Đề tài nghiên cứu khoa học “Thu thập và bảo quản mẫu quần thể thiên địch trên ruộng lúa vụ Thu Đông 2014 tại Thành phố Long Xuyên, An Giang” do sinh viên Tô Thanh Hương thực hiện dưới sự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN NHIÊN NHIÊN
THU THẬP VÀ BẢO QUẢN MẪU QUẦN THỂ THIÊN ĐỊCH TRÊN RUỘNG LÚA
VỤ THU ĐÔNG 2014 TẠI THÀNH PHỐ
LONG XUYÊN, AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: TÔ THANH HƯƠNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN NHIÊN NHIÊN
THU THẬP VÀ BẢO QUẢN MẪU QUẦN THỂ THIÊN ĐỊCH TRÊN RUỘNG LÚA
VỤ THU ĐÔNG 2014 TẠI THÀNH PHỐ
LONG XUYÊN, AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: TÔ THANH HƯƠNG
MSSV: DBT113058
Cán bộ hướng dẫn: ThS CÙ NGỌC QUÍ
Trang 3Đề tài nghiên cứu khoa học “Thu thập và bảo quản mẫu quần thể thiên địch trên ruộng lúa vụ Thu Đông 2014 tại Thành phố Long Xuyên, An Giang” do sinh viên Tô Thanh Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên Cù Ngọc Qúi được Hội đồng Khoa học và Đào tạo khoa Nông nghiệp – TNTN, Trường Đại học
An Giang thông qua ngày … tháng … năm …
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Khoa học Cây trồng, Khoa Nông nghiệp – Tài nguyên Thiên nhiên, Trường Đại học An Giang đã truyền đạt những kiến thức quí báu cho em trong quá trình học tập
Để hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học em xin bày tỏ lòng cảm ơn cô
Cù Ngọc Qúi đã hướng dẫn trong suốt thời gian qua
Cảm ơn các bạn Trường lớp DH12TT và Thanh, Yên, Long, Phương lớp DH14TT đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
An Giang, ngày … tháng … năm 2015
Người thực hiện
Tô Thanh Hương
Trang 5TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu là thu thập được các loài thiên địch xuất hiện trên ruộng lúa vụ Thu Đông 2014 tại vùng chuyên canh lúa, thành phố Long Xuyên, An Giang; bảo quản được các mẫu quần thể thiên địch để làm nguồn tư liệu phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu Đề tài được thực hiện theo QCVN 2014 tại 2 xã ở thành phố Long Xuyên – An Giang Kết quả điều tra được 64 loài thuộc 35 họ, 9 bộ khác nhau Trong đó Hymenoptera là bộ có thành phần loài nhiều nhất chiếm 42% (27 loài); nhiều thứ hai là bộ Arachnida chiếm 19% (12 loài); thứ ba là bộ Coleoptera 12% (8 loài); bộ Orthoptera và Diptera mỗi bộ chiếm 8% (5 loài); bộ Hemiptera chiếm 5% (3 loài); các bộ Odonata, Strepsiptera và Dermaptera mỗi bộ chỉ chiếm 3% (2 loài), 2% (1 loài), 1% (1 loài) Sự đa dạng về thành phần thiên địch đa dạng và cao nhất vào giai đoạn lúa 31NSS, 52NSS, 73NSS; mật độ thiên địch xuất hiện ở ruộng
điều tra ở mức cao sẽ giúp khống chế được sâu hại
Từ khóa: định danh thiên địch, bảo quản thiên địch, quần thể thiên địch trên
ruộng “1 phải 5 giảm” Tp Long Xuyên - An Giang.
An Giang, ngày … tháng … năm 2015
Người thực hiện
Tô Thanh Hương
Trang 6SUMMARY THE COLLECTION AND PRESERVATION NATURAL ENEMIES POPULATION APIECE AT RICE FIELDS THU DONG CROP 2014 IN
LONG XUYEN CITY, AN GIANG
The objective of this study was to collected and preserved natural enemies population apiece at rice fields Thu Dong crop 2014 in Long Xuyen City, An Giang
to learnt and study Studying is practiced to follow QCVN 01-166: 2014/BNNPTNT
in two villages, Long Xuyen City, An Giang provice Result followed to get 77 species, 35 families, 9 orders is difference (only 13 species have been identified to Family) Among, order Hymenoptera is the hightest order get 42 percent (27 species), the second is Arachnida order get 19 percent (12 species), the third is coleoptera order get 12 percent (8 species); Orthoptera and Diptera order gets 8 percent (5 species); Hemiptera order get 5 percent (3 species); Odonata, Strepsiptera and Dermaptera orders gets 3 percent (2 species), 2 percent (1 species), 1 percent (1 species) Natural enemies is diversified species and get the hightest at period of time paddy 31, 52, 73 days after sowing Density of natural enemies is much to constrained insect pests
Keywords: natural enemy identification, preservation of natural enemies, natural enemy populations on the field, "1 right 5 reduction" Long Xuyen City - An Giang
An Giang, ngày … tháng … năm 2015
Người thực hiện
Tô Thanh Hương
Trang 7LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày … tháng … năm 2015
Người thực hiện
Tô Thanh Hương
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Chấp nhận của Hội đồng i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt tiếng Việt iii
Tóm tắt tiếng Anh iv
Lời cam kết v
Mục lục vi
Danh sách bảng, biểu xi
Danh sách hình xii
Bảng danh mục các từ viết tắt xvi
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Giới hạn nghiên cứu 2
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu về côn trùng 3
2.1.1 Một số đặc điểm về côn trùng 3
2.1.2 Vai trò của thiên địch 4
2.2 Hình thái côn trùng 5
2.2.1 Sự phân đốt 5
2.2.2 Cấu tạo da côn trùng 6
2.2.3 Đầu và cấu tạo đầu 6
2.2.4 Ngực côn trùng 8
2.2.5 Cấu tạo bụng 9
2.3 Điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu vùng nghiên cứu 10
10
10
2.4 Đặc điểm của một số loài thiên địch quan trọng trên lúa 11
Trang 92.4.2 Bọ rùa 8 chấm 11
2.4.3 Bọ cánh cứng 3 khoang 12
2.4.4 Nhện nhảy 12
2.4.5 Ong đen ký sinh sâu đục thân hai chấm 13
2.4.6 Ong ký sinh trứng rầy lúa 13
2.4.7 Ong ký sinh trứng và nhộng 14
2.4.8 Ong cự khoang ký sinh sâu đục thân 14
2.4.9 Ong cự ký sinh sâu non 15
2.4.10 Ong kén nhỏ ký sinh sâu đục thân 15
2.4.11 Ong đen ký sinh sâu cuốn lá nhỏ 16
2.4.12 Bọ xít nước 16
2.4.13 Bọ xít gai ăn thịt 17
2.5 Tình hình nghiên cứu thiên địch trên lúa ở thế giới và trong nước 17
2.5.1 Tình hình nghiên cứu thiên địch trên lúa ở Thế giới 17
2.5.2 Tình hình nghiên cứu thiên địch trên lúa ở trong nước 18
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Phương tiện nghiên cứu 20
3.2 Phương pháp nghiên cứu 21
3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
3.2.2 Phương pháp điều tra thu thập và bảo quản mẫu 21
3.2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập mẫu 21
3.2.2.2 Phương pháp bảo quản mẫu 23
3.2.3 Phương pháp định danh 24
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 25
bàn thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang 25
4.2 Các loài thiên địch và nhện bắt mồi có ích thu thập được trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 37
37
38
38
Trang 104.2.4 Nhện chân dài bụng nhọn 38
4.2.5 Nhện linh miêu sọc lưng 40
4.2.6 Nhện linh miêu văn xiên 40
4.2.7 Nhện nhảy vằn lưng 41
41
4.2.9 Nhện lùn 41
41
4.2.11 Nhện vân lưng hình mác 42
4.2.12 Nhện lưới 42
42
4.2.14 Đuôi kìm đen 42
4.2.15 Chuồn chuồn kim vàng cam 43
4.2.16 Chuồn chuồn kim xanh lam 43
43
45
45
45
46
46
46
46
48
48
48
4.2.28 Kiến 3 khoang đen 48
49
49
51
51
51
Trang 1152
52
52
52
4.2.39 Ong cự vàng lưng 8 chấm đen 54
54
4.2.41 Ong cự vàng 54
4.2.42 Ong cự vàng 54
55
55
57
4 57
57
57
58
4.2.50 Ong đen 58
58
60
60
60
61
61
61
63
4.2.59 Ong đen ký sinh trứng bọ xít 63
4.2.60 Ong đen ký sinh trứng bọ xít 63
4.2.61 Ong xanh ký sinh trứng và nhộng 63
4.2.62 Ong xanh ký sinh trứng sâu đục thân 64
4.2.63 Ong đen kén trắng lập thể 66
4.2.64 Ong đen kén trắng 66
Trang 124.2.66 Ong chưa định danh 2 66
4.2.67 Ong chưa định danh 3 67
4.2.68 Ong chưa định danh 4 67
4.2.69 Ong chưa định danh 5 67
4.2.70 Ong chưa định danh 6 67
4.2.71 Ong chưa định danh 7 69
4.2.72 Ong chưa định danh 8 69
4.2.73 Ong chưa định danh 9 69
4.2.74 Ong chưa định danh 10 69
7.2.75 Ong chưa phân loại 11 70
4.2.76 Ong chưa định danh 12 70
4.2.77 Ong chưa định danh 13 71
4.3 Mật độ thiên địch và chỉ số đa dạng sinh học trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 72
4.3.1 Mật độ thiên địch trên ruộng điều tra 72
4.3.2 Chỉ số đa dạng sinh học trên ruộng điều tra 73
4.4 Bảo quản các loài thiên địch trên ruộng lúa ở địa bàn thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang 74
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
5.2 Khuyến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 13DANH SÁCH BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Thời tiết, khí hậ 10
26
Bảng 4.2: Phương thức khống chế sâu hại và mức độ phổ biến của thiê Xuyên tỉnh An Giang 32
Biểu đồ 4.1: Thể hiện cơ cấu thành phần loài giữa các bộ côn trùng thiên địch 37
Biểu đồ 4.2: Mật độ thiên địch trong suốt vụ 72
Biểu đồ 4.3: Chỉ số đa dạng sinh học Simpson của thiên địch trên lúa 73
Trang 14DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cấu tạo chung cơ thể côn trùng 6
Hình 2.2: Cấu tạo râu đầu côn trùng 7
Hình 2.3: Sự phân đốt của chân côn trùng 8
Hình 2.4: Bọ rùa đỏ 11
Hình 2.5: Bọ rùa 8 chấm 11
Hình 2.6: Bọ cánh cứng 3 khoang 12
Hình 2.7: Nhện nhảy 12
Hình 2.8: Ong đen ký sinh sâu đục thân hai chấm 13
Hình 2.9: Ong đen ký sinh trứng rầy lúa 13
Hình 2.10: Ong ký sinh trứng và nhộng 14
Hình 2.11: Ong ký sinh trứng và nhộng 14
Hình 2.12: Ong cự ký sinh sâu non 15
Hình 2.13: Ong đen ký sinh sâu cuốn lá nhỏ 15
Hình 2.14 : Ong kén nhỏ ký sinh sâu cuốn lá 16
Hình 2.15: Bọ xít nước 16
Hình 2.16: Bọ xít gai ăn thịt 17
Hình 3.1: Vợt bắt côn trùng 20
Hình 3.2: Kính soi nổi 20
Hình 3.3: Ống trữ mẫu côn trùng 20
Hình 3.4: Kính lúp 20
Hình 3.5: Sơ đồ lấy chỉ tiêu 22
Hình 3.6: Thu mẫu bằng vợt 22
Hình 3.7: Thu mẫu bằng khay có chứa dung dịch xà phòng 23
23
37
39
39
39
Trang 1540
40
40
40
40
44
44
44
44
44
44
44
47
47
47
47
47
47
Hì 47
Hình 4.25: Bọ rùa đỏ và ấu trùng 50
Hình 4.26: Bọ rùa 6 chấm và ấu trùng 50
50
50
Hình 4.29: Kiến chân chạy 50
50
53
53
53
Hình 4.34: Ruồi bắt mồi 53
53
Trang 1653
53
Ong cự vàng lưng 8 chấm đen 56
56
56
Hình 4.42: Ong vàng ký sinh sâu đục thân 56
56
56
59
59
59
59
59
59
59
Cheiloneus sp.2 62
62
62
62
62
62
65
65
Hình 4.60: Ong đen ký sinh trứng bọ xít 2 65
65
Hình 4.62: Ong xanh ký sinh trứng sâu đục thân 65
Hình 4.63: Ong đen kén trắng lập thể 68
68
Ong chưa định danh 68
Ong chưa định danh 68
Trang 17Ong chưa định danh 68
Ong chưa định danh 68
Ong chưa định danh 68
Ong chưa định danh 71
72: Ong chưa định danh 71
nh 4.73: Ong chưa định danh 71
74: Ong chưa định danh 71
75: Ong chưa định danh 71
76: Ong chưa định danh 72
77: Ong chưa định danh 72
Hình 4.78: Bộ mẫu các loài thiên địch trên lúa 76
Trang 19CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở nước ta sản xuất lúa đang giữ vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp Lúa được trồng rất phổ biến ở nhiều nơi trong cả nước Tuy nhiên năng suất lúa bình quân còn thấp và có sự chênh lệch giữa các vùng miền Có nhiều nguyên nhân gây ra sự chênh lệch đó như giống, biện pháp canh tác, sâu bệnh,… Trong đó sâu bệnh là đối tượng thường xuyên xuất hiện gây hại năng suất, chất lượng lúa
Kiểm soát sâu hại bằng biện pháp sinh học liên quan tới việc sử dụng các thiên địch (kẻ thù tự nhiên) của sâu hại để kiểm soát chúng, thay vì sử dụng hóa chất chẳng hạn như thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ Đó là việc dùng côn trùng hữu ích để kiểm soát côn trùng gây hại, giống như các biện pháp kiểm soát sâu hại khác, các thiên địch giúp giảm những loài không được mong muốn Tuy nhiên tác động tới môi trường của biện pháp kiểm soát sinh học ít hơn so với các phương pháp kiểm soát sâu hại khác do thiên địch không làm ô nhiễm đất hoặc nước, cũng không để lại dư lượng thuốc BVTV Ngoài ra, sâu hại không kháng lại thiên địch như đối với thuốc trừ sâu Nghiên cứu khai thác sử dụng thiên địch tự nhiên để phòng chống sâu hại là một hướng quan trọng trong phát triển biện pháp sinh học phòng chống sâu hại Đồng thời đây cũng là một nguyên tắc mang tính chủ đạo của hệ thống biện pháp phòng chống dịch hại tổng hợp (IPM) và là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái (Phạm Văn Lầm, 2002)
An Giang là một trong những tỉnh sản xuất lúa lớn nhất của cả nước, là tỉnh đi đầu trong công tác áp dụng những tiến bộ Khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa Mô hình sinh thái “ruộng lúa bờ hoa” được thí điểm ở nhiều nơi đã đạt được nhiều kết quả, nhằm duy trì sự đa dạng sinh học của quần thể thiên địch trên ruộng lúa Bên cạnh
đó, do trình độ nhận thức cũng như tập quán canh tác lúa của nông dân sử dụng nhiều thuốc hóa học trong phòng trừ dịch hại đã ảnh hưởng đến sự đa dạng thành phần loài thiên địch trên lúa Để tìm hiểu sự đa dạng thành phần loài thiên địch trên ruộng lúa
một cách có hệ thống đề tài: “Thu thập và bảo quản mẫu quần thể thiên địch trên ruộng lúa vụ Thu Đông 2014 tại thành phố Long Xuyên, An Giang”, nhằm mục
đích phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu về thành phần các loài thiên địch xuất hiện trên ruộng lúa
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Thu thập được các loài thiên địch xuất hiện trên ruộng lúa vụ Thu Đông 2014 tại vùng chuyên canh lúa, thành phố Long Xuyên, An Giang
Bảo quản được các mẫu quần thể thiên địch để làm nguồn tư liệu phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu
Trang 201.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Điều tra thành phần quần thể thiên địch trên cây lúa vụ Thu Đông 2014 trên địa bàn
xã Mỹ khánh và phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang
Định danh tên Khoa học, Họ, Bộ của các loài thiên địch xuất hiện trên ruộng lúa
1.4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Đề tài được tiến hành từ tháng 09/2014 đến 12/2014 Vụ Thu Đông tại Tp Long Xuyên, An Giang
Trang 21CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔN TRÙNG
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2009), côn trùng thuộc ngành tiết túc hay chân khớp (Arthropoda), ngành này gồm những động vật có những đặc điểm như sau:
- Cơ thể phân đốt, hai đến ba đốt, thường kết hợp lại thành những vùng chuyên biệt
- Cơ thể đối xứng song phương
- Các đốt thường mang các chi phụ
- Vách da cơ thể là bộ xương ngoài có cấu tạo Chitine và vách da này thường được thay thế bằng một lớp da mới khi côn trùng lớn lên nhờ các hiện tượng lột xác
- Hệ tuần hoàn hở
- Hệ thần kinh gồm có não ở trên đầu và chuỗi thần kinh bụng
- Hệ bài tiết bao gồm chủ yếu là ống Malpighi
Do thuộc nhóm động vật có máu lạnh, nhiệt độ cơ thể có thể biến đổi theo nhiệt độ của môi trường chung quanh, do đó côn trùng có thể sống sót được dễ dàng trong những điều kiện khí hậu bất lợi, khi nhiệt độ môi trường giảm, nhiệt độ cơ thể côn trùng cũng giảm, đưa đến hiện tượng là các quá trình sinh lý cũng giảm thấp (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
Ngoài những đặc điểm trên côn trùng còn có khả năng sinh sản rất cao, một con côn trùng có thể đẻ từ vài trứng đến hàng nghìn trứng Kết quả khảo sát của ngành địa chất học và hóa thạch học cho thấy côn trùng đã xuất hiện trên trái đất từ 350 triệu
Trang 22năm trước đây và trong suốt thời gian này chúng đã tiến hóa không ngừng trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
Vai trò thiên địch của côn trùng trong việc hạn chế và tiêu diệt những loài gây hại cũng đã được biết rất nhiều trong những năm qua, đặc biệt là trong thời gian gần đây khi quan điểm về biện pháp phòng trừ sinh học và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
đã được xem là chiến lược đối phó với các loài dịch hại trên cây trồng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
2.1.2 Vai trò của thiên địch
Có rất nhiều loài côn trùng, nhện có ích và có các bệnh hại những côn trùng có hại cho cây trồng (lúa, các loại rau màu và cây ăn trái,…), các loài có ích thường hạn chế những côn trùng có hại, đặc biệt là những nơi tránh dùng thuốc trừ sâu một cách rộng rãi Nếu không có các loài có ích, thì các côn trùng có hại sẽ phát triển nhanh đến mức chúng có thể ăn trụi cả cây lúa (B.M Shepard, A.T Barrion và I.A Litsinger 1989)
Thành phần côn trùng, thiên địch rất phong phú, hiện diện khắp mọi nơi, gần như nơi nào có côn trùng gây hại là đều có sự hiện diện của các loài côn trùng thiên địch (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
Thiên địch có ba nhóm chính:
+ Nhóm côn trùng thiên địch sống ký sinh trên những loài gây hại khác, có thể
kể đến các loài ong ký sinh thuộc các họ Trichogrammatidae, Braconidae,
Chalcididae, Ichneumanidae,… Hiện nay, các loài ong mắt đỏ Trichogamma đã được
nuôi nhân với số lượng lớn và sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới để phòng trừ ít nhất là 28 loài sâu gây hại trên bắp, lúa, mía, bông vải, rau màu, củ cải đường, cây ăn trái, cây thông,… (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
+ Nhóm côn trùng thiên địch (bắt mồi ăn thịt): Một số thiên địch như một vài loài nhện, bọ cánh cứng tìm các cây có mồi như bọ rầy xanh hút lá, bọ rầy hút thân cây, bướm và sâu non của sâu đục thân và sâu xanh (B.M Shepard, A.T Barrion và I.A Litsinger, 1989), các loài thiên địch khác, như bọ niễng sống trên mặt nước của ruộng lúa Khi các loài sâu hại như bọ rầy, sâu non sâu đục thân, sâu cuốn lá,…rơi xuống nước sẽ bị bọ niễng, bọ xít nước ăn thịt và các loài thiên địch tương tự tấn công (B.M Shepard, A.T Barrion và I.A Litsinger 1989) Có thể nói không có gì
mà con người làm có thể so sánh với tác động của côn trùng thiên địch Với nhiều ưu điểm nổi trội so với việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật để phòng trừ dịch hại, trong 3 thập kỷ qua đã có một sự gia tăng vượt bậc về các công trình nghiên cứu và ứng dụng côn trùng thiên địch trong phòng trừ sinh học (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
+ Nguồn bệnh có ích: Nhiều sinh vật khác nhau có thể gây bệnh và tiêu diệt sâu hại lúa Các nhóm chủ yếu là nấm, virus và vi khuẩn Tuyến trùng và một số vi
Trang 23sinh vật có ích khác cũng có lợi cho việc hạn chế một số loài gây hại trong nông nghiệp (B.M Shepard, A.T Barrion và I.A Litsinger, 1989)
2.2 HÌNH THÁI CÔN TRÙNG
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2009), côn trùng là động vật phân đốt, cơ thể côn trùng
do 18 – 20 đốt nguyên thủy tạo nên, các đốt này tập hợp thành ba phần rõ rệt: đầu, ngực và bụng
- Đầu là một khối đồng nhất, trên đầu có mắt, râu đầu và các bộ phận của miệng
- Ngực gồm ba phần: ngực trước, ngực giữa và ngực sau Mỗi phần mang một đôi chân ngực, ngực giữa và ngực sau mỗi phần còn mang một đôi cánh
- Bụng được cấu tạo bởi 12 đốt nhưng các đốt trong quá trình tiến hóa thường gắn chặt vào nhau nên người ta chỉ quan sát được từ 8 đến 11 đốt Phần bụng thường không mang các bộ phận di chuyển nhưng thường mang các phụ bộ ở cuối bụng
2.2.1 Sự phân đốt
Theo Nguyễn Viết Tùng (2006), mỗi đốt bụng cơ bản gồm hai phiến cứng (sclerites): phiến lưng và phiến bụng Hai phiến này được nối liền với nhau bởi vùng màng nằm hai bên cơ thể Các phiến lưng hoặc các phiến bụng còn được nối liền với nhau bởi các màng giữa đốt Nhờ những vùng màng này mà côn trùng có thể co dãn, cử động
dễ dàng
Các phiến lưng và phiến bụng không phải là những phiến bằng phẳng mà phần cuối phía trước của những phiến này thường được xếp thành từng lớp vào phía trong của vách da tạo thành những chóp nổi ở phía trong cơ thể và một đường nối hiện diện ở phía ngoài được gọi là đường nối Antecostal Phần vành hẹp ở phía trên phiến lưng, nằm ở phía trước đường nối Antecostal được gọi là Acrotergite và tương tự, phần vành hẹp ở phía trên của phiến bụng được gọi là Acroternite Những chóp nối bên trong cơ thể được tạo bởi đường nối Antecostal là chỗ cho các hệ cơ bám bên trong
cơ thể
Sự phân đốt ở phần ngực khá khác biệt với phần bụng Sự khác biệt này có liên quan tới sự hiện diện của chân và cánh ở phần ngực Mỗi đốt ngực, ngoài phiến lưng, phiến bụng chính còn có các phiến bên Phiến lưng và phiến bụng ở phần ngực phức tạp hơn ở phần bụng Ở côn trùng thuộc lớp phụ có cánh, mỗi phiến có một đường nối kéo dài từ cuối chân của côn trùng lên phía trên Đường nối này tạo thành những chóp nổi bên trong cơ thể, ngoài ra cũng có nhiều đường nối khác trên các phiến lưng ngực giữa, ngực cuối và ở trên các phiến bụng, tạo thành nhiều vùng trên các phiến này (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
Theo Nguyễn Viết Tùng (2006), thì lớp côn trùng có thể dễ dàng phân biệt với các đặc điểm sau đây:
Trang 24- Cơ thể phân đốt dị hình và chia làm ba phần rõ rệt là đầu, ngực và bụng (Hình 2.1)
- Đầu mang một đôi râu đầu
(anten), một đôi mắt kép, 2 – 3 mắt
đơn và bộ phận miệng
- Ngực gồm ba đốt, mỗi đốt
mang một đôi chân, do đó côn
trùng còn có tên là lớp sáu chân
Hexapoda Ở phần lớn côn trùng
trưởng thành, trên đốt ngực giữa
và đốt ngực sau mang hai đôi
cánh
- Bụng gồm nhiều đốt,
không mang cơ quan vận động, ở
phía cuối có lỗ hậu môn, cơ quan
sinh dục ngoài và lông đuôi
- Lớp biểu bì: lớp ngoài cùng có cấu tạo chitine, protein và sắc tố
- Lớp tế bào nội bì: nằm phía dưới lớp biểu bì và tiết ra các chất tạo nên lớp biểu bì
- Màng đáy: là một lớp màng mỏng không có cấu tạo tế bào, nằm sát ngay dưới lớp tế bào nội bì
2.2.3 Đầu và cấu tạo đầu
2.2.3.1 Cấu tạo đầu
Đầu là phần trước của cơ thể mang mắt, râu đầu và miệng Dạng đầu thay đổi rất nhiều tùy theo các loại côn trùng nhưng nói chung phần đầu rất cứng so với các phần khác của cơ thể Đa số côn trùng có một đôi mắt kép khá lớn nằm hai bên lưng đầu
và phần lớn côn trùng ngoài hai mắt kép cũng có ba mắt đơn nằm ở phần trên đầu giữa hai mắt kép Bề mặt của đầu được chia thành từng khu vực nhờ những ngấn, các ngấn này cũng thay đổi rất nhiều trên từng nhóm côn trùng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
Hình 2.1: Cấu tạo chung cơ thể côn
trùng
(Nguồn: Nguyễn Viết Tùng, 2006)
Trang 252.2.3.2 Chi phụ của đầu
* Râu đầu
Gồm cơ bản các đốt như sau:
- Đốt chân râu (scape): mọc từ ổ chân râu, ổ chân râu thường nằm ở vị trí khoảng giữa hai mắt kép thuộc khu trán
- Đốt cuống râu (pedicel): thường ngắn và thường mang các cơ quan cảm giác
- Đốt roi râu (flagellum): đốt này thường phân thành nhiều đốt nhỏ, hình dạng roi râu rất thay đổi tùy theo các nhóm côn trùng
Nói chung ở hầu hết côn trùng, râu đầu có thể cử động dễ dàng nhờ có hệ thống cơ thịt điều khiển sự hoạt động của râu nằm ở phía đốt chân râu và cuống râu
Chức năng chủ yếu của râu đầu là cơ quan xúc giác và khứu giác, đôi khi râu đầu cũng là cơ quan thính giác (muỗi đực), (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
Hình dạng và kích thước râu đầu thay đổi rất nhiều tùy loại côn trùng, ngay trong cùng một loài, hình dạng và kích thước râu đầu có thể khác nhau giữa con đực và con cái Đặc điểm này cũng được sử dụng rất nhiều trong công tác phân loại và phân biệt con đực và con cái (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
Hình 2.2: Cấu tạo râu đầu côn trùng
(Nguồn: Nguyễn Viết Tùng, 2006)
* Miệng
Nói chung miệng côn trùng gồm 5 phần: môi trên, đôi hàm trên, đôi hàm dưới, môi dưới và lưỡi Các bộ phận này cũng thay đổi rất lớn ở các bộ, họ côn trùng Vì vậy cấu tạo của miệng cũng là một tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến trong công tác phân loại Từng kiểu hình của miệng cho phép xác định được tính ăn của côn trùng cũng như cách phá hại của chúng trên cây trồng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
Trang 26Có thể phân thành hai kiểu miệng chính: miệng gậm nhai và miệng hút Miệng gậm nhai là loại miệng nguyên thủy, các kiểu miệng khác đều từ miệng gậm nhai biến hóa thành (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
là cánh sau Bộ phận ngực có độ hóa cứng khá cao (Nguyễn Viết Tùng, 2006)
Mỗi đốt ngực có thể cấu tạo bởi bốn mảnh cứng (sclerites): mảnh lưng (notum); hai mảnh bên (pleura) và mảnh bụng (sternit)
2.2.4.2 Chi phụ của ngực
Chân ngực
Là chi phụ, phân đốt điển hình của côn trùng với các đốt cơ bản như: đốt chậu (coxa), đốt chuyển (trochanter), đốt đùi (femur), đốt chày (tibia), đốt bàn (tarsus) và đốt cuối bàn (móng, vuốt)
Hình 2.3: Sự phân đốt của chân côn trùng
(Nguồn: Nguyễn Viết Tùng, 2006)
Côn trùng có rất nhiều dạng chân khác nhau, sau đây là một số dạng chân ngực phổ biến: Chân chạy, chân nhảy, chân bắt mồi, chân đào bới, chân bơi và chân lấy hạt phấn
Trang 27Cánh và cấu tạo của cánh
Cánh côn trùng không phải là chi phụ (như cánh của chim, dơi) mà là phần kéo dài ra hai bên của mảnh lưng ngực Sự phát triển của cánh thay đổi rất nhiều qua các bộ côn trùng, đôi khi cánh xuất hiện bên ngoài cơ thể, phát triển từ từ và lớn lên, qua mỗi lần lột xác (như cào cào, ), nhưng cũng có khi cánh lại xuất hiện thình lình ở giai đoạn nhộng (bướm hoặc bọ hung) (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
Có một sự thay đổi rất lớn trong hệ thống mạch cánh ở các bộ, họ côn trùng Dựa trên những sự tương đồng của các mạch cánh, một hệ thống mạch cánh mang tính nguyên thủy giả thuyết đã được xây dựng bởi Comstock và Needham
Hệ thống mạch cánh các côn trùng gồm có các mạch dọc và mạch ngang:
- Mạch dọc: Là gân cánh chạy từ gốc cánh theo chiều dọc của cánh ra phía mép cánh Gân ngang là gân ngắn nối liền ngang giữa hai gân dọc Gân dọc và gân ngang đều có tên gọi nhất định
- Mạch ngang: Là những mạch ngắn nối liền ngang giữa hai mạch dọc Tùy theo vị trí mà từng gân ngang có tên gọi khác nhau
Chức năng chủ yếu của cánh là di chuyển kiếm ăn, bắt cặp, đẻ trứng, trốn tránh kẻ thù và giúp cho côn trùng phát tán đi cùng khắp nơi trên thế giới Bên cạnh những chức năng đó, cánh của một số loại côn trùng lại có một vài chức năng đặc biệt khác,
ví dụ: cánh của ong mật có thể được sử dụng để giúp ong điều chỉnh được nhiệt độ
cơ thể, tăng nhiệt độ trong tổ hoặc thoát hơi nước (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
2.2.5 Cấu tạo bụng
Gồm 11 đốt nhưng đốt thứ 10 thường không quan sát thấy được và được thay thế bởi các chi phụ, vì vậy số đốt cao nhất quan sát được ở phần bụng ít khi lớn hơn 10 đốt Nhiều loài côn trùng số đốt bụng rất ít, như bụng ruồi chỉ có năm đốt, và đa số thành trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) chỉ có sáu đốt bụng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009) Mỗi đốt bụng được cấu tạo chủ yếu bởi hai mảnh cứng: một mảnh lưng (tergum) và một mảnh bụng (sternum) có kích thước nhỏ hơn, vùng bên (pleural) đa số là vùng màng, đôi khi cũng có một số chỗ cứng ở vùng này Mỗi đốt bụng đều mang một đôi
lỗ thở ở hai bên (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
Ngoài ra, đốt thứ tám và thứ chín của bụng cũng mang những chi phụ, và những chi phụ này gọi là bộ phận sinh dục ngoài của côn trùng, ở con đực, đó là những bộ phận
có liên quan đến vấn đề giao phối và thụ tinh con cái Ở con cái đó là bộ phận đẻ trứng
Trang 282.3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ THỜI TIẾT KHÍ HẬU VÙNG NGHIÊN CỨU
An Giang thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, có diện tích 3406 km2, phía Đông
và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp; Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia; Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang; Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ
Đường biên giới dài gần 100 km
An Giang có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi Đồng bằng ở đây do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên, bao gồm đồng bằng phù sa khá bằng phẳng,
có độ nghiên nhỏ và độ cao tương đối thấp; và đồng bằng ven núi có nhiều bậc thang
Max (mm)
Trang 292.4 ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ LOÀI THIÊN ĐỊCH QUAN TRỌNG TRÊN LÚA
2.4.1 Bọ rùa đỏ
Tên khoa học: Micraspis sp
Họ: Coccinellidae
Bộ: Coleoptera
Mô tả: Là một loài bọ rùa điển hình,
hình ovan, màu đỏ chói đậm hoặc
nhạt Bọ rùa hoạt động vào ban ngày
trên ngọn cây lúa ở môi trường đất
cạn cũng như đất ẩm ướt
Cả trưởng thành và sâu non đều ăn
bọ rầy cũng như sâu non và trứng
2.4.2 Bọ rùa 8 chấm
Tên khoa học: Harmonia octomaculata (F.)
Họ: Coccinellidae
Bộ: Coleoptera
Mô tả: Bọ rùa có lốm đốm trên lưng và
bắt những con mồi di chuyển chậm
khi bị đụng đến con trưởng thành sẽ
nhanh chóng rụng khỏi cây hoặc bay đi
Một con bọ rùa mất 1 – 2 tuần để phát
triển từ trứng thành trưởng thành
Trưởng thành cái có thể sản sinh 150 –
200 con sâu non trong 6 – 10 tuần Sâu
non của bọ rùa phàm ăn hơn trưởng
thành và mỗi ngày chúng ăn 5 – 10 con
mồi (trứng, sâu non và thành trùng)
Hình 2.4: Bọ rùa đỏ
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Hình 2.5: Bọ rùa 8 chấm
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Trang 302.4.3 Bọ cánh cứng 3 khoang
Tên khoa học:Ophionea nigrofasciata (S.)
Họ: Carabidae
Bộ: Coleoptera
Mô tả: Bọ cánh cứng ba khoang là loại
côn trùng thân cứng hoạt động mạnh
Cả sâu non có màu đen bóng và trưởng
thành có màu nâu đỏ đều tích cực tìm
sâu cuốn lá hại lúa Ta có thề tìm thấy
bọ cánh cứng ba khoang trong ổ sâu
cuốn lá lúa Sâu non của thiên địch hóa
nhộng dưới đất ở vùng trồng lúa cạn
hoặc trong các bờ ruộng lúa nước
Khả năng ăn mồi: Mỗi một con thiên
địch phàm ăn, ăn 3 – 5 con sâu non một ngày, chỉ để lại đầu Con trưởng thành cũng tìm bọ rầy và ve để làm mồi
2.4.4 Nhện nhảy
Tên khoa học: Phidippus sp
Họ: Salticidae
Bộ: Araneae
Mô tả: Nhện nhảy có các mắt lồi,
không giống nhện Lycosa, khi bị động
chúng di chuyển không nhanh Thân
nhện nhảy có lông nâu Trứng có hình
thoi, dài có tơ mịn và nằm bên trong
một lá cuốn Chúng sống 2 – 4 tháng
Nhện nhảy thích sống ở vùng đất khô
và trên lá lúa Mồi của chúng là rầy
xanh và các loài côn trùng nhỏ khác
Khả năng ăn mồi: 2 – 8 con mồi mỗi
ngày
Hình 2.6: Bọ cánh cứng 3 khoang
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Hình 2.7: Nhện nhảy
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Trang 312.4.5 Ong đen ký sinh sâu đục thân hai chấm
Tên khoa học: Telenomus rowani (G.)
Họ: Scelionidae
Bộ: Hymenoptera
Mô tả: Ong có màu đen, tấn công
trứng của sâu đục thân 5 vạch và sâu
đục thân hai chấm, có nhiều trong
ruộng lúa khô cũng như ruộng lúa
nước Thời kì phát triển từ trứng đến
trưởng thành mất 10 – 14 ngày và khi
ong nở tạo thành những lỗ giống như
đường xuyên của viên đạn trên ổ trứng
có phủ lông
Trứng rất nhỏ, hình bầu dục, màu
trắng, thời gian ủ trứng từ 4 – 7 ngày
Ong cái Telenomus tìm bướm cái và bám vào lông bụng ký chủ Như vậy bướm sâu đục thân cõng luôn cả ong đến nơi chúng đẻ trứng Ong Telenomus đẻ trứng vào
trứng sâu đục thân vừa đẻ xong chưa kịp phủ lông
Khả năng ký sinh: Một con ong cái kí sinh 20 – 40 trứng và sống 2 – 4 ngày hoặc lâu
hơn nếu như có dịch mật Cả ong Tetrastichus và ong Telenomus đều có thể ký sinh
trên một ổ trứng nhưng không phải trên cùng một quả trứng
2.4.6 Ong ký sinh trứng rầy lúa
Tên khoa học: Gonatocerus spp
Họ: Mymaridae
Bộ: Hymenoptera
Mô tả: là loài ong nhỏ có cánh như
tay chèo có lông dài ở mép Chúng
ký sinh trứng của rầy xanh lẫn rầy
nâu Ong trưởng thành có màu
vàng đậm đến màu nâu, eo ngắn
Râu con đực có 13 đốt, râu con cái
có 11 đốt Con cái có thể sinh sản
mà không cần con đực giao phối
Chúng dùng râu tìm trứng ký chủ
Khi cho trứng ký chủ con cái nâng
người lên chích vòi dẫn trứng vào
trứng ký chủ và đẻ vào mỗi trứng ký chủ một con ong Trứng bị ký sinh chuyển
Hình 2.8: Ong đen ký sinh sâu đục thân
hai chấm
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Hình 2.9: Ong đen ký sinh trứng rầy lúa
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Trang 32đến trưởng thành mất 11 – 17 ngày Ong sống 6 – 7 ngày và ký sinh trung bình mỗi ngày 08 trứng
2.4.7 Ong ký sinh trứng và nhộng
Tên khoa học: Trichomalopsis apanteloctena (C.)
Họ: Pteromalidae
Bộ: Hymenoptera
Mô tả: Ong xanh mắt đỏ là loài ong
có bàn chân năm đốt, gân cánh bị
thoái hóa và thân bị rỗ Ong có màu
xanh kim loại, mắt đỏ, chân vàng và
râu ngắn Loài ong ký sinh này sống
bằng trứng của sâu đục thân (bướm
2 chấm đen) và nhộng của sâu cuốn
lá lớn, sâu đục thân 5 vạch đầu đen,
sâu đục thân 5 vạch đầu nâu Chúng
Mô tả: Ong cự là loài ong từ vừa
đến to, có hai đường gân chéo ở
cánh trước và có một ô cánh giữa
kéo dài đến gốc của gân mép Ở
cánh sau có màu đỏ và đen có một
băng trắng ở cuối bụng Loài ong
này thường xuất hiện ở ruộng
nước, chuyên ký sinh sâu đục thân
2 chấm và sâu đục thân bướm
mình trắng Chúng đẻ vào mỗi
trứng ký chủ một trứng ong Ong non nở trong ký chủ đã chết và làm kén bên trong
Hình 2.10: Ong ký sinh trứng và nhộng
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Hình 2.11: Ong ký sinh trứng và nhộng
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Trang 332.4.9 Ong cự ký sinh sâu non
Tên khoa học: Itoplectis narangae (A.)
Họ: Ichneumonidae
Bộ: Hymenoptera
Mô tả: Có kích thước vừa, đầu và
ngực đen, chân màu da cam, đuôi
bụng đen Đây là loài ong chuyên
săn mồi đơn độc, tìm mồi chủ yếu ở
ruộng nước, phần trên của tán lúa
Ong tìm sâu non ẩn náo sau bẹ lá
hoặc trong thân cây lúa Chúng ký
sinh sâu cuốn lá non, sâu đục thân 5
vạch đầu nâu, sâu đục thân bướm cú
mèo và sâu đo Mặc dù một con sâu
ký chủ có thể bị nhiều con ong ký
sinh, nhưng chỉ có thể nở ra một con ong cái Một con ong có thể đẻ 200 – 400 trứng trong thời gian 2 – 3 tuần
2.4.10 Ong kén nhỏ ký sinh sâu đục thân
Tên khoa học: Stenobracon nicevillei (B.)
đôi cơ thể của chúng Loài
ong này thường xuất hiện ở
ruộng khô, chúng tìm sâu đục
thân 2 chấm và sâu đục thân
bướm cú mèo Ống dẫn trứng
của chúng dài tạo điều kiện
cho chúng đẻ vào mỗi con sâu
đục thân nằm trong thân lúa
một quả trứng, từ mỗi trứng
ký chủ sẽ nở ra một ong ký
sinh
Hình 2.12: Ong cự ký sinh sâu non
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Hình 2.13: Ong đen ký sinh sâu cuốn lá nhỏ
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Trang 342.4.11 Ong đen ký sinh sâu cuốn lá nhỏ
Tên khoa học: Cardiochiles Philippines (A.)
Họ: Braconidae
Bộ: Hymenoptera
Mô tả: Là loài ong có kích thước
vừa phải, mập, màu đen Đuôi
cánh nhẫn hơn Chúng xuất hiện ở
ruộng khô và ruộng ngập nước để
tìm mồi sâu cuốn lá Ong chui vào
những lá bị cuốn và đẻ vào mỗi
con sâu cuốn lá một quả trứng
Ong non có màu trắng đục như
Mô tả: Là loài sống ở nước, thường tìm thấy ở các vùng có nước, to hơn bọ xít nước
ăn thịt, trưởng thành có màu xanh nhạt Bọ xít nước có hai dạng có cánh và không có cánh, là loài săn mồi đơn độc, ăn sâu non của sâu đục thân và bọ rầy khi bị rơi xuống nước
Hình 2.14 : Ong kén nhỏ ký sinh sâu cuốn lá
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Hình 2.15: Bọ xít nước
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion, and
J.A Litsinger, 1989)
Trang 352.4.13 Bọ xít gai ăn thịt
Tên khoa học: Polytoxus fuscovittatus (S.)
Bộ: Hemiptera
Họ: Reduviidae
Mô tả: Xuất hiện trên cả ruộng lúa
nước lẫn ruộng khô, trưởng thành có
màu nâu, có ba gai nhọn trên lưng
Chúng dùng vòi nhọn như kim để
chích độc tố ký sinh vào mồi, mồi của
chúng là sâu non của các loài bướm
đêm và bướm ngày
2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THIÊN ĐỊCH TRÊN LÚA Ở THẾ GIỚI
VÀ TRONG NƯỚC
2.5.1 Tình hình nghiên cứu thiên địch trên lúa ở Thế giới
Kẻ thù tự nhiên đóng vai trò rất lớn trong việc hạn chế số lượng sâu hại Trong đó có
ba nhóm quan trọng là: nhóm thiên địch bắt mồi, nhóm ký sinh và nhóm sinh vật gây bệnh cho sâu hại Sâu đục thân 2 chấm có nhiều thiên địch, đặc biệt là trứng của
chúng bị kí sinh tỷ lệ khá cao bởi một số loài ong Trong đó loài ong T.schoenobii là
đóng vai trò quan trọng nhất (Dale, 1994)
Số lượng loài thiên địch của các sâu đục thân lúa đã phát hiện được ở Philippine và Thái Lan tương ứng là 40 và 37 loài Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu và sâu đục thân lúa 2 chấm tương ứng trên thế giới đã ghi nhận 73 và 56 loài ký sinh Ấn Độ tương ứng là 19 và 56 loài; ở Philippine là 21 và 17 loài, ở Trung Quốc có 113 loài thiên địch (Phạm Văn Lầm, 2002)
Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ rất đa dạng, chúng có vai trò rất quan trọng trong việc làm giảm mật độ sâu cuốn lá nhỏ Theo Coppel (1977), đã kết luận các loài côn trùng bắt mồi nhện ăn thịt và côn trùng ký sinh có vai trò rất quan trọng trong đấu tranh sinh học
Tại Philippines có 83 loài bắt mồi ăn thịt, 55 loài ký sinh và sáu loài nấm tấn công
Hình 2.16: Bọ xít gai ăn thịt
(Nguồn: B.M Shepard, A.T Barrion,
and J.A Litsinger, 1989)
Trang 36trọng nhất Những loài bắt mồi ăn thịt thuộc giống Grylidae gồm Metioche và
Anaxipha ăn trứng và Ophionea spp ăn sâu non Các loài ký sinh quan trọng gồm Copidosomopsis nacoleiae, Cotesia angustibasis, Cardiochiles philippinensis và Macrocentrus cnaphalocrocis theo Barrion và ctv, (1991)
Thiên địch của rầy nâu rất đa dạng và phong phú Các loài nhện bắt mồi có vai trò quan trọng trong việc kìm hãm mật độ rầy nâu Nhiều nước ở vùng trồng lúa Đông Nam Á có 14 loài, đó là các loài bọ xít mù xanh, nhện sói vân đinh ba, bọ xít nước,
bọ rùa 8 chấm, bọ cánh cứng ngắn, nhện lớn chân dài hàm to, nhện linh miêu, các ong ngoại ký sinh, ruồi ký sinh (Nagarajan, 1994)
Các loài kí sinh rầy non và rầy trưởng thành đã được ghi nhận Chúng gồm 5 loài ong kiến (Dryinidae, Hymenoptera), một loài bọ cánh cuốn (Elenchidae, Strepsiptera) và một loài ruồi đầu to (Pipunculidae, Diptera) Nhìn chung rầy nâu ở pha rầy non và rầy trưởng thành bị ký sinh với tỷ lệ rất thấp Tỷ lệ ký sinh chung của các loài ong kiến (Dryinidae) thường chỉ đạt không quá 10% Do đó nhóm ký sinh này ít có ý nghĩa trong hạn chế số lượng rầy nâu (Chiu, 1979)
Heong và ctv (1991), ghi nhận có 46 loài ăn mồi thuộc nhóm bọ xít và nhện, 14 loài ong ký sinh các loài rầy gây hại trên ruộng lúa tại Philippines Theo Barion và ctv (1995), có trên 342 loài nhện đã được phát hiện trên các ruộng lúa tại Philippines và các nước khác ở vùng Đông Nam Châu Á
2.5.2 Tình hình nghiên cứu thiên địch trên lúa ở trong nước
Sâu hại lúa có rất nhiều kẻ thù tự nhiên Nhiều tác giả đã nghiên cứu thiên địch trên đồng lúa theo các khía cạnh khác nhau Theo Phạm Văn Lầm (1992), đã nghiên cứu sâu hại lúa có ít nhất 332 loài thiên địch, chúng thuộc 13 bộ, 52 họ, 201 giống của lớp côn trùng ký sinh, 167 loài côn trùng bắt mồi ăn thịt, 29 loài nhện lớn bắt mồi ăn thịt và 5 loài sinh vật gây bệnh
Theo Phạm Bình Quyền (2002), thành phần thiên địch trong hệ sinh thái ruộng lúa Đồng bằng sông Cửu Long khá phong phú, có 29 loài ký sinh, 186 loài côn trùng và nhện ăn thịt đã được thu thập
Nhện lớn bắt mồi ăn thịt là những thành viên thường xuyên có mặt trong hệ sinh thái ruộng lúa Mật độ quần thể của chúng ở đầu vụ thấp gia tăng trong thời kỳ lúa đẻ nhánh, thường đạt đỉnh cao vào giai đoạn lúa làm đòng – trỗ bông và đến cuối vụ mật
độ lại giảm thấp Một số loài nhện lớn bắt mồi ăn thịt thay đổi mật độ quần thể theo
sự thay đổi mật độ con mồi (đặc biệt các loài nhện sói họ Lycosidae, nhện bụng tròn
Dyschiriognatha,…) (Phạm Văn Lầm, 2002)
Trên đồng ruộng sâu đục thân 2 chấm cũng bị nhiều loài thiên địch tấn công Kết quả điều tra nghiên cứu của Phạm Văn Lầm (2000), đã ghi nhận được 25 loài thiên địch của sâu đục thân 2 chấm Các loài thiên địch quan trọng của sâu đục thân 2 chấm là các loài ong ký sinh sâu non và đặc biệt là ong ký sinh trứng Trong số các loài thiên
Trang 37đó có 8 loài ký sinh, 2 loài bắt mồi (Phạm Văn Lầm, 2002) Trên trứng sâu đục thân lúa 2 chấm đã ghi nhận được 7 loài ký sinh Trong đó ba loài rất phổ biến là ong đen mắt đỏ, ong xanh ăn trứng và ong đen (Phạm Văn Lầm, 2002)
Trong số các loài thiên địch đã phát hiện được của nhóm sâu đục thân lúa có khoảng
10 loài phổ biến Trong đó có tám loài là ký sinh và hai loài là bắt mồi Các loài Amauromorpha accepta schoenobii (Vier), Exoryza schoenobii (Wilk),
Metoposisyrops pyralidis (Rhich), Telenomus dignus (Gah.), Temelucha philippinensis (Ashm), Tetrastichus Schoenobii (Ferr), Trichogramma japonicum
(Ashm), Tropobracon schoenobii (Vier) là ký sinh và Pardosa pseudoanuulata (Boe
et Str.), Oxyopes javanus là loài bắt mồi (Phạm Văn Lầm, 2002)
Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ rất đa dạng và phong phú Theo Phạm Văn Lầm (2000), đã nghiên cứu sâu cuốn lá nhỏ có 72 loài thiên địch tấn công vụ mùa năm
1994 tại Gia Lâm, Hà Nội Theo Đặng Thị Dung (1995), đã thu thập được 12 loài bắt mồi ăn thịt trên cây lúa trong đó phổ biến là nhện sói, nhện linh miêu
Thiên địch của rầy nâu và rầy lưng trắng ghi nhận khoảng 84 loài Cho đến nay ở nước ta đã phát hiện được 65 loài côn trùng và nhện là những loài bắt mồi của rầy nâu và rầy lưng trắng Các loài bắt mồi phổ biến là bọ xít mù xanh, nhện sói vân đinh
ba, nhện sói bọc trứng trắng, nhện lớn hàm to bụng tròn, bọ rùa đỏ, bọ cánh cứng ngắn, bọ ba khoang 4 chấm trắng, bọ rùa 8 chấm, bọ xít nước, nhện lớn chân dài hàm
to và nhện linh miêu Phạm Văn Lầm (2000), đã ghi nhận được 14 loài ký sinh, 34 loài nấm và hai loài tuyến trùng gây bệnh cho rầy nâu
Trong điều kiện ở nước ta, đã ghi nhận có khoảng 20 loài thiên địch phổ biến của rầy nâu trên đồng lúa từ Đồng bằng Sông Hồng đến Đồng bằng Sông Cửu Long Có ít
nhất bốn loài ký sinh trên trứng rầy nâu là ong Anagrus flaveolus, Anagrus optabilis,
Gonatocerus sp., Oligosita sp Ba loài ngoại ký sinh trên lưng các rầy non và trưởng
thành là ong Haplogonatopus apicalis, Pseudogonatopus flavifermur, Pseudogonatopus hospes (Phạm Văn Lầm, 2009)
Kết quả của các thí nghiệm trong phòng cho thấy khả năng tiêu diệt rầy nâu của các loài bắt mồi ăn thịt không giống nhau, phụ thuộc vào từng loài bắt mồi ăn thịt, giai đoạn phát dục của chúng và cả giai đoạn phát dục của rầy nâu Trong điều kiện
phòng thí nghiệm, mỗi ngày bọ xít mù xanh trưởng thành C lividipennis có thể ăn
trung bình 12,9 – 22,7 trứng rầy nâu Mỗi bọ xít tuổi cuối trong 1 ngày chỉ tiêu thụ được 6,7 – 14,4 trứng rầy nâu (Phạm Văn Lầm, 2002)
Trang 38CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
Dụng cụ điều tra ngoài đồng:
+ Vợt côn trùng, khay nhựa;
+ Thước dây, túi nilon các cỡ, băng giấy dính, dao, kéo, túi xách điều tra; + Sổ ghi chép, bút viết, máy tính bỏ túi;
+ Ống tuýp, hộp petri, cồn 75 0;
+ Kính lúp cầm tay có cán
Thiết bị trong phòng thí nghiệm:
Kính lúp hai mắt sôi nổi côn trùng, kính hiển vi quang học có gắn máy ảnh kĩ thuật số;
Máy vi tính để bàn có kết nối mạng, máy in và các phương trình phần mềm có liên quan;
Hình 3.1: Vợt bắt côn trùng Hình 3.2: Kính soi nổi
Hình 3.3: Ống tuýp trữ mẫu côn trùng Hình 3.4: Kính lúp
Trang 393.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Thời gian điều tra và thu thập mẫu được tiến thành trong vụ Thu Đông
2014 từ tháng 9/2014 đến tháng 12/2014
Địa điểm thực hiện đề tài: Mẫu quần thể thiên địch thu được tại vùng chuyên canh cây lúa xã Mỹ Khánh và Phường Mỹ Hòa, Tp Long Xuyên, An Giang
3.2.2 Phương pháp điều tra thu thập và bảo quản mẫu
3.2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập mẫu
Điều tra thành phần thiên địch và nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa được thực hiện theo phương pháp quy chuần kĩ thuật quốc gia QCVN 01–166: 2014/BNNPTNT về điều tra và phát hiện dịch hại cây trồng (2014)
Thời gian điều tra và thu thập mẫu được tiến thành trong vụ Thu Đông 2014 từ tháng 9/2014 đến tháng 12/2014 Việc điều tra và thu thập quần thể thiên địch và nhện lớn bắt mồi trên lúa được tiến thành bằng các phương pháp bắt bằng tay, vợt và hứng khay dầu ở gốc lúa
* Điều tra định kì:
Tiến thành điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên không cố định điểm, thời gian điều tra 7 ngày/lần trên 3 ruộng lúa của nông dân để thu thập mẫu quần thể thiên địch tại hai xã Mỹ Khánh và Phường Mỹ Hòa, Tp Long Xuyên, An Giang
Ruộng điều tra về thành phần thiên địch và nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa được ứng dụng mô hình “1 phải 5 giảm”, mỗi ruộng có diện tích 2000 m2
Ruộng điều tra sử dụng cùng một giống lúa (giống OM 2514 nhiễm rầy nhẹ), làm đất cày bừa kỹ, đánh rảnh để thoát nước
* Kỹ thuật canh tác ruộng mô hình “1 phải 5 giảm”:
Trang 40+ Thất thoát sau thu hoạch: Sau 95 NSS tiến hành thu hoạch lúa bằng máy Điểm điều tra: Mỗi điều tra 10 điểm ngẫu nhiên trên đường chéo của khu vực điều tra Điểm điều phải cách bờ ít nhất 2 m
Hình 3.5: Sơ đồ lấy chỉ tiêu
Để thu thập thành phần tiên địch và nhện lớn bắt mồi của rầy nâu, thường xuyên tiến thành điều tra tự do thu thập các quần thể côn trùng phát hiện trên lúa bằng phương pháp: thu bằng vợt, đặt khay, bắt bằng tay
Thu mẫu bằng vợt:
- Dùng vợt để điều tra những loài
hoạt động nhanh nhẹn và ở trên bề mặt
lá lúa Kích thước: Cán vợt dài 120 cm
(bằng nhựa hay gỗ), đường kính miệng
vợt 40 cm và túi vợt dài 100 cm
- Cầm vợt ở gần cuối tay cầm
- Vợt nửa vòng tròn từ bên này
sang bên kia một góc 180 0 Luôn giữ
khung vợt vuông góc với mặt đất, để
đảm bảo vợt luôn mở hướng về phía
cần vợt Khi vợt, miệng vợt phải thẳng
đứng theo chiều cây lúa, vợt sang trái, kế sang phải, cố gắng vợt xuống sâu xuống dưới tán lá để thu được côn trùng sống trên lá Vợt xong lật úp mặt vợt xuống giữ côn trùng có cánh không thoát ra ngoài Giữ côn trùng bắt được vào một bao ni lông, buộc chặt miệng bao ni lông Đưa về phòng thí nghiệm lưu giữ và phân loại
Thu mẫu bằng khay
Cách thu mẫu bằng khay: Dùng khay nhựa có chứa dung dịch xà phòng có kích thước 20 cm x 20 cm x 5 cm đặt nghiên một góc 45 0
với gốc lúa rồi đập 2 đập vào khóm lúa, dùng để thu thập các loài thiên địch di chuyển và ẩn náo dưới gốc lúa
Hình 3.6: Thu mẫu bằng vợt