1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố long xuyên, tỉnh an giang

76 720 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 902,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giảm bớt tính khô khan, nhàm chán và khắc phục những khuyết điểm của bộ môn GDCD, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các bài giảng giúp giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian tro

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TỪ THỊ THANH MỴ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

AN GIANG, 2011

Trang 2

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TỪ THỊ THANH MỴ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

GVHD: THS TRẦN ĐÌNH PHỤNG

AN GIANG, 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

XY ZW

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn cùng khóa học Với lòng kính trọng và sự tri ân sâu sắc tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Trường Đại học An Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực tập sư phạm và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình

Khoa Lý luận chính trị - nơi truyền đạt cho tôi những tri thức trong suốt quá trình học tập Đó không chỉ là nền tảng cho quá trình tôi nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời một cách vững vàng và tự tin

Thạc sĩ Trần Đình Phụng, người đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Các trường THPT trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang: Trường THPT Thoại Ngọc Hầu, THPT Long Xuyên, THPT Bình Khánh, THPT IShool Long Xuyên, THPT Mỹ Thới cùng tất cả các quý thầy

cô, các em học sinh đã tận tình hợp tác, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát và thu thập tài liệu tại trường

để tôi có thể hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp

Chân thành cám ơn đến tất cả quý thầy cô, bạn bè trong Khoa Lý luận chính trị đã không ngừng động viên, chia sẻ những kinh nghiệm quý báu, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

AN GIANG, THÁNG 5 /2011 SINH VIÊN

TỪ THỊ THANH MỴ

Trang 4

Trang MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG 4

1.1 Đặc thù môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông .4

1.1.1 Vị trí và nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông 4

1.1.1.1 Vị trí của môn Giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông 4

1.1.1.2 Nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông 5

1.1.2 Đặc thù tri thức môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 8

1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 12

1.2.1 Công nghệ thông tin 12

1.2.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin 12

1.2.1.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 16

1.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 18

1.2.2.1 Giáo án điện tử 18

1.2.2.2 Bài giảng điện tử 18

1.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang 19

1.3.1 Quan điểm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 19

Trang 5

tỉnh An Giang 23

1.3.2.1 Những thành tựu và nguyên nhân của những thành tựu 26

1.3.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 28

CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG 31

2.1 Xây dựng cơ sở vật chất cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân 31

2.1.1 Xây dựng thư viện tư liệu điện tử 31

2.1.2 Xây dựng quy trình thiết kế bài giảng điện tử 34

2.1.3 Đầu tư trang thiết bị phục vụ hoạt động ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học 42

2.2 Phối hợp ứng dụng công nghệ thông tin trong việc sử dụng các phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân 44

2.2.1 Phương pháp trực quan 44

2.2.2 Phương pháp thuyết trình 46

2.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm 47

2.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (phương pháp tình huống) 49

2.3 Đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học .50

2.3.1 Tăng cường các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo giáo viên môn Giáo dục công dân 50

2.3.2 Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng giáo viên nâng cao kỹ năng ứng dụng Công nghệ thông tin 52

2.3.3 Tổ chức những hội thi thiết kế bài giảng điện tử, trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học 53

2.4 Một số kiến nghị trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân 55

KẾT LUẬN 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

XY ZW

BGD & ĐT: BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

GAĐT: GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ

GDCD: GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Trang 7

1 Lí do chọn đề tài

Đã từ rất lâu, môn GDCD bị xem là "môn phụ" nên tình trạng học sinh học với tinh thần uể oải, đối phó, hầu như không lắng nghe bài giảng, không ghi bài, ít phát biểu là phổ biến, cộng thêm xu hướng ngày nay học sinh chạy theo các môn khoa học

tự nhiên ngày càng mạnh mẽ, nhất là học sinh ở thành thị, coi môn GDCD như một môn điều kiện thi để qua Tuy được xác định là môn học rất quan trọng trong trường phổ thông nhưng trong thực tế lại chưa thật sự được quan tâm đúng mức cả trong việc học tập và giảng dạy Vì vậy, chất lượng học tập của học sinh còn nhiều hạn chế Nguyên nhân chủ yếu là do cách thức và phương pháp truyền đạt của giáo viên còn hạn chế, xuất phát từ tính đặc thù của bộ môn

Với quan điểm xem giáo dục là quốc sách hàng đầu Những năm qua việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa được thực hiện khá đồng bộ Việc đổi mới nội dung, chương trình yêu cầu phải đổi mới PPDH Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải sử dụng phương tiện dạy học phù hợp và CNTT là một trong những phương tiện quan trọng góp phần đổi mới PPDH bằng việc cung cấp cho giáo viên những phương tiện làm việc hiện đại Cho đến nay, phải nói rằng không một ai nghi ngờ về vai trò to lớn và những tác dụng kỳ diệu của CNTT trong các lĩnh vực của đời sống Trong giáo dục, việc ứng dụng CNTT trên thực tế cũng đã đem lại kết quả đáng

kể và những chuyển biến lớn trong dạy học, nhất là về PPDH

GDCD là một môn học rất nhạy bén đối với những vấn đề xã hội, việc cung cấp thông tin, liên hệ thực tế là một trong những yêu cầu quan trọng xuất phát từ đặc trưng của bộ môn Để giảm bớt tính khô khan, nhàm chán và khắc phục những khuyết điểm của bộ môn GDCD, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các bài giảng giúp giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian trong việc ghi bảng, thay vào đó, giáo viên có điều kiện tốt hơn để tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận, phát huy tính năng động tích cực và sự say mê, hứng thú của học sinh trong học tập Đồng thời trong một thời gian ngắn của một tiết học, giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh tiếp cận một lượng

kiến thức lớn, phong phú đa dạng và sinh động “Một hình ảnh, một đoạn phim có thể

thay thế cho rất nhiều lời giảng”, vì vậy đối với bài giảng có phim, hình ảnh thực tế

mô phỏng hợp lý, sinh động sẽ thu hút được sự thích thú say mê học tập của học sinh, lớp học sôi nổi, học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, giờ dạy có hiệu quả cao hơn

Trang 8

Bản thân là một sinh viên chuyên ngành giáo dục chính trị, tương lai trở thành giáo viên dạy môn giáo dục trường trung học phổ thông, sống trong cơn lốc công nghệ thông tin đang trên đà phát triển, hơn ai hết tôi thấy mình cần phải nhanh chóng nắm bắt và hội nhập, góp phần vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy một cách tích cực

để nâng cao chất lượng dạy và học môn GDCD nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ

thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông trên

địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” làm khóa luận tốt nghiệp đại học

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình dạy học môn GDCD, việc ứng dụng CNTT trên thực tế đã đem lại nhiều kết quả đáng kể, bên cạnh đó cũng gặp không ít những khó khăn, thử thách Thấy được tính cấp thiết cần phải ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD, nhiều giáo viên các trường THPT, THCS đã có những nghiên cứu về thực trạng cũng như đề

ra những giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu chỉ mang tính khái quát, hay chỉ nghiên cứu một phần, một khía cạnh nào đó của vấn đề

mà chưa đi sâu vào phân tích từng thực trạng cũng như đề ra cụ thể từng giải pháp tương ứng với các thực trạng Hoặc các đề tài nghiên cứu đi sâu, cụ thể nhưng chỉ dừng lại ở phạm vi của từng chuyên môn, từng trường…chưa đáp ứng với quy mô phổ biến và mang tính rộng rãi của đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin, đồng thời đề ra giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng và đề ra giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung Qua đó, bản thân có thể ý thức được việc rèn luyện kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong

Trang 9

giảng dạy môn GDCD nhằm đổi mới phương pháp dạy học, chuẩn bị cơ sở vững chắc cho công tác giảng dạy trong tương lai

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang

Thứ hai, trên cơ sở thực trạng, đề ra giải pháp để phát huy tính tích cực trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên nói riêng, chất lượng dạy học nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và hệ thống, phương pháp điều tra, phương pháp quan sát và phương pháp thống kê…

6 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận tốt nghiệp góp phần phát hiện thực trạng và đề ra giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang Qua đó khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy học, góp phần giảm bớt sự khô khan, nhàm chán trong dạy học môn Giáo dục công dân, tạo hứng thú học tập cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên nói riêng, tỉnh An Giang nói chung

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận được kết cấu thành hai chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang

Chương 2: Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo

dục công dân ở trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang

Trang 10

NỘI DUNG

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

1.1 Đặc thù môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

1.1.1 Vị trí và nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân trong trường trung học

phổ thông

1.1.1.1 Vị trí của môn Giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông

Trên cơ sở xác định mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển hài hòa, toàn diện và tính chất xã hội chủ nghĩa của nền giáo dục, Điều 27 của Luật Giáo dục (2005) nước ta xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh học lên và tiếp tục đi sâu vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Trên cơ sở mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, Luật giáo dục của nước ta đã xác định rõ mục tiêu của từng cấp học, bậc học Trong đó, mục tiêu của cấp THPT là:

“Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi sâu vào cuộc sống lao động”

Mục tiêu trên đã trở thành định hướng chỉ đạo cho toàn bộ các hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân mà trước hết là thông qua quá trình dạy học các môn học ở trường THPT, trong đó có môn GDCD Liên quan đến vai trò và vị trí môn GDCD, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VIII) của Đảng đã nhấn mạnh “hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành…” nhằm “giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung và phương pháp giáo dục – đào tạo”, góp phần phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Vị trí của môn GDCD ở nhà trường phổ thông đã được xác định trong Chỉ thị

số 30/1988/CT-BGD & ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 1998 Theo đó, “Môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách của học sinh thông qua việc cung cấp hệ

Trang 11

thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc Việt Nam; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại”

Xuất phát từ vị trí đã được xác định, trong thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực thi nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn như: Cải tiến nội dung chương trình, sách giáo khoa; đào tạo bồi dưỡng GV để nâng cao chất lượng đội ngũ, bổ sung thêm tài liệu, trang thiết bị dạy học; khuyến khích GV bộ môn tích cực đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học… Tuy nhiên, việc nhận thức hoặc đánh giá không đúng về vị trí của môn GDCD vẫn còn là một tình trạng khá phổ biến ở nhiều trường phổ thông hiện nay Nhiều nhà quản lý, giáo viên (kể cả giáo viên bộ môn), học sinh và phụ huynh vẫn còn có những nhận thức, quan niệm lệch lạc khi cho rằng GDCD chỉ là môn học phụ, môn bổ trợ hoặc đồng nhất môn GDCD với môn chính trị hoặc đạo đức thuần túy Những sai lầm trong nhận thức đã kéo theo những hạn chế trong hoạt động thực tiễn dạy học bộ môn Nhiều trường học và cấp quản lý không chú ý quan tâm đầu tư cho môn GDCD, đội ngũ giáo viên không được đào tạo chính quy, tình trạng giáo viên dạy chéo môn vẫn còn khá phổ biến, công tác bồi dưỡng giáo viên chưa được chú trọng đúng mức Nhiều giáo viên dạy qua loa, chiếu lệ còn học sinh thì coi thường môn học…Hiện trạng của sự nhận thức và quan niệm sai lầm về vị trí của môn học đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học cũng như vị thế của bộ môn này ở trong nhà trường phổ thông hiện nay Để khắc phục tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo: “Các cấp quản lý Giáo dục - Đào tạo từ Bộ đến địa phương cần có nhận thức đúng vai trò vị trí và mục tiêu đào tạo của bộ môn GDCD cấp Trung học phổ thông, có kế hoạch và các giải pháp tích cực nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, đồng thời cần tăng cường công tác chỉ đạo bảo đảm chất lượng giảng dạy, giáo dục đạo đức và pháp luật trong các trường Trung học phổ thông, đáp ứng yêu cầu “dạy người và dạy chữ, dạy nghề, trong đó mục tiêu dạy người là quan trọng nhất” nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

1.1.1.2 Nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông

Môn GDCD ở trường THPT có những nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, trang bị cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật

Môn GDCD ở trường THPT là một hệ thống kiến thức liên quan đến nhiều lĩnh vực như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối, quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà nước, pháp

Trang 12

luật…Vì thế nhiệm vụ đầu tiên của môn học là phải trang bị và giúp học sinh nắm vững hệ thống tri thức cơ bản, thiết thực của bộ môn

Đối với Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan và

phương pháp luận khoa học (GDCD 10), giáo viên phải giúp cho học sinh nhận biết

được nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng Hiểu được bản chất của thế giới là vật chất Thế giới vật chất vận động và phát triển theo những quy luật khách quan Con người có thể nhận thức và vận dụng được những quy luật ấy Giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa hoạt động của chủ thể và khách thể qua các mối quan hệ: Thực tiễn với nhận thức, tồn tại xã hội với ý thức xã hội, con người là chủ thể của lịch sử và là mục tiêu phát triển của xã hội

Đối với Phần thứ hai: Công dân với đạo đức (GDCD 10), giáo viên phải giúp

cho học sinh nắm vững một số phạm trù cơ bản của đạo đức học có quan hệ trực tiếp đến mục tiêu đào tạo THPT Giúp học sinh nắm được các yêu cầu cơ bản về đạo đức của người công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đối với Phần thứ ba: Công dân với kinh tế (GDCD 11), giáo viên phải giúp

cho học sinh hiểu được một số phạm trù, quy luật kinh tế cơ bản và phương hướng phát triển kinh tế trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Giúp học sinh hiểu được trách nhiệm của công dân trong việc xây dựng, phát triển kinh tế cá nhân, gia đình và xã hội

Đối với Phần thứ tư: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội (GDCD 11),

giáo viên phải giúp cho học sinh hiểu được tính tất yếu và đặc điểm của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Hiểu được bản chất của Nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Giúp học sinh nắm vững được một số nội dung cơ bản về những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước hiện nay

Đối với Phần thứ năm: Công dân với pháp luật (GDCD 12), giáo viên phải

giúp học sinh hiểu được bản chất giai cấp, xã hội của pháp luật; mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức Giúp học sinh nhận biết được vai trò và giá trị cơ bản của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội Giúp học sinh hiểu được một số nội dung cơ bản của pháp luật liên quan đến việc thực hiện và bảo vệ quyền bình đẳng, tự do, dân chủ và phát triển của công dân

Thứ hai, giúp học sinh từng bước hình thành thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học

Trên cơ sở từng bước tiếp cận và nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản của môn GDCD, học sinh sẽ từng bước có những hiểu biết cơ bản để hình thành cho bản thân thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học Giúp học sinh biết cách quan sát để có được quan niệm đúng đắn, khách quan về thế giới xung quanh Xuất phát từ

Trang 13

thế giới quan đúng đắn, phương pháp luận khoa học, học sinh sẽ vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của bản thân Nhiệm vụ này được tập trung trong phần: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học (GDCD 10) Để thực hiện được nhiệm vụ này, trong quá trình dạy học, giáo viên bộ môn không nên sa đà vào các khái niệm, phạm trù, nguyên

lý, quy luật triết học mang nặng tính chất hàn lâm, kinh điển Thông qua việc dạy các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật, giáo viên phải hướng học sinh đến các ý nghĩa về mặt phương pháp luận Từ những ý nghĩa phương pháp luận rút ra sau mỗi bài học, tiết dạy, học sinh sẽ tự liên hệ, rút ra những bài học cho bản thân, thông qua

đó giúp các em từng bước hình thành cho mình phương pháp luận khoa học

Thứ ba, môn GDCD có nhiệm vụ góp phần giúp học sinh hình thành nhân sinh quan tiến bộ

Thông qua hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức - nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật, môn GDCD giúp học sinh ý thức được các giá trị của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp các em có được những hiểu biết đúng đắn về xã hội xã hội chủ nghĩa, về nhà nước xã hội chủ nghĩa, về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, về các định hướng phát triển kinh tế -

xã hội, về vai trò và giá trị của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, Nhà nước và xã hội Học sinh có cái nhìn đúng đắn về thế giới và thời đại, về con người và cộng đồng, về các hiện tượng khác nhau đang diễn ra trong đời sống Các em biết phân tích, đánh giá các hiện tượng xã hội theo quan điểm khoa học tiến

bộ, biết đấu tranh để ủng hộ và bảo vệ cái mới, cái tích cực và chống lại những cái tiêu cực, lạc hậu, lỗi thời

Thứ tư, trang bị cho học sinh những kỹ năng sống cần thiết

Trong quá trình dạy học môn GDCD, nhiều giáo viên bộ môn đã không hoàn thành nhiệm vụ này Nhiều giáo viên chỉ chú trọng đến việc truyền thụ tri thức trong khi không chú ý đến việc giáo dục các kỹ năng sống cần thiết cho học sinh Do đó, bài học GDCD trở nên hàn lâm, đơn điệu, nhàm chán, không cuốn hút được học sinh, không đạt được mục tiêu đề ra Những kỹ năng trong các bài học GDCD như: giao tiếp và ứng xử, tổ chức quản lý, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trước những biến động không ngừng của đời sống xã hội,…hoặc những kỹ năng cụ thể hơn như quan hệ bạn bè, đồng chí, những cư xử trong tình yêu, hôn nhân, gia đình,…luôn cần thiết cho học sinh Thông qua mỗi bài học, tiết dạy, người giáo viên GDCD cần trang bị cho học sinh những kỹ năng tương ứng, giúp các em uốn nắn những biểu hiện, cử chỉ, hành vi lệch lạc, không ngừng tự hoàn thiện bản thân, biết đón nhận và giải quyết những thách thức của cuộc sống một cách khoa học và hiệu quả

Trang 14

Thứ năm, môn GDCD định hướng phát triển nhân cách của học sinh

Đối với môn GDCD, “mục tiêu dạy người” luôn được xác định “là quan trọng nhất” Vì thế, môn GDCD luôn ở “vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách của học sinh” Mỗi học sinh là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, phát triển xã hội Do đó, thông qua mỗi bài dạy, tiết học, người giáo viên GDCD phải tích cực giáo dục, bồi dưỡng để giúp mỗi học sinh hình thành được cho mình lẽ sống, niềm tin và lý tưởng lành mạnh Giáo dục để các em trở thành những công dân có ích cho bản thân, gia đình và xã hội Trở thành những con người phát triển cao về trí tuệ, trong sáng về đạo đức và có đời sống tinh thần phong phú Thông qua các bài học GDCD, người giáo viên bộ môn phải giúp các em trở thành những con người sống có nghĩa có tình, thủy chung sau trước, có tinh thần tập thể, có ý thức tổ chức kỷ luật, có lòng nhân ái, khoan dung, biết yêu quê hương, đất nước, yêu chủ nghĩa xã hội, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, luôn có ý thức trách nhiệm trước tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước, dân tộc… Để thực hiện được nhiệm vụ này, người giáo viên GDCD phải biến những tri thức vốn khô khan, trừu tượng, khó hiểu của môn học thành tình cảm, lẽ sống, lý tưởng, niềm tin ở học sinh, thôi thúc các em hành động theo lẽ phải và không ngừng nổ lực phấn đấu để tự hoàn thiện bản thân, vươn tới “chân- thiện- mĩ”

Đối với người giáo viên GDCD, những nhiệm vụ nói trên hết sức nặng nề nhưng đó cũng là những nhiệm vụ rất đỗi vinh quang Để hoàn thành được những nhiệm vụ ấy đòi hỏi mỗi giáo viên GDCD với lương tâm và trách nhiệm của mình, phải không ngừng học hỏi, lắng nghe và trải nghiệm để mang lại cho học sinh những bài học GDCD bổ ích và hiệu quả

1.1.2 Đặc thù tri thức môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

Là môn khoa học xã hội ở trường THPT có vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu riêng do

đó hệ thống tri thức của môn học GDCD có những đặc thù sau:

Thứ nhất, hệ thống tri thức môn GDCD ở THPT mang tính đa dạng, tổng hợp

Đặc điểm này thể hiện ở cấu trúc nội dung chương trình cũng như ở từng bài học, từng đơn vị kiến thức trong sách giáo khoa Hệ thống tri thức của môn GDCD ở THPT được tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, nhiều bộ môn khoa học khác nhau như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối, quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà nước, pháp luật học, mọi đơn vị kiến thức lại có những nội dung liên quan đến các lĩnh vực, các môn khoa học khác nhau như: dân số, môi trường, y tế, ngoại giao, quốc phòng, giới tính và sức khỏe sinh sản, vật lý, sinh học, hóa học, lịch sử, địa lý, văn học…

Đặc thù nói trên đòi hỏi người giáo viên GDCD bên cạnh việc nắm vững hệ thống tri thức triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, pháp luật học,

Trang 15

đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước phải nắm vững nội dung liên quan ở những lĩnh vực, những bộ môn khoa học khác nhau Người giáo viên GDCD phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ, phải am hiểu nhiều lĩnh vực, nắm vững và biết vận dụng kiến thức của các lĩnh vực, các bộ môn khoa học khác nhau vào bài học GDCD

Sự đa dạng của hệ thống tri thức cũng đòi hỏi người giáo viên GDCD phải sử dụng một cách đa dạng và linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sau cho phù hợp với đặc thù tri thức của từng phần, từng bài học GDCD

Thứ hai, hệ thống tri thức môn GDCD ở THPT mang tính khái quát, trừu

tượng

Tính khái quát, trừu tượng của hệ thống tri thức GDCD trước hết thể hiện ở những nội dung, luận điểm được đề cập trong mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức Những nội dung đó thường là những vấn đề lớn ở tầm vĩ mô, chẳng hạn: Những vấn

đề cấp thiết của nhân loại, pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại…hoặc bao trùm một lĩnh vực rộng lớn nào đó như chính sách quốc phòng và an ninh, chính sách đối ngoại, chính sách dân số và giải quyết việc làm, chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường…

Tính khái quát, trừu tượng của tri thức môn GDCD còn thể hiện thông qua một

hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật hết sức đặc thù Những khái niệm, phạm trù của môn GDCD thường là những khái niệm, phạm trù của triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học như: Thế giới quan, phương pháp luận, lượng, chất, phủ định, biện chứng, thực tiễn, phương thức sản xuất, đạo đức, lương tâm, nghĩa vụ, sản xuất vật chất, phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế, giá trị hàng hóa, chủ nghĩa xã hội…Những nguyên lý, quy luật của môn GDCD cũng chủ yếu là những nguyên lý, quy luật của triết học, kinh tế chính trị học, được trình bày một cách ngắn gọn, như: Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất (Nguyên lý phát triển trong triết học Mác- Lênin), nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng (quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập), cách thức vận động và sự phát triển của sự vật và hiện tượng (quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại), khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng (quy luật phủ định của phủ định), tồn tại xã hội và ý thức xã hội, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cung cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa…Phạm vi phản ánh của những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật nói trên rất rộng vì thế chúng đều mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa rất cao

Đặc thù nêu trên đòi hỏi người giáo viên GDCD trước hết phải nắm vững nội dung, bản chất, đặc điểm của từng khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật, luận điểm

Trang 16

liên quan Người giáo viên GDCD phải lựa chọn được các phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học phù hợp với đối tượng để truyền thụ và giúp học sinh lĩnh hội chính xác những nội dung của bài học Việc tăng cường thực tiễn và đảm bảo tính vừa sức trong dạy học luôn là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong dạy học GDCD, đặc biệt là đối với những nội dung có tính khái quát, trừu tượng

Thứ ba, hệ thống tri thức môn GDCD ở trường THPT mang tính thời sự

Tri thức của tất cả các môn học điều gắn liền với thực tiễn cuộc sống ở những góc độ và lĩnh vực khác nhau Đối với môn GDCD, bên cạnh tính thực tiễn thì tri thức của môn học luôn mang tính thời sự sâu sắc Những tri thức của môn học dù khái quát, trừu tượng hay cụ thể đều tập trung phản ánh những vấn đề, những hiện tượng đang nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày Những vấn đề thách thức của toàn cầu như bùng

nổ dân số, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường,…Ngay cả những nội dung khái quát, trừu tượng như: Quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cung cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa…cũng đang hằng ngày, hằng giờ biểu hiện, tác động trong mọi lĩnh vực của đời sống

Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên GDCD phải luôn làm cho tri thức của bài học bắt nhịp với cuộc sống đang đổi thay từng ngày Để làm được điều đó, mỗi người giáo viên GDCD phải có một tâm hồn nhạy cảm, biết cảm nhận, lắng nghe những đổi thay của cuộc sống, biết nắm bắt, sàng lọc, cập nhật, phân tích và xử lý thông tin để mang hơi thở của cuộc sống, của thời đại vào từng tiết học, bài dạy GDCD Tuy nhiên, nếu lạm dụng đặc thù này, giáo viên sẽ biến giờ học GDCD trở thành một giờ nói chuyện thời sự

Thứ tư, hệ thống tri thức môn GDCD ở trường THPT mang tính định hướng

chính trị sâu sắc

Đối với môn GDCD ở trường THPT, mục tiêu dạy người - giáo dục để học sinh trở thành một công dân có ích cho xã hội luôn được xác định là quan trọng nhất Quá trình giáo dục để học sinh trở thành những công dân có ích cho xã hội trước hết phải bắt đầu từ việc giáo dục ý thức công dân, ý thức chính trị cho các em Ở nhà trường THPT nhiệm vụ này trước hết phải thuộc về môn GDCD Do đó, hệ thống tri thức của môn học luôn hướng vào việc giúp học sinh hình thành những thái độ, tình cảm công dân lành mạnh, có lập trường, quan điểm chính trị rõ ràng Nội dung của mỗi bài học, tiết học GDCD luôn định hướng cho học sinh về trách nhiệm của các em đối với bản thân, gia đình và xã hội, cũng như xác định thái độ, trách nhiệm của các em trước các vấn đề lớn lao của dân tộc và thời đại Giáo dục, bồi dưỡng, vun đắp để giúp các em từng bước định hình được một nhân cách trong sáng, biết lựa chọn cho mình lí tưởng,

lẽ sống đúng đắn

Trang 17

Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên GDCD phải luôn bám sát mục tiêu của mỗi bài học, tiết dạy, phải nắm vững nội dung từng bài, từng đơn vị kiến thức, nắm bắt được đặc điểm trình độ, tâm sinh lí của học sinh để lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp Người giáo viên GDCD phải không ngừng rèn luyện để có một nhân cách trong sáng, một tâm hồn phong phú, một bản lĩnh chính trị vững vàng Nói cách khác, đối với môn GDCD, người thầy không chỉ có trí tuệ, mà trước hết phải là người công dân có ý thức chính trị, có lối sống, tâm hồn và nhân cách trong sáng Chỉ có như vậy, người thầy mới có thể hóa thân vào bài dạy để chuyển hóa những tri thức của môn học thành thái độ, tình cảm và lẽ sống của học sinh

Thứ năm, hệ thống tri thức môn GDCD ở THPT gắn liền với việc hình thành kĩ

năng sống của học sinh

Tất cả các môn học đều hướng vào việc rèn luyện những kĩ năng cho người học Do đặc thù về vị trí, nhiệm vụ của môn học nên môn học GDCD chủ yếu hướng vào việc rèn luyện cho học sinh những kĩ năng sống hết sức cần thiết cho các em Những kĩ năng (trong các bài học GDCD) như: Giao tiếp và ứng xử, tổ chức quản lí, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trước những biến động không ngừng của đời sống xã hội Gắn liền với nội dung mỗi bài học GDCD luôn có một loạt những kĩ năng tương ứng, có thể đó là những kĩ năng tiếp cận, phân tích, xử lý…thông tin, cũng có thể là kĩ năng tiếp cận, nhận diện, xử lý, giải quyết những thách thức, những hiện tượng hoặc những vấn đề đang không ngừng nảy sinh trong cuộc sống hằng ngày của chính bản thân các em, trong quan hệ với bạn

bè, trong tình yêu, hôn nhân và gia đình, trong quan hệ cộng đồng…

Trong quá trình dạy học GDCD người giáo viên bộ môn phải nắm vững mục tiêu về kĩ năng của từng bài, lựa chọn giới thiệu, trang bị cho học sinh những kĩ năng cần thiết nhất Khuyến khích các em mang những kĩ năng đó và thực hành và không ngừng tự hoàn thiện ngay trong cuộc sống hàng ngày của chính các em Trong quá trình dạy học, người giáo viên GDCD không ngừng trải nghiệm, quan sát, học hỏi và hoàn thiện chính mình Một bài học GDCD thật sự là bổ ích là bài học mà ở đó mà học sinh không chỉ học được những tri thức, tình cảm cần thiết mà các em còn học ở

đó cả sự trải nghiệm và những kĩ năng sống của chính người thầy

Những đặc thù tri thức của môn GDCD nói trên biểu hiện khác nhau trong mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức khác nhau Trước khi giảng dạy, người giáo viên bộ môn cần nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung, đặc thù của từng bài học, từng tiết dạy, từng đơn vị kiến thức để lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, nội dung thông tin, tài liệu, phương tiện dạy học,…sao cho phù hợp và hiệu quả

Trang 18

1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

1.2.1 Công nghệ thông tin

1.2.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay

là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin

CNTT là một ngành kỹ thuật vận dụng tất cả các tiến bộ về khoa học, công nghệ, điện tử, toán học, quản trị học… để thu thập, biến đổi, truyền tải, lưu trữ, phân tích, suy luận, sắp xếp thông tin…phục vụ cho lợi ích của con người Cụ thể như máy tính, internet, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa…đều thuộc lĩnh vực của CNTT

Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và

xã hội

Công nghệ thông tin là một công nghệ tạo khả năng (enabling technology), nghĩa là giúp con người có thêm khả năng trong hoạt động trí tuệ chứ không phải thay thế con người trong hoạt động đó Ứng dụng CNTT trong dạy học là sử dụng tốt các phần mềm ứng dụng, khả năng khai thác thông tin trên Internet cùng với sự hỗ trợ của nhiều phương tiện trong việc dạy học, giúp cho giáo viên có thêm thời gian và điều kiện để chăm lo những công việc đòi hỏi chất lượng trí tuệ cao hơn hoạt động dạy học theo phương pháp truyền thống Việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông

và internet… trong giáo dục hiện nay đã phát triển nhanh chóng góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học hết sức đa dạng và phong phú

Sau đây là một số phương tiện hiện đại cơ bản cần thiết trong việc ứng dụng CNTT để dạy học:

Thứ nhất, máy tính và cấu tạo máy tính

Khái niệm cơ bản về máy tính: Máy tính là một công cụ cho phép lưu trữ và xử

lí thông tin một cách tự động Để điều khiển hoạt động của máy tính con người phải cung cấp lệnh cho máy tính Một tập các lệnh được tổ chức theo một nguyên tắc nào

đó được gọi là chương trình Chương trình là một tập hợp các chỉ thị nhằm hướng dẫn máy tính thực hiện một công việc nào đó Chương trình sẽ thay thế con người điều

khiển máy tính

Trang 19

Cấu trúc cơ bản của máy tính: Phần cứng: bao gồm toàn bộ máy và các thiết bị

ngoại vi là các thiết bị điện tử được kết hợp với nhau Nó thực hiện chức năng xử lí thông tin ở mức thấp nhất tức là các tín hiệu nhị phân Phần mềm: là các chương trình (Programs) do người sử dụng tạo ra điều khiển các hoạt động phần cứng của máy tính

để thực hiện các nhiệm vụ phức tạp theo yêu cầu của người sử dụng Phần mềm của máy tính được phân làm 2 loại: Phần mềm hệ thống (System Software) và phần mềm ứng dụng (Applications Soffware)

Các loại máy tính: Máy tính lớn (Mainframe), Siêu máy tính (Super

Computer), Máy tính cá nhân PC (Personal Computer), Máy tính xách tay ( Laptop)

và Máy tính bỏ túi (Pocket PC)

Cấu tạo cơ bản của máy tính cá nhân có thể chia làm ba phần: Khối xử lí trung

tâm (CPU: Central Processing Unit), Bộ nhớ (Memory), Thiết bị vào/ra (Input/Output

Thứ hai, máy chiếu đa chức năng (máy chiếu Projector)

Máy chiếu đa chức năng là phương tiện dạy học mới được đưa vào sử dụng trong những năm gần đây Phương tiện này đã hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh khi sử dụng công nghệ thông tin Là một thiết bị xuất hình ảnh hiện đại đi kèm với máy vi tính, máy chiếu Projector được thiết kế nhỏ gọn,

có thể treo cố định hoặc di động

Thứ ba, một số phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD

MS Powerpoint là phần mềm tiện ích có thể tạo ra các công cụ trình diễn có

minh họa như các bản trình diễn (slide show) trên màn hình vi tính thể hiện dưới nhiều dạng: Văn bản (text), đồ họa (graphics), ảnh chụp (image), hoạt ảnh (animation), dạng video audio với màu sắc, hình ảnh đẹp, gây ấn tượng và hấp dẫn đối với học sinh PowerPoint được dùng để tạo các tờ rơi, áp phích, quảng cáo, các biểu mẫu đồ họa trang trí đẹp mắt Đặc biệt, với chức năng tạo các “Slide Show” hay còn gọi là các

“màn trình diễn”, Powerpoint được sử dụng rất nhiều trong việc tạo các báo các khoa học, các bài trình bày đa phương tiện hấp dẫn PowerPoint có thể ứng dụng trong dạy học GDCD vì nó có một số ưu thế chủ yếu sau:

Giao diện hẹp, hiệu ứng hình ảnh, âm thanh, màu sắc phong phú, có tác dụng làm giờ học sinh động, hấp dẫn với học sinh

Trang 20

Cho phép chèn hình ảnh hay video clip và tạo lập sơ đồ, biểu đồ, mô hình trên một phông nền có màu sắc hài hòa giúp giáo viên trong việc giải thích, mở rộng, liên kết kiến thức Việc kết hợp các hình ảnh, các đoạn video clip và các sơ đồ, mô hình, số liệu… một cách thích hợp sẽ đảm bảo cho việc thực hiện các ý tưởng sư phạm của người giáo viên

Cho phép kết nối từng nội dung bài học để tạo thành một chương trình logic giúp cho bài học đảm bảo được tính hệ thống, khoa học Đồng thời, cho phép tạo một trình diễn các hình ảnh, kí tự tiếp nối liên tục theo những hiệu ứng khác nhau để tạo thành trang viết động

Ứng dụng PowerPoint sẽ giúp người giáo viên lựa chọn được các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp, hiệu quả

Powerpoint có khả năng tích hợp tốt cùng một lúc nhiều chức năng khác nhau: chức năng mô hình hóa, chức năng thông tin, chức năng điều khiển và định hướng thông tin, chức năng luyện tập và thực hành, chức năng thiết kế, kiểm tra đánh giá…

Việc ứng dụng Powerpoint trong dạy học môn GDCD sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập môn học này ở trường THPT Mặt khác, việc ứng dụng phần mềm này sẽ tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Tuy nhiên, PowerPoint chỉ là một trong những phần mềm được giáo viên sử dụng để thiết kế bài giảng điện

tử, gắn liền với các phương pháp dạy học cụ thể PowerPoint không phải là một PPDH GDCD Đây thực chất chỉ là một phần mềm dạy học chứa đựng nhiều tiện ích, nó mở

ra cho người giáo viên những khả năng vô tận trong việc khai thác thông tin từ nhiều nguồn tri thức khác nhau vào việc nâng cao hiệu quả bài giảng Đặc biệt cần nhấn mạnh rằng, các bài dạy được tạo ra trên PowerPoint không thể thay thế vai trò như một công cụ giúp cho giáo viên dù khi dạy trực tiếp hay qua mạng Cần xác định việc

sử dụng và thiết kế Powerpoint như một công cụ hỗ trợ dạy học Trường hợp nào sử dụng phần mềm không hơn gì bảng đen và sách giáo khoa thì không nên dùng phần mềm Khi sử dụng phần mềm này, không nên quá lạm dụng các chức năng của nó để trình diễn như dùng quá nhiều màu nền sặc sỡ, quá nhiều chữ, hình động, âm thanh không thích hợp, làm cho bài dạy bị chi phối, học sinh ít tập trung nghe giảng mà chỉ

để ý đến màn hình

Microsoft Frontpage là một phần mềm thiết kế web chuyên nghiệp của hãng

phần mềm Micrisoft Phần mềm này được đi kèm với bộ Ofice XP, bao gồm những tính năng vượt trội nhưng lại rất dễ sử dụng Vì Frontpage biến việc thiết kế web đơn giản như khi ta soạn thảo một văn bản trong Microsoft Word vậy

Ngày nay, Internet và đặc biệt là Word Wide Web đã trở thành một dịch vụ thông tin gắn chặt với đời sống kinh tế - xã hội Trong giáo dục, việc truy cập thong

Trang 21

tin và tạo ra thông tin trở thành một công việc thường xuyên của thầy giáo và học sinh Chương trình Frontpage cho phép mọi người dễ dàng tạo ra các trang web sinh động đầy màu sắc, đồng thời chuyển tải các trang đó lên mạng Internet một cách thuận tiện nhanh chóng

Nhờ những tiện ích của mình mà MS.Frontpage đã được ứng dụng trong quá trình giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh Sử dụng MS FrontPage trong giảng dạy môn GDCD, giáo viên sẽ cấu trúc bài giảng của mình như một website, trong website có chứa những trang web mang nội dung bài giảng; các trang có thể chứa nội dung của từng đề mục hay từng hoạt động dạy học Các thư mục riêng dùng

để lưu giữ hình ảnh, phim, bài tập trắc nghiệm…tất cả các bài giảng được lưu cùng một thư mục trên ổ đĩa cứng của máy tính

Ngoài ra một trong những hiện tượng phổ biến hiện nay là sử dụng Internet

trong dạy học môn GDCD Mạng internet là một kênh thông tin khổng lồ có khả năng

cung cấp thông tin vô cùng phong phú, đa dạng và nhiều nội dung Khai thác internet phục vụ cho dạy học sẽ mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, cần thiết cho việc dạy học môn GDCD ở trường THPT, vì có thể tải thông tin về để làm tư liệu dạy học hoặc đưa

vào thư viện dự trữ, khi cần có thể dùng đến

Hoặc sử dụng E-Learning trong dạy học môn GDCD E-Learning là một thuật

ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông E-learning có thể coi là “biến thể” mới khi so sánh với loại hình học tập trực tiếp truyền thống Sự khác biệt thể hiện ở bốn điểm chính: Tính tương tác, đối thoại và cộng tác; học tập với cộng đồng trực tuyến – online; sự tùy biến hóa và cá nhân hóa cho người học và tính linh hoạt Nhờ các công cụ mà trong E-learning có nhiều kênh

thông tin và nhiều kiểu trao đổi thông tin: Công cụ soạn bài giảng điện tử với các tính

năng (tạo cây nội dung, tạo các tương tác, nhập các đối tượng đã tồn tại, liên kết các

đối tượng học tập với nhau, cung cấp các mẫu tạo course học nhanh chóng, thuận tiện,

sử dụng lại các đối tượng học tập, tạo các bài kiểm tra, xuất ra các đinh dạng khác nhau, cung cấp khả năng phát triển các tính năng cao cấp thông qua lập trình và với bài giảng điện tử học sinh có thể đọc tài liệu tốt hơn, nhanh hơn so với đọc tài liệu trên

giấy); Công cụ mô phỏng có các tính năng (ghi lại các chuyển động trên màn hình,

chỉnh sửa lại các chuyển động nếu cần, đưa thêm các thành phần đồ họa, đưa thêm

tương tác cho học viên, đưa thêm audio/video,…); Công cụ tạo bài kiểm tra có các

tính năng (môi trường kiểm tra bảo mật, tạo các bài kiểm tra dễ dàng dựa trên các mẫu

cung cấp sẵn, trộn các câu hỏi theo thứ tự ngẫu nhiên,…); Các công cụ tạo bài trình

bày multimedia và các công cụ deminar điện tử (chat, chat room, các công cụ này giúp

cho sự tương tác, trao đổi, làm việc nhóm giữa học sinh với học sinh, học sinh và giáo viên tốt hơn, nhiều hơn)

Trang 22

Tóm lại, với việc ứng dụng các phần mềm trên hỗ trợ cho quá trình giảng dạy môn GDCD ở các trường THPT sẽ mang lại hiệu quả cao Đây chỉ là các phương tiện dạy học chứa đựng nhiều tiện ích, nó mở ra cho người giáo viên những khả năng vô tận trong việc khai thác thông tin từ nhiều nguồn tri thức khác nhau vào việc nâng cao hiệu quả bài giảng Tuy nhiên, các phần mềm trên không thể thay thế hẳn vai trò của một giáo viên mà đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng, tìm tòi và sáng tạo để mang lại bài giảng hữu hiệu nhất MS Powerpoint là phần mềm phổ biến và mang lại hiệu quả cao nhất khi các giáo viên ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD ở các trường THPT

1.2.1.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực công nghệ thông tin đang thực sự tạo ra một cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt đời sống xã hội Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục, việc từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy đang được xem như là một hướng quan trọng góp phần đổi mới PPDH theo hướng tăng cường hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng nâng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, từ đó góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Thực tế quan sát quá trình giảng dạy cho thấy, việc sử dụng công nghệ thông tin mà chủ yếu làm một số phần mềm thông dụng như PowerPoint, Fronpage để soạn các bài giảng điện tử sẽ hỗ trợ tốt cho việc giảng dạy và học tập Trong đó MS.PowerPoint được coi là một trong những phần mềm thông dụng và có nhiều tiện ích, rất phù hợp cho việc thiết kế, trình diễn có hiệu quả các bài dạy GDCD cho cả giáo viên và học sinh

Đối với giáo viên

Do tính chất đặc thù của môn GDCD, là một môn học thuộc khoa học xã hội nhân văn, chủ yếu cung cấp tri thức theo dạng lí thuyết với khối lượng lớn, do đó việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học bộ môn còn gặp nhiều khó khăn Mặt khác, hiện nay các phần mềm được thiết kế sẵn để phục vụ giảng dạy chuyên ngành đang được triển khai rộng rãi, trong dạy học các môn khoa học tự nhiên xã hội, ngoại ngữ, riêng đối với môn GDCD còn rất hạn chế Tuy nhiên, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và các thiết bị kĩ thuật phù hợp nhằm làm tăng chất lượng dạy học cũng như tăng hứng thú của học sinh đối với môn học này ở nhà trường phổ thông là hết sức khả thi Thông qua việc ứng dụng CNTT, người giáo viên GDCD có thể khai thác thông tin trên Internet và khai thác tốt các phần mềm công cụ một cách sáng tạo nhằm nâng cao hiệu quả của bài dạy và môn học Như giáo viên chuẩn bị bài dạy một lần thì

sử dụng được nhiều lần, tuy nhiên ngày càng hoàn thiện và hiệu quả hơn; hoặc các hình ảnh, đoạn phim minh họa cho nội dung sinh động, thực tế… tăng tính động não

và hứng thú học tập cho học sinh, các phương tiện sẽ hỗ trợ, chuẩn hóa các bài giảng

Trang 23

mẫu, đặc biệt đối với những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp, trừu

tượng Lấy ví dụ để giảng nội dung Các hình thức vận động cơ bản của thế giới vật

chất, trong bài “SỰ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THẾ GIỚI VẬT CHẤT”,

GDCD Lớp 10, giáo viên có thể cho học sinh xem những đoạn phim về sự vận động

cơ học (trái đất xoay quanh mặt trời), vận động vật lý (sự vận động các phân tử), vận động hóa học (phản ứng một phương trình), vận động sinh học (sự biến đổi vòng đời

của loài bướm), vận động xã hội (sự tiến hóa của loài người); Những hình thức cơ bản của dân chủ, trong bài “NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”, GDCD lớp 11,

giáo viên có thể minh họa hai đoạn phim ngắn về hai hình thức dân chủ trực tiếp và

dân chủ gián tiếp để học sinh dễ hình dung…Đó là những nội dung mà giáo viên khó

có thể miêu tả bằng lời Hay trong chương trình GDCD lớp 12, giáo viên cũng có thể đưa ra những tình huống thật sự sinh động để giải thích cho các nội dung khó hình

tượng như Các hình thức thực hiện pháp luật, bài “THỰC HIỆN PHÁP LUẬT”,…

Khi sử dụng bài giảng điện tử sẽ giúp giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian trong việc ghi bảng, thay vào đó, giáo viên có điều kiện tốt hơn để tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận, phát huy tính năng động tích cực và sự say mê, hứng thú của học sinh trong học tập Đồng thời trong một thời gian ngắn của một tiết học, giáo viên

có thể hướng dẫn cho học sinh tiếp cận một lượng kiến thức lớn, phong phú đa dạng

và sinh động

Từ những phương tiện này giáo viên có thể khai thác, sử dụng, cập nhật và trao đổi thông tin Ví dụ, giáo viên có thể khai thác mạng Internet với các công cụ tìm kiếm như Google.com hoặc Vinaseek.com Việc khai thác mạng giúp giáo viên tránh được tình trạng “dạy chay” một cách thiết thực đồng thời giúp giáo viên có thể cập nhật thông tin nhanh chóng và hiệu quả Đây là một trong những yêu cầu đặc biệt cần thiết đối với giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD, bởi GDCD là một môn học rất nhạy bén đối với những vấn đề xã hội, việc cung cấp thông tin, liên hệ thực tế là một trong những yêu cầu quan trọng xuất phát từ đặc trưng của bộ môn

Qua đây giáo viên có điều kiện để học hỏi, tìm tòi nguồn tri thức mới, bản thân mỗi người rèn luyện thêm chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao khả năng tiếp xúc và sử dụng có hiệu quả CNTT vào trong quá trình giảng dạy của mình nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của việc dạy học môn GDCD ở trường THPT

Đối với học sinh

Khi giảng dạy có ứng dụng CNTT, nội dung bài dạy đã được giáo viên cô đọng một cách ngắn gọn, xúc tích nhưng vẫn đảm bảo nội dung, cùng với nhiều hình ảnh, tư liệu minh họa…đã đem lại những lợi ích thiết thực

Trang 24

Thứ nhất, là cung cấp cho học sinh nhiều dữ liệu Đặc biệt là các học sinh lớp

11, lớp 12, các em có thể tự tìm hiểu và sưu tầm nguồn dữ liệu phong phú từ CNTT, chuẩn bị cho bài học, tăng cường ý thức tự học

Thứ hai, giảng dạy bằng GAĐT sẽ phát huy tối đa trí tuệ của học sinh Và ở đó,

học sinh sẽ tiếp thu bài một cách chủ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy nghĩ Bên cạch đó, học sinh được tham khảo nhiều tình huống thực tế gần gũi với đời sống hiện thực sẽ giúp các em dễ liên hệ và nhanh chóng tiếp thu được vấn đề

Mặt khác khi môn GDCD ở trường THPT được truyền tải bằng ứng dụng CNTT sẽ làm học sinh giảm đi suy nghĩ môn GDCD là một môn phụ, vì môn GDCD cũng được đầu tư một cách kỹ càng và thiết thực hơn lại rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày Đồng thời, cùng với việc tiếp thu bài học giáo án điện tử sẽ giúp cho học sinh có điều kiện tiếp xúc hàng ngày với CNTT, làm quen với môi trường máy vi tính…giúp học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành, có nghĩa là phần nào hình thành thói quen làm việc khoa học, làm việc theo xu hướng thời đại - ứng dụng CNTT

Tóm lại, với tác động của CNTT, môi trường dạy học cũng thay đổi, nó tác động mạnh mẽ tới quá trình quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ của các phần mềm ứng dụng, website và hạ tầng CNTT đi kèm Việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không chỉ đơn thuần là thầy giảng, trò nghe, thầy đọc, trò chép như hiện nay, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học Vậy với việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, đồng thời mang lại hiệu quả thiết thực cho môn GDCD nói riêng

1.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Ứng dụng CNTT vào dạy học đem lại rất nhiều hiệu quả Đó là quá trình giáo viên sử dụng các tiện ích của công nghệ thông tin để thiết kế các kế hoạch dạy học cũng như nội dung bài giảng của mình, được gọi là giáo án điện tử và bài giảng điện

tử

1.2.2.1 Giáo án điện tử

Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy được tiến hành

1.2.2.2 Bài giảng điện tử

Trang 25

Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra Như vậy bài giảng điện tử là công cụ tương tác giữa người học và người dạy để thực hiện các mục tiêu của giáo án

Cần lưu ý bài giảng điện tử không phải đơn thuần là các kiến thức mà học sinh ghi vào tập mà đó là toàn bộ hoạt động dạy và học - tất cả các tình huống sẽ xảy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức của học sinh Bài giảng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế “bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp

Các đơn vị của bài học đều phải được Multimedia hóa Multimedia được hiểu

là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng: Văn bản (text), đồ họa (graphics), hoạt ảnh (animation), ảnh chụp (image), âm thanh (audio) và phim video (video clip)

Với bài giảng điện tử, người thầy được giảm nhẹ việc thuyết giảng, tăng cường đối thoại, thảo luận với người học, qua đó kiểm soát được người học Người học được thu hút, kích thích khám phá tri thức, có điều kiện quan sát vấn đề, chủ động nêu câu hỏi và nhờ vậy quá trình học tập trở nên hứng thú, sâu sắc hơn

* Cấu trúc cơ bản của một bài giảng điện tử môn GDCD

Cấu trúc cơ bản của một bài giảng điện tử GDCD được thể hiện qua sơ đồ sau:

BÀI GIẢNG

NỘI DUNG 1

LÝ THUYẾT

MINH HỌA NỘI DUNG 2

LÝ THUYẾT

MINH HỌA NỘI DUNG n

CỦNG CỐ VÀ DẶN DÒ

Trang 26

1.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh

An Giang

1.3.1 Quan điểm ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục

công dân ở trường trung học phổ thông

Quán triệt tinh thần công tác ứng dụng CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT

là công tác thường xuyên và lâu dài của ngành giáo dục, tiếp tục phát huy các kết quả đạt được trong những năm qua Sở Giáo dục và Đào tạo trước hết quán triệt về nội dung và tinh thần các chỉ thị: Quyết định 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Chỉ thị số 55/2008/CT- BGDD9T ngày 30/9/2008 của Bộ GD - ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012; Nghị định 102/2009/NĐ – CP ngày 6 tháng 11 năm 2009 về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước; Thông tư 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục; Thống nhất bộ gõ Tiếng Việt Unicode TCVN 6909:2002, chấm dứt việc sử dụng các phần mềm quản lý giáo dục, phần mềm quản lý chứa các phông chữ ABC và Công văn số 1768/UBND - VX ngày 09/06/2010 của UBND tỉnh An Giang V/v chấn chỉnh

sử dụng Internet trong học sinh, sinh viên

Quán triệt tinh thần các công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, căn cứ hướng dẫn nhiệm vụ đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT nói chung, dạy học môn GDCD nói riêng Các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang như: Trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu, THPT Long xuyên, THPT Bình Khánh, THPT Mỹ Thới, THPT Ishool Long xuyên…đã đề ra những mục tiêu và phương hướng nhất định để nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDCD khi ứng dụng CNTT

Đầu tiên, tăng cường công tác chỉ đạo và quản lý CNTT

Các trường THPT phải hoàn thành kết nối Internet băng thông rộng, tất cả các trường phải có mạng nội bộ Triển khai hệ thống email @angiang.edu.vn cho tất cả giáo viên ở trường Việc sử dụng hộp thư điện tử để trao đổi thông tin trong trường và báo cáo bằng email kèm theo văn bản trở thành nếp trong năm học tạo điều kiện cho giáo viên tiếp cận CNTT

Các trường THPT có website để cung cấp thông tin và kết nối thông tin với Website Bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo và có thông báo địa chỉ email tiếp dân trên website Phổ biến cho giáo viên và học sinh tham gia Diễn đàn giáo dục với các chủ

đề trao đổi chuyên môn, kinh nghiệm dạy và học môn GDCD

Trang 27

Thứ hai, khai thác, sử dụng và dạy học bằng mã nguồn mở

Triển khai ngay việc khai thác, sử dụng mã nguồn mở trong giảng dạy Cụ thể

là: Sử dụng bộ phần mềm văn phòng Open Office 3.0, có các mô đun (Writer soạn thảo văn bản, Calc bảng tính, Impress trình chiếu, Base quản trị cơ sở dữ liệu, Draw

đồ hoạ) đáp ứng đầy đủ nhu cầu văn phòng và dạy tin học; sử dụng các hệ điều hành trên nền Linux như Ubuntu, Asianux desktop,… Sử dụng trình duyệt web Firefox và

bộ gõ tiếng Việt Unikey Các phần mềm mã nguồn mở nói trên vào chương trình dạy

môn tin học chính khoá và cài đặt vào các máy tính trong các trường THPT nhằm đẩy

mạnh công tác ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học của môn GDCD

Thứ ba, đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy môn GDCD

Các trường THPT chỉ đạo và tổ chức hướng dẫn cho giáo viên các môn GDCD triển khai việc tích hợp, lồng ghép việc sử dụng các công cụ CNTT vào quá trình dạy môn học của mình Giáo viên cần tích cực tham gia giới thiệu và tham khảo các phần mềm ứng dụng tích hợp vào môn học trên website Bộ và trên Diễn đàn mạng giáo dục

để cùng chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi học tập

Thứ tư, triển khai chương trình công nghệ giáo dục và e-Learning

Các trường THPT tạo điều kiện và khuyến khích giáo viên dạy môn GDCD tham gia các hoạt động: Soạn giáo án (lesson plan), bài trình chiếu và bài giảng điện tử; tham gia xây dựng các nguồn tài nguyên giáo dục, học liệu điện tử, các thư viện điện tử để chia sẻ dùng chung qua Website Trường, Sở, Bộ; tích cực áp dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học, phần mềm thí nghiệm ảo Đồng thời tạo điều kiện và khuyến khích giáo viên dạy môn GDCD xây dựng giáo trình điện tử, bài giảng điện tử bằng công nghệ e-Learning để đưa lên mạng

Các trường THPT cũng phát động phong trào thi đua và tổ chức cuộc thi “Giáo

viên sáng tạo” với khẩu hiệu phấn đấu hằng năm “Mỗi giáo viên xây dựng một bài giảng điện tử” cho môn GDCD

Thứ năm, công tác bồi dưỡng về CNTT cho giáo viên giảng dạy môn GDCD

Áp dụng các hình thức tổ chức hội nghị, hội thảo, họp, các lớp tập huấn, bồi dưỡng khả năng ứng dụng CNTT cho giáo viên trong dạy học môn GDCD nhằm trao đổi

kinh nghiệm và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Thứ sáu, các trường THPT tăng cường đầu tư hạ tầng thiết bị CNTT phục vụ cho công tác giảng dạy môn GDCD Không ngừng yêu cầu đầu tư về cơ sở vật chất kĩ

thuật cần thiết phục vụ cho công tác ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD Bên cạnh đó, không ngừng tiến hành rà soát, định kì kiểm tra và bảo trì hệ thống máy vi tính, các thiết bị CNTT tại cơ sở trường Lập kế hoạch sửa chữa máy hư, nâng cấp máy cũ, yêu cầu bổ sung các thiết bị CNTT cần thiết để phục vụ cho công tác giảng

Trang 28

dạy môn GDCD đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh theo chương trình của Sở, Bộ

Giáo dục và Đào tạo

GDCD là một môn học có vị trí quan trọng trong trường THPT, quán triệt tinh thần đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, tổ chuyên môn GDCD các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang cũng có những quan điểm nhất định về vấn đề này

Thứ nhất, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn GDCD ở các trường THPT

mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy và học, giáo viên có thể truyền đạt được nhiều tri thức mới Với việc áp dụng phương pháp giảng dạy mới, đòi hỏi giáo viên phải dành thời gian đầu tư vào mỗi bài dạy Từng bước áp dụng các phương tiện hiện đại như máy chiếu đa năng, máy chiếu đa vật thể, Projector , băng hình, tranh ảnh trong giảng dạy bộ môn GDCD là con đường hữu hiệu, có tác dụng tăng hiệu quả tiết học lên gấp bội

Thứ hai, Tổ chuyên môn làm cho đội ngũ giáo viên môn GDCD có nhận thức

đúng về đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời phải xây dựng được hệ điều kiện để giáo viên có thể thực hiện thành công việc đổi mới phương pháp dạy Tạo bước chuyển mạnh mẽ và thực chất về các hoạt động đổi mới PPDH theo chủ trương: “Nói không với phương pháp đọc - chép” và “nói không với nhìn - chép”; tạo phong trào thi đua sử dụng công nghệ mới trong giảng dạy – “sử dụng CNTT trong dạy học môn GDCD”

Thứ ba, tổ chuyên môn GDCD đòi hỏi mỗi giáo viên GDCD phải nắm vững

phương pháp dạy học, quy trình và phương pháp đặc trưng của bộ môn Từ đó, biết cách lựa chọn sử dụng linh hoạt hệ thống các phương pháp cho phù hợp với nội dung của tiết học Bồi dưỡng và nâng cao trình độ tin học để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học Tổ chức hội nghị, hội thảo, các lớp tập huấn, bồi dưỡng khả năng ứng dụng CNTT cho giáo viên trong dạy học môn GDCD nhằm trao đổi kinh nghiệm và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Thông qua các hội thi

ứng dụng CNTT trong dạy học do Sở Giáo dục và Đào tạo, trường tổ chức…

Thứ tư, tổ chuyên môn đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động “Xây dựng

trường học thân thiện, học sinh tích cực” bằng cách làm phong phú và sinh động các giờ học, các hoạt động ngoại khóa và các hoạt động khác nhằm xây dựng môi trường học tập hấp dẫn, thu hút học sinh đến trường và phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh như: Tổ chức cho học sinh thu thập tài liệu, quay phim chụp ảnh các di tích lịch sử, các danh nhân thuộc địa phương để làm tư liệu, góp phần cung cấp nội dung thông tin vào mạng giáo dục và website của cơ sở giáo dục; tổ chức diễn đàn trên

mạng để giáo viên và học sinh thảo luận bài học một cách tích cực, chủ động

Trang 29

Thứ năm, theo quan điểm của tổ chuyên môn về vấn đề đầu tư cho việc ứng

dụng CNTT trong dạy học Trước tiên, chuẩn bị tốt nhân sự trong việc sử dụng, nắm vững kiến thức về CNTT, trước hết sử dụng máy vi tính thành thạo Tiếp theo là đầu

tư một cách cơ bản về cơ sở hạ tầng CNTT, con người, trước hết đầu tư về máy vi tính, hệ thống máy vi tính cho học sinh Bên cạnh đó, giáo viên phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả các thiết bị CNTT của trường theo tinh thần của Bộ Giáo dục và Giáo dục Do đó, khai thác sử dụng CNTT luôn luôn phải đi kèm với bảo trì, bảo dưỡng, bảo quản thiết bị cả phần mềm và phần cứng Luôn luôn đánh giá, kiểm tra khen chê đúng mức độ trong việc ứng dụng CNTT trong quản lý cũng như trong dạy học và các công tác khác của giáo viên ở trường học

Tuy nhiên, sự ra đời của phương pháp mới bao giờ cũng gặp những khó khăn, nhất là việc ứng dụng CNTT trong dạy học là việc sử dụng những thiết bị hoàn toàn mới lạ Do đó, đòi hỏi mỗi giáo viên phải có ý thức và quyết tâm tìm tòi, thử nghiệm với những bước đi vững chắc mới có thể đạt hiệu quả cao

1.3.2 Những thành tựu và hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang

Từ trước đến nay, các môn khoa học xã hội, nhất là môn GDCD rất ít sử dụng phương tiện dạy học, chủ yếu là sách giáo khoa, phấn trắng, bảng đen, bảng phụ… nên việc sử dụng băng hình, đĩa CD, máy chiếu Overhead, Projector, máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại khác nhìn chung vẫn còn hạn chế, thậm chí là còn xa lạ với nhiều giáo viên Tuy nhiên trong thời gian gần đây với bước tiến lên của xã hội, với sự phát triển như vũ bão của kỹ thuật khoa học và công nghệ, phần lớn giáo viên giảng dạy môn GDCD đã mạnh dạn ứng dụng các công cụ trên để hỗ trợ cho mình trong việc truyền tải tri thức đến với học sinh

Với việc sử dụng bảng hỏi để điều tra tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD của một số trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang như: Trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu, THPT Long xuyên, THPT Bình Khánh, THPT Mỹ Thới, THPT Ishool Long xuyên…, chúng tôi đã hiện được phần nào thực trạng của vấn đề này như sau:

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 15 đối tượng là cán bộ quản lý và thu về 15 phiếu với kết quả: Tất cả cán bộ quản lý các cấp ở trường THPT trên địa bàn thành phố Long Xuyên xem môn GDCD trong trường THPT có một vị trí quan trọng; đồng thời cho rằng việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn GDCD là rất cần thiết (100%); 66% giáo viên thường xuyên ứng dụng CNTT để giảng dạy môn GDCD và gây hứng thú học tập cho học sinh là 60%; 80% đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật đầy đủ để phục vụ cho việc ứng dụng CNTT; 93% ý kiến cho rằng thường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng để giáo viên tiếp cận CNTT nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; 73%

Trang 30

cấp quản lý cho rằng giáo viên có thái độ tích cực hơn khi ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD

Qua kết quả điều tra ta có thể thấy rằng GDCD là một môn học quan trọng không chỉ truyền đạt tri thức cho học sinh mà còn dạy học sinh cách làm người, cách sống, cách đối xử với mọi người xung quanh Và việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn GDCD là rất cần thiết, giáo viên cần thường xuyên ứng dụng CNTT để giảng dạy môn GDCD Thực trạng cho thấy phần lớn các trường đều thấy được lợi ích và hiệu quả thiết thực của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, như trường Chuyên Thoại Ngọc Hầu cho rằng nâng cao chất lượng bài giảng, THPT Long Xuyên và THPT Bình Khánh thì nghĩ sẽ kích thích hứng thú học tập của học sinh, THPT Ischool Long xuyên và THPT Mỹ Thới thì đồng ý là sẽ kích thích hứng thú học tập của học sinh, nâng cao chất lượng bài giảng và cả đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực Về mặt đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật để phục vụ cho việc ứng dụng CNTT thì các trường đều đầu tư một cách đầy đủ Các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang cũng thường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng để giáo viên tiếp cận CNTT để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Và các giáo viên có thái độ tích cực khi ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD Khẳng định bài giảng môn GDCD khi ứng dụng CNTT sẽ có nội dung phong phú hơn, đòi hỏi ở người giáo viên

có sự đầu tư nhiều hơn và thu hút học sinh nhiều hơn do phương pháp dạy học mới lạ…có hiệu quả hơn so với bài giảng thông thường Đa số cấp quản lý cho rằng giáo viên không gặp khó khăn gì khi ứng dụng CNTT, một vài ý kiến còn lại thì nghĩ sẽ khó kết hợp với các phương pháp dạy học khác Do đó, họ cũng đồng ý với những giải pháp như thường xuyên tổ chức, bồi dưỡng giáo viên tiếp cận và ứng dụng CNTT, tổ chức những buổi trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm để việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD mang lại hiệu quả cao hơn

Tiến hành khảo sát 15 đối tượng giáo viên (Tổ chuyên môn) và thu về 14 phiếu

hợp lệ, kết quả: 86% xem môn GDCD là môn học quan trọng; 100% cho rằng cần thiết ứng dụng CNTT; 42% thỉnh thoảng ứng dụng CNTT để dạy học; 50% thỉnh thoảng tổ chức các buổi bồi dưỡng để giáo viên tiếp cận CNTT; 43% trường đã đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất kĩ thuật để phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trong môn GDCD; 29% nhiều thao tác khó nắm bắt khi ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD; 36%

tổ chức những buổi trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm để việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD để mang lại hiệu quả cao hơn

Qua thực tế khảo sát thấy rằng, môn GDCD ở trường THPT qua nhận định của giáo viên có một vị trí quan trọng và sự cần thiết phải ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn GDCD Đa số giáo viên trong tổ chuyên môn thỉnh thoảng ứng dụng CNTT trong dạy học, số ít thì thường xuyên hơn Theo tổ chuyên môn, lợi ích của việc ứng dụng CNTT là nội dung bài giảng sinh động hơn, chất lượng bài giảng được nâng cao nên

Trang 31

kích thích hứng thú học tập của học sinh Và tổ chuyên môn cũng tổ chức các buổi tập huấn, bồi dưỡng để giáo viên tiếp cận CNTT nhưng chỉ thỉnh thoảng nên dẫn đến việc giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế Thực trạng các trường đã đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất kĩ thuật để phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, bài giảng sinh động hơn, học sinh tích cực hơn trong việc tiếp thu bài Và bài giảng môn GDCD khi ứng dụng CNTT sẽ đòi hỏi giáo viên đầu tư nhiều hơn và có hiệu quả hơn (THPT Long Xuyên), nội dung phong phú hơn, thu hút học sinh vì phương pháp dạy học mới lạ (THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu, THPT Bình Khánh, THPT Mỹ Thới) Đa số giáo viên không gặp khó khăn gì khi ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD, nhưng cũng có một số giáo viên cho rằng khi ứng dụng CNTT có nhiều thao tác khó nắm bắt, nội dung bài giảng dài nhưng thời lượng cho bài giảng thì ngắn, có ý kiến khác cho rằng tư liệu cho bộ môn chưa nhiều để phục vụ cho bài dạy Cũng như cán bộ quản

lý, tổ chuyên môn cũng đồng ý với những giải pháp như thường xuyên tổ chức, bồi dưỡng giáo viên tiếp cận và ứng dụng CNTT (THPT Long Xuyên, THPT Mỹ Thới), tổ chức những buổi trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm để việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD mang lại hiệu quả cao hơn (THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu, THPT Bình Khánh)

Tiến hành khảo sát 199 đối tượng học sinh, kết quả cụ thể như sau: 53,5% xem môn GDCD có vị trí quan trọng trong trường THPT, 31% bình thường; 13% giáo viên thường xuyên thực hiện việc ứng dụng CNTT vào việc giảng dạy môn GDCD ở trường, 47% thỉnh thoảng, 29,5% chưa thực hiện lần nào ; 57% các trường đã đầu tư một cách đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học; 61% học sinh rất thích thú khi tiếp thu bài giảng có ứng dụng CNTT và 22%

gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu bài do nội dung bài giảng dài

Thực trạng điều tra thấy rằng đa số học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xem môn GDCD có vị trí quan trọng trong trường THPT, một số ý kiến còn lại thì coi môn GDCD chỉ có vị trí bình thường Tuy nhiên, tất cả học sinh đều cho rằng việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD là rất cần thiết Đa số học sinh cho rằng giáo viên thường xuyên thực hiện việc ứng dụng CNTT vào việc giảng dạy môn GDCD ở trường và thấy rõ lợi ích của việc này như tạo hứng thú học tập cho học sinh cộng với nội dung bài học rõ ràng và dễ tiếp thu Một vài ý kiến khác nhận thấy lợi ích là tư liệu minh họa phong phú và có ích trong các kỳ thi, kỳ kiểm tra Và theo các em trường đã đầu tư một cách đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học Theo khảo sát thấy mức độ thích thú của học sinh khi tiếp thu bài giảng có ứng dụng CNTT là rất thích, và coi bài giảng có ứng dụng CNTT hay hơn nhiều vì giáo viên có sự đầu tư về giáo án, nhiều tư liệu, cập nhật nhiều sự kiện chính trị - xã hội nóng bỏng góp phần tăng hứng thú học tập cho học sinh Tuy nhiên, vẫn có một số học sinh cho rằng bài giảng có ứng dụng

Trang 32

CNTT vẫn như vậy, không có gì khác so với bài giảng thông thường do giáo viên chưa khai thác hết tư liệu Mặt khác, phần lớn học sinh cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu bài do nội dung bài giảng dài, giáo viên chưa kết hợp một cách khéo léo

sự diễn giải và trình chiếu dẫn đến bài giảng đi nhanh và chép bài không kịp Bên cạnh

đó, học sinh còn cho rằng có một số bài giảng của giáo viên mang tính khoa học chưa cao, nhiều màu sắc, hình ảnh không cần thiết dẫn đến học sinh mất tập trung do nhiều hiệu ứng dư thừa Đa số học sinh yêu cầu chỉ cần ít bản trình chiếu để nội dung thật cô đọng, ngắn gọn dễ theo dõi Học sinh cũng đề ra một số kiến nghị như bài giảng phải thực tế hơn, ứng dụng CNTT nhiều hơn trong giảng dạy môn GDCD

Tuy nhiên, có một vài ý kiến khác nhau giữa các trường như THPT Ischool Long Xuyên là một trường mới xây dựng lại nên theo học sinh việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật chưa được đầu tư một cách đầy đủ và đồng bộ, nên giáo viên chưa có điều kiện để thực hiện một cách thường xuyên Do học sinh ở trường THPT Ischool Long Xuyên chưa tiếp xúc với nhiều tiết dạy có ứng dụng CNTT nên đa số các học

sinh chưa khẳng định được mức độ hiểu bài như thế nào Đặc biệt, học sinh trường

THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu, THPT Long Xuyên và THPT Bình Khánh cho rằng trường đầu tư rất đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật để ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn GDCD Do đó, giáo viên cũng thường xuyên ứng dụng CNTT để giảng dạy môn GDCD và đa số đều thấy nhiều lợi ích của bài giảng có ứng dụng Phần lớn học sinh cũng cho rằng bài giảng có ứng dụng CNTT hay hơn nhiều so với bài giảng thông thường và mức độ hiểu bài của học sinh thì rất nhanh Tuy nhiên, học sinh cũng có một số khó khăn khi tiếp thu bài giảng có ứng dụng CNTT như bài giảng quá nhanh, nội dung bài giảng dài dẫn đến học sinh ghi chép bài không kịp, và đa số các em yêu

cầu nội dung cô đọng và ngắn gọn hơn để học sinh dễ ghi chép bài

Vậy, thông qua điều tra khảo sát tất cả các khối 10, 11, 12 của các trường THPT trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về tình hình ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD có thể thấy rằng môn GDCD là có vị trí quan trọng trong trường THPT, đa số học sinh và giáo viên đều nhận thấy rõ lợi ích cũng như hạn chế nhất định của phương pháp dạy học mới này Đồng thời cũng đề ra những giải pháp thiết thực để giúp việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD nhằm đem lại hiệu quả cao nhất

1.3.2.1 Những thành tựu và nguyên nhân của những thành tựu

Đẩy mạnh và quán triệt tinh thần ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD

để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực Công tác ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD của các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh

An Giang đã đạt được nhiều kết quả to lớn, thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên được sự quan tâm rất sâu sát của ngành

Trang 33

Giáo dục và Đào tạo tỉnh nhà Ban Giám hiệu nhà trường có quyết tâm cao và tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học Nhà trường đã trang bị khá đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc phục vụ cho đổi mới phương pháp dạy học: Các phòng bộ môn, thư viện, phòng đa chức năng, phòng máy

Việc sử dụng bài giảng điện tử sẽ chuyển tải được lượng tin lớn đến với học sinh, nên việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD được sự ủng hộ tích cực của học sinh, đa số học sinh rất mong muốn được học những giờ học ứng dụng CNTT

Nhận thức của cán bộ giáo viên và học sinh về vai trò, vị trí của ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD được nâng cao, toàn tỉnh ra sức đẩy mạnh ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học môn GDCD

Các đơn vị, trường học đã sử dụng, khai thác khá hiệu quả dịch vụ internet phục vụ các hoạt động quản lý, chỉ đạo, dạy và học môn GDCD Công tác bồi dưỡng, đào tạo trình độ về CNTT cho giáo viên giảng dạy môn GDCD được nâng cao, thường xuyên tạo điều kiện cho các giáo viên có kinh nghiệm trong soạn giảng, thành thạo trong việc sử dụng các phần mềm ứng dụng, tích cực tra cứu các tài liệu liên quan để phục vụ cho bài giảng

Đa số các giáo viên thực sự quan tâm đến vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD một cách có hiệu quả và thiết thực So với bài giảng bình thường, bài giảng có ứng dụng CNTT được giáo viên nghiên cứu kỹ càng hơn, đầu tư nhiều tư liệu hơn dẫn đến bài giảng có chất lượng cao hơn và nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung

Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên

đã tổ chức các hội thi thiết giáo án điện tử thúc đẩy phong trào ứng dụng CNTT trong dạy học, nhằm bồi dưỡng, trau dồi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các giáo viên trên địa bàn thành phố

Tổ chuyên môn các trường cũng phát động phong trào thao giảng bộ môn, ứng dụng CNTT để dạy học môn GDCD, mỗi tháng, mỗi giáo viên bộ môn GDCD phải có ít nhất một tiết dạy có ứng dụng CNTT

Tuy nhiên, để có được những kết quả như trên thì có nhiều nguyên nhân khác nhau mang lại, như:

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những chính sách đúng đắn về việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, đề ra những mục tiêu, phương hướng cụ thể góp phần mang lại chất lượng giáo dục cao nhất

Hầu hết các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An giang hiện nay đã được Sở Giáo dục và Đào tạo đầu tư nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật như

Trang 34

trang bị máy vi tính và đèn chiếu (Projectore)… đến từng trường học để hỗ trợ cho

việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD

Sở Giáo Giáo dục và Đào tạo, các trường THPT trong tỉnh cũng đã tổ chức nhiều đợt bồi dưỡng tin học cho cán bộ, giáo viên và công nhân viên, trong đó có giáo viên giảng dạy môn GDCD Tại một số trường, giáo viên đã được học các lớp phổ cập tin học và được hướng dẫn cách soạn một bài giảng điện tử, cách thức ứng dụng các thiết bị hiện đại, CNTT vào quá trình dạy học Kết quả, giáo viên giảng dạy môn GDCD đã biết ứng dụng CNTT và các thiết bị hiện đại vào việc soạn giảng các bài giảng GDCD lớp 10, 11, 12 và bước đầu đã mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng dạy học

Với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật hiện đại, đòi hỏi việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo, nên đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thành công phương pháp dạy học mới, tích cực này Mặt khác, nhận thức của giáo viên về việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD ngày một nâng cao nên thúc đẩy giáo viên hết lòng thực hiện việc truyền thụ kiến thức cho học sinh thông qua quá trình ứng dụng CNTT

1.3.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

Ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD đã mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học môn GDCD, đem lại nhiều hiệu quả thiết thực Tuy nhiên, phương pháp dạy học mới lạ này cũng đặt ra những hạn chế nhất định

Thứ nhất, một số giáo viên bộ môn GDCD vì trình độ, kiến thức, kỹ năng ứng

dụng CNTT còn hạn chế, hoặc chưa sử dụng thành thạo các thiết bị hiện đại nên còn lúng túng hoặc có tâm lí “e ngại” khi đổi mới phương pháp dạy học Bởi muốn soạn giảng một giáo án điện tử, người giáo viên phải vất vả gấp nhiều lần, vừa phải biết tin học và sử dụng thành thạo phần mềm Powerpoint và vừa phải tốn khá nhiều thời gian

Thứ hai, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã đem lại hiệu quả cao nhưng

mức độ ứng dụng trong nhà trường vẫn còn nhiều hạn chế vì còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan về phía nhà trường, giáo viên và cả đặc thù riêng của môn GDCD

Thứ ba, một số giáo viên coi nhẹ công dụng của việc ứng dụng CNTT vào dạy

học nên các bài giảng điện tử thông thường được download từ mạng về chỉnh sửa hoặc

tự làm nhưng không đầu tư nhiều hay chủ yếu là trình chiếu nội dung bài học, chất lượng chưa cao nên chưa phát huy được điểm mạnh của phương pháp dạy học mới

Trang 35

Thứ tư, hiện nay vẫn có một vài tư tưởng xem việc ứng dụng CNTT trong dạy

học đang mang tính chất thời vụ, theo phong trào (và thậm chí là đối phó) mà chưa được sử dụng một cách thường xuyên, liên tục trong quá trình dạy học môn GDCD

Ngoài ra, nếu giáo viên ứng dụng CNTT để giảng dạy môn GDCD một cách

qua loa, sơ sài sẽ không mang lại hiệu quả cao Do đó, giáo viên tốn nhiều thời gian,

công sức để cắt, ghép, chụp phim và làm chữ nổi, làm khung…đáp ứng đúng yêu cầu

và đặc thù của bộ môn Mặt khác, nếu việc thiết kế giáo án điện tử không mang tính khoa học, sẽ làm cho học sinh khó nắm bắt nội dung của bài học, mất sự tập trung của học sinh, đi ngược lại với hiệu quả đã đặt ra Đặc biệt, phương pháp này chỉ sử dụng được trong điều kiện có điện và các thiết bị hiện đại Đồng thời, một giáo án sử dụng dạy ở nhiều lớp có đối tượng học sinh với trình độ quá chênh lệch thì sẽ phù hợp với

lớp này mà không phù hợp với lớp khác, như vậy tính linh hoạt của giáo án không cao

Nguyên nhân của những hạn chế:

Trước hết, GDCD là môn khoa học xã hội, nội dung thiên về lý luận và

mang tính trừu tượng cao, nên tư liệu phục vụ môn học này còn rất hạn chế, dường như không có gì và thực tế đòi hỏi giáo viên phải cố công tìm tòi hoặc tự sáng tạo

Thứ hai, đa số các giáo viên chưa thực sự quan tâm đế vấn đề ứng dụng

CNTT vào dạy học môn GDCD một cách có hiệu quả và thiết thực Trong các tiết dạy

đa phần là thay thế cho việc viết bảng là chính mà chưa khai thác hết ý đồ của CNTT nên hiệu quả chưa cao học sinh phải chép nhiều hơn mà ít suy nghĩ, ít được rèn kĩ năng, tư duy và sáng tạo

Thứ ba, một số giáo viên vẫn chưa nhận thức được vai trò và tác dụng của

phương tiện dạy học, chưa đầu tư suy nghĩ về cách thức sử dụng phương tiện dạy học một cách có hiệu quả Một số giáo viên vẫn còn quen với cách dạy cũ, hoặc ngại sử dụng CNTT do tốn thời gian, công sức

Thứ tư, cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc, phòng bộ môn, phòng đa

chức năng, máy tính, máy chiếu…ở một số trường trên địa bàn thành phố Long xuyên chưa được trang bị đầy đủ

Thứ năm, hầu hết giáo viên chưa có kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học

hiện đại, chưa sử dụng thành thạo một số phần mềm vi tính, chưa đầu tư nghiên cứu

và xây dựng những phương tiện dạy học mới, chưa chịu khó học hỏi, khám phá nên các giáo viên chưa có kinh nghiệm trong soạn giảng về ứng dụng CNTT Khi lên lớp nội dung bài giảng còn rời rạc, quá trình tiết học CNTT trở thành nhàm chán, ít hiệu quả sau tiết học học sinh cảm thấy mệt mỏi nhiều hơn là hứng thú

Ngoài ra, nhiều giáo viên không muốn trang bị máy tính phục vụ dạy học khi đời sống gia đình còn nhiều khó khăn Một số giáo viên khác chưa thực sự cố gắng tự học, tự nâng cao khả năng ứng dụng CNTT, chưa dám nghĩ dám làm Đồng thời có

Trang 36

một số giáo viên đã cố gắng ứng dụng CNTT vào dạy học, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy vẫn còn nặng về hình thức, mang nặng tính chất trình diễn Nhiều giáo viên còn ôm đồm, nhồi nhét các loại thông tin, phim, ảnh làm mất thời gian nhưng hiệu quả giờ dạy không cao Mặt khác, ứng dụng CNTT vào dạy học sẽ làm giảm mạnh sự giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò và trò nếu giáo viên không sử dụng kết hợp phong phú với các phương pháp dạy học khác Trong tiến trình lên lớp với bài giảng điện tử, một

số giáo viên thao tác quá nhanh, học sinh không kịp chép bài, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và mức độ hiểu bài của các em không cao

Thực tế những năm gần đây, việc đổi mới chương trình và nội dung sách giáo khoa đã được triển khai đồng bộ: Từ nội dung, phương pháp, phương tiện đến kiểm tra, đánh giá Vì vậy, việc sử dụng thiết bị dạy học trong các bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội cũng như bộ môn GDCD có nhiều chuyển biến khá tích cực Nhiều giáo viên đã ứng dụng CNTT vào dạy học một cách tích cực và có hiệu quả Với sự hỗ trợ của máy tính, Projector, những sơ đồ minh họa, tranh ảnh, băng hình…đã phục vụ thiết thực cho tiết dạy, không chỉ giúp giáo viên tiết kiệm thời gian và công sức mà còn tăng hiệu quả đáng kể cho quá trình dạy học Tuy nhiên, việc dùng giáo án điện

tử, sử dụng máy tính, Projector, truy cập mạng Internet phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy đối với bộ môn GDCD là chưa nhiều, đôi lúc chỉ dừng lại ở những tiết dạy thao giảng hay có người dự giờ…Phần lớn giáo viên lên lớp vẫn dùng các phương pháp dạy học truyền thống, chủ yếu là phương pháp thuyết trình và trình bày bài giảng bằng phấn trắng, bảng đen Nhiều giáo viên cũng đã mạnh dạn ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp giảng dạy, song khi soạn giáo án điện tử vẫn chưa nắm được những tiêu chí cơ bản của một bài giảng điện tử Vì vậy vẫn còn tình trạng lạm dụng màu sắc, hiệu ứng, âm thanh hoặc đưa quá nhiều thông tin, phim ảnh không phù hợp làm giảm hiệu quả giờ dạy

Từ thực tế trên cho thấy sự cần thiết phải triển khai rộng rãi việc ứng dụng CNTT vào dạy học có tính đồng bộ, đúng hướng và có hiệu quả hơn

Trang 37

CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

2.1 Xây dựng cơ sở vật chất cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân

2.1.1 Xây dựng thư viện tư liệu điện tử

Thư viện tư liệu là một kho tài liệu mà giáo viên thu thập, cất giữ hoặc sáng tạo

ra để phục vụ cho quá trình giảng dạy của mình

Thư viện tư liệu điện tử là những tư liệu mà giáo viên thu thập từ Internet, hình ảnh được Scan quét hoặc do giáo viên tự sáng tạo ra…chỉ ứng dụng với kỹ thuật công nghệ thông tin được cất giữ trong USB, bộ nhớ máy tính hay thư viện điện tử của trường, của tổ bộ môn hoặc cá nhân giáo viên để phục vụ cho quá trình giảng dạy của mình

Thư viện tư liệu điện tử có thể hình thành với nhiều quy mô khác nhau: Thư viện tư liệu điện tử cá nhân (giáo viên), thư viện tư liệu điện tử của tổ chuyên môn, thư viện điện tử của trường (website của mỗi trường) hay thư viện tư liệu điện tử của mạng, internet (thư viện trực tuyến Violet) Tuy với nhiều quy mô khác nhau nhưng thư viện tư liệu điện tử đều có một mục tiêu chung là phục vụ đắc lực cho quá trình giảng dạy của giáo viên, tùy theo nhu cầu của từng bộ môn, từng đối tượng giáo viên

mà quy mô của thư viện tư liệu điện tử lớn hay nhỏ, nhiều hay ít

Để phục vụ cho công tác giảng dạy, đối với môn GDCD kho tư liệu là điều kiện cần thiết và đặc biệt quan trọng vì đặc trưng của môn GDCD là bộ môn trang bị cho học sinh hệ thống tri thức đa dạng, phong phú: Triết học, đạo đức, chính trị, pháp luật Những bài dạy về đạo đức, chính trị, pháp luật đòi hỏi có tính thực tiễn cao Do vậy giáo viên dạy GDCD phải chú trọng cập nhật những sự kiện, thông tin, số liệu mới phục vụ cho quá trình giảng dạy có hiệu quả

Trước đây, với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên xây dựng kho tư liệu bằng cách đọc, tham khảo tài liệu, sách, báo và chép lại những thông tin cần thiết vào sổ tư liệu, sau đó phát huy tư liệu thông qua bảng phụ, bảng biểu, sơ đồ…Kho tư liệu của giáo viên trước đây cũng có nhiều quy mô khác nhau, nhưng phổ biến nhất là

ở quy mô cá nhân giáo viên hay tổ chuyên môn, chưa có quy mô rộng rãi như thư viện trực tuyến, mạng, internet như hiện nay Đó là một trong những hạn chế của thư viện

tư liệu truyền thống Nhưng hiện nay với khả năng vượt trội của CNTT sẽ giúp giáo viên xây dựng thư viện tư liệu thuận lợi, phong phú và khoa học hơn Đầu tiên ta thấy việc khai thác tư liệu có thể lấy từ đa dạng nguồn khác nhau, từ khai thác thông tin,

tranh, ảnh từ mạng Internet, thông dụng nhất là trang google.com.vn Mặt khác, ta có

Trang 38

thể khai thác tranh ảnh từ sách, tài liệu, báo chí, tạp chí trong quá trình tham khảo sách, báo, tài liệu gặp những tranh, ảnh đặc biệt cần thiết, có thể dùng máy Scan quét ảnh và lưu vào USB, bộ nhớ máy vi tính, cuối cùng cập nhật vào kho tư liệu của mình

để phục vụ cho quá trình giảng dạy Hay khai thác từ băng hình, phim video, các phần mềm, tranh ảnh, bản đồ, hình vẽ thông qua chức năng cung cấp thông tin của máy tính

Ví dụ: Khai thác các đoạn phim về các vấn đề liên quan đến bài giảng, cần thực hiện thao tác: Mở các băng hình, các đĩa CD - Rom, lựa chọn các đoạn phim có thể làm tư liệu giảng dạy, sử dụng phần mềm (như Hero Super Player 3000 hoặc Herosoft

2001 hay Camtasia studio ) cắt các đoạn phim rồi lưu vào máy tính thành các file dữ liệu trong thư viện tư liệu để phục vụ giảng dạy Vì khi chúng ta khai thác tư liệu rất ít trường hợp tư liệu sát với nội dung, do đó đòi hỏi giáo viên phải xử lý cẩn thận, chính xác để vừa phù hợp với nội dung bài học, vừa chính xác thời lượng tiết dạy Như đoạn phim minh họa cho “tình hình ô nhiễm môi trường trầm trọng ở thành phố” chẳng hạn, khi giáo viên tìm tư liệu sẽ gặp phải những đoạn video nói về tình hình trên rất nhiều Tuy nhiên, thời lượng sẽ tương đối dài, hoặc nêu không rõ địa danh, hoặc đoạn video trên không xuất phát từ nguồn gốc chính thống…điều này đòi hỏi giáo viên phải thật cẩn thận, sử dụng các phần mềm kể trên cắt ngắn đoạn tư liệu khoảng 1 đến 2 phút là

đủ, nội dung phù hợp và tốt hơn hết là các đoạn phim thời sự có nguồn gốc từ đài truyền hình Việt Nam…

Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng chương trình Windows Media Maker để tự sáng tạo tư liệu cho riêng mình Đây là một chương trình có thể sử dụng để giảng dạy rất phù hợp với các môn xã hội, trong đó có GDCD Giáo viên có thể lựa chọn nhiều hình ảnh minh họa và một đoạn nhạc hay đoạn ghi âm phù hợp để sáng tạo thành một đoạn phim minh họa trong trường hợp chúng ta không thể tìm được nguồn tư liệu nào

Ví dụ trong nội dung Lòng yêu nước, Bài CÔNG DÂN VỚI SỰ NGHIỆP XÂY

DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC, GDCD Lớp 10, giáo viên có thể thu thập các hình ảnh chùm khế ngọt, con đò, cánh diều, cầu tre,…và cắt một đoạn nhạc trong ca khúc Quê hương, sau đó sử dụng chương trình Windows Media Maker để tạo thành một đoạn phim mới kết hợp hình ảnh và âm thanh một cách sinh động và hợp vấn đề để học sinh hiểu rõ được tình yêu quê hương, đất nước bắt nguồn từ đâu?

Hay nếu như không biết sử dụng phần mềm trên, giáo viên có thể tự tạo ra một

số tư liệu theo cách đơn giản hơn, giáo viên sẽ tự quay những đoạn phim minh họa với máy kĩ thuật số, điện thoại với chức năng phân giải cao…với sự sắm vai của học sinh hay đồng nghiệp hình thành nên những sản phẩm dạy học rất thực tế và thông dụng, đáp ứng nhu cầu của bộ môn GDCD vừa mang tính trừu tượng, vừa gần gũi với cuộc sống Ví dụ, giáo viên quay một đoạn phim với cảnh đun nước sôi, rất thực tế và gần

gũi với cuộc sống của học sinh để minh họa cho nội dung “Sự biến đổi về lượng dẫn

Ngày đăng: 06/12/2015, 12:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Dành cho Cán bộ quản lý (15/15 phiếu) - Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố long xuyên, tỉnh an giang
Bảng 1 Dành cho Cán bộ quản lý (15/15 phiếu) (Trang 74)
Hình 1.1: Chương trình soạn giáo án điện tử phổ biến nhất hiện nay – - Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố long xuyên, tỉnh an giang
Hình 1.1 Chương trình soạn giáo án điện tử phổ biến nhất hiện nay – (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w