1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Locgic học biện chứng tài liệu giảng dạy

105 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông cho rằng, tư duy phải đi theo lô-gích nội tại của chính thực tại, nghĩa là, đồng nhất lý tính với thực tại; lô-gích và các quan hệ lô-gích phải được thể hiện trong cái hiện thực chứ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

AN GIANG, THÁNG 5 NĂM 2014

Trang 3

Giáo trình “Logic học biện chứng”, do PGS, TS Võ Văn Thắng, Hiệu trưởng biên soạn Tác giả đã báo cáo nội dung và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường ĐH An Giang thông qua ngày 13/5/2014

Tác giả biên soạn

VÕ VĂN THẮNG

Hiệu trưởng

AN GIANG, THÁNG 5 NĂM 2014

Trang 4

-PGS, TS VÕ VĂN THẮNG

Trang 5

-TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

2014

Trang 6

“Lô-gích học là một nghệ thuật có đối tượng hay mục tiêu đặt ra là tạo cho trí tuệ con người một sự ưu việt tối đa trong việc nghiên cứu bất kỳ một khách thể hay một mục tiêu nào, mà trí tuệ con người có thể được sử dụng để đạt tới”

Jeremy Bentham (Nhà triết học người Anh)

Trang 7

1

CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA CỦA LÔ-GÍCH HỌC BIỆN CHỨNG

1.1 ĐỐI TƯỢNG CỦA LÔ-GÍCH HỌC BIỆN CHỨNG

1.1.1 - học biện chứng là gì?

Thuật ngữ logique bắt nguồn từ chữ λογος (Logos) trong tiếng Hy Lạp Từ này

có nhiều nghĩa: từ, tư tưởng, trí tuệ, lời nói, lý lẽ, ý nghĩa, quy luật Từ logos xuất

hiện đầu tiên trong tác phẩm triết học của Heraclite (khoảng 544 - 483 Tr.CN) với nghĩa là tính quy luật, tồn tại tất yếu trong tự nhiên1

gích xuất hiện vào thế kỷ XIII, được dịch từ chữ logique trong tiếng Pháp

L - học đã ra đời gắn liền với tên tuổi hiền triết Arixtốt (Aristote, 384 -

322 Tr.CN) của đất nước Hy Lạp Trong tác phẩm Organon, Arixtốt cho rằng,

lô-gích học như là công cụ giúp chúng ta tư duy đúng đắn, mạch lạc Tuy nhiên, ở đây, Arixtốt có ý nói đến lô-gích học hình thức, khoa học nghiên cứu về những hình thức

tư duy (thuần tuý), bất luận nội dung của tư tưởng (tư duy) là gì, từ đó có thể rút ra những quy tắc mà tư duy phải tuân theo để tránh mâu thuẫn, phù hợp với hiện thực khách quan Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, lô-gích học hình thức được xem như là một khoa học về tư duy Nhưng khác với các khoa học khác, lô-gích học là khoa học nghiên cứu những quy luật và hình thức của tư duy nhằm hướng nhận thức con người đạt chân lý Quan niệm này tồn tại suốt 20 thế kỷ, tuy nó được bổ sung,

nhưng không thay đổi gì lớn Cho nên, người ta gọi đây là lô-gích truyền thống

Trải qua hơn 20 thế kỷ, gích học được bổ sung và phát triển Đặc biệt là gích hiện đại trở thành khoa học chính xác, nó phát triển theo nhiều hướng và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: toán học, ngôn ngữ học, khoa học máy

1 Prof, Ph.d Paul Redding (TS Lê Tuấn Huy dịch): Thông diễn học của Hegel, Nxb Tổng hợp

Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr 290.

Trang 8

2

tính Có thể nói, lô-gích toán phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng lớn đến lô-gích học hình thức Tuy vậy, bản thân lý thuyết toán học, lô-gích toán cũng gặp những mâu thuẫn Điểm quan trọng của lô-gích học hình thức là nó xem xét các hình thức của tư duy, tạm bỏ qua sự xuất hiện, biến đổi và phát triển của chúng Mặt này của tư

duy do gích học biện chứng nghiên cứu Đây chính là nguồn gốc ra đời của

lô-gích học biện chứng

Ph.Hêghen (F.Hégel, 1770 - 1831), nhà triết học vĩ đại người Đức, là người đầu tiên nghiên cứu, mang lại cho lô-gích học biện chứng tính hệ thống và được

nghiên cứu một cách toàn diện Tuy nhiên, từ logos được ông quan niệm gắn liền với

ý niệm tuyệt đối, lý tính1 Có thể nói, lô-gích của ông mang tính chất duy tâm Ph.Hêghen quan tâm khá đặc biệt lô-gích học và ông hiểu nó gần như siêu hình học Ông cho rằng, tư duy phải đi theo lô-gích nội tại của chính thực tại, nghĩa là, đồng nhất lý tính với thực tại; lô-gích và các quan hệ lô-gích phải được thể hiện trong cái hiện thực chứ không phải trong cái suy luận trống rỗng, bởi vì, triết học là sự khám phá cái có lý, chính vì thế nó là sự thấu triệt cái hiện tại và cái hiện thực, chứ không phải tạo ra cái siêu việt, giả thiết là tồn tại, mà không ai biết nó ở đâu Cho nên, lô-gích học là tiến trình qua đó chúng ta diễn dịch từ các kinh nghiệm của chúng ta về cái hiện thực những phạm trù mô tả về tuyệt đối Quá trình này là tâm điểm của triết học biện chứng của Ph.Hêghen2 C.Mác mô tả công trình vĩ đại nhất của Hêghen là

Hiện tượng luận về trí tuệ như là “cái nôi thật và bí ẩn của triết lý của Hêghen” Qua

đó Hêghen cho thấy tất cả những phát triển tri thức cho tới ngày nay chỉ là những nỗ lực cần thiết của trí tuệ để biết mình Tuy nhiênlô-gích của tiến trình này không phải lô-gích truyền thống của tam đoạn luận (syllogism), nhưng đúng hơn là lô-gích biện chứng pháp của Hêghen, khởi từ một quan điểm có sẵn trong đó chứa đựng các mầm

tự hủy theo hình thức mâu thuẫn nội tại3

Công trình Các bài thuyết trình về Triết học

Lịch sử của Ph.Hêghen, như C.Mác đánh giá, là một trong những đóng góp quan

1 Prof, Ph.d Paul Redding (TS Lê Tuấn Huy dịch): Thông diễn học của Hegel, Sđd, tr 290

2 Xem Samuel Enoch Stumpf (Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy biên dịch): Lịch sử triết học và

các luận đề, Nxb Lao động, Hà Nội, 2004, tr 268.

3 Ted Honderich (chủ biên): Hành trình cùng triết học (English - Vietnamese Dictionary of

Phylosophy), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr 462 - 463

Trang 9

đề (antithesis) và cuối cùng là hợp đề (synthesis) Hợp đề này trở thành chính đề mới

và quá trình đó cứ tiếp tục cho đến khi kết thúc ở “Ý niệm tuyệt đối” Điều Ph.Hêghen nhấn mạnh trong lô-gích học biện chứng của ông là tư duy chuyển động

và việc mâu thuẫn không những làm cho nhận thức dừng lại, trái lại còn tác động như một động cơ tích cực trong việc suy lý của con người

Tam đoạn thức cơ bản đầu tiên của Hêghen là hiện hữu, hư vô và hóa thành Ph.Hêghen nói rằng, “trí khôn phải luôn luôn di chuyển từ cái tổng quát và trừu tượng hơn sang cái chuyên biệt cụ thể”2 Khái niệm tổng quát nhất chúng ta có thể có

về sự vật là tồn tại, tuy chúng có sự khác nhau về phẩm chất và chuyên biệt nhưng

đều có chung một điều là tồn tại (hiện hữu) Vì vậy, hiện hữu là khái niệm tổng quát

nhất mà trí khôn có thể hình thành Và do vậy, hiện hữu có trước mọi vật Nhưng

theo ông, khái niệm hiện hữu không có nội dung (bao hàm cả hư vô), vì nếu có nội

dung thì nó không còn là hiện hữu thuần túy nữa Khái niệm hiện hữu thuần túy là sự

trừu tượng hóa không xác định - tuyệt đối phủ định - có thể diễn dịch thành khái

niệm khác - không xác định, nó chuyển qua khái niệm không hiện hữu Như vậy,

hiện hữu diễn dịch thành không hiện hữu và ngược lại Và phản đề, không hiện hữu, được hàm chứa trong chính đề, hiện hữu Ông cho rằng, trong lô-gích học, phản đề luôn được diễn dịch từ chính đề Chuyển động của trí khôn từ hiện hữu sang không

hiện hữu tạo ra phạm trù thứ ba, đó là hóa thành Hóa thành là sự thống nhất giữa hiện hữu và hư vô Nó là một ý niệm, vì vậy, hóa thành là hợp đề (synthesis) của

hiện hữu và không hiện hữu Cho nên, theo Ph.Hêghen, một vật vừa là có vừa là không khi nó hóa thành Toàn thể hệ thống triết học phức tạp của ông đều theo hệ

1 Ted Honderich (chủ biên): Hành trình cùng triết học (English - Vietnamese Dictionary of

Phylosophy), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr 460

2 Xem Samuel Enoch Stumpf (Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy biên dịch): Lịch sử triết học và

các luận đề, Nxb Lao động, Hà Nội, 2004, tr 268

Trang 10

và đã hình thành nên ba qui luật cơ bản của tư duy nhưng mang tính chất duy tâm Không nghi ngờ gì nữa, có thể khẳng định rằng, “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức hình thái vận dụng chung của phép biện chứng ấy”2

C.Mác (Karl Marx, 1818 - 1883), Ph.Ăngghen (F Engels, 1820 - 1895) và V.I.Lênin (V.I.Lénine, 1870 - 1924) là các nhà triết học mác-xít đã cải tạo và phát triển nó trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Đến đây, các nhà mác-xít quan niệm rằng, lô-gích học biện chứng là khoa học

về những quy luật và hình thức phản ánh trong tư duy sự phát triển và biến đổi của thế giới khách quan, về những quy luật nhận thức chân lý

1.1.2 Đối tượng, nhiệm vụ của lô-gích học biện chứng

1.1.2.1 Đối tượng của lô-gích học biện chứng

Trong tác phẩm Khoa học lô-gích, Hêghen từng nói rằng: “Tất cả đều đồng ý với chuyện đối tượng của lô-gích học là tư duy”3

Chính vì vậy, ông coi lô-gích là

“khoa học về tư duy, về những phạm trù và quy luật của tư duy”4

1 Xem Samuel Enoch Stumpf (Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy biên dịch): Lịch sử triết học và

các luận đề, Sđd, tr 268 - 270

2 C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t 23, tr 35

3 Dẫn theo E.V.Ilencov: Logích học Biện chứng, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr

218

4 Dẫn theo GS, PTS Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên): Lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1998, tr 435

Trang 11

5

Tuy nhiên, như đã trình bày trên đây, lô-gích học biện chứng nghiên cứu những quy luật và cả những hình thức tư duy (khái niệm, phán đoán, suy luận ) và những quy luật nhận thức chân lý trên quan điểm biện chứng, tức là xem xét chúng trong mối liên hệ, chuyển hóa, trong sự vận động và phát triển Bởi vì, thế giới vật chất luôn ở trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển, cho nên, những hình thức của

tư duy đều phải dựa trên cơ sở đó, nghĩa là phải lấy nguyên lý phát triển làm cơ sở Đối với lô-gích học biện chứng, những quy luật của nhận thức là những quy luật phát triển của tư tưởng từ cái bên ngoài đi vào cái bên trong, từ hiện tượng đi tới bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn, từ trực tiếp đến gián tiếp, từ trừu tượng đến cụ thể, từ chân lý tương đối đến chân lý tuyệt đối

Tuy nhiên, để hiểu rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của lô-gích học biện chứng, chúng ta cần phải dựa vào hai vấn đề có liên hệ mật thiết với nhau:

- Một là, mối quan hệ giữa lô-gích học hình thức và lô-gích học biện chứng;

- Hai là, sự thống nhất (đồng nhất) giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và

lô-gích học biện chứng

1.1.2.2 Nhiệm vụ của lô-gích học biện chứng

Với đối tượng nghiên cứu được xác định như vậy, chúng ta có thể rút ra nhiệm

vụ cơ bản, trung tâm của khoa học lô-gích biện chứng như sau:

- Một là, lô-gích học biện chứng nghiên cứu sự cần thiết, cách thức thể hiện

như thế nào trong khái niệm, trong phán đoán về sự vận động, phát triển hay những mâu thuẫn bên trong của sự vật, hiện tượng, những biến đổi về chất hay sự chuyển hoá cái này thành cái khác của chúng Đây chính là nhiệm vụ trung tâm của lô-gích học biện chứng Và, trong sự biểu đạt khoa học của mình, lô-gích học biện chứng xuất hiện như là một bộ phận hợp thành của triết học mác-xít

- Hai là, lô-gích học biện chứng nghiên cứu bản chất biện chứng của các phạm

trù lô-gích, tính linh hoạt, tính mềm dẻo của chúng đi đến tính đồng nhất các mặt đối lập Phép biện chứng chính là một học thuyết lô-gích, vì chúng nghiên cứu chức năng nhận thức, là lô-gích của những quy luật phổ biến và những phạm trù của sự phát triển

- Ba là, lô-gích học biện chứng nghiên cứu quá trình hình thành và phát

triển của bản thân nhận thức Lô-gích học biện chứng dựa trên lịch sử của nhận

Trang 12

1.2 QUAN HỆ GIỮA LÔ-GÍCH HỌC BIỆN CHỨNG VÀ LÔ-GÍCH HỌC HÌNH THỨC; LÔ-GÍCH HỌC BIỆN CHỨNG VỚI PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ

LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT

1.2.1 Quan hệ giữa lô-gích học biện chứng với lô-gích học hình thức

Lô-gích học biện chứng và lô-gích học hình thức là hai ngành khoa học đều nghiên cứu tư duy, đều phản ánh hiện thực khách quan Song, chúng khác nhau về đối tượng, nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu

Nếu như lô-gích học hình thức nghiên cứu các quy luật và hình thức của tư duy nhằm đảm bảo tính đúng đắn, chặt chẽ và nhất quán trong suốt quá trình tư duy, quan tâm chủ yếu đến hình thức tư duy, trừu tượng hóa nội dung thì lô-gích học biện chứng nghiên cứu các hình thức và quy luật của tư duy biện chứng, nó quan tâm chủ yếu đến tính biện chứng về nội dung của tư duy Do vậy, có thể nói, lô-gích học biện

chứng là lô-gích nội dung, gắn liền với nội dung

Lô-gích học hình thức xem xét các hình thức tư duy qua việc phản ánh sự vật, hiện tượng trong trạng thái tách rời, đứng im tương đối, ổn định tạm thời, do vậy, nó dựa trên cơ sở tính đồng nhất, trừu tượng của các khái niệm, phạm trù cố định Trong khi đó, lô-gích học biện chứng xem xét các hình thức tư duy qua sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ, trong trạng thái mâu thuẫn, vận động, chuyển hóa và phát triển, cho nên, nó dựa trên cơ sở của tính đồng nhất, cụ thể của các phạm trù biến đổi Và do vậy, nó phản ánh sinh động hiện thực khách quan Lênin nhận xét:

“Những quan hệ (= chuyển hóa = mâu thuẫn) của những khái niệm = nội dung chủ

yếu của lô-gích, hơn nữa những khái niệm ấy (và những quan hệ, chuyển hóa và

1 Xem Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1986, tr 322 - 323

Trang 13

về cơ bản với lô-gích hình thức và lô-gích toán Nó sử dụng phương pháp chính thức nghiên cứu các hình thức tư tưởng trong sự trừu tượng nội dung và lịch sử phát triển của nhận thức trong tất cả các mâu thuẫn của nó Lô-gích biện chứng phân tích những mâu thuẫn biện chứng của sự vật và ý tưởng và sự phát triển của nhận thức

Nó là một phương pháp khoa học của nghiên cứu thực tế và chính sự suy nghĩ2

Lô-gích học biện chứng ra đời là một bước phát triển về mặt tư duy Song, nó không phải là sự thủ tiêu lô-gích học hình thức Trái lại, lô-gích học biện chứng cho phép chúng ta xác định vị trí quan trọng của lô-gích học hình thức và sự cần thiết của

nó trong nghiên cứu khoa học cũng như trong cuộc sống Ph.Ăngghen từng cho rằng, khoa học về tư duy cũng như bất kỳ khoa học nào khác, là khoa học lịch sử, khoa học về sự phát triển lịch sử của tư duy con người

Cần lưu ý rằng, lô-gích học hình thức và lô-gích học biện chứng là hai ngành khoa học không mâu thuẫn, không loại trừ nhau Trong sự phát triển của mỗi ngành khoa học, chúng bổ sung cho nhau và đều rất cần thiết cho nhận thức và nghiên cứu khoa học Mỗi ngành khoa học có ưu điểm, hạn chế nhất định và có phạm vi ứng dụng riêng nó Chúng ta không nên phủ định hoặc xem nhẹ một ngành khoa học nào Vấn đề là ở chỗ, chúng ta vận dụng nó sao cho hợp lý, hiệu quả Việc nắm vững hai ngành khoa học này, từ đó vận dụng vào quá trình nhận thức sẽ cho phép chúng ta phản ánh chính xác, đầy đủ, khách quan và toàn diện về hiện thực khách quan

1.2.2 Quan hệ giữa lô-gích học biện chứng với phép biện chứng và lý luận nhận thức

1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t 29, tr 209

2 Xem Dialectical Materialism A G Novikov: The Great Soviet Encyclopedia, 3rd Edition

(1970-1979) © 2010 The Gale Group, Inc All rights reserved Đọc từ

http://encyclopedia2.thefreedictionary.com/ Dialectical + Logic

Trang 14

8

Trong lịch sử, có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề quan hệ giữa lô-gích học, lý luận nhận thức và phép biện chứng I.Can-tơ (I.Kant, 1724 - 1804) quan niệm lô-gích học như một phần của lý luận nhận thức Lý luận nhận thức rộng hơn, do lý giáo không phải là khả năng duy nhất, mặc dù là tối quan trọng để xử lý các chất liệu cảm tính, trực quan và biểu tượng thành hình thức tri thức, thành các khái niệm và các hệ thống các khái niệm, thành khoa học Vì thế, “Lô-gích học như nó vốn có

được tất cả những người theo Can-tơ kiến giải như một phần của lý luận nhận thức”

Cho nên, “lôgic học trong kiến giải kiểu Can-tơ không bao giờ phủ hết toàn bộ những vấn đề của lý luận nhận thức, ngoài những giới hạn của nó vẫn còn sự phân tích các quá trình, được thực hiện bởi các khả năng, đấy còn có trực quan và linh cảm, trí nhớ và tưởng tượng, và còn nhiều thứ khác nữa”1

Khác với quan niệm này phải kể đến quan niệm của Ph.Hêghen Ông cho rằng, lô-gích học bao hàm toàn bộ và đầy đủ những vấn đề nhận thức, không để lại sau những giới hạn của mình bất kỳ một hình mẫu tưởng tượng nào Nó bao chứa sự xem xét chúng với tư cách là sản phẩm bên ngoài (được thực hiện trong chất liệu tiếp nhận bằng cảm tính) của năng lực hoạt động tư duy, vì chúng cũng chính là tư duy,

và chỉ được vật hóa không phải trong các từ ngữ, các phán đoán và suy luận, mà

trong các sự vật (các hành vi, các sự kiện và v.v ) đối lập cảm tính với cá thể Như

vậy, “Lô-gích học ở đây hòa nhập toàn bộ với lý luận nhận thức vì tất cả những khả

năng nhận thức còn lại được xem xét như là các dạng của tư duy, như là tư duy mà

còn chưa đạt đến hình thức thể hiện thích hợp, còn chưa chín muồi đến nó”2

V.I.Lênin tỏ thái độ thận trọng với quan niệm này và cho rằng: “Trong cách hiểu như thế lôgic học trùng với lý luận nhận thức Nói chung đó là vấn đề rất quan trọng”3

Theo ông, lô-gích học và lý luận nhận thức không ở bất kỳ trường hợp nào

lại là hai khoa học khác nhau Theo E.V.Ilencov, vì thế, các định nghĩa lô-gích của tư

duy còn có những phạm trù và quy luật (những sơ đồ) phổ biến, được nhận thức trong tiến trình phát triển cả nghìn năm của văn hóa khoa học và được kiểm chứng về

Trang 15

9

tính khách quan qua thực tiễn xã hội - con người1 Ở đây, ta thấy lô-gích học được hiểu như là hòa nhập với phép biện chứng Cho nên, theo V.I.Lênin, lô-gích học (lý luận nhận thức) và phép biện chứng nằm trong mối quan hệ đồng nhất, trùng nhau về đối tượng và thành phần các phạm trù

Phép biện chứng không có đối tượng khác với đối tượng của lý luận nhận thức (của lô-gích học), cũng như lô-gích học (lý luận nhận thức) không có đối tượng nghiên cứu khác với đối tượng của phép biện chứng

Trong tác phẩm triết học nổi tiếng “Bút ký triết học”, Lênin khẳng định, sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lô-gích học biện chứng là một nguyên lý rất quan trọng của triết học mác-xít Theo Lênin, phép biện chứng cũng chính là lý luận nhận thức, là lô-gích biện chứng của Chủ nghĩa Mác Ông đã chỉ ra

sự thống nhất biện chứng của ba bộ phận này Chính vì vậy mà hệ thống triết học của Mác - Lênin đã khắc phục được sự tách rời, đối lập trong triết học trước đó

Tuy nhiên, chúng ta không được đồng nhất siêu hình giữa phép biện chứng, nhận thức luận và lô-gích biện chứng Bởi vì, ba bộ phận này có sự đồng nhất biện chứng, nghĩa là, chúng có bao hàm sự khác biệt, đồng thời trong sự khác biệt đó có yếu tố đồng nhất Cho nên, mỗi quy luật, phạm trù của triết học duy vật biện chứng phải thực hiện đồng thời cả ba chức năng, đó là chức năng của phép biện chứng, của nhận thức luận và của lô-gích biện chứng Do vậy, có thể nói, lô-gích học biện chứng nghiên cứu cả những quy luật và những hình thức tư duy trên quan điểm biện chứng, nghĩa là xem xét chúng trong sự liên hệ, chuyển hóa, vận động và phát triển

1.3 SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LÔ-GÍCH HỌC

Lô-gích học ra đời trên cơ sở những nhu cầu thiết yếu của đời sống con người như: hoạt động suy nghĩ, nghiên cứu khoa học, tranh luận khoa học Với ý nghĩa đó, lô-gích học ra đời rất sớm ở thời kỳ cổ đại và phát triển gắn liền với triết học và toán học Tuy lô-gích học biện chứng ra đời sau nhưng những yếu tố của nó đã xuất hiện vào thời kỳ này, đặc biệt là trong triết học của Heraclite, Platon, Aristote, Lão Tử, Trang Tử, Mặc Tử, Công Tôn Long, Tuân Tử, trường phái Nyàya-Vai’sesika,

1 Xem E.V.Ilencov: Lôgích học Biện chứng, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr 396

Trang 16

10

Ở thời kỳ cổ đại, lô-gích học xuất hiện ở cả phương Đông lẫn phương Tây Thế nhưng, khi đề cập lịch sử lô-gích học, người ta ít hoặc không nói đến sự phát triển của nó ở phương Đông Đây là một thiếu sót

Thật vậy, tuy luận lý học phương Đông không được quan niệm thuần tuý như ở phương Tây, nhưng trong Nhân minh học (xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII, VI trước Công nguyên) là môn học về việc xác định rõ nguyên nhân của sự vật, hiện tượng bằng nhận thức đúng đắn và lập luận chặt chẽ Trường phái triết học Nyàya-Vai’sesika của Ấn Độ cổ đại đã khởi xướng Nhân minh học và họ đã có những đóng góp quan trọng cho lô-gích học Ngũ đoạn luận là một ví dụ Phái này quan tâm nhiều đến lô-gích và thuật ngụy biện Họ đưa ra thuyết biện luận gồm 05 đoạn hay gọi là ngũ đoạn luận:

3) Mà những gì bốc khói đều có lửa cháy, ví dụ như bếp lò

4) Đồi đã bốc khói thì không thể không có lửa cháy

5) Vậy, đồi có lửa cháy

Ta thấy, hình thức ngũ đoạn luận này gần giống tam đoạn luận của Arixtốt : 1) Tất cả những gì bốc khói đều có lửa cháy

2) Đồi bốc khói

3) Do đó, đồi có lửa cháy

Phật giáo quan niệm rằng, thế giới vừa “thật” vừa “không thật”, bởi vì, mọi sự vật, hiện tượng, kể cả tư duy của con người chỉ tồn tại “thật” một cách tương đối mà thôi, chúng vận động, biến đổi không ngừng, chúng hiện ra rồi biến đi liên tục, như những “ảo giác” Chính vì vậy, Phật giáo chia thế giới thành hai sự thực khác nhau:

Trang 17

11

sự thực tương đối và sự thực tuyệt đối Và lô-gích học Phật giáo căn cứ, hình thành trên hai sự thực ấy, cho nên nó khác biệt với lô-gích của Arixtốt Mục đích của lô-gích Phật giáo là giúp cho con người tránh khỏi được mọi sai lầm và ảo giác Để đạt

được mục đích đó, lô-gích học Phật giáo đưa ra tứ đoạn luận (trétralème), một phương pháp biện luận thật đặc thù mà trong tiếng Phạn gọi là catuscoti Trong Trung Bộ Kinh (Najjhima Nikaya, kinh số 72) có ghi: “Như Lai [ ] thật sâu thẳm,

vô biên, không thăm dò được, giống như đại dương Những lời lẽ như hiển-hiện, không-hiển-hiện, hiển-hiện và không-hiển-hiện, không-hiển-hiện cũng không phải là không-hiển-hiện, không thể dùng để diễn tả được” Phát biểu này của Đức Phật cho

thấy, nguyên tắc căn bản của tứ đoạn luận gồm có 4 mệnh đề thoát ra khỏi sự biện luận thông thường Trong các kinh điển đặc thù của Nam tông bằng tiếng Pali người

ta cũng thấy nêu lên nguyên tắc của tứ đoạn luận như sau:

“Có (ati)

Không có (neti)

Có và không có (ati ca natica)

Không phải có cũng không phải không có (nevati na neti):

Đấy là những lời giáo huấn của Đấng Giác ngộ”

Theo học giả Quentin Ludwig trong quyển sách về Phật giáo của ông tựa đề Le

Bouddhisme, histoire, courant religieux, cultures, do Eyrolles xuất bản năm 2005,

cho rằng, Arixtốt và cả thầy của mình là Platon (Platon, 428 - 347 tr.CN) đều biết

đến tứ đoạn luận do Đức Phật thuyết giảng Tuy nhiên, theo tác giả, tứ đoạn luận Phật giáo đã làm cho hai ông bực bội và không quyết đoán gì được, vì phép biện luận của Phật giáo mang lại một tình trạng bất định hướng, không giải quyết được, không kết luận được1

Có thể nói, Nhân minh học Phật giáo phát triển mạnh vào cuối thời kỳ cổ đại

và giữa thời kỳ trung cổ Ở Trung Hoa, thời kỳ này cũng xuất hiện nhiều triết gia mà

tư duy lô-gích, đặc biệt là tư duy biện chứng của họ đã đạt trình độ khá sắc sảo Mặc Tử (khoảng 480 - 420 Tr.CN) và phái Biệt Mặc đã đề cập nhiều vấn đề thuộc lô-gích học: Tam biểu pháp; xây dựng khái niệm “loại” và “lô-gích theo loại”

1 Xem Hoàng Phong: Nghiên cứu Phật học - Triết học Phật giáo Đọc từ:

giao.html

Trang 18

http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/triet-hoc-phat-giao/6814-logic-hoc-trong-phat-12

Đặc biệt, ông có những lập luận sắc sảo trong bác bỏ và chứng minh Mặc Địch nói:

“Nói ắt phải dựng ra mẫu Nói mà không có mẫu, thì như kẻ đứng trên bàn xoay mà xác định sớm tối, phải trái lợi hại khác nhau không thể biết rõ Nên lấy nói ắt có ba biểu Ba biểu là gì? Có cái gốc, có cái để bắt đầu, có cái để dùng”

“Gốc ở đâu? Gốc trước nhất là ở việc của thánh vương thời cổ

Bắt đầu từ đâu? Chỗ bắt đầu sau cùng là xét sự thật trước tai mắt trăm họ Dùng vào chỗ nào? Phát ra chỗ việc hình chính, nhắm vào cái lợi cho trăm họ Như thế gọi là lời nói có ba biểu”1

Rõ ràng, Tam biểu pháp của Mặc Tử không chỉ thể hiện tư duy hình thức mà

còn thể hiện tính biện chứng của tư duy

Trong suy luận, Mặc Tử lấy nguyên lý cùng loại làm cơ sở và đó là phương thức để làm rõ học thuyết về “pháp” Học thuyết về “pháp” quan trọng như học thuyết nhân quả và chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong suy luận, “pháp” chính là chủng hoặc loại mà chủ từ thuộc vào Ông cho rằng, suy luận diễn dịch chẳng qua là suy luận mượn những từ theo trình tự phù hợp với tuần tự gọi tên để

tiến hành Mặc Tử cho rằng, “Phàm từ lấy loại mà dùng Lập từ mà không làm rõ về

loại, ắt sẽ khó khăn” (Mặc Tử, Đại thủ)2 Còn trong lập luận bác bỏ, chứng minh, Mặc Tử cũng có những lập luận rất sắc sảo và tinh tế Thật vậy, thời cổ đại, ông phản bác lại các nhà nguỵ biện đưa ra những mệnh đề: “Cãi không thắng”, “Nói toàn sai”,

“Học vô ích”, “Không phê phán” Chẳng hạn, ông phản bác lại mệnh đề “Cãi không

thắng” như sau: “Thử hỏi: Thuyết cãi không thắng của các ông là đúng hay là

không đúng đây? Nếu cách nói của các ông đúng, thì tức là các ông đã cãi thắng rồi Nếu cách nói của các ông là không đúng, thì tức là các ông đã cãi mà thua, và người

khác cãi thắng Vậy thì sao lại nói cãi không thắng được?”3

Sau Mặc Tử phải kể đến Huệ Thi (370 - 310 Tr.CN) và Công Tôn Long (320 -

255 Tr.CN) Các ông có công chỉ ra những khuynh hướng của lô-gích học hình thức không thuần tuý (lô-gích đa trị, lô-gích tình thái, lô-gích mờ ) Ở thời gian này, Công Tôn Long đã có nhiều nghịch luận nổi tiếng Có thể nêu 21 nghịch luận của

1 Hồ Thích và Cao Tự Thanh dịch: Lịch sử logic học thời tiên Tần, Nxb Thành phố Hồ Chí

Minh, 2004, tr 120

2 Hồ Thích và Cao Tự Thanh dịch: Lịch sử logic học thời tiên Tần, Sđd, tr 155

3 Triệu Truyền Đống (Nguyễn Quốc Siêu biên dịch): Phương pháp biện luận Thuật hùng

Trang 19

16 Mũi tên sắt không đi mau, nhưng có lúc không đi mà cũng không dừng; 17 Chó không phải là chó; 18 Ngựa vàng bò đen là ba con; 19 Chó đen màu trắng; 20 Ngựa con mồ côi chưa từng có mẹ; 21 Cái dùi một thước, mỗi ngày chặt một nửa, muôn đời không chặt hết

Chúng ta dễ dàng nhận ra một số nghịch lý (16, 21) kể trên giống nghịch lý nổi tiếng của Zénon, một nhà nguỵ biện nổi tiếng cổ đại Hy Lạp Ngoài ra, Công Tôn Long còn đưa ra nghịch luận nổi tiếng khác “Bạch mã phi mã” Các nghịch luận này thể hiện trình độ tư duy biện chứng sâu sắc về khái niệm cụ thể và khái niệm trừu tượng, về sự vật và thuộc tính của nó Qua các nghịch luận ta thấy, Công Tôn Long

đã nhận thức được tính vô hạn và chia cắt của không gian và thời gian, tính liên tục

và gián đoạn của vận động vật chất

Cùng thời với Công Tôn Long là Trang Chu (369 - 286 Tr.CN) Ông được mệnh danh là người ngụy biện nổi tiếng thời Chiến Quốc Lập luận của ông chủ yếu dựa vào lô-gích không cùng loại Tiếp sau Công Tôn Long, Trang Chu phải kể đến Tuân Tử (298 - 238 Tr.CN), một nhà triết học duy vật kiệt xuất ở Trung Hoa thời kỳ

cổ đại Ông đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về khoa học lô-gích hình thức

Trong khi đó, ở phương Tây, Arixtốt (Aristote, 384 - 322 Tr.CN), nhà triết học tài hoa cổ đại Hy Lạp đã đề cập các vấn đề của lô-gích học một cách khá đầy đủ Những vấn đề lô-gích được ông trình bày chủ yếu trong tác phẩm nổi tiếng mang tên

Organon (công cụ) Bởi vì, theo Arixtốt, lô-gích học hình thức được coi như một

công cụ của tư duy mạch lạc, đúng đắn Tác phẩm Organon gồm 06 tập, được

Bekker sắp xếp và Viện Hàn Lâm Đức xuất bản năm 1831, bao gồm:

- Tập I: “The Categories” (các phạm trù): Chia thế giới thành 10 phạm trù mà thực chất là bàn về khái niệm - hình thức cơ bản của tư duy;

- Tập II: “De Interpretatione” (về chú giải): Phân loại mệnh đề;

Trang 20

lý “Kẻ nói dối”); Diodone Cromes và Philon (khoảng 318 TrCN), học trò của ông lần đầu tiên có ý kiến về bảng chân - trị và đặc biệt là phép kéo theo Lô-gích Khắc kỷ có những cống hiến nhất định cho sự phát triển lô-gích học, đặc biệt là họ đưa ra được

05 mệnh đề đúng đắn trong lô-gích ký hiệu

Vào khoảng cuối thời kỳ cổ đại ở phương Tây, Apuleé đưa ra hình vuông gích về quan hệ giữa 04 loại hình phán đoán đơn; Galien (131–200)1 đưa ra loại hình thứ tư của tam đoạn luận (P M; M S; Vậy, S P) Đặc biệt, Boèce (470 – 524) đã hệ thống hoá lô-gích của Arixtốt và đưa ra một số công thức của lô-gích mệnh đề

Bước sang giai đoạn đầu của thời kỳ trung cổ ở phương Tây, người ta tiếp tục phát triển lô-gích học của Arixtốt và đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề ngữ nghĩa và triết lý lô-gích Trên cơ sở lô-gích cổ điển của Cicéron (106 – 43 TrCN),

Boèce, Apuleé (khoảng 123 – 170), Pièrre Abelard (1079 – 1142) là nhà triết học

1 Galien bổ sung loại hình này ở thời trung cổ, người ta gọi đây là “Hình Galien”

Trang 21

15

Pháp đã hệ thống tư tưởng của Boèce Giữa thế kỷ XII, XIII, các nhà lô-gích nổi tiếng là Albert Le Grand (1206 – 1280), Pierre d’Espagne (1220 – 1277), Duns Scotus (khoảng 1266 – 1308), trong đó, Pierre d’Espagne là người có công khái quát và đặt tên cho các kiểu của 4 loại hình tam đoạn luận nhằm giúp con người dễ nhớ như: BARBARA, CELARENT, BARBARI, DARII Tuy vậy, ở Tây Âu lúc bấy giờ, thần học và chủ nghĩa kinh viện vẫn giữ địa vị thống trị Chế độ phong kiến và triết học kinh viện châu Âu chủ yếu lấy lô-gích học của Arixtốt để bảo vệ cho những tín điều tôn giáo (Thiên Chúa giáo)

Trong khi đó, vào giữa thời kỳ trung cổ ở phương Đông, Nhân minh học Phật giáo phát triển mạnh và đạt được những thành tựu đáng kể Điển hình có thể kể đến một trong những thành tựu đó là bộ kinh điển “Nhân minh nhập chính lý luận” (Nyàya Dvarataraka Sàtra) của Sancaravasmin và “Chính lý nhất trích luận” (Nyàya Bindu) của Dharmakirti Trong 2 bộ sách này, người ta cho rằng, tam chi tác pháp của Nhân minh học khác với tam đoạn luận của Arixtốt và giống như luận chứng trong lô-gích học hình thức

Đến thời kỳ Phục hưng và Cận đại (bắt đầu từ thế kỷ XVI), luận lý học của Arixtốt trở nên chật hẹp, thiếu sót trước sự phát triển của toán học và các ngành khoa học khác Bằng những khám phá riêng lẻ không có trong bộ Organon của Arixtốt, nhiều ngành khoa học đã thực hiện những bước tiến lớn lao Điều đó làm cho các nhà

tư tưởng nhận thấy rằng, cần phải đề xuất thêm những phương pháp tư duy mới trong việc khám phá chân lý Ph.Bêcơn (Francis Bacon, 1561 - 1626), triết gia nổi tiếng người Anh, đã xây dựng một khoa học lô-gích mới Ông viết tác phẩm mà cái tên của

nó mang ý nghĩa của điều này: Novum Organon (công cụ mới) Ph.Bêcơn đưa ra gích ứng dụng và đặc biệt đề cao phương pháp quy nạp trong khoa học thực nghiệm Trong khi Ph.Bêcơn gắng công minh giải những quy tắc của phương pháp thực

lô-nghiệm trong Novum Organon thì R.Đềcác (Réne Descartes, 1596 - 1650) làm sáng

rõ thêm phép quy nạp và những quy luật chính của luận lý học trong Discours de la

méthode (Luận về phương pháp - 1637) Trong lô-gích toán, R.Đềcác là người có

công sáng lập bộ môn Hình học Giải tích Ông lấy phương trình đại số để biểu diễn

tính chất trong hình học Ông viết quyển Regulx (Lô-gích diễn dịch) Tác phẩm này

đánh dấu sự đoạn tuyệt với học thuyết của Arixtốt Người ta gọi đây là hình thức mới thứ nhất của lô-gích học hình thức R.Đềcác đã góp phần ký hiệu hoá toán học, đồng

Trang 22

16

thời cố gắng đưa toán học vào lô-gích Do vậy, người ta xem lô-gích của Ph.Bêcơn

và R.Đềcác là lô-gích khoa học (Logique Scientifique) hay lô-gích ứng dụng

(Logique Appliquée) Năm 1662, quyển sách nổi tiếng Logique De Port-Royal

(Logique ou l’art de penser - Lô-gích hay nghệ thuật tư duy) do Antonie Arnold (1612 – 1694) và Pierre Nicole (1625 - 1695) thuộc phái Port - Royal viết để dạy cho công tước Chevrense Quyển sách gồm 4 phần: tư tưởng, phán xét, suy luận và phương pháp, đồng thời phản ánh một số công trình của R.Đềcác và Paxcan (Pascal,

1623 - 1662)

Sau R.Đềcác là nhà toán học người Đức G.W.Lai-bni-txơ (G.W.Leibniz, 1646

- 1716), đã mơ ước tới thứ luận lý mới, có tính chất phổ biến, xác đáng hơn luận lý của Arixtốt là nó biến các lối lý luận thành công thức, ký hiệu Đây là hình thức mới thứ hai của luận lý học Có thể nói, Lai-bni-txơ là một trong những người đầu tiên có

ý kiến về khả năng đưa toán học vào lô-gích, xây dựng hệ thống ký hiệu lô-gích, giúp ta diễn đạt ngắn gọn quá trình tư duy của mình Ông đã đưa thêm 05 kiểu loại hình tam đoạn luận (02 kiểu cho hình I; 02 kiểu cho hình II; 01 kiểu cho hình IV) và quy luật túc lý của lô-gích học hình thức

Công trình của Ph.Bêcơn được G.X.Min (J.Stuart Mill, 1806 - 1873) phát triển thành hệ thống lô-gích suy diễn và lô-gích quy nạp G.X.Min coi lô-gích học là khoa học về các chứng cứ, tìm cho quy nạp những quy tắc và sơ đồ lô-gích, tương tự các qui tắc tam đoạn luận Đến đây, người ta cho rằng, lô-gích học của Arixtốt kết hợp với những công trình của Ph.Bêcơn, R.Đềcác và G.X.Min trở thành lô-gích truyền thống Và bấy giờ, lô-gích học được quan niệm là một khoa học nghiên cứu về các quy luật và hình thức của tư duy chính xác

Năm 1847, ở phương Tây xuất hiện hai công trình lô-gích: Đại số học của

Lô-gích của G.Bun (G.Boole, 1815 - 1864) và Lô-Lô-gích học Hình thức của Augustus De

Morgan (1806 - 1871) Với hai công trình này, lô-gích học đã được toán học hoá Đó

là điều Lai-bni-txơ đã đề cập từ thế kỷ XVII Từ đây, lô-gích học hiện đại, lô-gích

ký hiệu phát triển mạnh mẽ

John Venn (1834 - 1923) dùng 03 vòng tròn để xét xem một tam đoạn luận có hợp lô-gích không 03 vòng tròn được vẽ giao nhau, diễn đạt tất cả khả năng có thể xảy ra về quan hệ giữa các tiền đề Sau đó, xem với các khả năng đó, kết luận của suy luận có thể biểu diễn được trên sơ đồ hay không G.Frege (1848 - 1925) có công

Trang 23

17

rất lớn trong việc cách mạng hoá lô-gích, biến đại số lô-gích và toán thành lô-gích Toán Ông cho rằng, lô-gích Toán sẽ giúp chúng ta lập luận chặt chẽ hơn J.Peano

(1858 - 1923) kế thừa tư tưởng của G.Frege Ông đưa ra 03 khái niệm khởi đầu: Số,

Zéro, Kế tiếp và 05 công lý (gọi là công lý J.Peano) B.Russell (1872 - 1970), người

chịu ảnh hưởng tư tưởng của J.Peano về việc xem toán là một phần của lô-gích học, cùng Whitehead (1861- 1947) là hai nhà toán học và triết học người Anh soạn chung

quyển Principia Mathematica Hai ông đã cải thiện lô-gích học của Lai-bni-txơ và có

tham vọng biểu diễn những từ ngữ, mệnh đề, liên hệ trong lô-gích học của Arixtốt bằng những ký hiệu đơn giản đồng thời đưa mọi lý luận về những phép tính thực

nghiệm theo những qui tắc chính xác

Lô-gích hiện đại trở thành khoa học chính xác, nó phát triển theo nhiều hướng

và được ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau: toán học, ngôn ngữ học, khoa học máy tính Lô-gích toán phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng lớn đến lô-gích học hình thức, thâm nhập vào lô-gích học hình thức nhưng bản thân lý thuyết toán học cũng gặp những mâu thuẫn

Điểm quan trọng của lô-gích học hình thức là nó xem xét các hình thức của tư duy bỏ qua sự xuất hiện, biến đổi và phát triển của chúng Do vậy, nó không thể thực hiện được chức năng phương pháp luận triết học phổ biến Mặt này của tư duy do lô-gích học biện chứng nghiên cứu Nói như V.I.Lênin, chỉ có lô-gích học biện chứng mới thực hiện được chức năng này, bởi lẽ, chỉ có lô-gích học biện chứng “mới phá vỡ chân trời nhỏ hẹp của lô-gích hình thức”, và gắn bó hữu cơ với thế giới khách quan1

I.Cantơ (I Kant, 1724 - 1804), nhà bác học và triết học người Đức đã phân biệt lô-gích chung và lô-gích tiên nghiệm Theo ông, lô-gích tiên nghiệm khác với lô-gích chung, tức là lô-gích hình thức ở chỗ, lô-gích tiên nghiệm nghiên cứu sự phát triển của tri thức, và, khác với nó, không xa rời nội dung Có thể nói, một trong những đóng góp lớn nhất của I.Cantơ là học thuyết về antinomi của lý tính thuần túy, được xem là đỉnh cao của lô-gích tiên nghiệm của I.Cantơ (trình bày trong quyển hai, I.Cantơ gọi là

Lô-gích tiên nghiệm hay Phép biện chứng tiên nghiệm), nó là điểm khởi đầu cho phép

biện chứng hiện đại sau này

1 Dẫn theo A.Sep-tu-lin: Phương pháp nhận thức biện chứng, Nxb Tiến bộ và Nxb Sự thật,

1989, tr 19

Trang 24

Chính đề: “Bất cứ bản thể nào trong thế giới đều đƣợc cấu tạo từ các đơn tố và không có gì tồn tại mà bản thân không phải là đơn tố hay là tập hợp của các đơn tố”3

; Phản đề: “Không sự vật đa hợp nào trong thế giới đƣợc cấu tạo từ các đơn tố

và không thể tồn tại bất kỳ đơn tố nào trong thế giới”4

Hai antinomi này đƣợc I.Cantơ gọi là antinomi toán học

Chính đề: “Có một Hữu thể tuyệt đối tất yếu thuộc về thế giới, làm nguyên nhân cho nó”7

Trang 25

19

Phản đề: “Không có một Hữu thể nào tuyệt đối tất yếu dù ở trong hay ở ngoài thế giới như là nguyên nhân của nó”1

I.Cantơ gọi hai antinomi này là hai antinomi năng động

I.Cantơ đã dành chín chương sách để phân tích bốn antinomi này và đã đi đến kết luận rằng, sở dĩ có bốn antinomi của lý tính thuần túy là do lý tính muốn vươn tới nhận thức đầy đủ về thế giới với tư cách là chỉnh thể, tuyệt đối, và do đó tất yếu nảy sinh mâu thuẫn Chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn đó chỉ có thể là chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm và đối tượng nhận thức của lý tính là một thế giới được phân đôi thành hai mảng độc lập: “Thế giới vật tự nó” và “Thế giới hiện tượng”2

Ph.Hêghen nhận xét: “Có thể xem chúng (các antinomi của I.Cantơ v.v.) như một bước chuyển cơ bản đến triết học mới nhất”3

Như vậy, có thể nói rằng, I.Cantơ là người có công đặt cơ sở cho lô-gích học biện chứng ra đời

Chính Ph.Hêghen (1770 - 1831), nhà triết học vĩ đại người Đức, đã xuất phát từ học thuyết của I.Cantơ để phát triển thành lô-gích của mình Trên tinh thần biện chứng do I.Cantơ đặt ra, đó là biện chứng trong quan hệ chính đề - phản đề của các antinomi, Ph.Hêghen đã khắc phục tính chất nhị nguyên bằng chủ nghĩa duy tâm khách quan triệt để, xây dựng lược đồ biện chứng đầy đủ mâu thuẫn và đã vạch ra lược đồ vận hành đặc trưng của lô-gích biện chứng theo công thức: Chính đề - phản

đề - hợp đề4 Lô-gích của Hêghen có khả năng nhận thức những quy luật của thế giới giới khách quan mà theo quan niệm của ông nó chỉ kết quả của “sự tha hóa của ý niệm tuyệt đối” Có thể nói, cái thể hiện phép biện chứng trong hệ thống triết học của

Ph.Hêghen là ý niệm lô-gích (tinh thần “tuyệt đối thứ nhất”, ý niệm tuyệt đối) Ý

niệm này tự thực hiện trong hệ thống thông qua tính phổ biến của lô-gích học, tính đặc thù của giới tự nhiên, tính đơn nhất và tính chủ quan của tinh thần, nó là cái chung hợp nhất chúng lại Tinh thần được ông quan niệm là thực thể của tất cả những

1 Immanuel Kant: Phê phán lý tính thuần túy (Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải), Sđd, tr

771, 778, 780, 786, 788

2 Xem Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện Triết học: I Cantơ - Người

sáng lập nền triết học cổ điển Đức, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr 65, 49, 66

3 Xem Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện Triết học: I Cantơ - Người

sáng lập nền triết học cổ điển Đức, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr 65, 49, 66

4 Xem Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện Triết học: I Cantơ - Người

sáng lập nền triết học cổ điển Đức, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr 65, 49, 66

Trang 26

20

cái đang hiện tồn và phát triển, tư duy được ông tuyên bố là bản chất nội tại tối cao

Chính vì vậy, V.I Lênin đã nhận xét: “Hêgen đã nâng chủ nghĩa duy tâm của Cantơ

từ chủ nghĩa chủ quan lên thành khách quan và tuyệt đối”1 Chính vì vậy mà lô-gích học biện chứng của Ph.Hêghen cũng mang tính chất duy tâm

C.Mác (1818 - 1883), Ph.Ăngghen (1820 - 1895) và sau đó là V.I.Lênin (1870

- 1924) là các nhà triết học mác-xít đã cải tạo và xây dựng nên lô-gích học biện chứng duy vật Đây là học thuyết hoàn bị nhất, sâu sắc nhất về tư duy khoa học C.Mác viết: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa Đối với Hêghen, quá trình tư duy - mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi

ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng qua chỉ là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”2

Lô-gích học biện chứng ra đời là một bước phát triển về mặt tư duy Song, nó không phải là sự thủ tiêu lô-gích học hình thức Trái lại, lô-gích học biện chứng cho phép chúng ta xác định vị trí quan trọng của lô-gích học hình thức và sự cần thiết của

nó trong nghiên cứu khoa học cũng như trong cuộc sống

1.4 Ý NGHĨA CỦA VIỆC HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU LÔ-GÍCH HỌC BIỆN CHỨNG

Lô-gích học biện chứng là khoa học nghiên cứu tư duy, là cơ sở lô-gích của quá trình nhận thức biện chứng, do vậy nó rất cần thiết để con người dựa vào đó giải thích tất cả những nguyên lý lô-gích riêng biệt, cụ thể; giải thích vai trò, ý nghĩa của

lý luận ấy, nên việc nắm vững nội dung khoa học này sẽ giúp chúng ta nhận thức, lý giải các vấn đề về lý luận, các vấn đề của thực tiễn đời sống xã hội một cách chặt chẽ, khoa học và thuyết phục hơn

Ngoài ra, việc học tập, nghiên cứu lô-gích học biện chứng sẽ giúp rèn luyện, phát triển năng lực tư duy biện chứng Tư duy biện chứng là tư duy biết vận dụng các quy luật lô-gích biện chứng vào quá trình nhận thức; biết dựa vào tính biện chứng khách quan để nhận thức, từ đó rút ra khái niệm, phán đoán biện chứng chủ quan Đúng như

Ph.Ăngghen khẳng định: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới

1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t 29, tr 176

2 C.Mác: Tư bản, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1984, t 1, tr 28

Trang 27

21

tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên”1

Năng lực tư duy biện chứng phát triển sẽ giúp con người phản ánh chính xác, toàn diện sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, từ đó góp phần định hướng chiến lược, hoạch định chương trình hành động và hoạt động thực tiễn đúng đắn, đạt hiệu quả cao, hạn chế những sai lầm, phiến diện trong nhận thức cũng như hành động

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t 20, tr 694

Trang 28

22

NỘI DUNG ÔN TẬP CHƯƠNG 1

1 Đối tượng của lô-gích học biện chứng?

2 So sánh lô-gích học biện chứng và lô-gích học hình thức

3 Quan hệ giữa lô-gích học biện chứng với phép biện chứng và lý luận nhận thức?

4 Sự ra đời của lô-gích học biện chứng?

5 Ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu lô-gích học biện chứng?

Trang 29

23

CHƯƠNG 2 NHỮNG HÌNH THỨC VÀ QUY LUẬT CƠ BẢN

CỦA TƯ DUY BIỆN CHỨNG

Sản phẩm của quá trình nhận thức đó là khái niệm, phán đoán, suy luận Đây

là các hình thức tư duy chung của cả tư duy hình thức và tư duy biện chứng Song, chúng có sự khác nhau Tư duy hình thức phản ánh sự vật, hiện tượng theo nguyên tắc đồng nhất trừu tượng còn tư duy biện chứng phản ánh sự vật, hiện tượng thông qua sự vận động mâu thuẫn của tư duy mà đi sâu vào bản chất của chúng

Ngoài các hình thức tư duy, cũng như lô-gích học hình thức, lô-gích học biện chứng cũng có các quy luật tư duy biện chứng V.I.Lênin cho rằng, “Những quy luật của lô-gích là phản ánh của cái khách quan vào trong ý thức chủ quan của con người, những hình thức lô-gích và quy luật lô-gích không phải là một cái vỏ trống rỗng, mà là

phản ánh của thế giới khách quan”1

2.1 NHỮNG HÌNH THỨC TƯ DUY BIỆN CHỨNG

2.1.1 Khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm về khái niệm

Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy, nó phản ánh khái quát những đặc điểm, thuộc tính biện chứng của sự vật, hiện tượng

Lô-gích học hình thức coi khái niệm là tổng số những đặc điểm, nên chưa cho

ta tiêu chí rõ ràng để phân biệt rõ đâu là đặc điểm cơ bản, đâu là đặc điểm không cơ bản Do vậy, khó có thể giải thích được sự chuyển hóa từ những đặc điểm này sang đặc điểm khác của sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động, biến đổi của nó Lô-gích học biện chứng sẽ nghiên cứu vấn đề này trong khái niệm

Khái niệm khái quát lịch sử tư duy của con người, đồng thời là điểm khởi đầu cho quá trình nhận thức tiếp theo

Đối với lô-gích học hình thức, khái niệm là sự thống nhất giữa nội hàm và ngoại diện, nó không chứa đựng mâu thuẫn Còn đối với lô-gích học biện chứng, khái niệm bao hàm mâu thuẫn

1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t 29, tr 191 - 194

Trang 30

24

Như chúng ta biết, trong lô-gích học hình thức, nội hàm của khái niệm được hiểu là tập hợp tất cả những dấu hiệu chung của lớp đối tượng được phản ánh trong khái niệm1

Trong khi đó, lô-gích học biện chứng quan niệm rằng, nội hàm của khái niệm phản ánh bản chất, mối quan hệ, liên hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng mà khái niệm đó phản ánh và bao quát Như vậy, theo cách hiểu này, nội hàm khái niệm không phụ thuộc số lượng dấu hiệu, đặc điểm mà phụ thuộc vào trình độ thâm nhập vào bản chất, quy luật của hiện thực khách quan Điều này có nghĩa là, nhận thức càng phát triển, mức độ khái quát càng cao thì nội hàm càng phong phú hơn

Trong hiện thực, mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc, động lực thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng Khái niệm là hình thức của tư duy, nên nó phải được nghiên cứu dưới ánh sáng của nguyên lý căn bản đó, tức là quy luật của lô-gích biện chứng Chỉ trên cơ sở đó mới cho ta hiểu được hình thức khái quát sâu hơn của lô-gích học biện chứng, khác với lô-gích học hình thức

2.1.1.2 Đặc điểm của khái niệm biện chứng

Có thể nêu một số đặc điểm của khái niệm biện chứng:

- Một là, khái niệm là sự thống nhất giữa hai mặt chủ quan và khách quan

Như chúng ta biết, khái niệm là sản phẩm của tư duy, của quá trình nhận thức hiện thực khách quan nên nó mang tính chủ quan

Tuy nhiên, xét về mặt nội dung, vì khái niệm phản ánh hiện thực khách quan nên nó có tính khách quan Nhưng hiện thực khách quan luôn vận động, biến đổi và chứa đựng mâu thuẫn trong nó, trong khi đó, tư duy phản ánh hiện thực này, cho nên trong quá trình tư duy, hình thành khái niệm biện chứng phải phản ánh được sự vận động, biến đổi và mâu thuẫn đó của hiện thực khách quan

Có thể nói, sự thống nhất giữa tính khách quan và chủ quan trong khái niệm là điểm xuất phát của tư duy biện chứng

- Hai là, khái niệm là sự thống nhất giữa tính linh hoạt và tính xác định

Sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi, cho nên, khái niệm với tính cách là hình thức phản ánh, nó phải linh hoạt và biến đổi Nghĩa là, nội dung của khái niệm

1 PGS,TS Võ Văn Thắng, Giáo trình Logic học hình thức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2012, tr.68

Trang 31

- Ba là, khái niệm là sự thống nhất giữa tính trừu tượng và tính cụ thể

Lô-gích học biện chứng xem khái niệm là sự phản ánh bản chất, những mối liên hệ căn bản, có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng, được khái quát hóa từ nhiều sự vật, hiện tượng đơn nhất bởi tư duy Do vậy, khái niệm mang tính trừu tượng, bởi đó là kết quả của sự phản ánh, quá trình trừu tượng hóa, khái quát hóa từ cái cụ thể tồn tại khách quan Chính vì vậy, khái niệm bao hàm nội dung cái cụ thể, nhưng không làm mất đi tính phong phú của sự vật, hiện tượng Đối với tư duy biện chứng, cái trừu tượng chung nhất là cái cụ thể phong phú nhất

Tuy nhiên, khái niệm còn mang tính cụ thể, bởi vì, cái cụ thể là sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan, chúng là đối tượng, nội dung của sự phản ánh, là cái được khái quát Chính vì vậy, khái niệm biện chứng là khái niệm mang tính cụ thể

Điều cần lưu ý là, chúng ta phải phân biệt được cái cụ thể trong hiện thực khách quan và cái cụ thể trong tư duy Cái cụ thể trong tư duy là kết quả phản ánh cái

cụ thể trong hiện thực khách quan

Cho nên, khái niệm trong lô-gích học biện chứng hình thành là sự thống nhất giữa tính trừu tượng và tính cụ thể

- Bốn là, khái niệm là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng

Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực khách quan là một cái riêng Trong mỗi cái riêng đều chứa đựng cái chung Do vậy, khi phản ánh về sự vật, hiện tượng để từ đó hình thành những khái niệm biện chứng, phải đảm bảo tính thống nhất giữa cái chung và cái riêng, không được tách rời giữa chúng

Tư duy biện chứng, khi rút ra cái chung, khái quát thành cái chung phải xuất phát từ cái riêng nhưng không làm mất đi nội dung phong phú của cái riêng Thoát ly khỏi cái riêng, chúng ta không thể có một cái chung khoa học nào

Trang 32

26

Như vậy, có thể nói rằng, khái niệm biện chứng thống nhất trong nó những mâu thuẫn Chính những mâu thuẫn này làm cho các khái niệm vận động, biến đổi và phát triển Cho nên, khái niệm có lịch sử của nó, “việc quan trọng đối với lô-gích không phải chỉ là việc nghiên cứu mối quan hệ giữa những khái niệm có sẵn Việc nghiên cứu lô-gích vận động, phát triển, biến hóa của khái niệm có một ý nghĩa quyết định đối với việc giải thích bản chất của nhận thức”1

Trong quá trình nhận thức, khi giải quyết cái trừu tượng và cái cụ thể, con người còn phải giải quyết vấn đề cái phổ biến và cái đơn nhất Đặc điểm đơn nhất là đặc điểm chỉ có ở một sự vật, hiện tượng, còn đặc điểm phổ biến là đặc điểm giống nhau ở nhiều sự vật, hiện tượng Cho nên, muốn hình thành khái niệm phổ biến thì phải tước

bỏ, tách rời những đặc điểm nào mà chỉ những hiện tượng đơn nhất mới có và chỉ để những đặc điểm chung cho tất cả một loại hiện tượng Theo đó, cái phổ biến mâu thuẫn với cái đơn nhất; cái phổ biến bao hàm trong nó cái đơn nhất Theo Ph.Hêghen, cái phổ biến nào mà “không có cái đơn nhất ở bên trong lòng mình”, “thì xa lạ với khái niệm”2 Sự trừu tượng của khái niệm, theo ông, “không phải là sự trừu tượng trống rỗng rút ra từ cái hữu tận, không phải là cái phổ biến không có nội dung và không có tính quy định, mà là cái phổ biến đầy nội dung”3 Phát triển quan điểm này, V.I.Lênin viết: “Không những chỉ là cái phổ biến trừu tượng mà là cái phổ biến thể hiện tính chất phong phú của cái đặc thù, của cái cá thể, cái riêng rẽ” (tất cả tính chất phong phú của cái đặc thù và cái riêng rẽ!)!!”4

Có thể nói rằng, khái niệm không những chỉ là điểm xuất phát trong quá trình vận động của nhận thức mà còn là điểm tổng kết của sự vận động đó, bởi lẽ, chúng ta củng cố những tri thức đạt được trong những khái niệm và quy luật mới, sâu sắc và cụ thể hơn

Nhận thức đúng vấn đề trên đây sẽ làm cơ sở cho ta hiểu, nắm chắc các khái niệm, phán đoán, suy luận trong lô-gích học biện chứng

1 M.M Rô-đen-tan, Nguyên lý lô-gích biện chứng, Nxb Sự thật – Hà Nội, 1962, tr 302

2 Dẫn theo M.M Rô-đen-tan, Nguyên lý lô-gích biện chứng, Nxb Sự thật – Hà Nội, 1962, tr

Trang 33

27

2.1.2 Phán đoán

2.1.2.1 Khái niệm phán đoán

Phán đoán là hình thức của tư duy, là sự liên kết của nhiều khái niệm

Phán đoán gồm chủ từ, tân từ và giới từ

Có thể nói, không có khái niệm thì không có phán đoán Ngược lại, nội dung của khái niệm phải được diễn đạt thông qua phán đoán Do vậy, nếu không có phán đoán thì cũng không có khái niệm Hơn nữa, trong phán đoán, không thể có chủ từ

mà không có tân từ, không thể có tân từ mà không có chủ từ, cả hai mặt đối lập này chuyển hóa lẫn nhau

Trong khái niệm, mâu thuẫn các mặt đối lập cơ bản là cái phổ biến và cái đơn nhất Mâu thuẫn này được vạch ra rõ ràng hơn, sâu sắc hơn trong phán đoán Thông thường, trong phán đoán, chủ từ là cái đơn nhất, tân từ là cái phổ biến

V.I.Lênin nêu một ví dụ đơn giản: Ivan là một người1

Ở đây ta thấy, phán đoán này đã kết hợp mặt đối lập giữa cái đơn nhất (Ivan)

và cái phổ biến (người) Và, bản chất của chủ từ (Ivan) đã được vạch ra trong cái phổ biến (người), được phát hiện ra trong cái đơn nhất Như vậy, trong phán đoán, mặt đối lập cái đơn nhất và cái phổ biến thống nhất nhau nhưng cũng có thể chuyển hóa lẫn nhau2

Ngoài ra, trong những trường hợp khác, phán đoán có thể là sự thống nhất của những mặt đối lập khác như: hiện tượng và bản chất, tất nhiên và ngẫu nhiên, đồng nhất và dị biệt,…

Tuy nhiên, phán đoán khác với khái niệm, ở chỗ, phán đoán là sự vận động, phát triển của những mâu thuẫn trong khái niệm; là sự thống nhất giữa cái chung

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, t.29, 1981, tr 380

2 Cái đơn nhất, cái đặc thù, cái phổ biến là những phạm trù triết học phản ánh mối quan hệ của

sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, nó được hình thành trong quá trình nhận thức – thực tiễn Phạm trù cái đơn nhất chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính,… chỉ có ở một sự vật, hiện tượng hay quá trình nhất định chứ không lặp lại ở bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào khác Sự vật tồn tại trong hiện thực mang tính đặc thù, nhờ đó người ta phân biệt được cái này với cái kia Vì vậy, mỗi sự vật riêng lẻ đều được lĩnh hội như là một cái gì đơn nhất Chính cái đơn nhất cũng có những đặc trưng chung Những nét và đặc tính chung vốn chỉ có ở những nhóm nhỏ các sự vật thì khi

đó chúng là cái đặc thù, còn những nét và đặc tính chung vốn có của tất cả sự vật, hiện tượng thì khi

đó chúng là cái phổ biến Do vậy, ba phạm trù này có liên hệ chặt chẽ, không tách rời nhau Cần lưu ý rằng, phạm trù cái đơn nhất còn được hiểu và trong nhiều trường hợp nó là cái riêng Lúc đó, sự đối lập giữa cái đơn nhất (cái riêng) và cái chung là ở chỗ, cái riêng với tư cách là chỉnh thể, không lặp lại còn cái chung là cái lặp lại ở nhiều sự vật cùng loại hay mọi sự vật Cho nên, sự đối lập giữa cái đơn nhất (cái riêng) và cái chung chỉ có ý nghĩa tương đối

Trang 34

28

và cái riêng nhưng nó khác nhau ở những giai đoạn phát triển mâu thuẫn giữa cái chung và cái riêng Vì phán đoán được hình thành và phát triển từ mâu thuẫn của các khái niệm, cho nên, nó phức tạp hơn khái niệm

Khác với phán đoán trong lô-gích học hình thức, phán đoán trong lô-gích học biện chứng có khả năng vạch ra những mâu thuẫn bên trong khái niệm

Như vậy, phán đoán chủ từ có dạng: S là không S

Như vậy, phán đoán tân từ trong lô-gích học biện chứng có dạng:

S là P nhưng lại không phải là P

Hoặc

P nhưng lại không phải là P

Ví dụ 1: Sự chuyển hóa của người có tiền tệ thành nhà tư bản phải tiến hành trong phạm vi lưu thông đồng thời lại không tiến hành trong phạm vi lưu thông

Ví dụ 2: Sự phủ định biện chứng vừa là khẳng định vừa là phủ định

Như vậy, ta thấy, phán đoán tân từ có thể vạch ra mâu thuẫn bên trong các khái niệm

1 Xem PGS,TS Lê Doãn Tá, PGS,TS Tô Duy Hợp, TS Vũ Trọng Dung (Đồng chủ biên):

Giáo trình Lôgíc học, Sđd, tr 199 - 203

Trang 35

29

c) Phán đoán mâu thuẫn:

Phán đoán mâu thuẫn là sự thống nhất giữa hai phán đoán: Phán đoán khẳng định và phán đoán phủ định

Do vậy, trong lô-gích học biện chứng, phán đoán mâu thuẫn hình thành, đó là

sự kết hợp giữa hai phán đoán khẳng định và phủ định, nó vạch ra nội dung bản chất của khái niệm

Ví dụ: Không gian vừa có thuộc tính gián đoạn vừa có thuộc tính liên tục Phán đoán này là sự kết hợp của hai phán đoán:

- Không gian có thuộc tính gián đoạn;

- Không gian có thuộc tính liên tục

Lô-gích học biện chứng chỉ ra sự phát triển của các hình thức phán đoán:

- Một là, sự phát triển từ phán đoán cái nhiên lên phán đoán minh nhiên rồi lên

phán đoán tất nhiên

Đây là kiểu phân loại theo hình thái

Phán đoán cái nhiên còn gọi là phán đoán khả năng, khả hữu

Phán đoán minh nhiên còn gọi là phán đoán hiện hữu, hiện thực

Phán đoán tất nhiên còn gọi là phán đoán tất yếu, tất định

- Hai là, sự phát triển từ các phán đoán đơn nhất lên phán đoán đặc thù lên

phán đoán phổ biến

Ph.Ăngghen xem hiện tượng những người cổ đại lấy lửa bằng cách cọ xát các hòn đá, xoa miết vào bộ phận của cơ thể người làm cho bộ phận đó nóng lên v,v… là hiện tượng đơn nhất (có thể phản ánh bằng phán đoán đơn nhất)

Chẳng hạn: Ma sát sinh ra nhiệt

Đây là phán đoán đơn nhất

Trang 36

Sau đó 3 năm, Maye Giun lại đưa ra phán đoán:

Mọi hình thức vận động đều có thể và hơn nữa là tất yếu chuyển hóa thành hình thức vận động khác

Phán đoán này là phán đoán phổ biến1

- Ba là, sự phát triển từ phán đoán đồng nhất thành phán đoán mâu thuẫn biện

chứng

Ví dụ: Ta có hai phán đoán:

1) Thế giới là hữu hạn xét theo độ lớn của nó;

2) Thế giới là vô hạn xét theo độ lớn của nó

Từ hai phán đoán này, ta hình thành phán đoán mâu thuẫn biện chứng:

Thế giới vừa là hữu hạn vừa là vô hạn xét theo độ lớn của nó (I.Cantơ)

Như vậy, phán đoán vận động, biến đổi và phát triển từ phán đoán đơn nhất đến phán đoán đặc thù và phán đoán phổ biến không chỉ phù hợp với sự phát triển lịch sử mà còn phù hợp với sự phát triển lô-gích của nhận thức biện chứng Ta thấy,

từ cái đơn nhất được nâng lên cái đặc thù khi phạm vi bao quát được mở rộng đến một giới hạn nhất định và từ cái đặc thù nâng lên cái phổ biến khi phạm vi bao quát được mở rộng hơn nữa Và như vậy, có thể nói, cái đặc thù là khâu trung gian của cái đơn nhất (hay phán đoán đơn nhất) và cái phổ biến (hay phán đoán phổ biến) Điều này cũng có nghĩa là, cái phổ biến và cái đặc thù có thể chuyển hóa lẫn nhau

Chẳng hạn, quy luật phổ biến về nhận thức sự chuyển hóa của các nguyên tố hóa học được phát hiện không phải cùng một lúc Thật vậy, lúc đầu người ta chỉ phát hiện và chứng minh được tính chuyển hóa này trong mối quan hệ riêng lẻ Nhưng về sau, người ta phát hiện ra trong một nhóm nguyên tố nặng và cuối cùng, người ta

Trang 37

Có thể nói, khi nghiên cứu khái niệm, phán đoán, lô-gích học biện chứng có nhiệm vụ là phải phân tích sự hình thành, vận động và phát triển của các phán đoán Ph.Ăngghen đã chỉ ra sự khác nhau giữa lô-gích học hình thức và lô-gích học biện chứng về phán đoán: “Đối lập với lô-gích cũ, tức lô-gích thuần túy hình thức, lô-gích biện chứng không bằng lòng việc kê ra những hình thức vận động của tư duy tức là những hình thức khác nhau của phán đoán và suy lý và đặt chúng cái nọ bên cạnh cái kia, không có liên hệ gì cả Trái lại, lô-gích biện chứng rút ra hình thức này từ hình thức kia, lập ra một mối quan hệ phụ thuộc giữa những hình thức đó, chứ không phải mối quan hệ kết hợp Lô-gích biện chứng phát triển những hình thức cao hơn từ những hình thức thấp”1

2.1.3 Lập luận

2.1.3.1 Khái niệm lập luận

Lập luận là hình thức của tư duy nhằm chứng minh một vấn đề nào đó thông qua việc trình bày lý lẽ một cách có hệ thống, chặt chẽ

Lập luận bao gồm suy luận và luận chứng

Suy luận là thao tác tư duy lô-gích, qua đó, người ta rút ra những phán đoán mới từ những phán đoán đã cho

Luận chứng là cách chứng minh

Nếu phán đoán là sự liên kết giữa các khái niệm thì suy luận là sự liên kết giữa các phán đoán Cho nên, trong quá trình thực hiện suy luận, các khái niệm vẫn được triển khai, được làm phong phú thêm, sâu sắc thêm và hình thành nên những khái niệm mới Do vậy, có thể nói rằng, khái niệm, phán đoán, suy luận có quan hệ biện chứng với nhau

1 Dẫn theo M.M Rô-đen-tan, Nguyên lý lô-gích biện chứng, Nxb Sự thật – Hà Nội, 1962, tr

496-497

Trang 38

32

Trong lô-gích học hình thức, suy luận hình thành từ những khái niệm, phán đoán có trước, do vậy, kết luận rút ra là một hay nhiều phán đoán mới, nhưng những kết luận này không thể vượt ra khỏi khuôn khổ khái niệm, kết cấu cũ Trong khi đó, thực tiễn luôn biến đổi, do vậy, trong lô-gích học biện chứng, suy luận phải phản ánh được thực tiễn đó, phải vạch ra được những điều mới mẻ từ thực tiễn khách quan đó

2.1.3.2 Đặc điểm của suy luận biện chứng

Từ những điều trình bày trên đây, ta thấy, suy luận biện chứng có khả năng phát hiện được mối liên hệ bản chất, tất yếu của đối tượng, nó vạch ra xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Điều này phụ thuộc vào khả năng nhận thức quy luật khách quan và hoạt động thực tiễn của con người

Để suy luận biện chứng được thực hiện chính xác, ngoài việc tuân thủ nguyên tắc thực tiễn còn phải nắm vững nguyên tắc mối liên hệ cái đơn nhất với cái đặc thù

và cái phổ biến, giữa cái chung và cái riêng

Như vậy, hình thức của suy luận không phải là trống rỗng mà nó phản ánh những cái đơn nhất, cái đặc thù và cái phổ biến

Do các khái niệm, phán đoán luôn vận động, biến đổi và phát triển, cho nên, suy luận biện chứng cũng phải luôn vận động, biến đổi và thay đổi cấu trúc

Như chúng ta biết, mỗi hình thức của tư duy cả trong lô-gích học hình thức cũng như lô-gích học biện chứng đều có nhiệm vụ riêng mình

Khái niệm phản ánh bản chất của nhiều sự vật, hiện tượng đơn nhất, song bản thân nó không thể vạch ra, phát hiện mối liên hệ giữa cái đơn nhất và cái phổ biến Trong phán đoán, tính đối lập này sẽ được vạch ra Trong suy luận, sự vận động của cái đơn nhất và cái phổ biến đạt tới hình thức mới, phức tạp hơn về mặt lô-gích Cụ thể là, hai phán đoán tiền đề phải kết hợp với nhau theo kiểu sao cho kết luận tất yếu được rút ra từ đó

Thí dụ: Mọi hạt lepton đều có spin bán nguyên Điện tử là hạt lepton Vậy, điện

tử có spin bán nguyên

Ta thấy, qua ví dụ, cái phổ biến và cái đơn nhất liên hệ gián tiếp nhau trong sự thống nhất nhưng trên cơ sở cao hơn Trong lô-gích, vận động đi từ sự thống nhất không tách rời giữa cái phổ biến và cái đơn nhất trong khái niệm đến sự phân chia chúng trong phán đoán và khôi phục sự thống nhất đó dưới hình thức mới, cao hơn

Trang 39

33

trong suy luận bằng con đường gián tiếp, bởi vì sự thống nhất đó không phải ở hình thức bên ngoài mà ở bên trong, có tính quy luật của sự vật, hiện tượng Nhờ vậy, con người rút ra được tri thức mới về hiện thực khách quan Vì lẽ đó, người ta cho rằng, suy luận là hình thức tư duy phức tạp hơn khái niệm, phán đoán

Như chúng ta biết, lô-gích học hình thức không nghiên cứu hình thức và kết cấu về mặt quan hệ và vận động của các mặt đối lập, cái đơn nhất và cái phổ biến, còn lô-gích học biện chứng nghiên cứu suy luận mà tri thức kết luận của nó được giải quyết như thế nào với tư cách là lô-gích của sự phát triển và biến hóa của các mặt đối lập Đây cũng chính là điểm khác nhau giữa suy luận trong lô-gích học hình thức và lô-gích học biện chứng

Có thể khái quát đặc điểm, bản chất của tri thức kết luận, của suy luận trong gích học biện chứng như sau:

lô Một là, lôlô gích học hình thức nghiên cứu kết luận chủ yếu về mặt kết cấu,

hình thức nối tiếp nhau của những luận đề này từ những luận đề khác, trong khi đó, nhiệm vụ chủ yếu của lô-gích học biện chứng là nghiên cứu vấn đề đó theo quan điểm xây dựng kết luận như thế nào từ nội dung phong phú, phức tạp của hiện thực;

- Hai là, lô-gích học biện chứng là lô-gích học có tính chất nội dung, xem xét

và giải quyết nội dung của sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động, biến đổi, phát triển và chuyển hóa, nên nó có phương pháp nghiên cứu riêng;

- Ba là, vì lô-gích học biện chứng là lô-gích của nội dung nên tri thức kết luận

phải đặc biệt tính đến tính quy định của thực tiễn; song, nó không phủ nhận hình thức suy của lô-gích học hình thức mà chú ý sử dụng để phản ánh đúng bản chất hiện thực khách quan;

- Bốn là, do đặc điểm nói trên, nên kết luận của lô-gích học biện chứng diễn ra

phức tạp hơn trong lô-gích học hình thức, biểu hiện ở chỗ, khó có thể nêu ra một hình thức nào đó có tính chất thường xuyên và mẫu mực cho quá trình kết luận;

- Năm là, lô-gích học biện chứng không cố ép quá trình kết luận vào sơ đồ hình

thức mà ngược lại làm cho quá trình đó phù hợp nhiều nhất với nội dung thường xuyên vận động, biến đổi và phát triển của sự vật, hiện tượng1

1 Xem thêm M.M Rô-đen-tan, Nguyên lý lô-gích biện chứng, Nxb Sự thật – Hà Nội, 1962, tr

537-557

Trang 40

34

2.1.4 Giả thuyết

2.1.4.1 Khái niệm giả thuyết

Từ “giả thuyết” bắt nguồn từ chữ Hypothèse Từ này có nghĩa là nền tảng để xây dựng nên một luận điểm Trong đời sống hằng ngày cũng như trong khoa học, từ giả thuyết được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau

- Thứ nhất, giả thuyết là cách giải thích tạm thời một hiện tượng khoa học nào

đó Nghĩa này được dùng khá phổ biến trong khoa học thực nghiệm Bởi vì, trong nghiên cứu khoa học, không phải lúc nào con người cũng có thể đưa ra được những

cơ sở chắc chắn, biết rõ mà phải đưa ra những giả thuyết để đi tìm, xây dựng một luận điểm nào đó Với ý nghĩa đó, giả thuyết là rất cần thiết trong khoa học Chính vì vậy, Claude Bernard cho rằng, “Giả thuyết là khởi điểm cho mọi nghiên cứu khoa học”1 Còn theo G.KH.Valeev (Nga), “giả thuyết là mắt xích giữa cái đã biết và chưa biết” và “không có khoa học nào mà lại không có giả thuyết”2

- Thứ hai, giả thuyết được hiểu như là sự giả định về một nguyên nhân của

hiện tượng, vấn đề nghiên cứu Bởi lẽ, trong rất nhiều trường hợp, bằng những tri thức, kinh nghiệm đã có, không thể giải thích được hiện tượng, vấn đề nghiên cứu

Do vậy, con người phải đưa ra những phỏng đoán, giả định

- Thứ ba, trong toán học, nhiều người dùng giả thuyết như là giả thiết, theo

nghĩa những dữ kiện có trước, từ đó chứng minh một mệnh đề nào đó

Tuy vậy, trên thực tế, có ý kiến cho rằng, hai từ này không cùng một nghĩa

Trong tiếng Anh, người ta thường dùng chữ suppose để nói giả thiết, giả sử, giả định

và dùng từ hypothesis để chỉ giả thuyết

Ở góc độ lô-gích học, theo chúng tôi:

Giả thuyết là hình thức của tư duy nhằm xây dựng giả định về những nguyên nhân của sự vật, hiện tượng nghiên cứu và chứng minh các giả định đó

Giả thuyết là điều kiện để xây dựng lý luận khoa học Cho nên, giữa giả thuyết

và lý luận khoa học có quan hệ biện chứng với nhau Giả thuyết và lý luận khoa học đều là hệ thống của những khái niệm, phán đoán, suy luận đã được chứng minh

1 Dẫn theo Nguyễn Trọng Văn, Bùi Văn Mưa: Logic học,

2 Valeev G.KH.: Ghipoteza Pedagoghiteckovo Icledovanhia, Pedagogika N05, 1999, p 22 -

26

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t. 2, t. 12, t. 13, t. 20, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
2. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t. 20, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
3. Ph.Ăngghen: Chống Đuyrinh, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuyrinh
Nhà XB: Nxb. Sự thật
4. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, t .29, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ
5. V.I.Lênin: Toàn tập (tiếng Việt), Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, t. 30, t. 42, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ
6. A.Sep-tu-lin: Phương pháp nhận thức biện chứng, Nxb. Tiến bộ và Nxb. Sự thật, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nhận thức biện chứng
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ và Nxb. Sự thật
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
8. Câu hỏi và bài tập triết học Chủ nghĩa duy vật biện chứng (Tập thể tác giả), Nxb. Khoa học xã hội, t.3, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi và bài tập triết học Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
9. Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp: Vấn đề tư duy trong triết học Hegel, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tư duy trong triết học Hegel
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
10. Triệu Phóng Đồng: Phương pháp biện luận - Thuật hùng biện (Nguyễn Quốc Siêu phiên dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp biện luận - Thuật hùng biện

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w