1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo dục dân số tài liệu giảng dạy

160 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 6,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dân số gia tăng ở mức kỉ lục trong vòng hơn nửa thế kỉ qua là kết quả của sự phát triển thành tựu y tế, đặc biệt là sự xuất hiện của các loại thuốc kháng sinh, vắc xin… ở các nước có mức

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

GIÁO DỤC DÂN SỐ

NGUYỄN PHÚ THẮNG

AN GIANG, THÁNG 10 NĂM 2014

Trang 2

Tài liệu giảng dạy “Giáo dục dân số” do tác giả Nguyễn Phú Thắng, công tác tại Khoa Sư Phạm thực hiện Tác giả đã báo cáo nội dung và được hội đồng Khoa học

và Đào tạo Khoa thông qua ngày ………… và được hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường thông qua ngày …………

Tác giả biên soạn

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã cung cấp các tài liệu quan trọng cho tác giả trong quá trình biên soạn Xin cảm ơn Phòng QLKH - HTQT, các anh chị đồng nghiệp Khoa Sư phạm và Bộ môn Địa lí - Đại học

An Giang đã ủng hộ và giúp đỡ tác giả hoàn thành tài liệu giảng dạy này

Ngày ………tháng 10 năm 2014 Người thực hiện

Th.S Nguyễn Phú Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

2.5 Dân số và tài nguyên, môi trường 97

CHƯƠNG 3 CHÍNH SÁCH, CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ - SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2020 VÀ MỤC TIÊU GIÁO DỤC DÂN SỐ TRONG

3.1 Chính sách, chiến lược dân số ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 120 3.2 Ý nghĩa, mục tiêu, đối tượng, nội dung Giáo dục dân số trong nhà

3.3 Giáo dục dân số qua môn Địa lí trong nhà trường phổ thông 129

Trang 5

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1.1 Quy mô dân số thế giới qua một số thời kì 2 Hình 1.2 Dân số thế giới 1950 – 2100, theo các phương án (dự báo) 3 Hình 1.3 Tỉ lệ dân số trong tổng số dân giữa các nhóm nước 4 Hình 1.4 Tỉ lệ dân số theo các châu lục trên thế giới năm 2013 – 2050 5

Hình 1.6 Tỉ số giới tính chung và tỉ số giới tính của trẻ em mới sinh

Hình 1.10 Tỉ suất sinh thô (CBR) của các nhóm nước trên thế giới 30 Hình 1.11 Tổng tỉ suất sinh trên thế giới theo các nhóm nước 1950 – 2100 31 Hình 1.12 Mức sinh ở Việt Nam giai đoạn 1990 – 2013 32 Hình 1.13 Tỉ suất chết thô của các nhóm nước trên thế giới giai đoạn

Hình 1.17 Số dân nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước thời điểm TĐT

DS năm 1999 của dòng di cư giữa các tỉnh theo vùng kinh tế - xã hội 50 Hình 1.18 Số dân nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước thời điểm TĐT

DS năm 2009 của dòng di cư giữa các tỉnh theo vùng kinh tế - xã hội 51

Hình 1.20 Tỉ lệ dân cư thành thị và nông thôn trên thế giới theo các nhóm nước

Hình 2.1 Tăng trưởng và giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn 1993-2008 91

Trang 6

Hình 2.2 Thành tựu giảm nghèo theo các hệ thống theo dõi của TCTK-NHTG và của

Hình 2.3 Các chỉ số phi thu nhập của người nghèo 92 Hình 2.4 Tỉ lệ nghèo của dân tộc thiểu số và thay đổi cơ cấu hộ nghèo

Hình 2.6 Sơ đồ quan hệ hữu cơ giữa gia tăng dân số và ô nhiễm môi trường 107 Hình 2.7 Ước tính thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ các khu công

Bảng 1.4: Phân bố dân cư theo các vùng ở Việt Nam giai đoạn 1999 – 2012 9 Bảng 1.5: Tỉ số giới tính của thế giới theo các nhóm nước giai đoạn 1950 – 2025 12 Bảng 1.6: Tỉ số giới tính theo độ tuổi của thế giới năm 2013 12 Bảng 1.7: Tỉ số giới tính nước ta giai đoạn 1960 - 2012 13 Bảng 1.8: Tỉ số giới tính Việt Nam phân theo thành thị - nông thôn và các vùng kinh

Bảng 1.9: Tỉ số giới tính sau khi sinh phân theo vùng ở Việt Nam 2005 – 2012 15 Bảng 1.10: Dân số và cơ cấu dân số theo tuổi thế giới năm 2013 20 Bảng 1.11: Dự báo cơ cấu dân số theo tuổi của các nhóm nước năm 2050 20 Bảng 1.12: Tỉ số phụ thuộc ở Việt Nam giai đoạn 1989 – 2012 23 Bảng 1.13: Mức sinh của các vùng trên thế giới năm 2013 30

Trang 7

Bảng 1.14: Tổng tỉ suất sinh trên thế giới theo các nhóm nước và các châu lục giai

Bảng 1.15: CBR theo vùng của Việt Nam giai đoạn 1999 – 2012 32 Bảng 1.16: IMR theo các nhóm nước trên thế giới 1970 – 2013 39 Bảng 1.17: Kì vọng sống (Tuổi thọ trung bình) trên thế giới 39 Bảng 1.18: Cơ cấu tuổi và mức chết của thế giới năm 2013 40

Bảng 1.21: Tỉ suất gia tăng tự nhiên của cả nước và các vùng giai đoạn

Bảng 1.22: Số người nhập cư, số người xuất cư và tỉ suất di dân thuần

Bảng 1.23: Nơi thực tế thường trú trước ngày 1/4/2004 và 1/4/2009

Bảng 1.24: Dân số Thế giới và tỉ lệ dân số thành thị chia theo nhóm nước

Bảng 1.25: Tỉ lệ và tốc độ tăng dân đô thị ở Việt Nam giai đoạn 1960 – 2050 62

Bảng 2.1: GDP bình quân và tỷ lệ gia tăng dân số ở một số quốc gia, năm 2010 72

Bảng 2.3: GDP bình quân đầu người/năm ở các nhóm nước 73 Bảng 2.4: Tốc độ gia tăng dân số, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn

Bảng 2.6: Cơ cấu dân số trong độ tuổi giáo dục phổ thông ở nước ta 78 Bảng 2.7: Số lượng học sinh phổ thông tại thời điểm 31 -12 các năm học 79 Bảng 2.8: Đầu tư cho giáo dục theo các phân nhóm HDI năm 2013 79

Bảng 2.11: TFR chia theo trình độ học vấn người mẹ năm 1994 82 Bảng 2.12: Một số chỉ tiêu về y tế theo nhóm thu nhập trên thế giới 85

Trang 8

Bảng 2.13: Một số các chỉ số y tế ở Việt Nam giai đoạn 1995 – 2011 86 Bảng 2.14: Tỉ lệ hộ nghèo phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng 93 Bảng 2.15: Dự báo thời gian còn khai thác được của một số loại khoáng sản 100 Bảng 2.16: Diện tích rừng, tỉ lệ và độ che phủ rừng năm 2010 101 Bảng 2.17: Biến động diện tích rừng ở Việt Nam giai đoạn 1943 – 2010 102

Hộp 1.3 Châu Phi sẽ có dân số tăng lớn nhất từ đây cho đến 2050 6

Hộp 2.1 Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế 71 Hộp 2.2 Các nguyên nhân làm cho các nước kinh tế phát triển có tỉ suất

Hộp 2.3 Ấn Độ trong việc giảm tỉ suất sinh nhờ nâng cao dân trí 81

Hộp 2.9 Ô nhiễm môi trường không khí giết chết 7 triệu người 108

Trang 9

(Chỉ số phát triển con người)

(Tỉ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi)

(Quỹ dân số thế giới)

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh dân số Thế giới và Việt Nam đang có nhiều biến động và tác động sâu rộng đến các phương diện của đời sống kinh tế xã hội, giáo dục dân số là một hướng đi quan trọng để thực hiện các mục tiêu về dân số ở nước ta ở giai đoạn hiện nay Yêu cầu về giáo dục dân số đã được khẳng định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban

chấp hành Trung ương Đảng khoá VII: " , thực hiện giáo dục dân số với nội dung thích

hợp, hình thức đa dạng, có sự tham gia của toàn xã hội " Xuất phát từ yêu cầu trên,

giáo dục dân số đã được Bộ Giáo dục đào tạo thực hiện dưới nhiều hình thức, ở nhiều cấp học, môn học, trong đó có Địa lí Do đặc trưng của môn học, môn Địa lí có khả năng tích hợp các nội dung giáo dục dân số trong nhiều chủ đề, nhiều khía cạnh Việc giáo dục dân số qua môn Địa lí trong nhà trường phổ thông do đó trở nên gần gũi và hiệu quả

Với mục tiêu cung cấp cho sinh viên chuyên ngành Địa lí các kiến thức cơ bản

về Giáo dục dân số, môn học Giáo dục dân số [mã số SEG 509] đã được đưa vào khung chương trình đào tạo ngành Địa lí – Đại học An Giang Trên cơ sở tập hợp nguồn tư liệu phong phú từ các tác giả, chuyên gia, các nhà khoa học về dân số, chúng tôi đã xây dựng tài liệu giảng dạy GIÁO DỤC DÂN SỐ dành cho sinh viên ngành Địa lí Nội dung của tài liệu tập trung vào 3 chương:

Chương 1 Động lực phát triển dân số

Chương 2 Dân số và phát triển

Chương 3 Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 –

2020 và Giáo dục dân số ở môn Địa lí trong nhà trường phổ thông

Trong các chương, bên cạnh việc đề cập đến các nội dung liên quan đến dân số

và giáo dục dân số, tài liệu giảng dạy còn cung cấp các hộp thông tin và các câu hỏi thảo luận, củng cố sau mỗi chương Điều này nhằm đem lại cái nhìn toàn diện trong bối cảnh dân số đang trong xu thế biến động trên cả nước, từ đó có thái độ và cách nhìn nhận đúng đắn với các vấn đề dân số hiện nay

Mặc dù đã cố gắng, song tài liệu giảng dạy môn Giáo dục dân số chắc chắn còn nhiều hạn chế Rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp để tài liệu ngày càng hoàn thiện hơn

TÁC GIẢ

Trang 11

CHƯƠNG 1

ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN DÂN SỐ

Quy mô, sự phân bố và cơ cấu dân số là các chỉ tiêu cơ bản trong nghiên cứu dân số Các yếu tố trên của dân số luôn biến động trong mối quan hệ giữa gia tăng tự nhiên (sinh, tử) và gia tăng cơ học (di cư) Gia tăng tự nhiên được xem là động lực của gia tăng dân số, giữ vai trò quyết định đối với sự thay đổi của dân số Gia tăng cơ học đóng vai trò quan trọng, góp phần làm thay đổi, thậm chí quyết định đối với sự gia tăng dân số một số quốc gia tại một thời điểm nhất định Nói cách khác, đây là những yếu tố gây nên sự biến động dân số Trong việc nghiên cứu các nội dung trên, người học cần giải quyết các câu hỏi sau:

Những chỉ tiêu nào được sử dụng để đánh giá sự biến động của quy mô,

phân bố và cơ cấu dân số?

Xu hướng biến động tự nhiên của dân số trên Thế giới và Việt Nam diễn

ra như thế nào? Các chỉ tiêu nào để đánh giá biến động tự nhiên của dân số? Nguyên nhân và các tác động cơ bản của sự biến động tự nhiên dân số trên thế giới và Việt Nam?

Sự di dân và đặc điểm đô thị hóa ở thế giới và Việt Nam diễn ra như thế

nào? Các tác động cơ bản của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội? Việc trả lời các câu hỏi trên cũng là mục tiêu cần đạt được trong chương này:

Về kiến thức:

- Nắm và vận dụng các chỉ tiêu đánh giá sự biến động của quy mô, cơ cấu

và phân bố dân số Phân tích xu hướng biến động về quy mô, phân bố và cơ cấu dân số thế giới và Việt Nam và tác động đối với phát triển kinh tế - xã hội

- Nắm được quá trình biến động tự nhiên của dân số, đặc điểm của sự biến động và lí giải các nguyên nhân cơ bản của sự biến động

- Phân tích đặc điểm và tác động của di dân và đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa gia tăng dân số và phát triển đô thị

Về kĩ năng: Kĩ năng phân tích xử lí số liệu, kĩ năng phân tích bản đồ, biểu

đồ; Kĩ năng làm việc nhóm

Về thái độ: Hiểu đúng bản chất của sự biến động dân số, từ đó có cái nhìn

đầy đủ và khách quan về sự biến động dân số thế giới và quốc gia cũng như ở địa phương, góp phần vào việc tuyên truyền công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở địa phương

Trang 12

1.1 QUY MÔ, PHÂN BỐ

Việc nghiên cứu quy mô, phân bố và cơ cấu dân số có ý nghĩa quan trọng đối với việc xem xét và giải quyết các vấn đề dân số

Hộp 1.1 Quy mô dân số, sự phân bố dân cư

Quy mô dân s ố là tổng số người sống trên một vùng lãnh thổ tại một thời điểm

nhất định Quy mô dân số được xác định thông qua tổng điều tra dân số hoặc thống kê dân

số thường xuyên

Phân bố dân cư là sự phân chia tổng số dân theo địa bàn hành chính, khu vực địa

lí, khu vực kinh tế…

1.1.1 Quy mô, phân bố dân số thế giới

- Quy mô dân số thế giới ngày càng lớn, tốc độ gia tăng nhanh

Ngày 30/10/2011, dân số thế giới đạt 7 tỉ người1 Như vậy, so với giai đoạn đầu Công nguyên (CN), dân số thế giới tăng gần 23 lần về quy mô Thời gian dân số tăng lên 1 tỉ người ngày càng được rút ngắn: 1831 năm (đầu CN đến 1830), 100 năm (1830 – 1930), 30 năm (1930 – 1960), 15 năm (1960 - 1975), 12 năm: 1975 – 1987, 1987 -

1999, 1999 – 2011

Nguồn: UNFPA 2014

Quy mô dân số thế giới bắt đầu tăng nhanh từ đầu thế kỉ XX, nhất là sau 1950 Dân số đạt con số 7,1 tỉ người năm 2013 cho thấy bức tranh dân số thế giới tiếp tục diễn ra với tốc độ nhanh Dân số gia tăng ở mức kỉ lục trong vòng hơn nửa thế kỉ qua

là kết quả của sự phát triển thành tựu y tế, đặc biệt là sự xuất hiện của các loại thuốc kháng sinh, vắc xin… ở các nước có mức sinh và mức chết cao Do đó, mức chết, đặc biệt là mức chết ở trẻ sơ sinh giảm nhanh chóng, trong khi mức sinh tuy có giảm song chậm hơn nhiều, dẫn đến tình trạng “bùng nổ dân số”

Trang 13

Một góc đường phố ở Ấn Độ

Nguồn: National Geographic

Dân số thế giới tiếp tục gia tăng trong các thập kỉ tiếp theo với mức gia tăng gần 100 triệu người/năm là do “đà tăng dân số” còn lớn (Quỹ dân số Liên Hợp Quốc) Trong trường hợp mức sinh giảm xuống như hiện nay thì dân số thế giới còn có thể đạt con số 11,9 triệu người năm 2050 (Phương án dự báo dân số của LHQ – Hình 1.2)

Hình 1.2 Dân số thế giới 1950 – 2100, theo các phương án (dự báo)

Các phương án dân số ở hình 1.2 cho thấy, quy mô dân số thế giới tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới Điều này đặt ra thách thức trong việc bình ổn dân số Việc

Năm

Trang 14

đẩy mạnh hơn nữa chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình, hạn chế tốc độ gia tăng dân số, góp phần ổn định quy mô dân số thế giới vẫn là vấn đề cấp bách có ý nghĩa toàn cầu

Hộp 1.2 Đà tăng dân số

Đà tăng dân số: Tiềm năng gia tăng được dự trữ trong dân số có liên quan đển

cấu trúc trẻ của dân số Do tỉ suất sinh trước đây cao nên dân số đang ở độ tuổi thanh niên chiếm tỉ lệ lớn trong dân số Khi tuổi của lớp thanh niên này tăng và số lượng người bước vào độ tuổi sinh đẻ tăng, số trẻ em ra đời sẽ tăng ngay cả khi mỗi cặp vợ chồng chỉ có 2 con Một giả định về mức sinh thay thế đạt được tức thời vào năm 1990 khi dân số xấp xỉ 5,4 tỉ người sẽ dẫn đến quy mô dân số thế giới sẽ tiếp tục tăng và đạt đến con số xấp xỉ 10,8 tỉ người vào năm 2050 Các nhà nhân khẩu học của LHQ đã tính rằng đà tăng dân số

sẽ tạo ra 2/3 lượng gia tăng hàng năm trong tương lai

Nguồn: UNFPA: State of World population 1998 (Dân số và phát triển – Dự án Vie/97/P17 – 2000 – Trang 4)

- Quy mô dân số thế giới có sự chênh lệch giữa các nhóm nước và khu vực

* Dân số thế giới có sự chênh lệch trong quy mô giữa các nhóm nước và mức

độ chênh lệch có xu hướng gia tăng

Nguồn: Population Division of the Department of Economic and Social Affairs of the United Nations Secretariat (2014) World Population Prospects: The 2013 Revision New

York: United Nations

Năm 1950, dân số ở các nước đang phát triển chiếm 67% dân số thế giới, năm

2013 tăng lên 83,1% (6,9 tỉ người) Dự báo đến năm 2050, dân số thế giới tập trung gần 90% ở khu vực các nước đang phát triển Tỉ trọng dân số của nhóm các nước phát triển giảm từ 33% năm 1950 xuống còn 17,9% năm 2013 và dưới 10% năm 2050.2

2 World Population Data Sheet 2013

1950 2013

Trang 15

15.5 60

10.4

8.6 5 0.5

Châu Á Châu Âu

Mĩ Latin và Caribe Bắc Mĩ Châu Đại dương

Quy mô dân số giữa các nhóm nước không đồng đều là kết quả của sự phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay, tuy có xu hướng giảm, song tốc độ gia tăng dân số của nhóm nước đang phát triển vẫn rất cao (1,4% - 1,7%), trong khi ở nhóm nước phát triển chỉ đạt 0,1% năm 2013), do đó số dân ngày càng nhiều hơn so với nhóm các nước phát triển

* Quy mô dân số phân bố không đồng đều theo khu vực và quốc gia

Bảng 1.1: Phân bố dân cư giữa các châu lục trên thế giới

Dân số (triệu người)

Dự báo (phương án trung bình)

Nguồn: Population Division of the Department of Economic and Social Affairs of the United Nations Secretariat (2013) World Population Prospects: The 2012 Revision New

York: United Nations

Hình 1.4 Tỉ lệ dân số theo các châu lục trên thế giới năm 2013 – 2050

Nguồn: Population Division of the Department of Economic and Social Affairs of the United Nations Secretariat (2013) World Population Prospects: The 2012 Revision New York: United Nations

Dân số tập trung chủ yếu ở châu Á – nơi có 2 quốc gia đứng đầu thế giới về dân số là Trung Quốc (1,3 tỉ) và Ấn Độ (1,2 tỉ người) năm 2013 Châu Phi có số dân tăng nhanh và liên tục do tỉ suất sinh cao Số dân ở Châu Âu có tăng nhưng chậm do

tỉ suất sinh thấp Bắc Mĩ và châu Đại Dương có sự gia tăng đáng kể song còn chiếm tỉ trọng khiêm tốn trong dân số thế giới

24.7 54.4

7.4 8.3

4.6 0.6

2050 (Dự báo)

Trang 16

Hộp 1.3 Châu Phi sẽ có dân số tăng lớn nhất từ đây cho đến 2050

Với mức tăng trung bình 1,3 tỉ người từ nay cho đến 2050, Châu Phi sẽ có dân số nhiều hơn ở bất kì khu vực nào Sự gia tăng sẽ diễn ra ở 51 quốc gia thuộc vùng Sahara Châu Phi – khu vực nghèo nhất châu lục 1,3 tỉ người tăng thêm sẽ vượt quá dân số khổng

lồ của châu Á Tuy vậy, phải thừa nhận rằng, tỉ suất sinh sẽ giảm ở mọi quốc gia vùng Sahara vì sự gia tăng của việc áp dụng kế hoạch hóa gia đình Nếu mức sinh thay thế không giảm, dân số tương lai sẽ lại tăng lên

Nguồn: Carl Haub and Toshiko Kaneda, 2013 World Population Data Sheet

(Washington, DC: Population Reference Bureau, 2013).

1.1.2 Quy mô, phân bố dân số Việt Nam

- Việt Nam có quy mô dân số lớn, tốc độ dân số gia tăng nhanh

Năm 2013, dân số Việt Nam đạt 89,7 triệu người, đứng thứ 4 về dân số ở khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 13 thế giới3 Mật độ dân số đạt 271 người/km2, gấp 2 lần mật độ dân số của châu Á, cao hơn mật độ dân số Trung Quốc, gấp gần 6 lần mật độ trung bình trên thế giới Tốc độ gia tăng dân số là 1,05% Bình quân hàng năm tăng khoảng 1,1 triệu người So với chỉ số mật độ phù hợp (có từ 35 – 40 người/km2) của LHQ, mật độ dân số của Việt Nam đã gấp tới 7 – 8 lần Có thể khẳng định rằng, Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số lớn

3 Niên giám thống kê năm 2014 và World Population Data Sheet 2013

Châu Phi

Vùng Xahara Châu Phi

Trang 17

Bảng 1.2: Số dân và tỉ suất gia tăng tự nhiên ở nước ta giai đoạn

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000, 2013

Quy mô dân số thay đổi qua các thời kì Cho đến những năm cuối của thế kỉ XIX, dân số Việt Nam gia tăng chậm Từ đầu thế kỉ XX trở lại, tốc độ gia tăng dân số ngày càng nhanh Giai đoạn 1921 – 1955 (35 năm) dân số tăng khoảng 9,5 triệu người Đặc biệt giai đoạn 1955 – 1995 (40 năm) dân số nước ta tăng khoảng 48 triệu người Nếu tính từ 1921 – 1995, trong khoảng 74 năm, dân số Việt Nam tăng khoảng 4,5 lần với số lượng khoảng 58,5 triệu người, cũng trong thời gian này, dân số thế giới tăng 2,9 lần Nếu chỉ tính từ 1975 – 1990, dân số nước ta tăng thêm khoảng 18,6 triệu người, trong khi đó châu Âu chỉ tăng thêm 20 triệu người Thời gian dân số gia tăng gấp đôi ngày càng được rút ngắn Từ năm 1921 – 1960 (40 năm) dân số tăng gấp đôi từ 15,6 triệu lên 30 triệu người Nhưng cũng chỉ từ 1960 – 1985 (25 năm), dân số Việt Nam tiếp tục tăng lên tới 60 triệu người Theo kết quả Tổng điều tra dân số 1 – 4 – 2009, dân số cả nước hiện là 86,0 triệu người, sau đó tăng lên 89,7 triệu người năm 2013 Với đặc điểm số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ còn lớn, số dân của nước ta vẫn có thể tăng nhanh trong vài thập kỉ tới Những phương án dự báo mới nhất của Tổng cục thống kê cho thấy, vào năm 2025, dân số đạt 98,4 triệu người và đến năm 2030, con

số này ước đạt 101,1 triệu người4

Nguyên nhân chính của tình trạng gia tăng dân số ở nước ta là do mức sinh vẫn còn cao và giảm chậm, trong khi mức chết đã xuống thấp và tương đối ổn định

Dân số là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội Với dân số đông, nước ta có nguồn lao động dồi dào và thị trường tiêu thụ rộng lớn Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, sự gia tăng dân số nhanh đã tạo nên sức ép lớn đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, với tài nguyên môi trường và việc nâng cao chất lượng cuộc sống của từng thành viên trong xã hội Các vấn đề về khan hiếm đất đai, cạn kiệt tài nguyên, vấn đề việc làm, giáo dục, nhà ở… làm hạn chế việc cải thiện các chỉ số về chất lượng cuộc sống của dân cư (Hình 1.5)

4 Tổng cục thống kê – Dự báo dân số Việt Nam 2009 - 2049

Trang 18

Hình 1.5 Sức ép dân số

Nguồn: Địa lí KTXHVN – GS Lê Thông, 2010, trang 41

- Phân bố dân cư không đồng đều

* Giữa thành thị và nông thôn: Dân cư tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn

khi chiếm 68% dân số, khu vực thành thị chỉ chiếm 32%

Dân số tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn do quá trình định canh định cư trong lịch sử và tốc độ gia tăng dân số rất nhanh ở khu vực nông thôn

Bảng 1.3: Phân bố dân số theo thành thị và nông thôn Việt Nam giai đoạn

1990 - 2012

Năm Dân số chung

(triệu người)

Dân số thành thị Dân số nông thôn

Triệu người % Triệu người %

12,9 14,9 18,7 22,3 26,5 28,3

19,5 20,7 24,1 27,1 30,5 31,9

53,1 57,0 58,9 60,1 60,4 60,45

80,5 79,3 75,9 72,9 69,5 68,1

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2013

Sự khai thác quá mức tài nguyên

Hiện trạng ô nhiễm môi trường

Vấn đề không gian cư trú

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Bố trí

cơ cấu

KT

Tổng thu nhập nền KT

Trang 19

Bảng 1.3 cho thấy, tỉ lệ dân số thành thị có xu hướng gia tăng, đặc biệt từ năm

2000 Tuy nhiên, tỉ số dân thành thị nhìn chung còn thấp (31,9% năm 2012) Sự gia tăng này là kết quả của quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta Quá trình

đô thị hóa thu hút lực lượng lao động lớn từ nông thôn Tuy nhiên, đô thị hóa cũng đồng thời làm gia tăng các vấn đề về tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường đô thị… Để phát triển đô thị bền vững, cần thực hiện nghiêm túc quản lí đô thị, có biện pháp điều tiết dân di cư tự do, có kế hoạch phát triển đô thị hợp lí, xây dựng lối sống văn minh

đô thị…

* Giữa đồng bằng và trung du miền núi: Phân bố dân cư có sự chênh lệch giữa

các vùng, 75% dân số tập trung ở đồng bằng, các vùng miền núi trung du chỉ chiếm 25%

Bảng 1.4: Phân bố dân cư theo các vùng ở Việt Nam

(triệu người)

Mật độ dân số

(người/km 2 )

Dân số trung bình

(triệu người)

Mật độ dân số

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2013

Sự phân bố bất hợp lí thể hiện ở việc diện tích vùng đồng bằng chỉ chiếm ¼ toàn quốc nhưng tập trung tới 75% dân số Vùng miền núi trung du nhiều lợi thế để phát triển kinh tế, chiếm tới ¾ diện tích, nhưng chỉ tập trung chưa đầy ¼ dân số Đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm 4,5% dân số toàn quốc nhưng lại là nơi có mật độ dân số

Trang 20

cao nhất 961 người/km2 Trong khi đó, vùng Tây Nguyên và Trung du miền núi Bắc

Bộ có mật độ dân số rất thấp (99 người/km2 và 120 người/km2) (bảng 1.4)

Dân số giữa các vùng có sự chênh lệch lớn là hệ quả của quá trình định cư trong lịch sử và mức sinh cao Những nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi, kinh tế - xã hội phát triển, dân cư thường tập trung lớn và mật độ dân số cao Nhà nước cần có những giải pháp điều tiết tình trạng di cư tự do, quan tâm tới phân bố dân số, lao động thông qua kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế vùng Trên cơ sở đó sử dụng hiệu quả nguồn lực và thế mạnh của từng vùng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

1.2 CƠ CẤU DÂN SỐ

Hộp 1.4 Cơ cấu dân số

Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một vùng thành các nhóm theo

một hay nhiều tiêu thức (mỗi một tiêu thức là một đặc trưng nhân khẩu học nào đó)

Có rất nhiều loại cơ cấu dân số như: Cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mức sống, thành thị nông thôn… Trong các loại cơ cấu dân số thì hai cơ cấu quan trọng nhất là cơ cấu tuổi và cơ cấu giới tính Bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần túy, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh xã hội

1.2.1 Cơ cấu dân số theo giới tính

Cơ cấu dân số theo giới tính là sự phân chia tổng số dân thành nam và nữ

Để đo lường cơ cấu dân số theo giới tính, người ta dùng các thước đo sau:

- Tỉ số giới tính

- Tỉ trọng nam nữ trong tổng số dân

Tỉ số giới tính (Sex ratio): Tỉ số giới tính biểu thị quan hệ so sánh giữa bộ phận

dân số nam với bộ phận dân số nữ Công thức tính như sau:

*100

m f

P SR P

Trang 21

Ý nghĩa: Tỉ số giới tính cho biết cứ 100 nữ trong dân số tương ứng có bao nhiêu

nam Công thức này có thể áp dụng để tính tỉ số giới tính chung cho toàn bộ dân số cũng như tính tỉ số giới tính riêng cho từng nhóm tuổi Tỉ số giới tính do ba yếu tố sau quyết định: Tỉ số giới tính khi sinh, sự khác biệt về mức chết theo giới tính, sự khác biệt về di cư theo giới tính

Ví dụ, theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009, nước ta có 85.789.573 người trong đó có 42.483.378 nam và 43.306.195 nữ Tỉ số giới tính năm 2009 là 98,1 Như vậy, cứ 100 nữ ở nước ta có 98,1 nam

- Đối với nhóm trẻ em mới sinh, áp dụng công thức này để tính tỉ số giới tính

khi sinh

0

m f

B SR B

Trong đó: SR0: Tỉ số giới tính khi sinh

m

B : Số bé trai sinh sống ở địa phương trong năm

f

B : Số bé gái sinh sống ở địa phương trong năm

Ý nghĩa: Công thức trên cho ta thấy cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có bao nhiêu

bé trai được sinh ra Thông thường cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có tương ứng khoảng

105 - 107 bé trai Nếu con số này vượt quá 107 (tính trên ít nhất 10.000 ca sinh sống) thì được coi là tỉ số giới tính khi sinh cao (mất cân bằng cơ cấu giới tính)

Tỉ trọng nam (nữ) trong tổng số dân: Tỉ trọng nam hoặc nữ trong tổng số dân

là quan hệ so sánh giữa bộ phận dân số nam hoặc nữ với tổng dân số của một vùng, một nước thường biểu thị bằng %

Ý nghĩa: Nếu tỉ trọng dân số nam và nữ bằng 50% thì trong tổng thể dân số đó,

số nam và số nữ bằng nhau, hay nói khác đi là có cân bằng nam nữ

Trang 22

Ví dụ, theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009, nước ta có 85.789.573 người trong đó có 42.483.378 nam và 43.306.195 nữ Như vậy, nam chiếm tỉ trọng là 49,5% và nữ chiếm tỉ trọng là 51,5%

a Cơ cấu dân số theo giới tính trên thế giới

Bảng 1.5: Tỉ số giới tính của thế giới theo các nhóm nước giai đoạn 1950 – 2025

đang phát triển

Các nước phát triển

Nguồn: Dân số học đại cương – Nguyễn Kim Hồng - 1998

Cơ cấu dân số theo giới tính trên thế giới có sự chênh lệch không nhiều Tuy nhiên có sự khác biệt giữa các nhóm nước phát triển và đang phát triển Năm 2013, tỉ

số giới tính chung đạt 101,0 Tỉ số giới tính ở các độ tuổi có sự khác biệt không lớn:

Bảng 1.6: Tỉ số giới tính theo độ tuổi của thế giới năm 2013

Nguồn: CIA – World Fact

Chênh lệch giới tính thay đổi theo hướng giảm dần theo độ tuổi Lúc mới sinh,

tỉ số giới tính lớn, số nam lớn hơn nữ Càng về già, tỉ số giới tính giảm, số nữ lớn hơn nam Điều này xuất phát từ đặc điểm tuổi thọ trung bình của nam còn thấp hơn nữ, mức tử vong trội hơn nữ

Trang 23

b Cơ cấu dân số theo giới tính ở Việt Nam

- Cơ cấu dân số theo giới tính đã dần cân bằng

Bảng 1.7: Tỉ số giới tính nước ta giai đoạn 1960 - 2012

Tỉ số giới tính 95,9 94,7 96,4 96,9 97,2 97,8 97,8 97,9 98,2

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000, 2013

Tỉ số giới tính ở nước ta đang dần trở nên cân bằng Khoảng cách về chỉ số giới tính ngày càng được rút ngắn Năm 1960, tỉ số giới tính đạt 95,9 Đến năm 2012, tỉ số giới tính ở nước ta 98,2 Nhìn chung, tỉ số giới tính của nước ta luôn dưới 100 do nam giới có mức tử vong trội hơn và chịu ảnh hưởng nặng nề của các cuộc chiến tranh Do

tỉ lệ sinh sau chiến tranh cao góp phần làm cho tỉ số giới tính tăng dần Tỉ số giới tính của Việt Nam tăng liên tục từ năm 1979 đến nay (bảng 1.7) Tỉ số giới tính khi sinh tăng khá nhanh trong mấy năm gần đây cũng góp phần làm gia tăng tỉ số giới tính chung của dân số Việt Nam

* Tỉ số giới tính có sự khác biệt giữa thành thị - nông thôn và giữa các vùng

Bảng 1.8: Tỉ số giới tính Việt Nam phân theo thành thị - nông thôn và các vùng

Theo các vùng kinh tế - xã hội

Trung du và miền núi phía Bắc 99,0 98,6 98,6 99,6 99,3

Đồng bằng sông Hồng 95,4 96,3 96,1 97,2 96,8

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 96,1 96,6 97,3 97,9 98,0

Tây Nguyên 102,4 101,9 100,6 102,7 104,2

Đông Nam Bộ 96,1 95,4 95,7 94,5 95,0

Đồng bằng sông Cửu Long 96,0 96,0 97,7 98,8 98,7

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2005, 2013

2000* - Số liệu vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là số liệu xử lí từ vùng Đông Bắc, Tây Bắc; Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ

Trang 24

Nhìn chung, tỉ số giới tính ở nông thôn thường cao hơn thành thị Tỉ số giới tính phân theo các vùng cũng có sự khác biệt Tây Nguyên, Tây Bắc có chỉ số giới tính cao (104,4 và 99,3) nguyên nhân chủ yếu là do mức sinh và tỉ số nhập cư cao Ở Đồng bằng sông Hồng, mặc dù tỉ số giới tính đã tăng lên (96,3 năm 2005 và 98,1 năm 2013), song vẫn còn thấp hơn chỉ số chung của cả nước Điều này liên quan đến việc xuất cư của lực lượng lao động nam và hậu quả của chiến tranh Đồng bằng sông Cửu Long có chỉ số giới tính tăng là do mức sinh tăng nhanh trong những năm gần đây Riêng Đông Nam Bộ có tỉ số thấp nhất cả nước (95,1 năm 2013) là do việc nhập cư của một lực lượng lao động nữ phục vụ cho phát triển của các khu công nghiệp nhẹ và dịch vụ

Như vậy, nguyên nhân chính của sự khác biệt giới tính ở nước ta chủ yếu là do hậu quả của chiến tranh liên tiếp kéo dài đã cướp đi nhiều sinh mạng nam giới ở tuổi trưởng thành; do nam giới phải lao động nhiều hơn và làm những công việc nặng nhọc hơn nên tuổi thọ thấp hơn nữ Một nguyên nhân khác cũng ảnh hưởng đến tỉ số giới tính giữa các vùng là việc chuyển cư Trong quá trình chuyển cư, vùng nhập cư thường

có số nam nhiều hơn số nữ Ngoài ra, trong nhiều hoàn cảnh bất lợi, có thể nam giới ít thích nghi hơn nữ giới

- Sự mất cân bằng tỉ số giới tính khi sinh ở Việt Nam có xu hướng gia tăng nhanh

Từ năm 1999 trở lại đây, tình trạng mất cân đối giới tính sau khi sinh ở nước

ta xuất hiện và có xu hướng tăng nhanh

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2013

Hình 1.6 Tỉ số giới tính chung và tỉ số giới tính của trẻ em

mới sinh Việt Nam

Tỷ số giới tính của dân số (Số nam/100 nữ)

Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh (Số bé trai/100 bé gái)

Trang 25

Tỉ số giới tính khi sinh có xu hướng tăng nhanh (từ 105,6 lên 112,3 trong 7 năm) Điều này góp phần làm cho tỉ số giới tính chung của nước ta tăng lên (hình 1.6)

Tỉ số giới tính khi sinh cao ở những tỉnh xung quanh Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, trong đó cao nhất là các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng như Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định,… Đây là những địa phương mà người dân có điều kiện tiếp cận dễ dàng các dịch vụ chọn lọc giới tính trước khi sinh

Tính chung trong cả nước, không có sự khác biệt về tỉ số giới tính khi sinh giữa khu vực nông thôn (110,6) và thành thị (110,7) Tuy nhiên, ở cấp vùng lại có phân hóa tương đối (Bảng 1.9)

Bảng 1.9: Tỉ số giới tính sau khi sinh phân theo vùng ở Việt Nam 2005 - 2012

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2013

Vùng Đồng bằng sông Hồng có tỉ số giới tính sau khi sinh cao nhất cả nước,

trong khi các vùng còn lại có chỉ

số thấp hơn so với cả nước, thấp nhất là vùng Tây Nguyên Nguyên nhân chủ yếu làm cho vùng Đồng bằng sông Hồng có

tỉ số giới tính sau khi sinh cao nhất là do các điều kiện để lựa chọn giới tính sau khi sinh hơn các vùng khác

Việt Nam đang có sự mất cân

đối giới tính sau khi sinh Ảnh:

VOV

Trang 26

* Nguyên nhân:

Về cơ bản, nguyên nhân dẫn tới mất cân bằng giới tính khi sinh có thể được chia thành 03 nhóm: nhóm nguyên nhân cơ bản, nhóm nguyên nhân trực tiếp và nhóm nguyên nhân phụ trợ

- Nguyên nhân cơ bản

Ở Việt Nam cùng với một số nước châu Á, tư tưởng Nho giáo truyền thống,

nối dõi tông đường, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” Tâm lí nhất định phải có

con trai còn tồn tại cố hữu trong số đông dân chúng Điều này được xem là điều kiện tiên quyết để tỉ số giới tính khi sinh tăng lên

- Nguyên nhân trực tiếp

Sự phát triển của khoa học, kĩ thuật, nhất là trong lĩnh vực y tế giúp con người

chủ động lựa chọn giới tính khi sinh: Áp dụng ngay từ trước lúc có thai (chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn,…); trong lúc thụ thai hoặc khi đã có thai (sử dụng siêu

âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối,…) để chẩn đoán giới tính Ở nước ta, tỉ lệ phụ nữ biết giới tính thai nhi trước khi sinh rất cao và ngày càng tăng: từ 66% năm 2005 lên gần 80% năm 20135

- Nguyên nhân phụ trợ

 Do áp lực giảm sinh, mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 - 2 con, nhưng các cặp vợ chồng lại mong muốn trong số đó phải có con trai Vì vậy họ đã sử dụng các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh như một cách để đáp ứng được cả 2 mục tiêu

 Do nhu cầu phát triển kinh tế gia đình: ở một số vùng kinh tế - xã hội, nhiều công việc nặng nhọc, đặc biệt là công việc trong các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, khai thác khoáng sản, đi biển đánh bắt xa bờ, đòi hỏi sức lao động cơ bắp của con trai; con trai là trụ cột về kinh tế cho cả gia đình

 Do chế độ an sinh xã hội chưa đảm bảo, hiện nay 70% dân số nước ta còn sống

ở nông thôn, hầu hết không có lương hưu khi về già, họ cần sự chăm sóc, phụng dưỡng của con cái mà theo quan niệm của xã hội hiện nay, trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai, vì thế họ sẽ cảm thấy lo lắng và rất không an tâm trong tương lai khi chưa có con trai

 Do chính sách ưu tiên đối với nữ giới chưa thật thỏa đáng

* Hệ quả của sự mất cân đối giới tính

Việc mất cân đối giới tính sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với đời sống xã hội

5 Dantri.vn

Trang 27

- Tình trạng dư thừa nam giới trong độ tuổi kết hôn có thể sẽ dẫn tới tan vỡ cấu

trúc gia đình, một bộ phận nam giới sẽ phải kết hôn muộn và nhiều người trong số họ không thể tìm được bạn đời Việc gia tăng TSGT khi sinh không những không cải thiện được vị thế của người phụ nữ mà thậm chí còn làm gia tăng sự bất bình đẳng giới như: nhiều phụ nữ phải kết hôn sớm hơn, tỉ lệ li hôn và tái hôn của phụ nữ sẽ tăng cao, tình trạng bạo hành giới, mua dâm, buôn bán phụ nữ sẽ gia tăng,… Vì thế TSGT khi sinh được coi là một trong những chỉ báo quan trọng để đánh giá mức độ bình đẳng giới

- Khó khăn trong việc kết hôn: tình trạng tranh giành hôn nhân, kết hôn muộn

diễn ra phổ biến ở các nước mất cân đối giới tính, điển hình như Trung Quốc (Dự đoán

có khoảng hơn 40 triệu nam giới không thể lấy vợ) Từ đó dẫn đến việc tiếp cận nhiều với tệ nạn xã hội như mại dâm, nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cũng nâng cao Tình trạng kết hôn ở nước ngoài có xu hướng tăng Thực trạng này đang ngày càng có xu hướng phổ biến và tạo nên nhiều bi kịch về hôn nhân do tình trạng bất đồng về ngôn ngữ, quan niệm khác biệt

- Gia tăng tội phạm xã hội: Do khan hiếm phụ nữ nên xảy ra các loại tội phạm

lừa đảo, bắt cóc, buôn bán trẻ em gái và phụ nữ, tệ nạn mại dâm tăng Tình trạng phụ

nữ bị ép sinh thêm con, buộc phải phá thai, bị ngược đãi… khi không sinh được con trai ngày càng diễn ra phổ biến

Hộp 1.3 Tỉ số giới tính khi sinh của Việt Nam đã tăng lên 114,3

Theo ông Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số cho biết, nửa đầu năm 2014 dù tỉ lệ sinh giảm 2,1% so với cùng kì năm ngoái, tuy nhiên, tỉ số giới tính khi sinh lại tăng vượt so với chỉ tiêu đặt ra vào năm 2015 Dù Việt Nam đã rất quyết liệt triển khai nhiều biện pháp để giảm tình trạng chênh lệch giới, thế nhưng hiệu quả thì không thực sự như mong muốn bởi tập quán, thói quen, hành vi thích sinh con trai hơn con gái

đã ăn sâu vào nếp nghĩ của người Việt

“Hiện nay, tỉ số giới tính khi sinh tiếp tục gia tăng mạnh mẽ với 114,3 trẻ trai/100 trẻ gái Con số này đã vượt cao hơn cả chỉ tiêu đặt ra vào năm 2015 Nếu không ngăn được sự gia tăng của tình trạng chênh lệch giới tính khi sinh thì hậu quả sẽ rất nặng nề về sau”

Hệ lụy của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã được các chuyên gia dự báo, đó là sẽ thiếu 2,3 - 4,3 phụ nữ trong độ tuổi kết hôn vào năm 2050, kéo theo rất nhiều vấn đề xã hội phức tạp khác như nạn bắt cóc, buôn bán trẻ em gái…

Các chuyên gia quốc tế cho rằng tỉ số giới tính khi sinh tăng ở những nước có nền văn hóa tương đồng với Việt Nam (ưa thích con trai hơn con gái) nhưng chưa có nước nào lại có tốc độ gia tăng nhanh như ở Việt Nam Nguyên nhân một phần quan trọng là do người dân sử dụng những dịch vụ lựa chọn giới tính khi sinh hiện đại để can thiệp và chẩn đoán

Nguyên nhân trực tiếp của tình trạng này không chỉ tư tưởng Á đông thích con trai hơn con gái mà còn có cả sự “góp sức” của các kỹ thuật y tế hiện đại Ngày càng có nhiều phụ nữ biết giới tính thai nhi trước khi sinh Gần 83% phụ nữ ở thành phố biết giới tính con trước sinh, ở nông thôn tỉ lệ này là gần 75%

Trang 28

Rất nhiền tiến bộ khoa học được người dân áp dụng để “săn quý tử”, từ thời kì trước lúc mang thai bằng chế độ ăn, tìm thời điểm phóng noãn để thụ tinh, thụ tinh ống nghiệm để lọc rửa tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y sinh con trai Chưa kể, sau khi có thai, các biện pháp kỹ thuật cũng được người Việt Nam tận dụng triệt để để biết được giới tính thai Về tâm lý, có đến 99% bà mẹ đều mong muốn biết cái thai đang mang trong bụng là trai hay gái và trên thực tế, một khảo sát cho thấy đến 99% phụ nữ biết giới tính khi sinh bằng các phương pháp siêu âm, công cụ chẩn đoán giới tính hiện đại và hiệu quả Chỉ 11% phụ nữ mong muốn mình sinh con gái, còn số phụ nữ muốn sinh con trai thì gấp 3 lần Đặc biệt vùng Đồng bằng sông Hồng, tỉ lệ phụ nữ mong sinh con trai cao nhất cả nước (38%).

Nguồn: Dantri.vn.

1.2.2 Cơ cấu dân số theo tuổi

Cơ cấu dân số theo tuổi là sự phân chia tổng số dân theo từng độ tuổi hay nhóm tuổi

Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau, người ta chia dân số thành 3 nhóm tuổi: dưới tuổi lao động (0 – 14 tuổi), trong độ tuổi lao động (15 – 59 tuổi, hoặc

15 – 64 tuổi) và trên độ tuổi lao động (> 60 tuổi hoặc > 65 tuổi)

Tỉ trọng dân số dưới 15 tuổi trong tổng số dân (t1)

Tỉ trọng dân số từ 15 - 64 tuổi trong tổng số dân (t2)

Tỉ trọng người già trên 65 tuổi trong tổng số dân (t3)

Tỉ trọng dân số ở các nhóm tuổi được tính toán theo công thức sau:

*100

i i

P t P

Trong đó: Pi : Số dân thuộc nhóm tuổi i

P: Tổng số dân

i

t: Tỉ trọng dân số thuộc nhóm tuổi i trong tổng số dân

Cơ cấu theo khoảng cách đều nhau, thông thường trong dân số học, người ta nghiên cứu cơ cấu dân số theo tuổi với khoảng cách đều 5 năm

- Tỉ số phụ thuộc

Tỉ số phụ thuộc của dân số biểu hiện quan hệ so sánh giữa dân số dưới 15 tuổi

và trên 65 tuổi với tổng số người trong khoảng 15 – 64 tuổi

Công thức để tính tỉ số phụ thuộc của dân số như sau:

Trang 29

Trong đó: DR: tỉ số phụ thuộc chung

P : Dân số trên 65 tuổi

Ý nghĩa: Tỉ số phụ thuộc chung của dân số cho biết cứ 100 người trong độ tuổi

từ 15 – 64 (dân số lao động) có bao nhiêu người dưới 15 tuổi và trên 65 tuổi (dân số phụ thuộc)

Tỉ số phụ thuộc chung của dân số có thể chia ra thành tỉ số phụ thuộc trẻ và tỉ

P

Trong đó: DRC : Tỉ số phụ thuộc trẻ

P

Trong đó: DRA: Tỉ số phụ thuộc già

15 64

P  : Dân số 15 - 64

65

P : Dân số trên 65 tuổi

Tỉ số phụ thuộc già cho biết cứ 100 người trong độ tuổi từ 15 - 64 (dân số lao động ) có bao nhiêu người từ 65 tuổi trở lên

a Cơ cấu dân số theo tuổi trên thế giới

- Cơ cấu dân số trẻ ở các nước đang phát triển và tình trạng già hóa dân số ở các nước phát triển

Trang 30

Bảng 1.10: Dân số và cơ cấu dân số theo tuổi thế giới năm 2013

- Các nước đang phát triển khác 26 17 46 11 1.2 100

Nguồn: Population Division of the Department of Economic and Social Affairs of the United Nations Secretariat (2013) World Population Prospects: The 2012 Revision New York:United Nations

Bảng 1.11: Dự báo cơ cấu dân số theo tuổi của các nhóm nước năm 2050

- Các nước đang phát triển khác 20 13 45 22 3.8 100

Nguồn: Population Division of the Department of Economic and Social Affairs of the United Nations Secretariat (2013) World Population Prospects: The 2012 Revision New

York:United Nations

Trang 31

Vài thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, ở hầu hết các quốc gia sẽ diễn ra sự thay đổi nhân khẩu học từ trẻ sang già Số người già trên thế giới hiện đạt 961 triệu (2013), chiếm 13,7% cơ cấu dân số và có xu hướng tiếp tục tăng (2,4 tỉ người năm 2050, chiếm 25,1% cơ cấu dân số, trong đó 77,5% ở các nước thuộc khu vực đang phát triển) Trái với điều này, số trẻ em (dưới 15 tuổi) dự báo sẽ tăng chậm hơn trong vòng 37 năm tới,

từ 1,88 tỉ người năm 2013 đến 2,03 tỉ năm 2050 và tỉ trọng của nó trong tổng số dân

có xu hướng giảm từ 26% trong năm 2013 xuống 21% năm 2050

Cơ cấu dân số theo độ tuổi ở các nước đang phát triển chủ yếu là trẻ Năm

2013, tỉ lệ dân số từ 0 – 24 tuổi ở nhóm nước đang phát triển chiếm 46% cơ cấu dân

số Con số này ở các nước phát triển là 28% Theo dự báo mới nhất của UNDP, đến năm 2050 tỉ lệ này sẽ có xu hướng giảm xuống 36% ở các nước đang phát triển và 27%

ở nhóm nước phát triển Trong khi ở các nước phát triển, cơ cấu dân số cho thấy tỉ trọng người già lớn (27,5% năm 2013) và tiếp tục có xu hướng lên (41,5% năm 2050) (Bảng 1.11)

Như vậy, trên thế giới, diễn ra tình trạng cơ cấu dân số trẻ ở các nước đang phát triển và tình trạng già hóa dân số ở các nước phát triển

Tình trạng dân số trẻ ở các nước đang phát triển và chậm phát triển là hệ quả của mức sinh cao trong những năm trước đây Năm 1998, thế giới có khoảng 1 tỉ người trong độ tuổi từ 15 – 24 Vào năm 2013, con số này đạt 1,2 tỉ người, trong đó ở các nước thuộc khu vực đang phát triển, số dân trong độ tuổi này đạt tỉ lệ 18% năm 2013

Ở các nước phát triển, quá trình già hóa dân số có nguyên nhân chủ yếu là do mức sinh thấp và tiếp tục giảm Các yếu tố kinh tế - xã hội và chăm sóc sức khỏe, y tế cũng góp phần quan trọng làm kéo dài tuổi thọ của người dân nước này

b Cơ cấu dân số theo tuổi ở Việt Nam

- Cơ cấu dân số nước ta chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số già, đồng thời xuất hiện “dư lợi dân số - cơ cấu dân số vàng”

Sự thay đổi của cơ cấu dân số theo độ tuổi ở nước ta được thể hiện rõ qua tháp dân số năm 1999 và năm 2009 (hình 1.7)

Trang 32

Hình 1.7 Tháp dân số Việt Nam năm 1999 và 2009

Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 – Tổng cục thống kê

Hình dạng tháp dân số 1999 và 2009 cho thấy Việt Nam là một nước có dân số trẻ, song đang có xu hướng già hóa Trong thời gian qua, nhờ giảm mức sinh và tỉ suất gia tăng tự nhiên mà tỉ lệ 0 – 14 tuổi đã giảm xuống còn tương ứng là 33,1% và 25,0%, lớp tuổi già trên 60 có chiều hướng gia tăng (8,1% và 9%)

Tháp dân số năm 2009 cũng cho thấy, các thanh từ 15-19 tuổi đến 55-59 tuổi đối với cả nam và nữ đã “nở ra” khá đều làm cho hình dạng của tháp dần dần trở thành

“hình tang trống” Điều này chứng tỏ: (1) Tỉ trọng phụ nữ bước vào các độ tuổi có khả năng sinh đẻ ngày càng tăng, đặc biệt là nhóm phụ nữ 20 - 24 tuổi, nhóm tuổi có tỉ suất mắn đẻ cao nhất; (2) Số người bước vào độ tuổi lao động cũng tăng nhanh, đây có thể

là một lợi thế nhưng cũng là một sức ép đối với công tác giải quyết việc làm ở nước

số trong độ tuổi 15 - 64 tăng nhanh (từ 52,77% năm 1979 lên 69,12% năm 2009, tương ứng 28,35 triệu người lên 59,34 triệu người) và tỉ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên cũng tăng không ngừng (từ 4,7% năm 1979 lên 6,5% năm 2009, tương ứng với mức tăng từ 2,52 triệu người lên 5,51 triệu người)

- Xu hướng biến đổi cơ cấu dân số Việt Nam còn tiếp diễn trong thời gian tới (Hình 1.8)

Trang 33

Hình 1.8 Tháp dân số Việt Nam các năm 2020 - 2050

Nguồn: Giang Thanh Long, Bùi Thế Cường - Cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam:

Cơ hội, thách thức và các khuyến nghị chính sách – UNDP

Năm 2020, tháp dân số Việt Nam có hình gần giống hình tam giác cân, với số người cao tuổi bắt đầu gia tăng và số người trẻ tuổi, kể cả niên thiếu, rất cao, dân số trong độ tuổi lao động số người trong độ tuổi 25-34 bắt đầu gia tăng nhanh và chiếm

tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu dân số Đến năm 2050, tháp dân số hoàn toàn “biến dạng”

so với năm 1999, với số người trên 50 tuổi bắt đầu chiếm đa số Hệ quả của sự biến động trong cơ cấu dân số này là sự già hóa, với đặc điểm tăng tuổi trung bình và tăng tuổi thọ

- Ở nước ta mỗi năm có thêm 1,1 triệu trẻ em Nhà nước cần có chính sách đáp ứng nhu cầu giáo dục đối với thế hệ trẻ, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, ngăn chặn tình trạng lạm dụng tình dục trẻ em, tình trạng nghiện ma túy, chăm sóc người cao tuổi và phúc lợi xã hội Bên cạnh đó cần đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm sinh để có thể đạt mức sinh thay thế những năm tới

Một chỉ số cần quan tâm là chỉ số phụ thuộc Do cơ cấu dân số trẻ nên tỉ số phụ

thuộc trẻ em lớn hơn tỉ số phụ thuộc người già Tuy nhiên, tỉ số phụ thuộc trẻ em đang giảm dần vì mức sinh của Việt Nam đã giảm thấp trong những năm gần đây

Bảng 1.12: Tỉ số phụ thuộc (số nam/100 nữ)ở Việt Nam giai đoạn 1989 - 2012

Trang 34

Bắt đầu từ năm 2007, với tỉ số phụ thuộc chung dưới 50%, Việt Nam chính

thức bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” Theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa

gia đình, giai đoạn này chỉ xuất hiện một lần và thời gian kéo dài hay ngắn phụ thuộc

vào việc điều chỉnh mức sinh Hiện nay, mức sinh ở Việt Nam đã giảm nhanh Năm

2006, Việt Nam đã đạt và duy trì mức sinh thay thế (tổng tỉ suất sinh 2,1 con) và từ đó

đến nay, mức sinh luôn dưới mức sinh thay thế

Hình 1.9 Dự báo tỉ số phụ thuộc dân số Việt Nam

Nguồn: Giang Thanh Long, Bùi Thế Cường - Cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam:

Cơ hội, thách thức và các khuyến nghị chính sách – UNDP

Như vậy, trong giai đoạn này, cơ cấu dân số của nước ta đang bước vào thời kì

quá độ chuyển từ dân số trẻ sang dân số già Trong thời kì này, tỉ lệ những người ngoài

tuổi lao động (trẻ em, người cao tuổi) giảm xuống, tỉ trọng những người trong độ tuổi

lao động tăng lên Sự xuất hiện của cơ cấu dân số vàng mở ra nhiều cơ hội, nhưng đồng

thời cũng là thách thức to lớn đối với nền kinh tế trong thời gian tới

Trang 35

Hộp 1.5 Dư lợi dân số - Dân số vàng

Dư lợi dân số là thuật ngữ dùng để phản ánh một dân số có tỉ lệ người trong độ

tuổi 15 - 64 đạt tối đa và tỉ lệ người phụ thuộc đạt ở mức thấp nhất (người từ 0 -14 và trên

65 tuổi) Tỉ số phụ thuộc của dân số đạt giá trị tối thiểu, qua ngưỡng đó thì tỉ số phụ thuộc lại tăng lên Trong giai đoạn dư lợi dân số, quốc gia đó có cơ hội “vàng” về dân số Điều này có nghĩa là tại giai đoạn dư lợi dân số, số người trong độ tuổi lao động (có thể tham gia lao động) là cao nhất Nếu quốc gia đó có kế hoạch sử dụng hiệu quả nguồn lao động sẽ tận dụng được cơ hội để phát triển Nếu quốc gia đó không tận dụng được cơ hội này, khi

tỉ số phụ thuộc tăng trở lại, dân số sẽ già đi và gánh nặng về an sinh xã hội tăng thêm Hiện nay, các nhà khoa học thường dùng thuật ngữ “cơ cấu dân số vàng ” thay cho thuật ngữ

“dư lợi dân số”

Trong cơ cấu dân số vàng, mỗi người lao động “gánh ít” số người ăn theo, tạo điều kiện tốt cho kinh tế gia đình và nền kinh tế quốc dân phát triển

Các nhà khoa học cho rằng một dân số đạt được cơ cấu dân số vàng nếu tỉ số phụ thuộc chung của dân số ở mức xấp xỉ 50 Điều này có nghĩa là cứ 100 người trong độ tuổi 15-64 chỉ có tổng số khoảng 50 người, gồm những người dưới 15 tuổi hoặc trên 65 tuổi Hay nói một cách khác, cứ 2 người trong độ tuổi 15-64 thì có có 1 người dưới 15 tuổi hoặc trên 65 tuổi Nếu tỉ số phụ thuộc chung của dân số tăng trở lại thì dân số đó đã hết cơ cấu dân số vàng Theo các nhà khoa học, giai đoạn cơ cấu dân số vàng có thể kéo dài từ 30 năm đến 40 năm

Cửa sổ dân số là thuật ngữ chỉ giai đoạn mà một dân số nào đó sắp bước vào giai

đoạn có cơ cấu dân số vàng

Nguồn: Nguyễn Đình Cử (2007), Những xu hướng biến đổi dân số ở Việt Nam

(Dân số học – Tổng cục dân số - KHHGĐ – 2011)

Cơ hội

- Cải thiện sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản cho thanh niên, vị thành niên,

sử dụng nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Cơ cấu “dân số vàng” tạo cơ hội cho tích lũy nguồn lực để tăng đầu tư cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục, việc làm trong tương lai

- Mặt khác, dân số dưới 15 tuổi giảm mạnh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc giảm tỉ số giữa học sinh và giáo viên, qua đó nâng cao chất lượng chăm sóc y tế cho trẻ em, cải thiện chất lượng sức khỏe dân số tương lai

- Đồng thời, dân số trong độ tuổi lao động lớn, cùng với sự phát triển của khu vực công nghiệp và dịch vụ tạo nhu cầu lớn về đào tạo nghề Chi tiêu y tế trong độ tuổi lao động giảm sẽ tiết kiệm được y tế Lực lượng lao động trẻ, dồi dào và tiếp tục tăng

sẽ là nguồn lực quan trọng cho việc phát triển kinh tế trong điều kiện đảm bảo việc làm và cải thiện được năng suất lao động

Trang 36

- Cơ cấu “dân số vàng” cũng là cơ hội dịch chuyển lao động thông qua di cư, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững

Thách thức

- Tốc độ tăng nhanh của dân số trong độ tuổi lao động sẽ là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế nhưng sẽ trở thành gánh nặng nếu quốc gia đó có tỉ lệ thất nghiệp cao và năng suất lao động thấp

Thực trạng ở Việt Nam cho thấy, số người lực lượng lao động đông về số lượng nhưng chất lượng chưa cao do thiếu lao động có tay nghề cao, sức bền còn hạn chế, kỹ năng quản lí còn nhiều bất cập Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2009, chỉ có 13,4% dân số 15 tuổi trở lên được đào tạo chuyên môn kỹ thuật (con

số này ở thành thị là 25,4% và nông thôn là 8%) Trong nhóm dân số từ 25 tuổi trở lên thì chỉ 18,9% đạt được trình độ học vấn bậc trung và chưa đầy 5,5% dân số trong độ tuổi trên đạt trình độ học vấn bậc cao

- Chất lượng giáo dục, đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường lao động Tỉ lệ lao động nông nghiệp cao trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng Từ đó, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm của thanh niên gia tăng trong điều kiện thị tường lao động ngày càng cạnh tranh

- Mặt khác, lao động di cư thanh niên tăng nhanh song các chính sách lao động, việc làm và các dịch vụ xã hội liên quan còn nhiều bất cập Bên cạnh đó, tỉ lệ vàng trong cơ cấu dân số của Việt Nam lại không đồng đều ở các vùng miền

- Một số loại cơ cấu dân số quan trọng khác

Khi nghiên cứu cơ cấu dân số, ngoài tuổi và giới tính, một số khía cạnh khác nữa cũng cần được quan tâm Đó là sự phân chia dân số theo các tiêu chí như tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, giáo dục, trình độ chuyên môn kỹ thuật, theo các loại hoạt động và các thành phần kinh tế Các loại cơ cấu dân số này thường được phân tích kết hợp với cơ cấu dân số theo tuổi và giới tính, cho phép hiểu sâu hơn về

số lượng và chất lượng dân số

Trang 37

1.3.1 Biến động mức sinh

1.3.1.1 Thang đo mức sinh

Có nhiều thước đo khác nhau, mỗi thước đo có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Vì vậy, khi đánh giá mức sinh cần dùng nhiều thước đo khác nhau

- Tỉ suất sinh thô (Crude Birth Rate)

Đây là thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức sinh Nó biểu thị số trẻ

em sinh ra trong một năm so với 1000 người dân

*100

B CBR

P

Trong đó: CBR: tỉ suất sinh thô;

B: số trẻ em sinh ra trong năm của địa phương;

P: Tổng số dân

Ý nghĩa: Tỉ suất sinh thô cho biết trong một năm ở dân số nghiên cứu cứ 1000

người dân có bao nhiêu trẻ em được sinh ra

Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán, cần ít số liệu, cho phép ước lượng sơ bộ số

dân tăng thêm trong năm, chẳng hạn như nếu biết tỉ suất sinh thô và dân số trung bình

ta có thể ước lượng số trẻ em sinh ra trong năm

Nhược điểm: Chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng của nhiều loại cơ cấu dân số như:

tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân

- Tỉ suất sinh chung (General Fertility Rate)

Việc sinh đẻ liên quan trực tiếp đến phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (từ 15 đến 49 tuổi) Vì vậy, để đo chính xác hơn mức sinh, cần so sánh số trẻ em được sinh ra trong năm với số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

Tỉ suất sinh chung biểu thị số trẻ em sinh ra trong một năm so với 1.000 phụ

nữ trong độ tuổi có khả năng sinh đẻ

15 49

*1000W

B GFR

Trong đó: GFR: tỉ suất sinh chung

B: số trẻ em sinh ra trong năm của địa phương

15 49

W  : Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

Trang 38

Ý nghĩa: Tỉ suất sinh chung cho biết cứ 1.000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trong

một năm sinh được bao nhiêu trẻ sống

Ưu điểm: Thước đo này đã loại bỏ một phần ảnh hưởng của cơ cấu tuổi và cơ

cấu giới tính đối với mức sinh, bởi vì nó chỉ tính số sinh và số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

Nhược điểm: GFR không chỉ phụ thuộc vào mức sinh của phụ nữ mà còn phụ

thuộc vào cơ cấu tuổi trong nhóm phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ Thông thường số phụ nữ trong tuổi sinh đẻ chiếm từ 1/5 đến 1/3 dân số nên giá trị GFR lớn gấp 3 – 5 lần so với giá trị CBR

- Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi (Age – Specific – Fertility Rate )

Đối với mỗi độ tuổi khác nhau, mức độ sinh khác nhau Để đánh giá mức độ sinh của từng độ tuổi (nhóm tuổi) người ta dùng các tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi

*1000W

x x

B ASFRTrong đó:

ASFR : tỉ suất sinh đặc trưng của tuổi x

x

B : số trẻ em sinh trong năm của phụ nữ tuổi x

Wx: số phụ nữ trung bình ở độ tuổi x

Ý nghĩa: Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi cho biết cứ 1.000 phụ nữ ở độ tuổi x

thuộc độ tuổi sinh đẻ trong vòng một năm sinh ra được bao nhiêu trẻ sống

Ưu điểm:Thước đo này đã loại bỏ hoàn toàn cơ cấu tuổi và giới đối với mức

sinh

Nhược điểm: Để xác định được nó cần có số liệu chi tiết mức sinh cho từng độ

tuổi Trong thực tế thường chỉ tính cho từng nhóm tuổi

- Tổng tỉ suất sinh (Total Fertility Rate)

Đây là thước đo đánh giá mức sinh được sử dụng rất rộng rãi Phương pháp xác định tổng tỉ suất sinh khá đơn giản, nếu ta xác định được các tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi

49

151000

x x

ASFR TFR 

Trang 39

Trong đó: TFR: Tổng tỉ suất sinh

x

ASFR : Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi

Về bản chất, tổng tỉ suất sinh là số trẻ em bình quân mà một người phụ nữ có thể có trong suốt cuộc đời sinh sản của mình, nếu người đó sống đến 50 tuổi và trong suốt cuộc đời của mình người đó có các tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFRx) như

đã xác định cho các độ tuổi khác nhau trong một năm nào đó

- Mức sinh thay thế

Mức sinh thay thế là mức sinh mà một đoàn hệ phụ nữ có trung bình vừa đủ số con gái để “thay thế” mình vào chu kỳ sản xuất dân số tiếp theo, có nghĩa là mỗi người phụ nữ trong suốt cuộc đời sinh đẻ của mình, chỉ sinh trung bình được một người con gái mà người con gái này lại sống được đến tuổi làm mẹ để thay thế cho mẹ mình vào chu kỳ tái sản xuất dân số tiếp theo

Tổng tỉ suất sinh cũng có thể được sử dụng để chỉ mức sinh thay thế bằng cách biểu thị số con trung bình đủ để thay thế cả cha lẫn mẹ trong dân số

Trong điều kiện không có lựa chọn giới tính khi sinh và mức chết tương đối thấp như hiện nay, thì TFR bằng 2,1 được coi là đạt mức sinh thay thế Nếu có tình trạng mất cân bằng cơ cấu giới tính của trẻ em khi sinh thì TFR sẽ phải lớn hơn 2,1

Khi đạt mức sinh thay thế thì trong tương lai dài số sinh dần dần sẽ cân bằng với số chết và nếu không có nhập cư và xuất cư thì dân số sẽ ngừng tăng và trở thành dân số không thay đổi

1.3.1.2 Xu hướng biến động mức sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh

Trang 40

Nguồn: World Population Data Sheet 2013

Bảng 1.13: Mức sinh của các vùng trên thế giới năm 2013

(triệu người)

CBR ( 0 / 00)

TFR (Con/phụ nữ)

1.100

352

606 4.302

4,8 1,9 2,2 2,2 1,6 2,4

Nguồn: World Population Data Sheet 2013

Số liệu ở hình và bảng trên cho thấy, tỉ suất sinh thô và tổng tỉ suất sinh có mối quan hệ chặt chẽ với trình độ phát triển của các nước Đối với các nước phát triển, tỉ suất sinh thô và tổng tỉ suất sinh thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển Ở các châu lục khác nhau, các chỉ số này cũng có sự khác biệt do trình độ phát triển có sự khác nhau

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w