1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Cơ sở khảo cổ học tài liệu giảng dạy

69 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người xưa thu lượm, sưu tầm các di vật cổ, các di cốt hóa thạch, nhạc khí cổ, giữ gìn thành, miếu, nơi cư trú, mộ táng cổ… Những tài liệu hiện vật đó được tích lũy ngày càng nhiều; phải

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 3

MỤC LỤC Trang

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ KHẢO CỔ HỌC 1

1.1 Đối tượng, định nghĩa khảo cổ học và nhiệm vụ của nhà khảo cổ: 1

1.1.1 Đối tượng của khảo cổ học: 1

1.1.2 Định nghĩa khảo cổ học: 1

1.1.3 Nhiệm vụ của nhà khảo cổ: 1

1 2 Khảo cổ học quan hệ với các ngành khoa học khác: 2

1.2.1 Khảo cổ học quan hệ với sử học: 2

1.2.2 Khảo cổ học quan hệ với dân tộc học: 3

1.2.4 KCH quan hệ với ngôn ngữ: 4

1.3 Quá trình hình thành và phát triển của ngành KCH thế giới: 4

1.3.1 Thời cổ đại: 4

1.3.2 Thời trung đại: 4

1.3.3 Thời cận và hiện đại: 4

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của ngành KCH nước ta: 5

1.4.1 Trước thế kỷ XVIII: 5

1.4.2 Thời Pháp thuộc: 5

1.4.3 Sau Cách mạng tháng Tám 1945: 5

CHƯƠNG 2: DI TICH KHẢO CỔ VÀ VĂN HÓA KHẢO CỔ 7

2.1 Di tích khảo cổ: 7

2.1.1 Di tích nơi cư trú cổ là gì ? Tác dụng của nó đối với việc nghiên cứu khảo cổ: 7

2.1.2 Tầng văn hóa là gì? TVH cung cấp cho nhà khảo cổ nhiều kiến thức quan trọng về cuộc sống của người xưa: 7

2.1.3 Mô tả một hang động, nơi người nguyên thủy đã từng cư trú 8

2.1.4 Di chỉ phù sa là gì ? Cách xác định niên đại của các hiện vật thu lượm được ở di chỉ phù sa: 8

2.1.5 Những thông tin từ di tích mộ táng cổ: 8

2.1.6 Các loại di tích khảo cổ khác: 9

2.2 Văn hóa khảo cổ: 9

2.2.1 Định nghĩa văn hóa khảo cổ Cách đặt tên các nền văn hóa khảo cổ: 9

2.2.2 Khái niệm “văn hóa khảo cổ” 9

CHƯƠNG 3: CÁC P P NGHIÊN CỨU KHẢO CỔ HỌC 11

3.1 Điều tra khảo cổ: 11

3.1.1 Điều tra khảo cổ là gì ? Vai trò của điều tra khảo cổ? 11

3.1.2 Để cho việc điều tra khảo cổ đạt yêu cầu nhà khảo cổ phải làm nhiều việc: 11

3.2 Khai quật khảo cổ: 12

3.2.1 Khai quật khảo cổ là gì ? Nhiệm vụ của khai quật khảo cổ: 12

3.2.2 Khi khai quật một di chỉ khảo cổ cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc sau: 12

3.3 Các phương pháp nghiên cứu khảo cổ học trong phòng: 13

3.3.1 Khôi phục hình dáng và xác định công dụng của hiện vật: 13

3.3.2 Giải phẫu hiện vật: 13

3.3.3 Phương pháp phân tích quang phổ, phương pháp phân tích quang tuyến X, phương pháp thực nghiệm: 13

3.3.4 Xác định niên đại tương đối là gi ? Phương pháp xác định niên đại tương đối: 13

3.3.5 Xác định niên đại tuyệt đối là gì ? Phương pháp xác định niên đại tuyệt đối: 14

3.3.6 Xác định nguồn gốc của chủ nhân: 14

CHƯƠNG 4: GIẢ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI 16

4.1 Quan điểm duy tâm, duy vật về nguồn gốc loài người: 16

Trang 4

4.1.1 Quan điểm duy tâm về nguồn gốc loài người: 16

4.1.2 Quan điểm duy vật về nguồn gốc loài người: 16

4.1.3 Sự khác nhau giữa vượn người và người vượn: 17

4.2 Quá trình tiến hóa từ vượn thành người: 17

4.2.1 Những nét lớn về vượn người Dryopithecus và Australopithecus: 17

4.2.2 Những nét lớn về người vượn Homo habilis, Pitecantheropus, Sinantheropus và Néanderthal: 18

4.2.3 Di cốt hóa thạch phản ánh quá trình chuyển hóa từ vượn thành người: 19

4.2.4 Vẽ biểu đồ biểu diễn quá trình chuyển biến từ Vượn thành Người: 19

4.2.5 Sự xuất hiện của người Homo sapien và các đại chủng tộc: 20

4.2.6 Bác bỏ thuyết phân biệt chủng tộc: 20

CHƯƠNG 5: THỜI ĐẠI ĐỒ ĐÁ CŨ 22

5.1 Thời đại đồ đá cũ trên thế giới: 22

5.1.1 Thời sơ kỳ đồ đá cũ là gì? 22

5.1.2 Giai đoạn Tiền Sen thuộc sơ kỳ đồ đá cũ: 22

5.1.3 Giai đoạn Sen thuộc sơ kỳ đồ đá cũ: 23

5.1.4 Giai đoạn A Sơn thuộc sơ kỳ đồ đá cũ: 23

5.1.5 Thành tựu văn hóa của loài người thời trung kỳ đồ đá cũ: 24

5.1.6 Thành tựu văn hóa của loài người thời hậu kỳ đồ đá cũ: 24

5.3 Thời đại đồ đá cũ ở Việt Nam: 26

5.3.1 Việt Nam được xem là một trong những “cái nôi” của nhân loại: 26

5.3.2 Hiện vật của thời sơ kỳ đồ đá cũ ở Việt Nam có mặt ở nhiều nơi: 26

5.3.2 Hiện vật của thời trung kỳ kỳ đồ đá cũ ở Việt Nam: 26

5.3.3 Hiện vật của thời hậu kỳ kỳ đồ đá cũ ở Việt Nam: 27

CHƯƠNG 6: THỜI ĐẠI ĐỒ ĐÁ GIỮA 29

6.1 Thời đại đồ đá giữa trên thế giới: 29

6.2 Thời đại đồ đá giữa ở Việt Nam: văn hóa Hòa Bình: 30

6.2.1 Phạm vi phân bố, lan tỏa, tầng văn hóa, niên đại của văn hóa Hòa Bình: 30

6.2.2 Trong thời đại đồ đá giữa Việt cổ đạt được nhiều thành tựu văn hóa: 30

6.2.3 Đặc điểm công cụ lao động của người Hòa Bình: 30

6.2.4 Văn hóa Hòa Bình có nguồn gốc từ văn hóa Sơn Vi và phát triển thành văn hóa Bắc Sơn, thuộc thời kỳ đồ đá giữa: 31

6.2.5 Cuộc sống, kinh tế và việc chôn người chết của cư dân Hòa Bình: 31

CHƯƠNG 7: THỜI ĐẠI ĐỒ ĐÁ MỚI 33

7.1 Thời đại đồ đá mới trên thế giới: 33

7.1.1 Những thành tựu văn hóa của loài người thời đại đồ đá mới: 33

7.1.2 Giả thuyết về quá trình về phát minh ra đồ gốm: 33

7.1.3 Kinh tế của thời đồ đá mới: 34

7.1.4 Cuộc sống của người nguyên thủy thời đồ đá mơi: 35

7.1.5 Tôn giáo, nghệ thuật,chữ viết của người nguyên thủy: 35

7.2 Thời đại đồ đá mới ở Việt Nam: 36

7.2.1 Những đặc trưng văn hóa của sơ kỳ thời đại đồ đá mới ở Việt Nam: văn hóa Bắc Sơn: 36

7.2.2 Những đặc trưng văn hóa của sơ kỳ thời đại đồ đá mới ở Việt Nam: văn hóa Quỳnh Văn: 36

7.2.3 Những đặc trưng văn hóa của trung kỳ thời đại đồ đá mới ở Việt Nam: văn hóa Đa Bút: 37

7.2.4 Những đặc trưng văn hóa của trung kỳ thời đại đồ đá mới ở Việt Nam: di tích Cái Bèo, Soi Nhụ: 37

7.2.6 Những đặc trưng văn hóa cơ bản của hậu kỳ thời đại đồ đá mới ở Việt Nam: văn hóa Bàu Tró: 38

Trang 5

7.2.7 Những đặc trưng văn hóa cơ bản của hậu kỳ thời đại đồ đá mới ở Việt Nam: các nhóm di tích khác ở Việt Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung

bộ, hạ lưu sông Đồng Nai: 38

CHƯƠNG 8: THỜI ĐẠI ĐỒ ĐỒNG 40

8.1 Thời đại đồ đồng trên thế giới: 40

8.1.1 Những thành tựu văn hóa của loài người thời đồ đồng đỏ: 40

8.1.2 Những thành tựu văn hóa của loài người thời đồ đồng thau: 41

8.2 Thời đại đồ đồng ở Việt Nam: 43

8.2.1 Những đặc trưng văn hóa của thời đại đồ đồng giai đoạn Phùng Nguyên 43

8.2.2 Những đặc trưng văn hóa của thời đại đồ đồng của giai đoạn Đồng Đậu: 43

8.2.3 Những đặc trưng văn hóa của thời đại đồ đồng của giai đoạn Gò Mun: 44

8.2.4 Những đặc trưng văn hóa của thời đại đồ đồng ở khu vực Bắc Trung Bộ: 44

CHƯƠNG 9: SƠ KỲ THỜI ĐẠI ĐỒ SẮT 46

9.1 Sơ kỳ thời đại đồ sắt trên thế giới: 46

9.2 Thời đại đồ sắt ở Việt Nam: 48

9.2.1 Những đặc trưng và nội dung cơ bản của văn hóa Đông Sơn: 48

9.2.2 Những đặc trưng và nội dung cơ bản của văn hóa Sa Huỳnh: 49

9.2.3 Phạm vi phân bố, phạm vi lan tỏa và đặc điểm di tích của nền văn hóa Dốc Chùa (Đông Nam Bộ): 50

9.2.4 Những đặc trưng và nội dung cơ bản văn hóa Dốc Chùa (Đông Nam Bộ) 51

9.2.5 Những đặc trưng và nội dung cơ bản của văn hóa Óc Eo (An Giang): 52

PHỤ LỤC I 57

PHỤ LỤC II 59

Trang 6

BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT CỤM TỪ VIẾT TẮT LÀ

ĐĐ ĐĐĐ ĐĐT ĐĐđ

NM KCH KQKC

KH

PP PPNC QTHT

TK

BC (Before Christ) TVH

VH

VD VNg

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Môn khảo cổ học được giảng dạy ở hầu hết các trường đại học trên thế giới và nước ta, đó cũng là môn cơ sở của ngành đại học sư phạm lịch sử Trường Đại học An Giang Trong quá trình học môn học này sinh viên biết được các giả thuyết về nguồn gốc loài người, về sự tiến hóa từ vượn người thành người vượn, người hiện đại; biết được cuộc sống con người thời tiền sử dài hàng triệu năm và nếu so với toàn bộ lịch sử nhân loại từ khi loài người xuất hiện đến nay thì chỉ riêng thời đại đồ đá cũ đã chiếm 99% tổng số thời gian

Chính việc chế tạo và cải tiến công cụ lao động đã giúp, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển biến từ vượn thành người và tỉ lệ “chất người” ngày càng tăng, cuộc sống con người ngày càng được nâng lên, dân số ngày càng đông hơn Đặc biệt, các bạn sinh viên biết rằng nước ta là một trong những “cái nôi” của loài người; biết rằng tổ tiên chúng ta sinh ra lớn lên tại bản địa Việt Nam nên đã sớm có lòng yêu nước, từng chống giặc Ân khi đất nước mới tượng hình, có quá nhiều khó khăn, thể hiện qua câu chuyện Thánh Gióng, thời Hùng Vương, thuộc thời đại đồ đồng Thời đồ đồng nhưng trong chiến trận Thánh Gióng sử dụng ngựa sắt, côn săt, giáp sắt, nón sắt nói lên ước mơ của người Việt

cổ là có được đồ sắt, - một loại vũ khí hiện đại của thời đó, để chống giặc

Kim Thánh Thán đã viết: “Ngã kim nhật tại tọa chi địa / Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi: Chỗ ta ngồi hôm nay tiền nhân đã ngồi rồi”, vậy chỉ cần khai quật chỗ ta ngồi tại đây – hôm nay là ta có được một khối lượng tài liệu lớn phản ánh trung thực, khách quan cuộc sống vất vả, gian truân của tổ tiên ta Việc đó cho thấy rằng khảo cổ học đóng vai trò rất quan trọng trong viếc vẽ lại bức tranh nhân loại thời tiền sử và bổ sung cho thời thự sử, lịch sử rất nhiều tài liệu

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói “Tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của khảo cổ học như vậy vì đất nước ta có thể tàng trữ những di vật cực kỳ quí báu không những đối với ta mà còn đối với nhiều nước trên thế giới”, qua ý kiến đó có thể nói khảo cổ học có

vị trị quan trọng đối với lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới Riêng nước ta, khảo cổ học góp phần quan trọng vào việc làm rõ về đất nước – con người – xã hội – dân tộc – lịch

sử Việt Nam, qua đó tăng thêm lòng yêu Tổ quốc, quyết tâm cùng nhau xây dựng nước nhà giàu đẹp

Quyển tài liệu giảng dạy này hi vọng đóng phần nhỏ vào sự nghiêp chung đó của ngành khảo cổ nước ta Trong quá trình biên soạn, mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do trình độ của người biên soạn còn hạn chế nên chắc còn có nhiều thiếu sót rất mong được

sự lượng thứ và góp ý của quí vị đồng nghiệp và các bạn sinh viên của Trường Đại học

An Giang

Đại học An Giang, tháng 5 năm 2012

TS NGUYỄN THÀNH PHƯƠNG

Trang 8

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ KHẢO CỔ HỌC

Khảo cổ học là một ngành khoa học hình thành muộn nhưng đã có mầm móng từ lâu đời Người xưa thu lượm, sưu tầm các di vật cổ, các di cốt hóa thạch, nhạc khí cổ, giữ gìn thành, miếu, nơi cư trú, mộ táng cổ… Những tài liệu hiện vật đó được tích lũy ngày càng nhiều; phải tiến hành nghiên cứu nó, từ đó khảo cổ trở thành một ngành khoa học ngày càng phát triển; đặc biệt từ sau Cách mạng tháng 10 Nga ngành khảo cổ học Marxism ra đời góp phần giúp cho khảo cổ học có thêm phương pháp mới giúp nhà khảo cổ có thêm những nét vẽ cho bức tranh nhân loại thời cổ

Nhà khảo cổ làm nhiệm vụ “lật những trang sách đất để viết những trang sách đời” vì phần lớn hiện vật bị vùi sâu trong lòng đất do đó nhà khảo cổ phải vất vả trong việc điều tra khảo cổ, khai quật khảo cổ; sau đó tiến hành các phương pháp nghiên cứu trong phòng và cùng cộng tác với các nhà khoa học khác: sử học, dân tộc học, ngôn ngữ học, địa chất học, động vật học, cổ nhân học, thực vật học, nhân loại học, địa lý học, toán học, vật lý học, hóa học, y học, sinh học, luyện kim học để có những nhận định gần đúng về thời quá khứ

Từ những năm đầu công nguyên tổ tiên ta có ý thức trong việc sưu tầm các cổ vật, giữ gìn các di sản văn hóa cổ Thời Pháp thuộc người Pháp thành lập Ủy ban Khảo cổ học Đông Dương sau đổi tên thành Trường Viễn Đông bác cổ làm các công việc của ngành khảo cổ học: điều tra, khai quật khảo cổ, phát hành sách, tạp chí về khảo cổ học, đã có nhiều đóng góp vào việc phát hiện nghiên cứu thời đại đồ đá của nước ta

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng ngành khảo cổ nước ta có những bước tiến rất dài, đạt được những thành tựu to lớn, đóng góp một phần quan trọng vào việc nghiên cứu lịch sử nước nhà, khu vực Đông Nam Á

và thế giới

1.1 Đối tượng, định nghĩa khảo cổ học và nhiệm vụ của nhà khảo cổ:

1.1.1 Đối tượng của khảo cổ học:

Là tất cả các hiện vật: vật sưu tầm hay khai quật được Đặc điểm của các hiện vật: bị

hư hại nhiều, cung cấp không nhiều thông tin, đó là những “tài liệu câm”, “chất liệu đang ngủ”…

1.1.2 Định nghĩa khảo cổ học:

Platon (TK IV BC): KCH là ngành khoa học được dùng để chỉ lịch sử thời cổ Có người cho rằng KCH là một ngành của lịch sử nghệ thuật; KCH là ngành khoa học nghiên cứu về thời tiền sử, thời cổ đại; có người xếp KCH tiền sử vào địa chất học…

Khảo: tìm tòi để nghiên cứu; cổ: những vật cổ xưa Theo những nghĩa đó, KCH là ngành khoa học chuyên việc tìm tòi, nghiên cứu những vật cổ xưa

KCH là Archéology; theo từ nguyên Hy – La, arkhaios là cổ xưa, thời cổ đại; logos là khoa học Theo nghĩa đó, KCH là ngành khoa học nghiên cứu về cổ vật, về thời cổ đại

Các định nghĩa trên chưa giải đáp thỏa đáng định nghĩa KCH Ngày nay, các nhà khảo

cổ chấp nhận định nghĩa: Khảo cổ học là một ngành khoa học chuyên việc dựa vào các hiện vật sưu tầm hay khai quật được, giải mã các hiện vật đó để khôi phục mọi mặt đời sống của dân cư thời cổ

1.1.3 Nhiệm vụ của nhà khảo cổ:

Chủ yếu là dựa vào các hiện vật để tái hiện lại quá khứ loài người Nhà khảo cổ là nhà

sử học bên cạnh cây viết còn có “cuốc xẻng”, có sự liên kết với các ngành khoa học khác

Trang 9

trong viêc thực hiện các nghiên cứu khảo cổ học trong phòng, lại không phải viết về người và các việc đương thời nên những trang sử của nhà khảo cổ đậm nét khách quan

Để hoàn thành những nhiệm vụ khó khăn đó nhà khảo cổ phải: có kiến thức về khảo cổ

học, dân tộc học, nhân học, sử học và các nguồn tri thức khoa học khác; nắm vững các phương pháp nghiên cứu khảo cổ học; cần có nhiều cố gắng trong việc điều tra khảo cổ, khai

quật khảo cổ và việc thực hiện tốt các phương pháp nghiên cứu khảo cổ học trong phòng …

1 2 Khảo cổ học quan hệ với các ngành khoa học khác:

Khảo cổ học phải có mối quan hệ với các ngành khoa học khác vì mọi ngành khoa học nếu muốn phát triển phải nằm trong mối quan hệ với các ngành khoa học khác và mối quan hệ

đó cũng trở nên mật thiết hơn khi các ngành khoa học phát triển ngày càng cao

KCH khi nghiên cứu về các hiện vật cần tới sự hỗ trợ của các ngành khoa học khác VD:

dùng phương pháp Cacbon 14 để xác định tuổi của các hiện vật

Khảo cổ học cung cấp những tài liệu quí giá cho các ngành khoa học khác đặc biệt đối

với sử học VD: Việc tìm được các mũi tên đồng của thành Cổ Loa giúp ta biết nhiều hơn về

các nhân vật huyền thoại: Thục Phán, Triệu Đà, Trọng Thủy, Mỵ Châu, biến những nhân vật huyền thoại đó thành các nhân vật lịch sử; điều đó cũng xác định là thành Cổ Loa là tòa thành có thật trong lịch sử Việt Nam

Với động vật học việc nghiên cứu về xương cốt giúp nhà khảo cổ biết được được người

xưa sống với loài vật nào, về ngành chăn nuôi nguyên thủy…VD khai quật di tích Bàu Tró

(Quảng Bình) các nhà khảo cổ tìm thấy vỏ sò, hến, xương lợn, hươu, nai… Từ đó ta đoán định là người Bàu Tró sống trong môi trường sống có sò, hến, hươu, nai…và có thể có chăn nuôi lợn…

Thực vật học cho ta biết về hoàn cảnh sinh sống, khí hậu, thổ nhưỡng, cây trồng, nông nghiêp, nguồn nước v.v… của thời cổ khi nghiên cứu về bào tử phấn hoa, hạt cây ăn quả, hạt ngũ cốc, hoa lá hóa thạch tìm thấy trong các di tích khảo cổ

Nhân loại học nghiên cứu cấu tạo cơ thể người cho biết rõ hơn về con người thời cổ, về

sự tiến hóa của cơ thể người, góp phần giải quyết các vấn đề về nguồn gốc con người, nguồn gốc các tộc người, sự thay đổi cơ thể người trong quá trình lao động, chu kỳ của một đời người, những bệnh tật mắc phải…

Hoàn cảnh địa lý có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy phần nào sự phát triể xã hội, vì vậy các

di tích khảo cổ cần được nghiên cứu trong mối liên hệ với điều kiện địa lý thời đó; điều đó giúp ta nắm được sự phân bố và sự di chuyển các nền văn hóa khảo cổ, các nhóm nhân chủng, xác định những con đường và những mối giao lưu kinh tế văn hóa thời cổ …

Tóm lại, ngành KCH quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành khoa học khác, muốn cho kết

quả nghiên cứu chính xác toàn diện, nhà khảo cổ phải có sự hợp tác với các nhà khoa học

khác

1.2.1 Khảo cổ học quan hệ với sử học:

Sử học phải dựa vào khảo cổ học để biết diện mạo thời tiền sử vì thời kỳ tiền sử chưa

có chữ viết nên phải dựa vào các hiện vật để viết lịch sử nhân loại Khi có chữ viết thì khảo cổ học vẫn cung cấp cho sử học nhiều tài liệu đó là việc tìm được những hiện vật có khắc chữ: mai rùa, đồ gốm, đồ gỗ, đá, kim loại…đã chứa trong đó nhiều sử liệu quí giá

Sử học cũng phải dựa vào các hiện vật sưu tầm được để viết sử Qua các hiện vật tìm

được có thể đoán định được cuộc sống của người xưa VD: khai quật ngôi mộ ta có được các

hiện vật như: áo trấn thủ, đôi dép lốp cao su, nón cối, ống điếu thuốc lào Qua những hiện vật

đó ta đoán được người nằm dưới mộ là một chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp, có cuộc sống gian khổ

Trang 10

Tài liệu khảo cổ mang tính khách quan, đề cập đến mọi mặt của đời sống nhân loại, nằm trong lòng đất với số lượng vô hạn Tài liệu sử học bị giới hạn của chính nhà viết sử, thường phải bẻ cong ngòi bút trước chế độ chính trị họ đang sống, ví dụ, không dám nói đến hạn chế của vua chúa, vì như vậy sẽ bị mất chức, chết đói, hoặc bị tru di tam tộc; ngược lại, ca

tụng, nịnh hót vua chúa, quan chức sẽ được vinh thân phì gia, quyền cao chức trọng…VD:

Quyển Sử ký Tư Mã Thiên có một số trang xúc phạm đến các vua đầu đời nhà Hán nên quyển

Sử ký chỉ được lưu hành năm mươi năm sau khi Tư Mã Thiên chết; thực ra, quyển sử đó cũng không phản ánh chân thực lịch sử vì nhiều lý do, một trong những lý do đó là Tư Mã Thiên bị giới hạn bởi sử quan phong kiến

Tài liệu chữ viết còn lại cũng không nhiều Sử gia xưa thường viết về các việc làm của vua chúa, quan lại, về chính trị, quân sự, thường thiên vị chính quyền đương thời… hơn là mọi mặt khác của đời sống, của quần chúng nhân dân Cũng chính các sử gia đã rút ra rất nhiều bài học thành bại trong việc cai trị, nhờ đó chính thể phong kiến hiện diện quá lâu trên thế giới

Rõ ràng, tài liệu chữ viết có quá nhiều hạn chế về nội dung, số lượng lại có giới hạn vì vậy, nhà khảo cổ dựa vào tài liệu hiện vật dễ dàng khôi phục một cách chân thực diện mạo nhân loại thời cổ

1.2.2 Khảo cổ học quan hệ với dân tộc học:

Dân tộc là một ngành khoa học chuyên việc nghiên cứu các đặc điểm của các dân tộc thể hiện trong đời sống, trong văn hóa của dân tộc đó Khảo cổ học và dân tộc học cùng nghiên cứu về xã hội nhưng dân tộc học nghiên cứu xã hội hiện tại qua điều tra, quan sát còn khảo cổ học nghiên cứu các xã hội quá khứ qua điều tra, khai quật khảo cổ thông qua việc giải

mã các hiện vật sưu tầm hay khai quật được

Khảo cổ học và dân tộc học bổ sung kiến thức cho nhau để làm sáng tỏ thời quá khứ Hiện vật khảo cổ không cung cấp nhiều thông tin, dựa vào đó thường chỉ dựng nên “bộ xương lịch sử” đòi hỏi nhà khảo cổ phải dựa vào các tài liệu của dân tộc học, sử học để dựng nên

“hình hài nguyên vẹn” VD: Tìm thấy một cái bình cổ; dân tộc học giúp cho biết tộc người sử

dụng, công dụng của cái bình đó; khảo cổ học cho biết chất liệu dùng để làm cái bình đó, kỹ thuật chế tác, niên đại …

Nhiều hiện tượng văn hóa của các dân tộc đến nay vẫn còn hoặc đã từng được biết đến, giúp nhà khảo cổ nghiên cứu đời sống cư dân ở các di chỉ cổ Bên cạnh đó khảo cổ học góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc và sự phát triển của các hiện tượng dân tộc học

1.2.3 Khảo cổ học quan hệ với địa chất học:

Địa chất học giúp xác định niên đại khảo cổ, xác định hoàn cảnh sinh sống của con người, động vật , thực vật … thời kỳ đó

VD: Trong các hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai tìm thấy 10 chiếc răng Người Vượn nằm trong lớp trầm tích màu đỏ chứa xương cốt các loài động vật thuộc trung kỳ thời Cánh tân là một thời đại địa chất xuất hiện cách đây 30 – 25 vạn năm Qua đó ta biết 10 cái răng đó xuất hiện cách đây từ 30 đến 25 vạn năm

Qua những hiện vật tìm được cũng giúp xác định niên đại của các các tầng địa chất VD:

tìm được hiện vật thuộc thời đại đồ đá cũ, ta có có thể cho rằng tầng địa chất chứa hiện vật

đó thuộc thời đồ đá cũ

Tuy nhiên, đó chỉ là phỏng đoán ban đầu, muốn xác định niên đại một tầng địa chất cần

phải có thêm nhiều nghiên cứu

Trang 11

1.2.4 KCH quan hệ với ngôn ngữ:

Khai quật được tài liệu có chữ viết sẽ bổ sung tài liệu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ

VD nghiên cứu ngôn ngữ cổ và Phật giáo cách đây ngàn năm có thể dựa trên việc khai quật được những “cột kinh Phật bằng đá” ở Hoa Lư

Ngôn ngữ cũng giúp xác định thời đại khảo cổ, đời sống vật chất, tinh thần, kỹ thuật

luyện kim, môi trường sống… của cư dân thời cổ VD từ “trống đồng” cho biết trống đồng

xuất hiện trong thời đại đồ đồng thau; người Việt cổ đúc trống để dùng dùng trong việc tế lễ;

có kỹ thuật luyện kim trình độ cao; lúc đó nơi cư trú của người Việt cổ có quá nhiều quặng đồng lộ thiên cho nên đã làm ra rất nhiều công cụ lao động còn dư ra để đúc trống; cư dân Việt cổ giàu có nên thường bị kẻ thù đến xâm chiếm, giết người, cướp của nên trống đồng được dùng trong chiến trận để điều khiển binh sĩ tiến tới hoặc rút lui, hoặc để hun đúc tinh

Thời cổ đại có những nhận thức mang tính duy tâm: xem các hiện vật là đồ dùng của

thần linh sử dụng VD: Tìm thấy một cái búa đá to, người xưa gọi đó là lưỡi tầm sét của thiên

lôi Gặp bộ xương lớn, cho rằng đó là xương của người khổng lồ thần thoại

Bên cạnh đó cũng có nhiều nhận thức mang tính duy vật: xem những vật tìm được là đồ dùng của người thời cổ Nhà Sử học Hérodote ( 485BC – 425 BC ) đã mô tả nhiều di tích khảo cổ ở trong những tác phẩm sử học Lucretius Carus sinh năm 99 BC trong tập thơ “Bàn

về bản chất sự vật” đã phỏng đoán loài người đã trải qua các thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt Vào thế kỷ VI -V BC người Trung Quốc thu được nhiều cổ vật Vua Nabonit (555 – 538 BC)

xứ Babylon đã sai người khai quật những kiến trúc cổ xưa Đó chỉ là việc sưu tầm đồ cổ, chưa hẳn là nghiên cứu khảo cổ học

1.3.2 Thời trung đại:

Đầu thời trung đại dưới sự thống trị của tôn giáo mọi khoa học đều đình đốn Quan điểm duy tâm về các hiện vật vẫn tồn tại Nhưng thời này cũng là thời kỳ tiếp tục tích lũy những tài liệu khảo cổ học Vào thế kỷ VIII, sử liệu vào Nhật Bản có nhắc đến nhiều đống vỏ sò ở ven biển, cho rằng người xưa đã ăn sò bỏ vỏ chất thành những đống vỏ sò to lớn Thế kỷ X – XIII

ở Trung Quốc đời Nhà Tống phát triển môn kim thạch học: chuyên nghiên cứu chữ viết khắc trên đá, trên đồ đồng, sắt, trên gỗ…

Ở châu Âu trong lòng xã hội phong kiến cuối thời trung đại nảy nở nền kinh tế tư bản chủ nghĩa dẫn đến việc nảy sinh nền văn hóa mới tiến bộ, cởi bỏ sự ràng buộc của Nhà Thờ Thế kỷ XIV – XVI, thời kỳ Văn hóa Phục Hưng, đã sưu tầm những cổ vật của thời Hy – La

cổ đại, phát triễn buôn bán đồ cổ, nhiều viện bảo tàng của nhà nước và tư nhân được thành lập

1.3.3 Thời cận và hiện đại:

Thế kỷ XVII – XVIII ở Châu Âu người ta viết nhiều sách về KCH; lập các Viện Hàn lâm và nhiều cơ quan nghiên cứu cổ vật; tổ chức nhiều cuộc khai quật khảo cổ; môn khảo cổ trở thành một khoa trong các trường đại học Những cuộc phát kiến địa lí đưa các nhà khảo cổ

đi khắp nơi trên thế giới, từ đó các nhà khảo cổ khẳng định trong lịch sử loài người có thời kỳ

đồ đá

Thế kỷ XIX, nhiều di tích khảo cổ được phát hiện và được nghiên cứu Có sự xuất hiện của nhiều ngành khảo cổ như: KCH nguyên thủy, KCH phương Đông cổ đại, KCH Hy -

Trang 12

luận đúng đắn về lịch sử nhân loại nhờ vào việc kết hợp với các ngành khoa học khác vào

công tác nghiên cứu khảo cổ

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của ngành KCH nước ta:

1.4.1 Trước thế kỷ XVIII:

Thế kỷ III BC, đào được nhiều xương cốt và nhạc khí cổ của thời đại Hùng Vương Vào đầu Công nguyên, Mã Viện đã ra lệnh thu nhiều trống đồng, phá ra để đúc ngựa đồng với ý đồ hủy diệt nền văn hóa của dân tộc Việt Phản ứng lại người Việt đã lấy tiền đồng của nhà Hán đúc lại thành trống đồng Thế kỷ XI – XIII, thời nhà Lí khai quật được nhiều cổ vật: tượng, chuông, trống đồng Cuốn An Nam chí lược của Lê Trắc đời Trần có mục Cổ tích ghi chép về thành, miếu cổ, trống đồng cổ của nước ta

Vào thế kỷ thứ XV, luật Hồng Đức (điều 422) có qui định trừng phạt nặng việc trộm, phá hoại những cổ vật, tượng Phật, chuông đồng cổ Thế kỷ XVIII, Lê Quí Đôn đã nghiên cứu những tấm bia cổ và những bài văn khắc trên tượng đồng, chuông đồng xem đó là những

sử liệu quí…Các quyển sách sử của nước ta như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Việt sử thông giám cương mục” đã mô tả và xác định vị trí các thành cổ Cổ Loa, Luy Lâu, thành của Thập nhị Sứ quân thế kỷ X…Các sách địa chí như “Đại Nam nhất thông chí”, Gia Định thành thông chí”, “Nghệ An chí”… đã đề cập đến các hiện vật, các hang động, các đống vỏ sò…của người tiền sử

Vậy, tổ tiên ta đã có nhiều cố gắng trong việc giữ gìn các di sản văn hóa cổ Tư tưởng duy tâm vẫn còn: xem “lưỡi tầm sét” là của “thiên lôi”, bị sét đánh là bị “Trời đánh” Chưa biết điều tra, khai quật khảo cổ

1.4.2 Thời Pháp thuộc:

Năm 1898, người Pháp thành lập “Ủy ban Khảo cổ học Đông Dương” sau đổi tên thành

“Trường Viễn Đông bác cổ” chuyên nghiên cứu về những di tích về kiến trúc nghệ thuật Angkor và những tháp Chàm, bi ký Chàm…

Cũng vào năm 1898, thành lập “Sở Địa chất Đông Dương” đã kết hợp việc điều tra thăm

dò mỏ, địa chất với điều tra khảo cổ học

Những đóng góp của người Pháp cho ngành KCH: Đã phát hiện và nghiên cứu về thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt ở nước ta Xuất bản nhiều tài liệu về KCH

Người Nhật cũng đã viết một số luận văn về KCH Việt Nam và Đông Dương

Người Thụy Điển đã tiến hành khai quật nhiều nơi: Năm 1934, Olov Jansé khai quật ở Đông Sơn, Thanh Hóa, Bắc Ninh; năm 1938, Anderson, M Colani khai quật ở vịnh Hạ Long Nhận xét về KCH thời Pháp: ngoài một số thành tích đã nêu trên, khảo cổ thời Pháp có những hạn chế: không có tổ chức chuyên môn làm khảo cổ, thiếu chuyên gia sâu về khảo cổ

Do mang nặng tính thực dân nên đã phủ nhận nền văn hóa bản địa; cướp đi của ta nhiều cổ vật quý; không có kế hoạch điều tra, khai quật khảo cổ cụ thể; khảo cổ là ngành phụ của việc tìm kiếm, khai thác quặng mỏ

1.4.3 Sau Cách mạng tháng Tám 1945:

Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh 65 qui định công tác khảo cổ học, bảo tồn, bảo tàng di tích, di vật văn hóa và lịch sử Sau 1954, ngành khảo cổ học nước ta chính thức ra đời, phát triển nhanh chóng Các việc tuần tự tiến hành là đào tạo cán bộ; đánh giá, kế thừa di sản cũ; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của khảo cổ học các nước trên thế giới…Sau đó đã điều tra, khai quật hàng loạt di tích thuộc các thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt để viết lịch sử nước ta thời tiền

sử

Sau 1975, công tác điều tra, khai quật khảo cổ học được triển khai và đạt được nhiều thành tựu Đặc biệt là việc phát hiện ở miền Nam: Có người vượn sinh sống cách đây từ

Trang 13

1.000.000 đến 700.000 năm; có các nền văn minh Sa Huỳnh, Dốc Chùa, Óc Eo đã hình thành

từ hơn 4000 năm trước

Vậy, chỉ trong một thời gian ngắn ngành khảo cổ học nước ta đã trưởng thành nhanh chóng và thu được nhiều thành tựu, làm rõ hơn những chặng đường phát triển của lịch sử nước ta, góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu thời tiền sử ở Đông Nam Á và thế giới

CÂU HỎI CỦA CHƯƠNG 1: VÀI NÉT SƠ LƯỢCVỀ KHẢO CỔ HỌC

Câu 1: Đối tượng và định nghĩa khảo cổ học Nhà khảo cổ có những nhiệm vụ gì ?

Câu 2: Tại sao khảo cổ học phải có mối quan hệ với các ngành khoa học khác ? Cho ví dụ Câu 3: Khảo cổ học quan hệ với sử học, dân tộc học, địa chất học, ngôn ngữ học như thế nào? Câu 4: Quá trình hình thành và các chặng đường phát triển của ngành khảo cổ học thế giới? Câu 5: Quá trình hình thành và phát triển của ngành khảo cổ học nước ta? trước thế kỷ XVIII

?

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1 Lê Đình Phúc 2000 " Giáo trình khảo cổ học" TTĐT từ xa Huế NXB Giáo dục

2 Phan Ngọc Liên (Chủ biên) 2000 " Sổ tay kiến thức lịch sử phổ thông" NXB Đại học QG

Trang 14

CHƯƠNG 2: DI TICH KHẢO CỔ VÀ VĂN HÓA KHẢO CỔ

Di tích khảo cổ là đối tượng nghiên cứu chính của khảo cổ học Có nhiều loại di tích khảo cổ: nơi cư trú cổ, mộ táng cổ, hang động, di chỉ ngoài trời, di chỉ đống vỏ ốc, nơi cư trú

có phòng ngự, di chỉ phù sa, nơi thờ cúng, cự thạch, tượng đá, hình trên vách đá, hầm mỏ cổ, công xưởng chế tác thời cổ… trong đó quan trọng nhất là di tích nơi cư trú cổ và mộ táng cổ

Khi cư trú một nơi nào đó con người để lại những dấu ấn của con người khi sinh sống nơi đó, chứa trong những lớp đất gọi là tầng văn hóa Nghiên cứu tầng văn hóa theo phương pháp khoa học nhà khảo cổ biết được nhiều mặt của cuộc sống dân cư thời cổ Nghiên cứu tầng văn hóa nơi cư trú cổ có thể làm rõ bề dày lịch sử của những truyền thống văn hóa nào

đó và con đường giáo lưu văn hóa giữa các vùng khác nhau trên thế giới

Mộ táng cổ là nguồn tài liệu quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học Qua mộ táng

cổ, nhà khảo cổ sẽ rút ra được những kết luận về nhiều mặt của xã hội thời cổ, bổ sung cho nguồn tài liệu nơi cư trú cổ Nghiên cứu những loại hình cư trú khác như hang động, di chỉ, nơi cư trú phòng ngự, di chỉ phù sa… nhà khảo cổ sẽ nhận thức được nhiều điều về cuộc sống người xưa Các tài liệu di tích khảo cổ bổ sung lẫn nhau giúp nhà nghiên cứu viết được những trang sử có giá trị về lịch sử nhân loại

Nhà khảo cổ bên cạnh việc nghiên cứu nội dung văn hóa của các di tích khảo cổ còn tìm ra qui luật phân bố của nó bằng việc nghiên cứu cả về vị trí địa lý, địa thế, hoạt động kinh

tế của cư dân thời cổ…chẳng hạn như vì sao nhóm di tích khảo cổ này ở ven biển, ven sông, ở

gò đồi, hoặc ở trong các hang động của vùng núi đá vôi… Trên cơ sở của việc tìm ra qui luật phân bố, tìm mối liên hệ giống nhau giữa các di tích về đặc trưng hiện vật về các mặt sinh hoạt vất chất, văn hóa, tinh thần nhà khảo cổ sẽ xác định các nền văn hóa khảo cổ

2.1 Di tích khảo cổ:

2.1.1 Di tích nơi cư trú cổ là gì ? Tác dụng của nó đối với việc nghiên cứu khảo cổ:

Di tích nơi cư trú cổ là dấu vết người xưa để lại ở nơi cư trú cổ (hang động, mái đá, thành

cổ, pháo đài cổ, trong các lớp đất ngoài trời…) Di tích nơi cư trú cổ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tái hiện lại diện mạo của cư dân thời cổ

Di tích nơi cư trú cổ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tái hiện lại diện mạo của cư dân thời cổ Khi sinh sống tại một nơi nào đó, con người đã để lại những dấu vết của mình nơi

đó Những dấu vết đó là: các loại đồ gốm vở, công cụ lao động phần lớn không còn nguyên vẹn, vỏ sò hến, than tro, xương thú, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày v.v…Những thứ đó bị vùi lấp ngày càng sâu dưới đất, tạo thành một tầng đất đặc biệt gọi là tầng văn hóa Nghiên cứu tầng văn hóa một cách nghiêm túc, với phương pháp khoa học nhà khảo cổ sẽ tái hiện được cuộc sống của cư dân thời cổ

2.1.2 Tầng văn hóa là gì? TVH cung cấp cho nhà khảo cổ nhiều kiến thức quan trọng về cuộc sống của người xưa:

Tầng văn hóa là một tầng đất đặc biệt chứa đựng những hiện vật của người xưa do đó tầng văn hóa thường có màu xám, nâu hay sậm hơn các tầng đất khác Nhưng cũng có nhiều trường hợp TVH phai nhạt do thời gian, do điều kiện địa lý…

Lớp đất ngăn cách giữa các tầng văn hóa gọi là lớp vô sinh; lớp đất cuối cùng không có dấu vết cư trú của con người thì gọi là sinh thổ hay đất cái

Nếu ta thấy tầng văn hóa dầy chứng tỏ con người cư trú ở đó càng lâu Nhưng cũng có trường hợp con người chỉ sống một thời gian ngắn mà vẫn tạo ra được tầng văn hóa dầy như trường hợp các cư dân ăn ốc, hến, sò khi làm nhà mới người xưa đã san phẳng nhà cũ để làm nền

Trang 15

Người nguyên thủy ăn các loài nhuyển thể, vứt bỏ vỏ nơi cư trú làm những gò lớn Trong các gò đó còn có công cụ lao động, đồ gốm, dấu vết cư trú, mộ táng …của người nguyên thủy

Đôi khi tại nơi cư trú, các tầng văn hóa nối tiếp nhau mà không có các lớp vô sinh Đó là trường hợp nhiều thế hệ người đã liên tục sinh sống suốt thời đại này qua thời đại khác Chiều sâu hay trắc diện của các tầng văn hóa giúp nhà khỏa cổ đoán định được việc cư trú của người xưa trong các giai đoạn trước và sau Tầng văn hóa trong các hang động thường

bị thạch nhũ phủ kín nên rất khó phát hiện

Hiện vật nằm cùng một TVH trên một bình diện có thời gian tồn tại ngang nhau Cần thận trọng trong những trường hợp TVH bị xáo trộn do nhiều nguyên nhân: sự sụt lở, chuyển dịch của các tầng đất, do sự đào bới của con người, của loài vật v.v…

TVH của thời đồ đá cũ thường nằm ở độ sâu 20 m, TVH thời đồ đá mới không sâu lắm Cũng có nhiều TVH thời đồ đá cũ nằm cạn trên mặt đất đá do người nguyên thủy cư trú trong vùng núi trên nền đá cứng

Có nơi có TVH rất mỏng, đó là nơi người nguyên thủy dừng lại vài ngày trong một cuộc

di cư, trốn chạy bỏ lại những vật dụng làm thêm vướng bận khi mang theo, vùi lấp qua loa thi hài người chết; trong một cuộc săn, ở đó họ đốt lửa làm thịt thú rừng, bỏ lại xương thú, các

loại vũ khí bị hư hỏng, những vật dụng không còn cần thiết nữa cho việc săn bắn v.v… 2.1.3 Mô tả một hang động, nơi người nguyên thủy đã từng cư trú

Người nguyên thủy thường cư trú ở các hang động trong vùng núi đá vôi Họ thường chọn cư trú những nơi cao ráo, thoáng mát, cửa hang quay về hướng nam, sáng sủa, gần nguồn nước Ở nước ta, chủ nhân văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn thường cư trú trong các hang động; nhưng cũng có một số hang còn là nơi cư trú của cư dân thời đại đồ đồng hoặc muộn hơn

Di tích nơi cư trú thường nằm gần cửa hang, nơi có ánh sáng mặt trời chiếu đến phần hang sâu thường là nơi thờ cúng, hiến tế, nơi tiến hành những lễ nghi ma thuật Trên vách hang người nguyên thủy thường vẽ lên đó động vật, người, ma quái, thần linh Tầng văn hóa trong các hang động thường bị thạch nhũ phủ kín nên khó phát hiện, phải phá vỡ lớp thạch nhũ mới có thể khai quật được

2.1.4 Di chỉ phù sa là gì ? Cách xác định niên đại của các hiện vật thu lượm được ở

di chỉ phù sa:

Di chỉ phù sa là loại hình di tích nơi cư trú được hình thành do nước cuốn hiện vật của người nguyên thủy vùi vào các lớp phù sa, các bãi cát, các lớp cuội ven sông Những hiện vật

đó thường nằm chung với xương cốt các loài động vật cùng thời

Di chỉ phù sa không có tầng văn hóa vì đó không phải là nơi cư trú cổ, ở đó không có dấu vết nhà ở, bếp lửa Để xác định niên đại của các hiện vật thu lượm được ở di chỉ phù sa nhà khảo cổ thường căn cứ vào đặc trưng của hiện vật và mối liên hệ giữa thềm sông với các thời kỳ địa chất

Người chết được chôn trong quan tài gỗ tốt, gỗ xấu, không quan tài, trong các chum, quan tài hình thuyền, các vò, mộ gió, mộ giả v.v…Được chôn ngồi, chôn ngửa, nằm nghiêng,

Trang 16

nằm co, táng đơn, táng kép, táng tập thể Trong táng kép cũng có nhiều cách: nằm cạnh nhau, chồng lên nhau, chồng ngược đầu nhau

Có nhiều kiểu mộ táng: đắp thành nấm mồ có khi rất to, cao; có những ngôi mộ chôn sâu xuống đất, bên trên san phẳng rất khó tìm mộ…Qua số lượng, chất lượng của đồ tùy táng, cách xây mộ …các nhà khảo cổ có thể xác định được địa vị và các mối quan hệ xã hội của người chết Nghiên cứu xương cốt sẽ biết được giới tính, tuổi tác và nhân chủng của người dưới mộ Tài liệu từ một táng cũng cho phép nhà khảo cổ đoán định về hình thái ý thức như tín ngưỡng, tôn giáo

Cần lưu ý là những kết luận chỉ có thể chắc chắn, chính xác khi việc nghiên cứu được tiến hành trên nhiều mộ táng cùng thời và phải được bổ sung bằng các nguồn tư liệu khác, nhất là tư liệu nơi cư trú

2.1.6 Các loại di tích khảo cổ khác:

Các loại di tích khảo cổ khác gồm có nơi thời cúng, cự thạch, tượng đá, hình khắc vẽ trên

đá, hầm mỏ, công xưởng chế tác thời cổ, kho tàng, đường sá, mương mán dẫn nước, các công trình thủy lợi và tất cả những dấu tích hoạt động của người xưa

Nghiên cứu những di tích này sẽ nhận thức thêm được những vấn đề cụ thể trong đời sống vốn rất phong phú và đa dạng Các di tích này có tác dụng bổ sung lẫn nhau và cùng các loại hình di tích nơi cư trú cổ, mộ táng cổ để phục hồi lại thời quá khứ của nhân loại

Nơi thờ cúng: bao gồm các di tích có liên quan đến lễ nghi, tôn giáo như : đền thờ, nhà thờ, đình chùa … Qua đó ta biết được về tôn giáo cổ về đặc điểm văn hóa của từng dân tộc, mối liên hệ giũa nhà nước và các tu sĩ, về kiến trúc, hội họa, điêu khắc …

Hình vẽ trên vách hang: nói lên nghệ thuật, tín ngưỡng thờ vật tổ VD: hình vẽ mặt người

trên đầu có sừng của người Việt cổ ở hang Đồng Nội (Hòa Bình) Nó cũng phản ánh đời

sống kinh tế: chăn nuôi, công cụ sản xuất, vũ khí săn bắt, thú bắt được…

Cự thạch là những kiến trúc đá lớn của người xưa, xây dựng để thể hiện tín ngưỡng, tôn giáo, xem thiên văn Gồm các loại như trác thạch: chồng đá như cái bàn; hoàn thạch: chồng đá

hình vòng tròn; trường thạch: xếp đá thành hàng dài như bức tường

Hầm mỏ, công xưởng chế tác cổ: Nơi cung cấp những tài liệu liên quan đến sản xuất và sinh hoạt của người thời cổ Ta thường gặp ở đó: xương cốt, công cụ khai mỏ, phế vật, phác vật …Rất ít công cụ lao động còn nguyên vẹn vì nó đã được đem đi trao đổi, buôn bán ở nơi khác Con đường, đê, mương dẫn nước, kho tàng, thành phố cổ cung cấp những kiến thức về

hoạt động kinh tế thời cổ

2.2 Văn hóa khảo cổ:

2.2.1 Định nghĩa văn hóa khảo cổ Cách đặt tên các nền văn hóa khảo cổ:

Văn hóa khảo cổ là tổng thể những hiện vật, di tích khảo cổ cùng tồn tại trong một thời đại, phân bố trong một khu vực không gian nhất định, thuộc về một trình độ văn hóa, kỹ thuật,

có những tính chất và đặc trưng cơ bản giống nhau

Cách đặt tên:

- Lấy địa điểm khai quật đầu tiên đặt tên VD: đặt tên Văn hóa Óc Eo vì Óc Eo là nơi

khai quật đầu tiên trong quá trình tìm hiểu về Vương quốc Phù Nam

- Dựa vào đặc trưng hiện vật tiêu biểu cho các di tích của nền văn hóa đó.VD: văn hóa

gốm màu, văn hóa cuội gia công…

2.2.2 Khái niệm “văn hóa khảo cổ”

Còn dùng để chỉ dấu vết hoạt động của con người ở những miền cách xa nhau nhưng

nó có những đặc điểm cơ bản giống nhau; có cùng trình độ phát triển của văn hóa, kĩ thuật;

Trang 17

hiện diện trong khoảng thời gian ngang nhau; không nhất thiết là phải của một tập đoàn người

nào đó ở một khu vực nào đó VD: Đặt tên là Văn hóa Tiền Sen, bởi vì:

+ Tìm thấy nhiều hiện vật ở vùng Sen (Chelle: một địa danh ở miền Bắc nước Pháp) có

những đặc điểm cơ bản giống nhau

+ Công cụ lao động có cùng trình độ văn hóa, kỹ thuật: người nguyên thủy chọn các hòn

cuội ven sông, suối để chế tác công cụ lao động Do vậy, thời kỳ này còn có tên gọi là “Văn hóa cuội gia công”

+ Cùng hiện diện cách đây khoảng từ 2,7 đến 1,5 triệu năm

+ Nền văn hóa này phát triển ở Châu Âu, Á, Phi của nhiều tập đoàn người khác nhau

Vậy, khái niệm văn hóa khảo cổ chứa nhiều nội dung khác nhau, vì thế tùy trường hợp

ta sẽ dùng nó với những ý nghĩa khác nhau

CÂU HỎI CỦA CHƯƠNG 2: DI TÍCH KHẢO CỔ VÀ VĂN HÓA KHẢO CỔ

Câu 1: Di tích nơi cư trú cổ là gì? Nó có tác dụng gì đối với việc nghiên cứu khảo cổ? Hãy mô

tả một nơi cư trú cổ

Câu 2: Tầng văn hóa là gì ? Nó cung cấp cho nhà khảo cổ những kiến thức gì?

Câu 3: Di chỉ phù sa là gì ? Cách xác định niên đại của các hiện vật thu lượm được ở di chỉ phù sa?

Câu 4: Di tích mộ táng cổ có tác dụng gì trong việc nghiên cứu khảo cổ?

Câu 5: Các loại di tích khảo cổ khác gồm có những gì? Nó cung cấp những thông tin gì cho việc nghiên cứu khảo cổ?

Câu 6: Định nghĩa văn hóa khảo cổ? Cách đặt tên một nền văn hóa khảo cổ?

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1 Lê Đình Phúc 2000 " Giáo trình khảo cổ học" TTĐT từ xa Huế NXB Giáo dục

2 Phan Ngọc Liên (Chủ biên) 2000 " Sổ tay kiến thức lịch sử phổ thông" NXB Đại học QG

Hà Nội

3 Phạm Huy Thông, Nguyễn Duy Tỳ 1970 " Niên đại" Tạp chí Khảo cổ học, số 7,8

4 Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Diệp Đình Hoa 1978 " Cơ sở khảo cổ học" NXB Đại học

và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội

5 Trang WEB Wikipedia org

Trang 18

CHƯƠNG 3: CÁC P P NGHIÊN CỨU KHẢO CỔ HỌC

Không thể nghiên cứu khảo cổ học nếu thiếu sử liệu là các hiện vật Các hiện vật được phát hiện rất nhiều lúc do tình cờ: nước xoáy lở bờ sông làm lộ ra tầng văn hóa hay các hiện vật; nông dân làm ruộng, công nhân đào móng làm nhà tìm thấy di tích rồi báo cho nhà khảo cổ Những phát hiện như vậy giúp nhà khảo cổ đỡ mất thời gian điều tra khảo cổ Nhưng những phát hiện đó vì nhiều lý do người dân không báo cho nhà khảo cổ, mà họ còn tự khai thác có khi phá hoại cả di tích vì mỗi hiện vật có giá lên đến nhiều tỉ đồng Vì thế nhà khảo cổ phải chủ động điều tra khảo cổ để tìm di tích, nghiên cứu khoa học theo chương trình, kế hoạch đã được vạch ra

Công tác điều tra khảo cổ có nhiệm vụ phát hiện di tích, giúp nhà khảo cổ có những nhận xét ban đầu về các di tích khảo cổ việc tiếp theo là tiến hành khai quật khảo cổ, đó là một công tác phải được tiến hành thận trọng theo phương pháp khoa học vì mỗi di tích khảo

cổ chỉ được khai quật một lần Tài liệu của di tích đó là các hiện vật, hình vẽ, hình chụp, phim, ghi chép, bản vẽ

Ngoài việc nghiên cứu ngoài trời, các nhà khảo cổ còn phải phối hợp với các nhà khoa học khác trong việc tiến hành nghiên cứu trong phòng Thông thường, nhà khảo cổ tiến hành việc nghiên cứu ngoài trời trước sau đó là nghiên cứu trong phòng, có khi được tiến hành đồng thời đối với những công trình khai quật lớn trong thời gian dài thì nhà khảo cổ thường tổ chức những phòng làm việc khảo cổ, phòng thí nghiệm, thực nghiệm, nghiên cứu tổng hợp ngay cạnh công trường khai quật

Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thường được thực hiện là khôi phục hình dáng, xác định công dụng, giải phẩu hiện vật, xác định niên đại, xác định nguồn gốc chủ nhân nhằm mục đích bổ sung, hoàn thiện và phát hiện thêm những cái mới đã nghiên cứu ngoài trời

3.1 Điều tra khảo cổ:

3.1.1 Điều tra khảo cổ là gì ? Vai trò của điều tra khảo cổ?

Điều tra khảo cổ là việc tìm ra nơi có nhiều hiện vật có giá trị để tiến hành khai quật

khảo cổ Đó là việc nghiên cứu bước đầu các di tích khảo cổ Qua điều tra nhà khảo thiết các bản đồ khảo cổ Nơi có hiện vật thường là khu dân cư, nơi hiện có những công trình kiến trúc lớn, nhà máy, xí nghiệp cho nên nhà điều tra khảo cổ phải làm việc rất cẩn trọng nếu không sẽ phá hoại những công trình lớn gây ra lảng phí cho xã hội

Điều tra KCH có vai trò rất quan trọng, vì công tác điều tra khảo cổ cung cấp cho nhà

khảo cổ nhiều tài liệu; giúp cho việc khai quật được thuận lợi; tạo điều kiện cho việc đánh giá đúng hiện vật Điều tra KCH để chọn lựa nơi khai quật và xây dựng chương trình khai quật cụ

thể nhà khảo cổ phải nghiên cứu bước đầu các di tích đó phải chi tiết, tỉ mỉ, khoa học VD:

điều tra khảo cổ khu vực hoàng thành Thăng Long để xây dựng chương trình nghiên cứu nền

văn hóa Thăng Long

3.1.2 Để cho việc điều tra khảo cổ đạt yêu cầu nhà khảo cổ phải làm nhiều việc:

Nhà khảo cổ cần phải:

1) Đọc những tài liệu khảo cổ, lịch sử, dân tộc học, nhân học, địa lý, địa chất, địa phương chí … có liên quan tới khu vực mà mình sẽ đi điều tra Biết được người trước đã làm được những gì, làm đến đâu, để từ đó vạch ra kế hoạch cần làm tiếp theo

2) Có các loại bản đồ khảo cổ, địa hình, địa chất, phân bố tộc người, dân cư, kinh tế, thủy lợi, nông nghiệp, hành chính v.v…

Trang 19

3) Các việc nghiên cứu trên còn giúp cho nhà khảo cổ tránh được những sai lầm đáng tiếc đó là khai quật một di tích mà người trước đã khai quật rồi

4) Chuẩn bị các thiết bị chuyên dùng như: la bàn, máy ảnh, ống dòm, thước đo, giấy vẽ,

sổ ghi nhật ký

5) Tùy theo địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu… mà nhà phải cổ đề ra những cách điều tra

thích hợp VD: ĐTKC ở vùng núi đá vôi nhà khảo cổ phải tìm kiếm tất cả các hang động, nhất

là các hang động quay về hướng Nam vì nơi đó người xưa thường hay cư trú

6) Màu sắc khác thường ở một nơi nào đó buộc các nhà khảo cổ lưu tâm, nêu nghi vấn

VD: Ở Núi Tàu (Bình Thuận), dưới độ sâu 50m có một vệt sậm màu chiều dài hơn hơn hai trăm mét rộng hơn hai chục mét; điều đó buộc nhà khảo cổ phải nghi vấn rằng vệt sậm màu dài rộng đó ẩn dấu bốn ngàn tấn vàng ?

7) Liên hệ với chính quyền và người dân ở đó Nói rõ ý nghĩa của các di tích, di vật khảo cổ cũng như mục đích công tác điều tra, để tránh được hiểu lầm, nếu có

8) Khi phát hiện di tích thì phải thu lượm hiện vật, quan sát toàn bộ địa bàn, cảnh quan

di tích … để bước đầu xác định tính chất và niên đại của di tích đó Nếu cần, có thể đào hố thám sát rộng 1m2 hoặc 2m2 để quan sát, xác định tầng văn hóa và cơ cấu lớp đất, sau đó lấp lại và thông báo ngay với chính quyền địa phương để có kế hoạch bảo vệ di tích

Tóm lại, tùy mỗi công việc mà có những cách điều tra riêng, tuy nhiên để việc điều tra

đạt hiệu quả cao, nên tuân theo nguyên tắc điều tra trên

3.2 Khai quật khảo cổ:

3.2.1 Khai quật khảo cổ là gì ? Nhiệm vụ của khai quật khảo cổ:

Khai quật khảo cổ là việc đào bới, tìm kiếm những hiện vật phục vụ cho việc nghiên cứu khảo cổ học

Nhiệm vụ của khai quật khảo cổ: Đó là đọc những trang sử của quá khứ còn lưu trong

lòng đất, mỗi lớp đất kể lại một giai đoạn lịch sử Cần đọc rất cẩn thận vì ta chỉ đọc được một lần lúc đang khai quật khảo cổ Mỗi di tích chỉ được một lần khai quật vì sau một lần khai quật ta đã phá hư cả di tích Tài liệu của di tích ấy còn lại trên các bản vẽ, băng hình, ảnh chụp, nhật ký Cần phải nghiên cứu những tài liệu đó rất thận trọng

3.2.2 Khi khai quật một di chỉ khảo cổ cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc sau:

1) Đào hố thám sát để nghiên cứu sơ bộ về cấu tạo tầng văn hóa, kết cấu các lớp đất, nắm được sự phân bố của di tích để xác định nơi khai quật chính

2) Đào hố khai quật từ trên xuống theo từng lớp, mỗi lớp dày khoảng 20 cm Thu lượm toàn bộ hiện vật trong tầng văn hóa

3) Mô tả hố khai quật: Không nên đào hố khai quật quá rộng vì hố rộng, các vách hố cách xa nhau sẽ gây khó khăn trong việc nghiên cứu trắc diện Nên đào mỗi hố rộng từ 100

m2 đến 400 m2 Mở theo hình vuông hay hình chữ nhật có các cạnh tương ứng với các hướng đông, tây, nam, bắc Đóng cọc căng dây phân thành các ô nhỏ để tiện cho việc vẽ sơ đồ hố khai quật, giám định sự phân bố của hiện vật trên bình diện của các lớp khai quật

4) Các hiện vật phát hiện được trong khi khai quật phải để nguyên ở vị trí ban đầu để xử lý: đo, vẽ, chụp ảnh, quay camera … sau đó sẽ lấy ra khỏi mặt đất gói kèm theo phiếu hiện vật

5) Khi khai quật cần chú ý vẽ các bình diện và trắc diện Trắc diện biểu hiện chiều sâu của quá khứ Bình diện thể hiện sự phân bố của các hiện vật

Trang 20

6) Khi đào hết tầng văn hóa phải nạo sạch để quan sát xem trên bề mặt lớp sinh thổ còn

có những dấu vết gì khác, nếu có thì tiếp tục đào nữa để tìm thêm hiện vật

7) Phương pháp nghiên cứu mộ cổ: Chụp ảnh, quay phim nhà mồ, nấm mồ, mộ chí, bình diện, trắc diện, thi hài, đồ tùy táng Làm các phiếu hiện vật để gói từng hiện vật Ghi nhật ký khai quật Đào từng lớp mỗi lớp dày khoảng 20 cm, thu lượm tất cả hiện vật Xử lý thi hài theo nguyên tắc: bắt đầu từ sọ trước

8) Ghi nhật ký khai quật trong suốt quá trình khai quật: ghi chép tỉ mĩ những công việc hàng ngày; những nhận xét về kết cấu các tầng đất, sự phân bố hiện vật; những ý nghĩ, giả thuyết, những kết luận của ta và những người khác, đặc biệt là của trưởng nhóm khai quật 9) Sau khi khai quật xong phải lấp hố lại Chỉnh lý sơ bộ các hiện vật thu được và tổ chức

trưng bày Báo cáo cho chính quyền và nhân dân địa phương biết kết quả khai quật

3.3 Các phương pháp nghiên cứu khảo cổ học trong phòng:

3.3.1 Khôi phục hình dáng và xác định công dụng của hiện vật:

Phải khôi phục hình dáng và xác định công dụng của hiện vậtvì hiên vật thường không còn nguyên vẹn Sau khi khôi phục ta biết được công dụng của các hiện vật Đây là công việc vừa là khoa học kỹ thuật, vừa là nghệ thuật cho nên đòi hỏi nhà khảo cổ phải giỏi về chuyên

môn VD 1: từ một số mãnh vỡ có thể khôi phục được hình dáng chiếc bình, qua đó ta xác

định được công dụng của hiện vật đó VD 2: từ mảnh xương trán ta biết được gương mặt, tuổi, nhân chủng người mất

3.3.2 Giải phẫu hiện vật:

Giải phẫu hiện vật là mổ xẻ phân tích hiện vật để nghiên cứu chất liệu, nguyên liệu, kỹ thuật, trường phái chế tác thành phần hóa học v.v…của các hiện vật

Kết quả của việc nghiên cứu này giúp tìm hiểu sâu hơn những vấn đề về lịch sử phát triển của kỹ thuật, lịch sử nông nghiệp, quan hệ trao đổi kinh tế văn hóa giữa các vùng, miền, khu vực…

Để giải phẫu hiện vật, bên cạnh việc sử dụng các phương pháp đặc thù của khảo cổ học, còn phải ứng dụng một số phương pháp như kim tướng học, nham thạch học

3.3.3 Phương pháp phân tích quang phổ, phương pháp phân tích quang tuyến X, phương pháp thực nghiệm:

Phương pháp phân tích quang phổ là phương pháp dựa vào bức xạ quang học để xác định thành phần hóa học của hiện vật Ưu điểm của phương pháp này là hiện vật còn nguyên vẹn nên thường được sử dụng

Phương pháp phân tích quang phổ được sử dụng để nghiên cứu lịch sử của các hiện vật như lịch sử đồ gốm, lịch sử luyện kim, lịch sử thủy tinh; để tìm nguồn gốc của các hiện vật giống nhau về hình dáng nhưng sưu tầm được ở những nơi khác nhau

Phương pháp phân tích quang tuyến X nhằm khôi phục lại hoa văn của hiện vật (đồ gốm, đồ trang sức…) mà không thể nhìn thấy bằng mắt thường

Phương pháp thực nghiệm bao gồm thực nghiệm chế tạo và thực nghiệm sử dụng hiện vật giúp nhà khảo cổ nắm được phương pháp chế tác hiện vật, hiệu quả sử dụng, năng suất lao động, sản lượng đạt được …

3.3.4 Xác định niên đại tương đối là gi ? Phương pháp xác định niên đại tương đối:

Xác định niên đại tương đối là xác định giới hạn trên và giới hạn dưới của một hiện vật

hay một di tích khảo cổ VD: Tìm thấy 10 chiếc răng người hóa thạch nằm trong lớp trầm tích

màu đỏ thuộc trung kỳ thời Cánh tân, niên đại khoảng từ 30 đến 25 vạn năm cách ngày nay

Trang 21

Phương pháp này thường được sử dụng để nghiên cứu thời đại đồ đá Cho phép ta xác định khoảng thời gian tương đối chính xác của hiện vật thời nguyên thủy qua đó nhà khảo cổ phác họa được bức tranh xã hội nguyên thủy

Để xác định niên đại tương đối nhà khảo cổ dùng các phương pháp: phân loại hình thức,

so sánh đối chiếu, phương pháp nghiên cứu địa tầng khảo cổ, phương pháp nghiên cứu sự phân bố địa lý, phương pháp bào tử phấn hoa; dựa vào kỹ thuật chế tác công cụ vì mỗi thời đại khảo cổ có kỹ thuật chế tạo công cụ đặc trưng; căn cứ vào loại hình công cụ vì mỗi thời đại khảo cổ có một số loại hình công cụ đặc trưng; dựa vào các hiện vật đã có niên đại chắc chắn để xác định niên đại tương đối của các hiện vật còn lại trong cùng hố khai quật; dựa vào niên đại của các hiện vật đã được xác định niên đại chắc chắn để xác định niên đại tương đối của các hiện vật tương tự mới tìm được hoặc tìm thấy ở nơi khác v.v… Nhà khảo cổ cần sử

dụng cùng lúc nhiều phương pháp để xác định đúng niên đại tương đối của các hiện vật

3.3.5 Xác định niên đại tuyệt đối là gì ? Phương pháp xác định niên đại tuyệt đối:

Xác định niên đại tuyệt đối là xác định niên đại bằng năm tháng cụ thể hoặc trong

khoảng những năm cụ thể mà mức độ chính xác của niên đại gần như tuyệt đối VD: Địa điểm

Quỳnh Văn có niên đại là : 4785 +/ – 100 năm cách ngày nay

Cách xác định niên đại tuyệt đối: Dựa vào năm, tháng ghi khắc trên hiện vật tìm được; dùng phương pháp cacbon phóng xạ C14; phương pháp Kali – Argon; phương pháp tính vòng tâm (nếu là gỗ); dựa vào đặc trưng của hiện vật v.v…Sử dụng các phương pháp khác như phân loại hình thức, so sánh đối chiếu, nghiên cứu địa tầng khảo cổ, nghiên cứu sự phân

bố địa lý, xác định bằng từ trường, nhiệt phát quang v.v…

3.3.6 Xác định nguồn gốc của chủ nhân:

Việc xác định nguồn gốc chủ nhân của các di tích liên quan đến tên gọi các cộng đồng tộc người, nguồn gốc dân tộc, thành phần nhân chủng vì vậy cần phối hợp với các nhà dân tộc học, cổ nhân học, sử học, ngôn ngữ học, chuyên gia nghiên cứu về xương cốt để tìm đáp án

VD việc nghiên cứu chủ nhân của nền văn hóa Sa Huỳnh gặp khó khăn do tục lệ hỏa táng nên xương cốt trong các mộ chum còn lại rất ít, vì thế, phải dựa vào nội dung văn hóa để xác định nhân chủng Qua phương pháp nghiên cứu đó các nhà khảo cổ cho rằng người Sa Huỳnh giai đoạn sơ kỳ có thể là người nguyên Mã Lai – Polinesi hay nguyên Nam Đảo

Tóm lại, điều tra khảo cổ, khai quật khảo cổ và việc nghiên cứu khảo cổ trong phòng cần được thực hiện cẩn thận, khoa học mới phác họa được tương đối đúng diện mạo nhân loại thời xa xưa

CÂU HỎI CỦA CHƯƠNG 3: CÁC PP NGHIÊN CỨU KHẢO CỔ HỌC

Câu 1: Điều tra khảo cổ là gì? Vì sao nó có vai trò rất quan trọng? Để cho việc điều tra khảo

cổ đạt yêu cầu nhà khảo cổ phải làm gì?

Câu 2: Khai quật khảo cổ là gì? Nhiệm vụ của khai quật khảo cổ? Khi khai quật một di chỉ khảo cổ cần tuân thủ những nguyên tắc gì?

Câu 3: Tại sao phải khôi phục hình dáng và xác định công dụng của hiện vật?

Câu 4: Giải phẩu hiện vật là gì?, phương pháp phân tích quang phổ là gì ?

Câu 5: Xác định niên đại tương đối, tuyệt đối là gì ? Cho các ví dụ ? Phương pháp xác định niên đại tương đối và tuyệt đối?

Trang 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Đình Phúc 2000 " Giáo trình khảo cổ học" TTĐT từ xa Huế NXB Giáo dục

2 Phan Ngọc Liên (Chủ biên) 2000 " Sổ tay kiến thức lịch sử phổ thông" NXB Đại học QG

Hà Nội

3 Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Diệp Đình Hoa 1978 " Cơ sở khảo cổ học" NXB Đại học

và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội

4 Trang WEB Wikipedia

Trang 23

CHƯƠNG 4: GIẢ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

Đạo Phật cho rằng con người sinh ra từ khoảng chân không vật lý và mỗi người đã luân hồi qua vô lượng kiếp Đạo Thiên Chúa cho rằng Chúa Trời tạo ra con người Quan điểm duy tâm, tôn giáo nói chung cho rằng con người do “đấng siêu nhiên” tạo nên Nhà triết học Ý Lucilio Vanini (1858 – 1619) “phủ nhận Thượng đế” đã bị tòa án giáo hội kết tội

“chống lại Thánh kinh” và bị thiêu sống vào năm 34 tuổi ở Toulouse

Tư duy khoa học về con người đã được các nhà khoa học Hy Lạp Empedocle, Democrit, Hipocrat, Aristote, Herophile, Euratrítrate nhắc đến Aristote với tác phẩm “Lịch

sử động vật”, ông gọi con người là “động vật xã hội”, đặt con người lên bậc thang cao nhất theo sự hoàn thiện cơ thể người như dáng đi thẳng, bộ não lớn, có tiếng nói, có trí khôn Do quan điểm chống tôn giáo đó nên Aristote phải trốn chạy khỏi Athene đến nương náo ở Chalcis và mất ở đó

Charles Darwin (1809 – 1882) đã xuất bản các tác phẩm “Nguồn gốc các loài” (1859), “Nguồn gốc loài người và sự chọn giống”(1871) đã chứng minh rằng loài người tiến hóa từ những giống vượn, chứ không phải được tạo ra từ Thượng đế Quan điểm của Darwin được nhiều nhà khoa học ủng hộ, và thừa nhận rằng cách đây nhiều triệu năm đã có quá trình chuyển biến từ vượn thành vượn người, người vượn, người hiện đại

Trong giai đoạn vượn người có thể kể đến Dryopithecus được xem là tổ tiên chung của loài người và Austropithecus được xem là tổ tiên trực tiếp của loài người Trong giai đoạn vượn người có thể nhắc người tối cổ Homo habilis, Pitecantheropus, Sinantheropus, và người cổ Neanderthal Một bộ phận người cổ Neanderthal chuyển thành người hiện đại Homo sapiens và đã tuyệt chủng

Người hiện đại sống trong những hoàn cảnh địa lý, môi trường sống khác nhau nên đã sinh ra các đại chủng da đen, da vàng, da trắng Các đại chủng đều bình đẳng vì đã có sự hợp huyết với nhau và có chung tổ tiên là vượn

4.1 Quan điểm duy tâm, duy vật về nguồn gốc loài người:

4.1.1 Quan điểm duy tâm về nguồn gốc loài người:

Một dấu hỏi lớn vây quanh trọn kiếp người là “Con người từ đâu đến, đến để làm gì, khi chết đi về đâu ?” Câu hỏi này xuất hiện từ khi con người ý thức muốn tìm hiểu về nguồn gốc loài người

Ngay từ thời nguyên thủy đã có những cách giải thích khác nhau về nguồn gốc loài người Người Hy Lạp cổ cho rằng người sinh ra từ loài cá Sách Trang tử: loài sâu rễ tre sinh

ra loài báo; báo sinh ra ngựa; ngựa sinh ra người Người Trung Quốc cổ: Thần Nữ Oa dùng bùn vàng nặn ra con người Người Ai Cập cổ: Thần Hanuma dùng đất tạo thành người trên bàn xoay đồ gốm …Kinh thánh đạo Cơ đốc: Chúa Trời đã dùng đất tạo thành người đàn ông sau đó, lấy một chiếc xương sườn của người đàn ông để thành người đàn bà

Tóm lại, quan điểm duy tâm cho rằng con người do một đấng siêu nhiên tạo nên

4.1.2 Quan điểm duy vật về nguồn gốc loài người:

Quan điểm duy vật cho rằng con người là loài sinh vật tiến hóa từ thấp lên cao Các nhà

khoa học cho rằng cách đây vài triệu năm có một loài sinh vật tạm gọi là vượn người; loài vượn người đó chuyển hóa thành người vượn, người hiện đại (người Homo sapiens)

Charles Darwin sau nhiều năm nghiên cứu đã dẫn chứng những điểm giống nhau giữa vượn và người: Giai đoạn thai người giống thai vượn chiếm thời gian dài trong quá trình phát triển của thai Vượn và người đều có đuôi Bốn đốt xương sống cuối của con người là một

Trang 24

liệu khảo cổ, nghiên cứu tường tận, khoa học chứng minh rằng loài người tiến hóa từ một loài vượn chứ không phải loài người do “Trời” tạo ra

Engels cho rằng chính nhờ lao động mà bàn tay con người, toàn bộ cơ thể, thị giác phát triển, có dáng đi thẳng; trong lao động con người hợp tác với nhau, qua đó ngôn ngữ ra đời

Sự ra đời của ngôn ngữ càng đẩy nhanh hơn quá trình “thành người”

Hiện nay còn 4 loại vượn người: Chimpanzé, Gorilla, Gibbon, Orangutang có rất nhiều điểm giống người về thể chất, trí lực khá phát triển, có nhiều cách thể hiện tình cảm: cười, khóc, giận hờn Vượn người không có đuôi, có 32 răng khá giống người Mang thai từ 7 đến

9 tháng, mới sinh rất giống người Máu vượn rất giống máu người, cũng có 4 nhóm máu cơ bản Có thể lây bệnh của người: thương hàn, sốt rét Những điều đó có thể chứng minh rằng vượn người có chung tổ tiên với loài người, nhưng vượn người đã đi chệch khỏi quỉ đạo thành người và không có khả năng tiến hóa thành người

Vượn người hiện đại đã thích ứng với điều kiện sống ngày nay, chúng có cấu tạo cơ thể đặc biệt, khác hẳn với khỉ và khác với vượn người cổ đại, đã phát triển theo con đường khác với con đường thành người vì thế không thể thành người Mặt khác loài người với trí khôn của mình đã ngày càng hoàn thiện “chất người” của mình đó là điều mà vượn người hiện đại không thể có được

Vượn người là một sinh vật có nhiều hạn chế như hàm răng không bén để nhai thức ăn như cọp, sư tử; chạy không nhanh như hươu, nai; không to lớn như voi, hươu cao cổ, không lặn lội giỏi như các loài thủy sản; không thể bay như chim nhưng vẫn tồn tại và ngày càng phát triển do: biết sử dụng tay, chân để săn bắt, hái lượm, tìm kiếm thức ăn; có trí khôn để không ngừng cải thiện cuộc sống; có ngôn ngữ để giáo dục thế hệ sau, để truyền đạt những kinh nghiệm sống; biết sử dụng lửa; biết thích nghi với các điều kiện tự nhiên vốn rất khắc nghiệt v.v…

4.1.3 Sự khác nhau giữa vượn người và người vượn:

Cách đây nhiều triệu năm xuất hiện vượn người Tính “vật” trong vượn người chiếm tỉ

lệ cao, khoảng 80% vì thế nó thuộc phạm trù “con vật” và sẽ chuyển hóa thành “người vượn” Cách đây khoảng 2 triệu năm xuất hiện người vượn, tính vật giảm còn khoảng 20% vì thế nó thuộc phạm trù “người” và sẽ chuyển hóa thành người hiện đại cách đây khoảng 50 – 40.000 năm Có thể thể hiện qua bảng sau:

Vượn người

Người vượn

Trước Sau

Con vật Con người

Thành người vượn Thành ng hiện đại

4.2 Quá trình tiến hóa từ vượn thành người:

4.2.1 Những nét lớn về vượn người Dryopithecus và Australopithecus:

Di cốt của vượn người Dryopithecus tìm được ở châu Âu, châu Phi, châu Á có niên đại cách nay khoảng từ 27 đến 12 triệu năm Gọi là vượn người vì có nhiều chỗ giống người

và xem đây là tổ tiên chung của loài người

Di cốt vượn người Australopithecus phát hiện trước tiên ở Nam Phi nên được gọi là

“Vượn phương Nam”, niên đại ước khoảng 5,5 đến 5,0 triệu năm cách nay Sau đó cũng được tìm thấy ở châu Phi, châu Á Có thể tích óc lớn hơn các giống vượn người giai đoạn này: 530 – 600 cm3 Răng khá giống răng người Đi tập tểnh trên 2 chân Được xem là tổ tiên trực tiếp của loài người

Trang 25

4.2.2 Những nét lớn về người vượn Homo habilis, Pitecantheropus, Sinantheropus

và Néanderthal:

Người vượn Homo habilis còn được gọi là “người khéo léo” vì biết làm công cụ lao động bậc 2 Khi khai quật được di cốt người Homo habilis thường có kèm theo công cụ lao động làm bằng đá sơ khai Niên đại ước khoảng từ 2 đến 1,75 triệu năm cách nay Thể tích não bộ bằng khoảng phân nửa người hiện đại Cao khoảng 1,30 m; nặng từ 30 đến 50 kg; lông thưa thớt Ăn quả hạt và các động vật nhỏ

Di cốt người vượn Pithecantheropus tìm thấy trước hết ở Java nên được gọi là “người vượn Java” Có dáng đi thẳng nên còn có tên là người vượn “Pitecantheropus đi thẳng” Có thể tích não bộ khá lớn: 750 – 900 cm3 Bắt đầu có ngôn ngữ và mắt nhìn gần bằng người hiện đại Cao trung bình 1,65 m Hai tay được giải phóng và chế tạo công cụ lao động Niên đại 0,7 đến 0,5 triệu năm cách ngày nay

Di cốt người vượn Sinantheropus phát hiện trước tiên ở Bắc Kinh nên còn có tên là

“người vượn Bắc Kinh”, thể chất tiến bộ hơn người vượn Java, niên đại ước khoảng 0,4 triệu năm cách ngày nay Chiều cao trung bình 1, 56 – 1,57 m Thể tích não bộ: 915 – 1225 cm3 Sống bằng nghề săn bắt, hái lượm và biết dùng lửa

Người vượn Homo habilis, Sinantheropus, Pithecantheropus được gọi là “Người Tối Cổ”

Di cốt người vượn Néanderthal tìm thấy trước hết ở hang Néanderthal (Đức) nên được gọi là người “Néanderthal”, sau này còn được tìm thấy ở nhiều nơi: châu Á, Âu, Phi Còn được gọi là “Người Cổ” Niên đại ước khoảng 150 ngàn năm đến 40 ngàn năm cách ngày nay

Có nhiều điểm giống người hiện đại: to, khỏe, trán bợt về phía sau, đi còn hơi khom, đầu cúi

về phía trước, thể tích não bộ khoảng từ 1300 – 1600 cm3, khả năng lao động phát triển, biết chôn người chết Một bộ phận người Néanderthal tiến lên thành người hiện đai và tuyệt chủng

Vậy, trải qua khoảng mấy chục triệu năm vượn người đã có những sự chuyển hóa rất

chậm chạp để trở thành người hiện đại

Mộ đá Poulnabrone ở Hạt Clare, Ireland

Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91

Trang 26

1 Vượn người

3.Homo sapiens

2 Người vượn

4.2.3 Di cốt hóa thạch phản ánh quá trình chuyển hóa từ vượn thành người:

Sự chuyển hóa Niên đại

(Triệu năm)

Thể tích não bộ (cm3)

3 Người hiện đại

Nhận xét: Trong giai đoạn vượn người thể tích não bộ dưới 600 cm3; trong giai đoạn

người vượn thể tích não bộ dưới 1400 cm3; trong giai đoạn người Homo sapiens thể tich não

bộ như ngày nay là 1450 cm3; điều đó cho thấy trải qua hàng triệu năm đã có sự chuyển dần

từ vượn thành người; càng ngày tính vật giảm đi và tính người dần tăng lên Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng chính lao động là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ

vượn thành người

4.2.4 Vẽ biểu đồ biểu diễn quá trình chuyển biến từ Vượn thành Người:

Người hiện đại

Trang 27

Nhận xét: Trong giai đoạn vượn người có hai giống vượn người tiêu biểu là

Dryopithécus và Australopithécus phát triển thành người vượn với bốn giống người tiêu biểu

là Homo habilis, Pithécantheropus, Sinantheropus và Néanderthal Bốn giống người này tiến hóa thành người Homo sapiens ngày nay

4.2.5 Sự xuất hiện của người Homo sapien và các đại chủng tộc:

Người Homo sapiens khác hẳn với người Vượn: trán cao, cằm nhô, dáng đi thẳng, lưng

không gù, đầu không cúi về phía trước Cấu tạo thể chất của người Homo sapiens rất giống người ngày nay Sự xuất hiện của người Homo sapiens là một bước phát triển nhảy vọt từ người Vượn lên người Homo sapiens

Giai đoạn xuất hiện người Mới cũng là giai đoạn xuất hiện các đại chủng tộc: đại chủng

Da Vàng (Mongoloit), đại chủng Da Đen (Negroit), đại chủng Da Trắng (Europeoit) Những đặc điểm chủ yếu của thân thể người các đại chủng giống nhau, khác nhau chỉ ở các đặc điểm thân thể thứ yếu: màu da, màu mắt, màu tóc, dạng mặt, dạng mũi, dạng sọ …

4.2.6 Bác bỏ thuyết phân biệt chủng tộc:

Cần phải bác bỏ thuyết phân biệt chủng tộc vì:

1) Thuyết này dẫn đến việc chủng tộc “thượng đẳng” tiêu diệt chủng tộc “hạ đẳng”

VD: Đức Quốc xã do Hittler cầm đầu với chủ nghĩa “dân tộc cực đoan”, cho rằng người Đức

là siêu chủng tộc, các tộc người khác phải làm nô lệ cho người Đức; nêu ra lý luận mị dân

“cái gì có lợi cho người Đức là công bằng, cái gì có hại cho người Đức là bất công” vì thế

đã gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai tàn sát nhân loại Việc Hitler giết hại sáu triệu người

Do Thái một phần cũng nhằm lợi dụng chủ thuyết phân biệt chủng tộc để “giết người cướp của” vì người Do Thái với đức tính chăm chỉ làm ăn, biết quí trọng tiền bạc nên sau thế chiến

I trở thành người rất giàu tích lũy được rất nhiều vàng, chiếm lĩnh những “những khu đất vàng” là chủ của nhiều cơ sở sản xuất lớn tại những thành phố lớn của Đức…

2) Những đặc điểm chủ yếu của thân thể người các đại chủng giống nhau, khác nhau chỉ ở các đặc điểm thân thể thứ yếu: màu da, màu mắt, màu tóc, dạng mặt, dạng mũi, dạng sọ

…Các đại chủng đều bình đẳng

3) Các đại chủng da vàng, da đen ở châu Á, châu Phi đã từng tạo nên những nền văn minh rực rỡ, trong khi đó châu Âu vẫn còn sống trong thời “mông muội” Điều đó chứng tỏ,

về trí tuệ con người thuộc các đại chủng đều thông minh như nhau

4) Các đại chủng đều có sự pha trộn với nhau, vì thế, không thể nói đại chủng này giỏi hơn đại chủng khác

5) Các đại chủng từ xuất xứ từ tổ tiên tạm gọi là “vượn” tiến hóa từ thấp lên cao 6) Các đại chủng đều có khả năng như nhau trong việc chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội để cho cuộc sống của con người ngày càng mang “chất người” cao hơn nữa

CÂU HỎI CỦA CHƯƠNG 4: GIẢ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

Câu 1: Hãy trình bày các quan điểm duy tâm, duy vật về nguồn gốc loài người?

Câu 2: Hãy giới thiệu những nét lớn về vượn người Dryopithecus và Australopithecus, Homo habilis, Pithecantheropus, Sinantheropus và Néanderthal?

Câu 3: Hãy lập biểu đồ giới thiệu các di cốt hóa thạch phản ánh quá trình chuyển hóa từ vượn thành người? Nêu vài nhận xét?

Câu 4: Vẽ biểu đồ biểu diễn quá trình chuyển biến từ vượn thành người? Nêu vài nhận xét?

Trang 28

Câu 5: Người Homo sapiens có những đặc điểm gì? Giai đoạn này xuất hiện các đại chủng gì

?

Câu 6: Tại sao phải bác bỏ thuyết phân biệt chủng tộc?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Engels 1962 " Tác dụng của lao động trong sự chuyển biến từ vượn thành người" Marx – Engels tuyển tập, tập II NXB Sự Thật Hà Nội

2 Engels 1962 " Lời nói đầu quyển “Biện chứng tự nhiên” Marx – Engels tuyển tập, tập II NXB Sự Thật Hà Nội

3 Nguyễn Hiến Lê, Thiên Giang 1998 " Lịch sử thế giới, tập 1và 2" NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội

4 Phan Ngọc Liên (Chủ biên) 2000 " Sổ tay kiến thức lịch sử phổ thông" NXB Đại học QG

Hà Nội

5 Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh 2010 " Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1" NXB Giáo Dục Hà Nội

6 Lê Đình Phúc 2000 " Giáo trình khảo cổ học" TTĐT từ xa Huế NXB Giáo dục

7 Đào Tố Uyên (chủ biên) 2008 " Tìm hiểu lịch sử Việt Nam qua hỏi đáp, tập 1" NXB Đại học sư phạm Hà Nội

8 Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Diệp Đình Hoa 1978 " Cơ sở khảo cổ học" NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội

9 Trang WEB

http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1

Trang 29

CHƯƠNG 5: THỜI ĐẠI ĐỒ ĐÁ CŨ

Thời đại đồ đá cũ là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử phát triển của nhân loại Đây là thời kỳ nảy sinh, phát triển của xã hội nguyên thủy Chiếm 99 % thời gian kể từ khi loài người xuất hiện đến nay: kéo dài hàng triệu năm và kết thúc cách đây khoảng mười ngàn năm Chia thành 3 thời kì: sơ kì, trung kì và hậu kì

Căn cứ vào các bước phát triển của kỹ thuật chế tác đá và các loại nguyên liệu khác, căn cứ vào sự phát triển của các loại hình công cụ, căn cứ vào sự phát triển của các hoạt động kinh tế và sinh hoạt vật chất tinh thần của người nguyên thủy có thể chia thời đại đồ đá làm 3 thời kỳ: đồ đá cũ, đồ đá giữa, đồ đá mới

Thời sơ kỳ đồ đá cũ chia làm ba giai đoạn Sen, Tiền Sen và A Sơn với đặc điểm của công cụ lao động là giai đoạn sau hoàn thiện hơn giai đoạn trước Lúc này cuộc sống của người vượn dựa vào săn bắt, hái lượm, biết dùng lửa, biết dựng lều, hình thức tiền thị tộc dần dần xuất hiện Ở nước ta, các nhà khảo cổ tìm được công cụ lao động của người nguyên thủy

ở Thanh Hóa, Quảng Ninh, Đồng Nai, Sông Bé; tìm được 10 chiếc răng của người vượn

ở Lạng Sơn

Thời trung kỳ đồ đá cũ kỹ thuật chế tác đồ đá cũ có nhiều tiến bộ Bên cạnh đồ đá, đồ xương, gỗ, tre, sừng… được sử dụng rộng rãi Đây là giai đoạn của người cổ Neanderthal cách nay khoảng 15 vạn năm đến 4 vạn năm Nước ta, tìm được công cụ lao động của người

cổ ở Bắc Thái, Cao Bằng; 5 cái răng của người vượn đi thẳng muộn ở Nghệ An, 4 cái răng có nhiều điểm giống răng người hiện đại ở Yên Bái, 2 cái răng và mãnh xương trán người hiện đại ở Lạng Sơn, xương và răng thuộc dạng người Mới ở Quảng Ninh

Thời hậu kỳ đồ đá cũ gắn liền với những thay đổi lớn trong kỹ thuật chế tác đồ đá, trong nền kinh tế nguyên thủy, trong quan hệ xã hội có niên đại cách nay khoảng 4 vạn năm đến 14 ngàn năm Nước ta, tìm được công cụ lao động của người nguyên thủy ở Lai Châu, Sơn La, Vĩnh Phú Người hậu kỳ đồ đá cũ nước ta thuộc chủng Australoit, sống bằng săn bắt, hái lượm, đã có những nghi thức mai táng người chết do đã có ý thức về một thế giới vô hình tồn tại bên cạnh thế giới họ đang sinh sống

5.1 Thời đại đồ đá cũ trên thế giới:

5.1.1 Thời sơ kỳ đồ đá cũ là gì?

Là giai đoạn đầu của thời đại đồ đá cũ Xuất hiện từ cách đây vài triệu năm đến tám vạn năm Về thời kỳ này Engels đã viết “thời nguyên thủy, loài người bước ra khỏi loài động vật như thế nào – nói theo nghĩa hẹp – thì họ cũng bước vào lịch sử như thế ấy: người còn là nửa động vật, thô lỗ, còn bất lực trước những sức mạnh của tự nhiên, còn chưa biết rõ sức mạnh của chính mình, do đó cũng nghèo như động vật và cũng không sản xuất nhiều hơn động vật mấy tí”

Ở châu Âu, châu Phi đã tìm được nhiều công cụ lao động: hết sức thô sơ, rất khó phân biệt những hòn đá tự nhiên với những công cụ lao động giúp nhà khảo cổ biết thêm về thời đồ

đá cũ và kỹ thuật chế tác đồ đá của người nguyên thủy Có thể chia làm ba giai đoạn phát triển: Tiền Sen, Sen, A Sơn

5.1.2 Giai đoạn Tiền Sen thuộc sơ kỳ đồ đá cũ:

Người Tiền Sen biết làm công cụ lao động bậc hai Đó là những hòn đá cuội được ghè đẽo một nhát hay nhiều nhát tạo ra cạnh bén để sử dụng Giai đoạn này được gọi là “văn hóa cuội gia công” vì người nguyên thủy đã chọn những hòn đá cuội ven sông ven suối để chế tác công cụ Đã tìm thấy công cụ lao động loại này ở khắp nơi như: Châu Âu, Á, Phi

Trang 30

Ở Tangania đã tìm thấy xương cốt của người Homo habilis cùng với những mảnh tước

đá cuội thô sơ, những công cụ chặt thô sơ bằng đá cuội, hoặc ghè đẽo ở một mặt, hoặc ghè đẽo xen kẽ trên 2 mặt; cùng với xương cốt của hươu cao cổ, hà mã, voi cổ, ngựa cổ…

Niên đại: cách ngày nay từ 2,7 đến 1,5 triệu năm

5.1.3 Giai đoạn Sen thuộc sơ kỳ đồ đá cũ:

Công cụ lao động: là những chiếc rìu tay hay còn được gọi là công cụ đẽo 2 mặt, mảnh tước, công cụ chặt thô sơ Rìu tay được ghè đẽo hai mặtcả 2 mặt, có hình dạng cân xứng Rìu tay được dùng để chặt, đập Có nhiều mảnh tước Clacton: thô, dày, ngắn, u ghè rất lồi, mặt ghè rộng, nhẵn; mặt ghè mặt bụng thường tạo thành góc tù Mảnh tước có rìa cạnh bén dùng

để cắt, nạo Công cụ chặt thô sơ có dạng hơi giống như rìu tay được ghè đẽo một mặt hay ở rìa cạnh

Trong thời Sen, các nhà khảo cổ tìm thấy di tích người vượn tương tự người vượn Java sống trong môi trường so với ngày nay nóng và ẩm hơn Các loài động vật có: voi cổ, voi phương nam, ngựa, hà mã, tê giác, hươu …

5.1.4 Giai đoạn A Sơn thuộc sơ kỳ đồ đá cũ:

Công cụ lao động: có hình dạng cân xứng, thon thả hơn trước; các mãnh tước, rìu tay được sửa sang tốt hơn; bên cạnh đó, còn biết sử dụng công cụ bằng gỗ, tre, xương Ngoài mảnh tước kiểu Clacton giữa thời A Sơn xuất hiện mảnh tước Levallois: dài, mỏng, hình bầu dục dùng làm dao, nao, sắc bén hơn trước Giữa thời A Sơn, ở Nam Phi có loại vũ khí dùng vào việc săn băt thú, đó là bolas: những viên đá hình cầu có ghè đẽo

Con người: là thời kì người vượn Bắc Kinh, cuộc sống dựa vào săn bắn, hái lượm, biết dùng lửa, biết dựng lều, sự hiểu biết của con người dần dần phát triển

Nhìn chung, thời A Sơn người vượn đã biết chế tạo công cụ có hình dạng nhất định, tiện lợi trong sử dụng, biết săn bắt những động vật lớn…đã xây dựng thành một xã hội loài người

Rìu đá A Sơn sơ kỳ thời kỳ đồ đá cũ

Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1

Trang 31

5.1.5 Thành tựu văn hóa của loài người thời trung kỳ đồ đá cũ:

Thời trung kỳ đồ đá cũ có niên đại 150.000 năm đến 40 ngàn năm cách ngày nay Công cụ lao động gồm có: rìu, mảnh tước, mũi nhọn, nạo, giáo … Bên cạnh đồ đá còn có đồ xương, gỗ, tre, sừng …Kỹ thuật chế tác: so với trước có nhiều tiến bộ, hình dáng gọn, bén, dễ

sử dụng Ở di chỉ La Quina (Pháp) tìm thấy một đầu mũi giáo bằng đá lửa đâm trong một cái xương to Ở di chỉ Legingen, Verden tìm thấy mộ cây giáo gỗ dài 2m 44, cán dầy, đầu vót nhọn có đốt trên lửa cùng với xương voi cổ Điều đo cho thấy người nguyên thủy dùng giáo

để đâm thú lớn Người nguyên thủy săn gấu với các loại vũ khí là trùy, bô la, giáo Người nguyên thủy với việc khéo léo lợi dụng địa hình săn bắt, nhược điểm của từng loại thú, biết tổ chức mai phục nên đã săn được nhiều loại thú chạy nhanh rất khó săn bắt như ngựa, sơn dương…Trong một di chỉ ở Usebékistan tìm thấy 649/667 mảnh xương là của sơn dương

Hộp sọ của một người Neanderthal, La Chapelle-aux-Saints

Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1

Là thời kỳ tồn tại của người cổ Néanderthal đã biết đi săn tập thể, biết làm nhà ở, biết chôn người chết, biết dùng lửa nấu chín thức ăn, sưởi ấm, chống thú dữ… vì thế, cuộc sống khá hơn trước, dân số tăng lên Đề cao ý nghĩa của việc biết dùng lửa Engels viết “lửa do cọ xát làm ra đã khiến cho con người lần đầu tiên chi phối được một lực lượng thiên nhiên và do

đó tách hẳn con người ra khỏi giới động vật” Do biết dùng lửa nên người Neanderthal cư trú rất xa lên phía Bắc lạnh lẽo ở 62 độ vĩ Bắc Sự hỗn hợp nhiều giống người Neanderthal khác nhau đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành người Mới ở hậu kỳ đồ đá cũ và việc hình thành những công xã thị tộc

5.1.6 Thành tựu văn hóa của loài người thời hậu kỳ đồ đá cũ:

Thời hậu kỳ đồ đá cũ có niên đại 40.000 năm đến 14.000 năm cách ngày nay Thời này gắn liền với những biến đổi lớn trong kỹ thuật chế tác đồ đá, trong kinh tế, trong quan hệ

xã hội, ý thức hệ của loài người Công cụ lao động gồm có rìu tay, nạo, cưa, các loại mũi lao, giáo, kim, nhọn, dùi Kỹ thuật chế tác: biết khoan, biết lắp cán vào các công cụ Cung tên đã xuất hiện vào cuối thời đồ đá cũ và phổ biến vào thời đồ đá giữa Có rất nhiều công cụ lao động làm bằng xương, sừng: mũi lao, lao móc, gậy, dao găm, kim…Công cụ đá và xương ngày càng được chuyên môn hóa và phân hóa

Là thời kỳ tồn tại của người mới Homo sapiens giống người ngày nay, nhân tố sinh

Trang 32

“vật” ngày càng giảm Người hiện đại tổ chức săn bắt tập thể các loài thú lớn sống thành bầy

để nuôi sống nhiều người Phương thức hái lượm vẫn còn phổ biến vì nó phù hợp với giới nữ,

sự phong phú của hoa quả nhiệt đới, của miền ven sông biển nhiều cua, cá, sò, ốc, hến…Nghề đánh cá đã nảy sinh với việc đâm cá bằng lao móc Nguồn thủy sản quan trọng vẫn chỉ là trai,

sò, ốc…

Hình vẽ mô phỏng lại một ngôi nhà gỗ tạm thời, tìm thấy tại Terra Amata (ở Nice, Pháp) có niên đại khoảng 400.000 TCN

Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1_c%C5%A9

Người chết được chôn cất tử tế, nhiều khi chôn ngay trong nơi cư trú biểu thị sự không

nỡ chia cách giữa người sống và người chết Hiện vật được chôn theo để người chết sinh sống

ở thế giới bên kia Có khi vì sợ người chết nên trước khi chôn đã trói chặt người chết, hoặc đập vỡ một mảng đầu, hoặc chèn đá lên người, hoặc chôn úp mặt người chết xuống đất và mộ táng lúc này là nhà tù của người chết

Đây là thời kỳ của chế độ thị tộc mẫu hệ Nhiều tập đoàn người Homo sapiens đã sống trong các nhà dài, nhà tròn, mỗi nhà chứa trên dưới năm chục người Diện tích cư trú rất rộng trên dưới 30.000 m2 cho thấy các công xã thị tộc bao gồm rất đông người Việc tìm thấy các tượng phụ nữ cho biết đó là tượng những bà tôn mẫu trong công xã thị tộc mẫu hệ

Chủng loại công cụ đá

Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1

Trang 33

5.3 Thời đại đồ đá cũ ở Việt Nam:

5.3.1 Việt Nam được xem là một trong những “cái nôi” của nhân loại:

Việt Nam nằm trong vùng hình thành của loài người vì nằm giữa Java và Bắc Kinh là hai nơi phát hiện được giống người vượn cổ và những di tích văn hóa sơ kỳ đồ đá cũ Ở các nước láng giềng như Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Kampuchia, Lào cũng phát hiện được nhiều di tích thời đồ đá cũ

Ở Viêt Nam cũng tìm thấy di cốt người vượn và nhiều hiện vật thời đồ đá cũ J Fromaget, E Saurin đã tìm thấy di cốt người vượn tương tự như người vượn Bắc Kinh và một

số đồ đá cuội đẽo thô sơ ở Tam Hang, Tam Paloi (Lào) và ở hang Thung Lang (Ninh Bình)

Tìm được hóa thạch người vượn ở hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai thuộc trung kỳ thời Cánh tân; di cốt người tinh khôn sớm ở Thẩm Ồm, Hang Hùm thuộc hậu kỳ thời Cánh tân; di cốt người tinh khôn muộn ở Thung Leng, Kéo Lèng Ở Núi Đọ đã tìm thấy di tích thời đại đồ

đá cũ với công cụ lao động như rìu, mảnh tước ghè đẽo thô sơ

Tất cả những điều trên đã chứng tỏ rằng ở Việt Nam từ thời đồ đá cũ đã có loài người

sinh sống Có thể nói Việt Nam là một những cái nôi của loài người

5.3.2 Hiện vật của thời sơ kỳ đồ đá cũ ở Việt Nam có mặt ở nhiều nơi:

Ở núi Đọ (Thanh Hóa) tìm thấy nhiều mảnh tước, rìu tay, công cụ chặt thô, công cụ hình rìu Người nguyên thủy khai thác nguyên liệu tại chỗ để chế tạo công cụ Toàn bộ hiện vật nằm rải rác trên mạch sườn núi ở độ cao từ 20m đến 80m, số lượng mảnh tước chiếm tỉ lệ 80% hiện vật thu được Dựa vào đặc trưng của hiện vật các nhà nghiên cứu xác định niên đại của các hiện vật đó tương đương với giai đoạn Sen, A – Sơn trên thế giới: thuộc sơ kỳ đồ đá

Miền Đông Nam bộ tìm thấy những công cụ lao động: rìu tay, mũi nhọn, mảnh tước

… ở một số nơi như Hàng Gòn, Dầu Giây v.v… Những phát hiện này đã góp phần khẳng định thêm sự có mặt của người nguyên thủy sơ kỳ đồ đá cũ ở vùng đất đỏ Đồng Nai

Ở hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn) tìm thấy 10 chiếc răng người hóa thạch

có niên đại từ 30 – 25 vạn năm cách nay, đó là dấu vết của người vượn đầu tiên ở nước ta

5.3.2 Hiện vật của thời trung kỳ kỳ đồ đá cũ ở Việt Nam:

Ở hang Miệng Hổ và các hang khác như Nà Khê, Lạng Hắc, Thẩm Hấu, Lũng Ổ, Pha Kình… tìm thấy nhiều mảnh tước, nạo làm từ đá cuội, chế tác thô sơ Có thể có một nhóm di tích văn hóa đá cuội thuộc trung kỳ đồ đá cũ, phân bố rộng rãi ở vùng Việt Bắc mà di tích hang Miệng Hổ là tiêu biểu nhất

Hang Thẩm Ồm tìm thấy 5 cái răng vừa có đặc điểm giống răng người vừa giống răng vượn Đó là răng của Người vượn đi thẳng sắp chuyển hóa thành người tiến bộ hơn

Hang Hùm thấy 4 cái răng trong lớp trầm tích đầu hậu kỳ thời Cánh tân, niên đại C14:

8 vạn năm cách ngày nay Răng này có nhiều điểm giống với răng người hiện đại Do đó rất

có khả năng người Mới đã xuất hiện sớm ở Việt Nam

Hang Kéo Lèng, Thung Lang, Soi Nhụ tìm thấy: xương và răng của người Mới có niên đại 3 -2 vạn năm cách ngày nay

Trang 34

5.3.3 Hiện vật của thời hậu kỳ kỳ đồ đá cũ ở Việt Nam:

Ở Nậm Tum – Bản Phố tìm thấy công cụ lao động gồm: công cụ chặt thô, mũi nhọn và chày làm bằng đá cuội to, nặng; chế tác còn thô sơ

Di tích Nậm Tum là một hang đá vôi ở ngay thị trấn Phong Thổ tỉnh Lai Châu; Bản Phố

là di tích ngoài trời ven sông Đà thuộc xã Tạ Khoa tỉnh Sơn La; hai nơi cách nhau hàng trăm cây số, lại rất khác nhau về địa hình nhưng lại có loại hình công cụ và kỹ thuật chế tác tương

tự nhau; vì vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng bộ sưu tập hiện vật Nậm Tum – Bản Phố của vùng Sơn La – Lai Châu thuộc hậu kỳ đồ đá cũ sớm hơn Sơn Vi Văn hóa Sơn Vi (Vĩnh Phú):

là nền văn hóa tiêu biểu nhất thời hậu kỳ đồ đá cũ Di tích văn hóa Sơn Vi tìm thấy ở nhiều nơi: từ Lào Cai phía Bắc tới Thanh Hóa phía Nam; từ Sơn La phía Tây Bắc đến lưu vực sông Lục Nam phía Đông Bắc

Đặc điểm nổi bật của các hiện vật: tất cả đều làm bằng đá cuội, kỹ thuật ghè đẽo so với trước thì khá hơn

Người Sơn Vi sinh sống với việc săn bắt, hái lượm điều đó được minh chứng qua việc tìm thấy trong di tích có nhiều loại thú hươu, tê ngưu, cầy, chồn; nhiều loại ốc núi, ốc vặn, cua núi…

Cuộc khai quật di tích hang Con Moong ở vườn văn hóa Cúc Phương đã tìm thấy 3 ngôi

mộ cổ, xương vụn nát cho thấy người Sơn Vi chôn người chết ở nơi cư trú, đồ tùy táng là công cụ lao động và thổ hoàng

Về niên đại, các nhà nghiên cứu dựa vào việc phân tích đặc điểm kỹ thuật chế tác, đặc trưng loại hình công cụ, tài liệu đia chất của các di tích… cho rằng văn hóa Sơn Vi thuộc hậu

kỳ đồ đá cũ Với phương pháp phân tích carbon phóng xạ C14 ta có vài niên đại tiêu biểu: núi Một (Thanh Hóa): 16125 +/- 120 năm; hang Pông I (vườn quốc gia Cúc Phương): 11 915 +/-

120 năm (đây là niên đại muộn nhất của văn hóa Sơn Vi)

Vậy, ở hậu kỳ đồ đá cũ người Việt cổ đã tiến lên một bước mới với công cụ lao động tiến

bộ hơn trước, sống bằng săn bắt hái lượm, cuộc sống nâng lên

CÂU HỎI CỦA CHƯƠNG 5: THỜI ĐẠI ĐỒ ĐÁ CŨ

Câu 1: Thời đại đồ đá cũ: định nghĩa, niên đại?

Câu 2: Đặc điểm của giai đoạn Tiền Sen, Sen, A Sơn thuộc sơ kỳ đồ đá cũ?

Câu 3: Thành tựu văn hóa của loài người thời trung kỳ, hậu kỳ đồ đá cũ?

Câu 4: Tại sao Việt Nam được xem là một trong những cái nôi của nhân loại ?

Câu 5: Hiện vật của thời đồ đá cũ Việt Nam có mặt ở đâu ?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Hiến Lê, Thiên Giang 1998 " Lịch sử thế giới, tập 1 và 2" NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội

2 Phan Ngọc Liên (Chủ biên) 2000 " Sổ tay kiến thức lịch sử phổ thông" NXB Đại học QG

Hà Nội

3 Lê Đình Phúc 2000 "Giáo trình khảo cổ học" TTĐT từ xa Huế NXB Giáo dục

4.Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh 2010 " Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1" NXB Giáo Dục Hà Nội

5 Đào Tố Uyên (chủ biên) 2008 " Tìm hiểu lịch sử Việt Nam qua hỏi đáp, tập 1" NXB Đại học sư phạm Hà Nội

6 Hà Văn Tấn, Nguyễn Khắc Sử 1978 " Văn hóa Sơn Vi, 10 năm sau ngày phát hiện" Tạp

chí Khảo cổ học, sô 5

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trước khi lên lớp cần học trước tài liệu tài liệu giảng dạy của giảng viên. Mỗi sinh viên đều có bản phô tô tài liệu chính này để học Khác
2. Ghi tất cả những thắc mắc lên bảng trước mỗi buổi học để sinh viên và giảng viên cùng nhau giải quyết trong buổi học Khác
4. Giảng viên sẽ hệ thống hoá những điều vừa học, giải đáp mọi thắc mắc, giảng sâu thêm nội dung bài, cho thêm nhiều ví dụ, mở rộng ra những nội dung mới, hướng dẫn học buổi học kế tiếp. Bên cạnh đó giảng viên cũng giới thiệu những nội dụng cập nhật của khảo cổ học An Giang, Đồng bằng sông Cửu Long, cả nước, thế giới được đăng tải trên sách báo, trên mạng Khác
1. Cung cấp cho sinh viên một sô" kiến thức cơ bản về khảo cổ học nhằm vào việc bổ sung cho những kiến thức về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, đặc biệt là về phần xã hội nguyên thuỷ và cổ đại Khác
2. Trang bị cho ngưòi học một số khái niệm về các phương pháp nghiên cứu cơ bản của Khảo cổ học nhằm góp phần hình thành các kĩ năng thực hành trong nghiên cứu lịch sử, nhất là phần lịch sử địa phương Khác
4. Bồi dưỡng các kĩ năng xem xét, phân loại, vẽ lại các hiện vật khảo cổ, kĩ năng sử dụng các tài liệu khảo cổ học để học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử.III. Những điểm cần lưu ý khi học tài liệu giảng dạy này Khác
1. Học môn khảo cổ học ở ngành đại học sư phạm lịch sử ở trường Đại học An Giang không phải là để đào tạo ra các nhà khảo cổ học chuyên nghiệp, mà là để phục vụ cho việc Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w