liệu và mệt mỏi (1,87 ± 0,89)[10] Theo nghiên cứu của Hellie Lithoxopoulou và cs (2014) thì bệnh nhânhóa trị liệu lần đầu có những suy giảm đáng kể về sức khỏe thể chất(p<0.0001) [31] Adriana Cristina Nicolussi (2014), nhận thấy rằng các phảnứng phụ của bệnh nhân liên quan đến hóa trị liệu là 55,9% với các triệu chứngthể chất như: nóng, đổ mồ hôi, mệt mỏi, yếu đuối và chóng mặt, trong số đónhững người có triệu chứng liên quan đến dạ dày ruột, chẳng hạn như: buồnnôn và nôn mửa, táo bón hoặc tiêu chảy là: các triệu chứng về dạ dày-ruột14,5%; các triệu chứng thể chất 5,9% và 0.7% phàn nàn về các triệu chứng vềthể chất và dạ dày-ruột [33]

Ngoài ra, những nghiên cứu còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới CLCScủa bệnh nhân ung thư Fernández-Ortega (2012) khi nghiên cứu về nôn vàbuồn nôn ở bệnh nhân hóa trị thấy rằng mặc dù sử dụng thuốc nhưng bệnhnhân vẫn buồn nôn và nôn đáng kể trong suốt chu kỳ hóa trị (31 %), trong đó:

có 44, 5% (buồn nôn) và 39, 3% (nôn) của chu kỳ ảnh hưởng đến CLCS bệnh

Trang 21

nhân [19] Heydarnejad MS (2011) cho thấy CLCS thấp hơn ở những bệnhnhân bị đau so với những người không có cơn đau Ngoài ra, các phân tíchthống kê chỉ ra rằng có một mối quan hệ đáng kể giữa cường độ đau và CLCS(P <0,05) [25] CLCS thấp có liên quan đến viêm hệ thống tăng lên (mGPS =

1 β = -0,12, p = 0,003, mGPS = 2 β = -0,09, p = 0,023), thể trạng kém (β =0,17, p <0,001) β = -0,15, p <0,001), đau thắt ngực (β = -0,11, p = 0,004), đau(β = -0,14, p = 0,002) và trầm cảm nặng hơn (β = -0,27, p <0,001) [22] Mộtnghiên cứu khác chỉ ra rằng giới là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượngcuộc sống

Nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượngcuộc sống của bệnh nhân ung thư: Akinet al (2008) đã chỉ ra rằng nhữngbệnh nhân ung thư vú từ 40 đến 50 tuổi nhận được liệu pháp hóa trị liệu cónhiều vấn đề về cảm xúc, chức năng và có sự quan tâm tới ung thư vú hơnnhững người dưới 40 hoặc trên 50 tuổi [5] Một nghiên cứu khác của Bayram

và cs (2014) trên bệnh nhân ung thư vú tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy tinh thần làkhía cạnh ảnh hưởng tiêu cực nhất tới cuộc sống của người bệnh Họ cónhững nỗi sợ hãi và lo lắng về sức khoẻ và cần được hỗ trợ trong quá trìnhhóa trị liệu để đối phó với những thay đổi tiêu cực về tinh thần, sức khoẻ thểchất và chức năng [10] Phụ nữ gặp khó khăn về thể chất và xã hội hơn namgiới Giới là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống [44]

Chebet (2014) đánh giá CLCS của bệnh nhân ung thư vú tại Trung tâmĐiều trị Ung thư Bệnh viện Quốc gia Kenyatta, nghiên cứu kết luận rằng bệnhnhân ung thư vú có chất lượng cuộc sống thấp, và những người ở giai đoạncuối của bệnh có nhiều khả năng có chất lượng cuộc sống kém so với nhữngngười ở giai đoạn đầu Bệnh nhân được phẫu thuật và taxomifen có điểm sốQOL thấp hơn [17] Theo nghiên cứu của MS Heydarnejad và cộng sự (2011)cho thấy có mối tương quan mạnh giữa chất lượng cuộc sống với số chu kỳ

Trang 22

hóa trị Có sự khác biệt đáng kể giữa CLCS ở bệnh nhân điều trị ≤ 2 chu kỳvà/hoặc 3-5 chu kỳ với mức ý nghĩa p< 0,001[25].

Một nghiên cứu được thực hiện ở Kuwait ở Tây Á để kiểm tra mối liên

hệ của chất lượng cuộc sống với các đặc điểm nhân khẩu học, giai đoạn bệnh,loại điều trị đã được thực hiện trong quá khứ và thời gian từ lần điều trị cuốicùng Các phương pháp thống kê được sử dụng là bởi các tương quan củaPearson, các T-test và phân tích ANOVA và nhiều phân tích hồi quy đa chiều(stepwise) Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộcsống liên quan đến sức khoẻ là tuổi, giai đoạn của ung thư, xạ trị và mệt mỏi.Các điểm quy mô chức năng quan trọng hơn trong việc dự đoán các thangchức năng, so với thang điểm của các triệu chứng, trong khi hoạt động xã hộichiếm tỷ lệ cao nhất về sự khác biệt trong chất lượng cuộc sống toàn cầu.Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng chức năng thể chất và vai trò có tươngquan cao [7] Một nghiên cứu khác khi đánh giá CLCS của người bệnh ung

thư nhận hóa trị liệu thực hiện bởi Abdelrahim S.S và cộng sự (2017) cũng

cho thấy CLCS có mối tương quan nghịch với độ tuổi, thời gian kể từ khiđược chẩn đoán ung thư và giai đoạn ung thư Nghiên cứu còn chỉ ra CLCS ởngười bệnh có thu nhập cao hơn được nhận thấy tốt hơn [4]

CLCS là vấn đề ngày càng được quan tâm trên toàn thế giới cũng nhưtại Việt Nam, từ những nghiên cứu tham khảo đã khẳng định sự cần thiết củaviệc đo lường CLCS ở bệnh nhân ung thư hóa trị liệu Đây là một lĩnh vực đãthu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhưng vẫn còn một sốvấn đề liên quan đến CLCS ở bệnh ung thư vẫn chưa được thống nhất Bêncạnh đó, các nghiên cứu đã chỉ ra nhiều yếu tố liên quan tới chất lượng cuộcsống của bệnh nhân ung thư nhưng trong đó có các yếu tố liên quan và ảnhhưởng lớn đến CLCS đó là: Giai đoạn của bệnh, loại ung thư, phương phápđiều trị, số liệu trình điều trị trước đó, bệnh kèm theo, tuổi, giới và sự hỗ trợ

Trang 23

xã hội Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đo lường CLCS và tìm hiểu cácyếu tố liên quan có ảnh hưởng tới mức độ nào ở những bệnh nhân ung thưđiều trị hóa chất tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện Trung ương TháiNguyên.

1.5 Học thuyết áp dụng trong nghiên cứu

Khung lý thuyết của nghiên cứu này dựa trên mô hình chất lượng cuộcsống Mô hình chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ được phát triểnbởi Wilson và Cleary (1995) và được sửa đổi bởi Ferrans et al (2005) [20]

Mô hình này là một chuỗi các yếu tố nhân quả của chất lượng cuộc sống liênquan đến sức khỏe và các yếu tố quyết định của nó Có năm yếu tố nằm ởtrung tâm của mô hình, là năm loại thang đo kết quả của bệnh nhân

Thứ nhất, chức năng sinh học được mô tả tập trung vào chức năng nhưcác xét nghiệm, đánh giá vật lý, chẩn đoán y khoa Thứ hai, các triệu chứngđược đề cập đến như các triệu chứng thể chất, tình cảm và nhận thức của bệnhnhân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chức năng sinh học Thứ ba, tình trạng chứcnăng bao gồm thể chất, tâm lý, xã hội và vai trò Thứ tư, nhận thức về sứckhỏe nói chung đề cập đến một đánh giá chủ quan bao gồm tất cả các kháiniệm về sức khỏe trước đó Thứ năm, chất lượng cuộc sống tổng thể được mô

tả như một trạng thái chủ quan của một người nào đó về hạnh phúc và sự hàilòng về cuộc sống của họ Ngoài ra, có hai yếu tố quyết định ảnh hưởng đếnnăm yếu tố chính của chất lượng cuộc sống, đó là đặc điểm của cá nhân vàđặc điểm của môi trường Các đặc điểm của cá nhân được phân loại gồm đặcđiểm nhân khẩu học, nhân tố về tinh thần, tâm lý và sinh học ảnh hưởng đếnkết quả sức khỏe Các đặc tính của môi trường được phân loại là thể chất hoặc

xã hội Các đặc tính của môi trường xã hội là ảnh hưởng của các cá nhân hoặc

xã hội đối với sức khỏe, bao gồm bạn bè, gia đình và dịch vụ y tế Đặc điểm

Ngày đăng: 10/07/2019, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w