TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC An Giang, Tháng 5.2013 TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
HỒ VĂN HOẢNH
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ BỆNH ĐỐM VẰN
TRÊN CÂY LÚA DO NẤM Rhizoctonia solani CỦA CÁC CHẾ PHẨM Trichoderma sp TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC
An Giang, Tháng 5.2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP KHOA
THU THẬP VÀ BẢO QUẢN MẪU CÔN TRÙNG HẠI TRÊN LÚA TẠI THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: LÊ ANH KIỆT
NĂM 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
HỒ VĂN HOẢNH
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ BỆNH ĐỐM VẰN
TRÊN CÂY LÚA DO NẤM Rhizoctonia solani CỦA CÁC CHẾ PHẨM Trichoderma sp TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC
An Giang, Tháng 5.2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP KHOA
THU THẬP VÀ BẢO QUẢN MẪU CÔN TRÙNG HẠI TRÊN LÚA TẠI THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG
GVHD: THS LÊ MINH TUẤN
BAN GIÁM HIỆU LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
NĂM 2013
Trang 3Lời cảm tạ
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ vô cùng quý báu của các thầy cô, các cô chú, anh chị và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
- Ban giám hiệu Trường Đại học An Giang, ban chủ nhiệm khoa Nông Nghiệp
và Tài Nguyên Thiên Nhiên, bộ môn Công nghệ sinh học và toàn thể những thầy cô đã truyền đạt những kiến thức quý báo
- Thầy Lê Minh Tuấn, thầy đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài này
- Các thầy cô Bộ môn Công nghệ sinh học – Trường Đại học An Giang đã tận tình chỉ dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
- Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng duyệt đề tài đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh đề tài này
- Xin cảm ơn cha, mẹ đã sinh ra tôi, dạy dỗ tôi nên người, đã luôn cổ vũ, khích
lệ tôi hoàn thành công việc học tập và nghiên cứu
- Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả các bạn lớp DH10SH và những bạn đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Chân thành cảm ơn!
Trang 4Tóm lược
Trong những năm gần đây, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật kết hợp với thâm canh tăng vụ, thay đổi cơ cấu giống cây trồng nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn, cân bằng sinh thái học trong hệ sinh thái nông nghiệp bị phá vỡ Để tìm hiểu sự biến động thành phần côn trùng hại trên lúa một cách có hệ
thống, đề tài “Thu thập và bảo quản mẫu côn trùng hại lúa tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang” được tiến hành tại vùng chuyên canh cây lúa trên
địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong vụ lúa Đông Xuân
2012-2013 nhằm thu thập tất cả các loài côn trùng gây hại xuất hiện trên ruộng lúa tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang và bảo quản các mẫu côn trùng gây hại trên lúa để làm nguồn tư liệu phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu Các mẫu côn trùng hại được thu thập bằng vợt bắt côn trùng, bằng khay chứa dung dịch xà phòng và trực tiếp bằng tay Định danh mẫu theo khóa phân loại của IRRI (2010) và được bảo quản trong dung dịch cồn 75o
Qua kết quả nghiên cứu, trong vụ lúa Đông Xuân 2012-2013 trên địa bàn thu mẫu xuất hiện các loại côn trùng gây hại khác nhau ở những thời kỳ khác nhau: Bọ gai, các loài rầy (rầy bông, rầy xanh, rầy nâu, rầy lưng trắng), bọ xít (bọ xít đen, bọ xít hôi), cào cào, dế nhũi, bọ trĩ, các loài sâu (sâu cắn gié, sâu cuốn lá nhỏ, sâu cuốn lá lớn, sâu đục thân) và nhện gié
Thu thập được 14 loài thuộc 11 họ của 6 bộ côn trùng hại khác nhau Ngoài ra, tôi còn thu thập thêm 1 loài nhện nhỏ hại lúa Không có bộ nào có số loài chiếm trên 30% Trong số 15 loài điều tra được thì bộ Homoptera và Lepidoptera là hai bộ có thành phần loài nhiều nhất, mỗi bộ chiếm 26,67 % (4 loài) Tiếp đến
là bộ Hemiptera và Orthoptera mỗi bộ chiếm 13,33 % (2 loài) Các bộ Coleoptera, Thysanoptera và Acarina mỗi bộ chỉ chiếm 6,67 % (1 loài)
Sau khi điều tra thành phần loài côn trùng hại trên lúa, các mẫu côn trùng được bảo quản nhằm mục đích phục vụ trong công tác học tập, giảng dạy và nghiên cứu
Trang 5Mục Lục
Chương 1
Giới thiệu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Giới hạn nghiên cứu 2
Chương 2 Lược khảo tài liệu 3
2.1 Giới thiệu về côn trùng hại 3
2.2 Đặc điểm thời tiết khí hậu vùng nghiên cứu 4
2.3 Đặc điểm của một số loài sâu hại quan trọng trên lúa 5
2.3.1 Rầy nâu 5
2.3.2 Rầy lưng trắng 5
2.3.3 Rầy xanh 6
2.3.4 Rầy bông 7
2.3.5 Bọ xít hôi 7
2.3.6 Bọ xít đen 8
2.3.7 Bọ gai 8
2.3.8 Bọ trĩ 9
2.3.9 Dế nhũi 10
2.3.10 Cào cào 10
2.3.11 Sâu đục thân sọc nâu đầu đen 11
2.3.12 Sâu cuốn lá nhỏ 11
2.3.13 Sâu cuốn lá lớn 12
2.3.14 Nhện gié 13
2.4 Những nghiên cứu về côn trùng hại lúa trong và ngoài nước 13
2.4.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài 13
2.4.2 Một số nghiên cứu trong nước 14
Chương 3 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 16
3.1 Phương tiện nghiên cứu 16
3.2 Phương pháp nghiên cứu 17
3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17
3.2.2 Phương pháp điều tra thành phần côn trùng hại 17
Trang 63.2.3.1 Phương pháp thu mẫu 17
3.2.3.2 Phương pháp bảo quản mẫu 19
3.2.4 Phương pháp định danh 20
Chương 4 Kết quả và thảo luận 21
4.1 Điều tra và thu thập thành phần các loài côn trùng hại trên ruộng lúa ở địa bàn thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang 21
4.1.1 Các loài côn trùng và nhện nhỏ hại lúa thu thập được trên địa bàn nghiên cứu 21
4.1.1.1 Cây lúa ở giai đoạn tăng trưởng 21
4.1.1.2 Cây lúa từ giai đoạn trổ đến chín 28
4.2 Bảo quản các loài côn trùng hại trên ruộng lúa ở địa bàn thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang 32
Chương 5 Kết luận và kiến nghị 33
5.1 Kết luận 33
5.2 Kiến nghị 33
Tài liệu tham khảo 34
Trang 7Danh sách hình
Hình 1: Cấu tạo chung cơ thể côn trùng 3
Hình 2: Hình dạng và vòng đời của rầy nâu 5
Hình 3: Rầy lưng trắng 6
Hình 4: Hình dạng và trứng của rầy xanh 6
Hình 5: Hình dạng rầy bông 7
Hình 6: Bọ xít hôi và cách gây hại 7
Hình 7: Bọ xít đen 8
Hình 8: Bọ gai 9
Hình 9: Bọ trĩ 9
Hình 10: Dế nhũi 10
Hình 11: Cào Cào 11
Hình 12: Trứng, ấu trùng, nhộng, thành trùng sâu đục thân sọc nâu đầu đen 11 Hình 13: Ấu trùng, nhộng, thành trùng sâu cuốn lá nhỏ 12
Hình 14: Sâu cuốn lá lớn 12
Hình 15: Nhện gié và cách phá hoại 13
Hình 17: Kính soi nổi 16
Hình 16: Vợt bắt côn trùng 16
Hình 19: Kính lúp 16
Hình 18: Ống trữ mẫu côn trùng 16
Hình 20: Thu mẫu bằng vợt 18
Hình 21: Thu mẫu bằng khay có chứa dung dịch xà phòng 18
Hình 22: Thu mẫu trực tiếp bằng tay 19
Hình 23: Mẫu được bảo quản trong cồn 75o 19
Hình 24: Bọ trĩ 22
Hình 25: Các loài cào cào 22
Hình 26: Sâu cuốn lá nhỏ (trái) và bướm sâu cuốn lá nhỏ (phải) 23
Hình 27: Sâu đục thân sọc nâu đầu đen 23
Hình 28: Sâu cuốn lá lớn 24
Hình 29: Bọ xít đen 24
Hình 30: Bọ gai 25
Hình 31: Rầy nâu 25
Hình 32: Rầy lưng trắng 26
Hình 33: Rầy xanh 26
Trang 8Hình 35: Dế nhũi 27
Hình 36: Bọ xít hôi 28
Hình 37: Nhện gié con non (trái) và nhện gié trưởng thành (phải) 28
Hình 38: Sâu cắn gié 29
Hình 39: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ thành phần loài giữa các bộ 31
Hình 40: Bộ mẫu các loài côn trùng hại lúa 32
Trang 9Danh sách bảng
Bảng 1: Thành phần côn trùng hại đã thu thập được trên vùng chuyên canh cây lúa ở địa bàn thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang từ tháng 12/2012 đến tháng 4/2013 30
Trang 10Danh mục viết tắt
BVTV: Bảo vệ thực vật
ctv.: Cộng tác viên
IRRI: International Rice Research Institute
WHO: World Health Organization
Trang 11Chương 1 Giới thiệu
1.1 Đặt vấn đề
Để bảo vệ cây trồng trước sự tấn công của các loài côn trùng hại trên lúa, việc
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là cần thiết Trong những thập niên gần đây, cùng với việc tăng năng suất, chất lượng cây trồng thì lượng thuốc BVTV được sử dụng để phòng trừ các đối tượng dịch hại cũng ngày càng tăng Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì ở Việt Nam, từ năm
1976 đến 1980 bình quân mỗi năm nông dân sử dụng 5.100 tấn thuốc bảo vệ thực vật, năm 1985 là 22.000 tấn và năm 1998 là 40.000 tấn (Bùi Cát Tuyến, 2000)
Cùng với những ưu điểm như tiêu diệt côn trùng hại một cách nhanh chóng, triệt để, kịp thời bảo vệ mùa màng thì việc sử dụng thường xuyên liên tục thuốc bảo vệ thực vật với số lượng lớn trên đơn vị diện tích đã gây nên ô nhiễm môi trường sống một cách trầm trọng đồng thời phá vỡ cân bằng hệ sinh thái (Lê Lương Tề, 2000)
Trong những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ, thay đổi cơ cấu giống cây trồng nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn, cân bằng sinh thái học trong hệ sinh thái nông nghiệp bị phá vỡ Thể hiện ở sự biến đổi cấu trúc khu
hệ côn trùng và hệ thiên địch Nếu trước đây số lượng các loài côn trùng gây hại cho cây trồng nông nghiệp có đến hàng trăm loài, thì hiện nay chúng đã bị tiêu diệt có thể đến 90%, song số loài ít ỏi còn sống sót này có khả năng chống chịu hay kháng đối với các hóa chất độc cực mạnh (Phạm Bá Phong, 2000)
Để tìm hiểu sự biến động thành phần côn trùng hại trên lúa một cách có hệ
thống, đề tài “Thu thập và bảo quản mẫu côn trùng hại lúa tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang” nhằm mục đích phục vụ cho công tác học tập,
và nghiên cứu trong việc phòng trừ côn trùng hại lúa
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Thu thập tất cả các loài côn trùng gây hại xuất hiện trên ruộng lúa tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang
- Bảo quản các mẫu côn trùng gây hại trên lúa để làm nguồn tư liệu phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu
Trang 121.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra và thu thập thành phần các loài côn trùng hại trên ruộng lúa ở địa bàn thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang
- Bảo quản các loài côn trùng hại trên ruộng lúa ở địa bàn thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang
1.4 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 12/2012 đến 4/2013 tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang
Trang 13Chương 2 Lược khảo tài liệu
2.1 Giới thiệu về côn trùng hại
Côn trùng hại là những côn trùng sử dụng các bộ phận của cây trồng làm thức
ăn của chúng, làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, đến năng suất và chất lượng nông sản (Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Phú Thọ, 2010) Theo con
số từ nhiều nước, hằng năm thu hoạch mùa màng giảm 10-30 % do côn trùng hại Côn trùng hại sinh sản nhanh, cho số lượng cá thể lớn trong khoảng thời gian ngắn (Thái Trần Bá và Nguyễn Văn Khang, 2005)
Theo Nguyễn Viết Tùng (2006) thì lớp côn trùng có thể dễ dàng phân biệt với các đặc điểm sau đây:
sau mang 2 đôi cánh
- Bụng gồm nhiều đốt, không mang cơ quan vận động, ở phía cuối có lỗ hậu môn, cơ quan sinh dục ngoài và lông đuôi
Hình 1: Cấu tạo chung cơ thể côn trùng (Nguồn: Nguyễn Viết Tùng, 2006)
Trang 142.2 Đặc điểm thời tiết khí hậu vùng nghiên cứu
Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp; Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia; Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang; Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ
- Đường biên giới dài gần 100 km
- An Giang có 2 dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi Đồng bằng ở đây do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên, bao gồm đồng bằng phù sa khá bằng phẳng, có độ nghiên nhỏ và độ cao tương đối thấp; và đồng bằng ven núi
có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau
Các yếu tố khí tượng
Mây: Lượng mây ở An Giang tương đối ít Trong mùa khô, có khi trời có mây
nhưng vẫn nắng Trong mùa mưa, lượng mây thường nhiều hơn Lượng mây trung bình tháng của các tháng mùa khô là 3,1/ 10 và của các tháng mùa mưa
là 6,9/ 10
Nắng: An Giang có mùa nắng chói chang, trở thành địa phương có giờ nắng
trong năm lớn kỉ lục của cả nước Bình quân mùa khô có tới 10 giờ nắng/ ngày; mùa mưa tuy ít hơn nhưng cũng còn gần tới 7 giờ nắng/ ngày Tổng giờ nắng cả năm lên trên 2400 giờ
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình ở An Giang không những cao mà còn rất ổn
định Chênh lệch nhiệt độ của các tháng trong mùa khô chỉ hơn kém nhau khoảng 1,5 oC đến 3 oC; còn trong các tháng mùa mưa chỉ vào khoảng trên dưới 1 oC Nhiệt độ cao nhất trong năm thường xuất hiện vào tháng 4, dao
Gió: Mùa khô, gió thịnh hành là Đông Bắc, còn mùa mưa là gió Tây Nam –
gió Tây Nam là gió có tần suất xuất hiện lớn nhất Tốc độ gió ở đây tương đối mạnh, trung bình đạt trên 3 m/ giây Trong năm, tốc độ gió mùa hè lớn hơn mùa đông An Giang là tỉnh nằm sâu trong đất liền Nam Bộ nên ít chịu ảnh
hưởng gió bão
Mưa: Ở An Giang, mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào
tháng 11 Tổng lượng mưa mùa mưa chiếm 90 % tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa mùa mưa lớn và trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông chảy
về hạ lưu nên đã gây ra tình trạng úng tổ hợp với ngập lụt, chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất và đời sống Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.1300
mm, có năm lên tới 1.700 – 1.800 mm
Độ ẩm: Ở An Giang, thời gian có độ ẩm thấp (nhỏ hơn 80 %) thường bắt đầu
từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau Nghĩa là mùa mưa có độ ẩm thấp
Trang 15trùng với mùa khô Mùa khô độ ẩm của thời kỳ đầu là 82 %, giữa 78 %, và cuối còn 72 % Mùa mưa ở đây thật sự là một mùa ẩm ướt Độ ẩm trung bình trong những tháng mùa mưa đều 84 %, có tháng đạt xấp xỉ 90 %
(Cổng thông tin điện tử An Giang, 2008)
2.3 Đặc điểm của một số loài sâu hại quan trọng trên lúa
gạo, màu nâu Chúng sống
quanh gốc lúa ngay phần bẹ
lá, phía trên mặt nước Rầy
nâu sinh sản và phát triển rất
nhanh Mỗi lứa, rầy cái đẻ
hàng trăm trứng trong bẹ lá
Trứng nở ra rầy con chỉ to
bằng hạt tấm, hạt cám, màu
trắng ngà nên được gọi là rầy
cám hay mò cám Rầy con
phải trải qua 5 lần lột xác để
trở thành rầy trưởng thành
Nếu gặp điều kiện thuận lợi, thức ăn đầy đủ thì từ lúc trứng nở đến khi trưởng thành chỉ mất khoảng 15-20 ngày Do đó, trong 1 vụ lúa 3 tháng, có thể có 3 lứa rầy nối tiếp nhau, lứa sau nhiều hơn lứa trước
Gây hại: Tác hại trực tiếp của rầy nâu là chích hút nhựa, làm cho cây lúa suy yếu, phát triển kém, lá vàng úa và khô héo đi gọi là “cháy rầy” Tác hại gián tiếp của rầy nâu là truyền các bệnh siêu vi khuẩn cho lúa như bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá
Giai đoạn gây hại: Rầy nâu có thể xuất hiện và gây hại vào bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào của cây lúa
Trang 16Mô tả: Rầy lưng trắng rất giống với rầy nâu về hình dạng, kích thước và tập quán sinh sống, chỉ khác ở chỗ rầy lưng trắng trưởng thành có cánh màu trắng đục và có một vệt trắng trên giữa lưng
Gây hại: Rầy lưng trắng chích hút cây lúa tạo hiện tượng "cháy rầy" tương tự như Rầy Nâu nhưng không truyền bệnh virus cho cây lúa
Giai đoạn gây hại: Rầy lưng trắng có thể xuất hiện và gây hại vào bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào của cây lúa
2.3.3 Rầy xanh
Tên khoa học: Nephotettix spp
Họ: Cicadellidae
Bộ: Homoptera
Mô tả: Rầy xanh lớn hơn rầy nâu đôi
chút, toàn thân và cánh có màu xanh,
cuối cùng có vệt đen nên còn gọi là rầy
xanh đuôi đen Ở con cái còn có một
chấm đen to ở giữa cánh rất dễ nhận
diện Có 3 loại rầy xanh thường gặp
trong ruộng lúa ở vùng nhiệt đới là N
virescens, N cincticepa và N
nigropictus
Gây hại : Rầy xanh sống trên lá lúa và
hút chích nhựa và gây cháy rầy Chúng
còn truyền bệnh siêu vi khuẩn: Tungro
và vàng lùn
Hình 3: Rầy lưng trắng (Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Hình 4: Hình dạng và trứng của rầy xanh (Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trang 17Giai đoạn gây hại: Thành trùng các loài rầy xanh bay vào ruộng lúa rất sớm, từ khi cây lúa ở giai đoạn mạ
Gây hại: Rầy bông sống trên lá lúa và hút chích nhựa và gây cháy rầy, chúng còn truyền bệnh lùn có bướu, tungro và vàng cam
Giai đoạn gây hại: Thành trùng rầy bông bay vào ruộng lúa rất sớm, từ khi cây lúa ở giai đoạn mạ
2.3.5 Bọ xít hôi
Tên khoa học: Leptocorisa acuta
Họ: Alydidae
Bộ: Hemiptera
Bọ xít có thân hình thon dài màu
xanh hơi nâu, chân và râu đều dài,
sống trên bông lúa, rất di động
Chúng đẻ trứng to và xếp thành
từng hàng trên phiến lá
Hình 5: Hình dạng rầy bông (Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trang 18lửng, để lại vết nâu đen, ở giữa màu xám trên vỏ trấu
Giai đoạn gây hại: Bọ xít hôi gây hại khi lúa từ giai đoạn trổ
thân màu đỏ nâu, không cánh Con
trưởng thành màu nâu đen, thân có
hình bầu dục, lưng và bụng nhô ra
như nhau Phiến mai dài tới cuối
bụng nhưng bề ngang không che hết
bụng Phiến giữa và phiến cạnh của
đầu dài bằng nhau Góc trước mảnh
lưng ngực mọc ngang ra một gai
không dài, không nhọn Góc cạnh
mảnh lưng ngực trước có một mấu
lồi ngắn, không nhọn Mắt đơn màu
đỏ nhạt Bàn chân và râu màu nâu
tro Chúng thường sống ở phần bẹ và
gốc lúa
Gây hại: Thành trùng bọ xít đen
chích hút nhựa cây lúa làm cây lúa
suy yếu dần, lá và bẹ lá khô héo, rồi
Trứng rất nhỏ, hình bầu dục, màu trắng, thời gian ủ trứng từ 4-7 ngày
Ấu trùng màu trắng sữa, có 4 tuổi, phát triển từ 10-15 ngày
Hình 7: Bọ xít đen (Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trang 19Nhộng trần màu nâu, thời gian nhộng từ 5-7 ngày
Gây hại: Ấu trùng đục ngay vào bên trong lá như sâu đục lá và ăn phần xanh của lá, chỉ chừa lại lớp biễu bì màu trắng Thành trùng cạp ăn mặt trên lá, để lại sọc trắng
Giai đoạn gây hại: Bọ gai xuất hiện và gây hại khi lúa ở giai đoạn đẻ nhánh đến làm đồng
(Nguyễn Văn Huỳnh, 2002)
Gây hại: Bọ trĩ tập trung trong những chót lá xanh bị cuốn lại như héo để cắn phá, làm chót lá vàng và khô héo đi
Giai đoạn gây hại: Bọ trĩ gây hại khi lúa từ giai đoạn mạ đến đẻ nhánh
Hình 9: Bọ trĩ (Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Hình 8: Bọ gai
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trang 20Gây hại: Dế nhũi cắn rễ non và phần non ở gốc lúa phía dưới mặt đất, làm cây lúa bị đứt ngang mặt đất từng chồi và cả bụi lúa
Giai đoạn gây hại: Nếu ggawpj điều kiện thuận lợi, dề nhũi có thể tấn công cây lúa ở bất kỳ giai đoạn nào
Gây hại: Thời kỳ mạ hay lúa non, cả thành trùng và ấu trùng đều ăn khuyết lá, đôi khi chỉ còn gân chính Khi lúa trổ bông hay chín, thành trùng và ấu trùng
có thể cắn đứt cuống bông làm bông bị lép
Giai đoạn gây hại: Cào cào gây hại suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây lúa
Hình 10: Dế nhũi (Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trang 21Hình 11: Cào Cào
2.3.11 Sâu đục thân sọc nâu đầu đen
Tên khoa học: Chilo polychrysus Meyrick
Giai đoạn gây hại: Lúa ở giai đoạn mạ - đẻ nhánh, đồng - trổ
Hình 12: Trứng, ấu trùng, nhộng, thành trùng sâu đục thân
sọc nâu đầu đen (Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
2.3.12 Sâu cuốn lá nhỏ
Tên khoa học: Cnaphalocrocis medinalis
Họ: Pyralidae
Bộ: Lepidoptera
Trang 22Gây hại: Sâu thường cuốn lá lại, sâu ở bên trong ăn phá phần nhu mô, để lại những vệt trắng dài nằm dọc theo chân lá
Giai đoạn gây hại: Lúa ở giai đoạn đẻ nhánh, đồng - trổ
đứng khi đậu, rất nhanh nhẹn và
bay theo đường gãy khúc Sâu
non mới nở màu xanh lục, đầu
đen to Sâu lớn thì hai đầu thon
nhỏ, giữa nở to Nhộng dài từ
30-33 mm, màu vàng nhạt, sắp vũ
hóa có màu nâu đen Nhộng có tơ
bám vào lá lúa cuốn lại
Gây hại: Sâu cũng gây hại tương tự
như sâu cuốn lá nhỏ và có thể xếp
phần trên chót lá lại để ẩn trong đó và gây hại Sâu ăn đứt từ bìa phiến lá vào trong rồi ăn dọc theo gân lá
Giai đoạn gây hại: Lúa mới cấy đến khi lúa chín
Hình 13: Ấu trùng, nhộng, thành trùng sâu cuốn lá nhỏ
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Hình 14: Sâu cuốn lá lớn (Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)