LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, nước ta có nhiều vụ án về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động rất đơn giản; có quan hệ pháp luật rõ
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu khóa luận 4
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ
RÚT GỌN 5
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 5
1.1.1 Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 5
1.1.2 Đặc điểm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 9
1.1.3 Ý nghĩa thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 12
1.2 Lịch sử phát triển pháp luật tố tụng dân sự rút gọn 14
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 – 1989 15
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1989 – 2004 17
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2005 – 2015 19
1.2.4 Giai đoạn từ 2015 đến nay 20
1.3 Kinh nghiệm lập pháp quốc tế về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 20
1.3.1 Pháp luật Pháp 20
1.3.2 Pháp luật Liên bang Nga 22
1.3.3 Pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 23
1.3.4 Pháp luật Nhật Bản 25
1.3.5 Pháp luật Hoa Kỳ 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2 THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN THEO BỘ LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 28
2.1 Nội dung cơ bản của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 28
Trang 22.1.1 Phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 28
2.1.2 Điều kiện áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 29
2.1.3 Chuyển vụ án từ thủ tục tố tụng dân sự rút gọn sang thủ tục tố tụng
dân sự thông thường 33
2.1.4 Trình tự thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự
rút gọn 34
2.2 Thực trạng áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn hiện nay 45
2.3 Kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, nước ta có nhiều vụ án về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động rất đơn giản; có quan hệ pháp luật rõ ràng; đương
sự đã thừa nhận nghĩa vụ; có tài liệu, chứng cứ rõ ràng nhưng vẫn được Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thông thường Kết quả là thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài một cách không cần thiết, gây tốn kém tiền bạc của các đương sự và Nhà nước
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế hiện nay, bên cạnh sự phát triển của nền kinh tế thì các tranh chấp liên quan đến dân sự nói chung và kinh doanh thương mại nói riêng cũng ngày càng gia tăng Nếu các vụ án này được Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thông thường thì thời gian giải quyết vụ án sẽ bị kéo dài dẫn đến tình trạng tồn đọng án Một nhu cầu cấp thiết đặt ra là phải đơn giản hóa trình tự, thủ tục giải quyết vụ án
Theo kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới như: Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… việc áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn để giải quyết các vụ việc đơn giản là rất phổ biến Nhận thấy được điều đó nên những năm gần đây vấn đề về cải cách tư pháp vẫn là một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm với chủ trương đổi mới, cải cách thủ tục tố tụng nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tất cả người dân được tiếp cận với công lý từ đó giúp họ bảo vệ tốt quyền lợi hợp pháp của mình Thông qua Nghị quyết số 49 ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng chỉ ra
rằng: “Hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công
khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người ” và “… Xây dựng cơ chế xét
xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định” Từ đây,
chủ trương về cải cách tư pháp đã đặt ra yêu cầu phải xây dựng thủ tục tố tụng dân sự theo hướng đơn giản, ngắn ngọn và nhanh chóng để tạo điều kiện tốt nhất cho đương
sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình đồng thời phải tiết kiệm được chi phí
và thời gian trong quá trình giải quyết tranh chấp Chính vì thế, Quốc hội đã đưa pháp lệnh thủ tục tố tụng dân sự rút gọn vào chương trình xây dựng luật và giao cho Tòa án nhân dân tối cao chủ trì soạn thảo
Trang 4Thủ tục rút gọn được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013, cụ thể tại khoản 1 và
khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định rằng: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa
án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” và
“Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” Quy định này của Hiến pháp năm 2013 đã được cụ thể hóa trong Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 bằng việc đã bổ sung thêm Phần thứ tư về “Giải quyết
vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn” Việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng
và Nhà nước Đánh dấu sự tiến bộ mới trong hệ thống pháp luật tố tụng ở nước ta nói chung và dân sự nói riêng, làm cho thủ tục tố tụng dân sự nước ta được linh hoạt và mềm dẻo hơn; giúp cho Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật
Tuy nhiên quy định này còn khá mới ở nước ta, chưa có các văn bản hướng dẫn
cụ thể của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên việc áp dụng quy định này vào thực tế
còn nhiều khó khăn Vì các lẽ trên nên người viết chọn đề tài “Pháp luật về thủ tục tố
tụng dân sự rút gọn” để nghiên cứu và phân tích
2 Tình hình nghiên cứu
Quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là quy định phổ biến trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam mặc dù đây là quy định khá mới nhưng từ trước khi ban hành và sau khi ban hành có khá nhiều công trình, sách báo nghiên cứu về vấn đề này Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:
- Về luận văn, luận án có thể kể đến là: Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Tuấn
Anh (2000), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng thủ tục rút gọn
trong tố tụng dân sự Việt Nam”; Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Thanh Hoa (2015),
“Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Tùng (2016), “Thủ tục rút gọn ở Việt Nam” Gần đây là luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Thu Vân
(2017), “Xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam”
- Về báo, tạp chí có các bài viết của các tác giả như: Ngô Anh Dũng, “Sự cần
thiết phải quy định thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự”, Tạp chí Tòa án
Trang 5nhân dân số 04/2002; ThS Trần Anh Tuấn, “Thủ tục xét xử nhanh trong Bộ luật Tố
tụng dân sự Pháp và yêu cầu xây dựng thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 2/2004; Cao Hồng Sơn, “Cần bổ sung thủ tục đơn giản vào Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 11/2010;
Đặng Thanh Hoa, “Giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng theo thủ tục rút gọn”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 08/2013; Đỗ Văn Chỉnh và Phạm Thị Hằng, “Cần có
quy định thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân số
03/2013; Trương Hòa Bình, “Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập
Tòa giản lược trong hệ thống Tòa án nhân dân”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 04/2014;
TS Lê Thu Hà, “Bổ sung thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi)”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 02/2015; TS Đặng Thanh Hoa, “Một số vấn đề về thủ
tục rút gọn quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân
số 9, 10/ 2016
- Về báo cáo chuyên đề nghiên cứu có công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ
của TS Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài (2014), “Vấn đề xây dựng thủ tục tố tụng
dân sự rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay - Thực trạng và giải pháp”
Cho đến thời điểm này thì quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn vẫn còn khá mới nên khi người viết chọn đề tài này làm khóa luận tốt nghiệp sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, người viết hy vọng nhận được sự ủng hộ, nhận xét và các ý kiến đóng góp của bài viết này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thứ nhất, khái quát chung của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn, bao gồm các vấn
đề sau: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thủ tục tố tụng dân sự rút gọn; lịch sử phát triển pháp luật tố tụng dân sự rút gọn và kinh nghiệm lập pháp quốc tế về thủ tục tố tụng dân
sự rút gọn
- Thứ hai, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm: Nội dụng cơ bản của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực trạng pháp luật hiện nay và kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật
Trang 63.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu lịch sử phát triển thủ tục tố tụng dân sự giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến nay
- Ngoài ra, đề tài nghiên cứu thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong phạm vi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Mở rộng ra nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một
số nước trên thế giới trong việc áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở kết hợp các phương pháp như:
Phương pháp luận Mác – Lênin nhằm triển khai và tìm hiểu một cách cụ thể, sâu sắc các khía cạnh của vấn đề
Phương pháp tổng hợp, quy nạp nhằm xâu chuỗi, tổng kết các thông tin để có cách nhìn bao quát về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp phân tích - so sánh nhằm đối chiếu thực trạng các quy định về giải quyết tranh chấp dân sự tại Việt Nam với kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Ngoài ra, người viết còn sử dụng phương pháp trích dẫn, phương pháp hệ
thống, phương pháp phân tích luật học
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung của đề tài người viết chia làm 02 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
- Chương 2: Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015
Trang 7CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
1.1.1 Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
Khái niệm thuật ngữ “tố tụng”
Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: Thuật ngữ “tố tụng” là việc thưa kiện (procès), “tố tụng pháp lý” là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng
(code deprocédure).1
Hiểu một cách đơn giản theo Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế: Thuật
ngữ “tố tụng” là việc thưa kiện ở Tòa án.2
Đến thời Pháp thuộc, người ta dùng hai chữ “tố tụng” để dịch chữ “procédure”
(chữ Pháp procédure hay chữ Anh procedure đều bắt nguồn từ chữ La tinh processus nghĩa là quá trình, trình tự, thủ tục), như hai Bộ luật Bắc kỳ dân sự, thương sự tố tụng; Trung kỳ dân sự, thương sự tố tụng Dưới chế độ cũ ở miền Nam trước năm 1975, cũng có Bộ luật Hình sự tố tụng, Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng (năm 1972).3
Khái niệm tố tụng dân sự
Tố tụng dân sự là trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, các vụ án dân
sự tại Tòa án; trình tự, thủ tục thi hành án dân sự
Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
Trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn được quy định khá phổ biến Tuy nhiên, đã và đang tồn tại nhiều quan điểm khác
nhau và chưa có một khái niệm thống nhất về vấn đề này Ngoài thuật ngữ “thủ tục rút
gọn” còn có các thuật ngữ tương tự như: thủ tục đơn giản hay thủ tục giản lược
Theo từ điển luật học Black’s Law Dictionary của Hoa Kỳ, thuật ngữ “Summary
proceeding” được định nghĩa như sau: “A nonjury proceeding that settles a
1 Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, tr 302
2 Bửu Kế (1999), Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nhà xuất bản Thuận Hóa, tr.1819
3 Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục Pháp luật Trung ương số 04/2013 chủ đề: Pháp luật về tố tụng dân sự,
tr.3
Trang 8controversy or diposes of a case in a relatively prompt and simple manner” 4 Tạm
dịch là: “Thủ tục rút gọn là thủ tục xét xử không có bồi thẩm đoàn, được áp dụng để
giải quyết các tranh chấp hoặc định đoạt trong các vụ kiện một cách tương đối nhanh chống và đơn giản”
Ngoài ra, trong từ điển luật học Black’s Law Dictionary còn có thuật ngữ
“Summary judgement” Thuật ngữ này có nghĩa là “phán quyết rút gọn” là phán quyết
sẽ được Tòa án đưa ra liên quan đến toàn bộ vụ kiện hoặc một số vấn đề trong vụ kiện
mà không cần phải thực hiện xét xử tại phiên tòa đầy đủ theo thủ tục tố tụng thông thường.5
Theo từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt, thuật ngữ “procédure sommaire” tức là thủ tục giản lược Được định nghĩa là: “thủ tục tố tụng theo đó các thủ tục được
đơn giản hóa hơn so với thủ tục tố tụng thông thường, được áp dụng trước các Tòa án theo thông luật hoặc trước các Tòa án có thẩm quyền chung trong những trường hợp đặc biệt” 6
Trong từ điển Tiếng Việt không có thuật ngữ “thủ tục rút gọn” nhưng có quy định cụm từ “thủ tục” và “rút gọn” Theo đó, “thủ tục” là “những việc cụ thể phải
làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” và
“rút gọn” là “làm cho có hình thức ngắn gọn, đơn giản hơn”.7
Thủ tục rút gọn được đề cập với tên gọi là thủ tục giản lược hay thủ tục đơn giản được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp Trong suốt quá trình phát triển pháp luật tố tụng dân sự của Pháp, khi lần đầu tiên ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục rút gọn được quy định theo hướng chỉ áp dụng cho một số loại vụ việc đáp ứng điều kiện theo luật định và được giải quyết theo trình tự thủ tục gọn nhẹ, đơn giản và nhanh chóng Khác với Pháp, thủ tục rút gọn ở Hoa Kỳ không được quy định tại một đạo luật
tố tụng thành văn, được xây dựng trên nền tảng thực tiễn xét xử, Tòa án giải quyết các yêu cầu khởi kiện có giá ngạch thấp bằng thủ tục đơn giản, có giá trị ràng buộc thi
4 Bryan A Garner (2009), Black’s Law Dictionary, 9th edition, St Paul, MN: West, p.599
5 Bryan A Garner (2009), Black’s Law Dictionary, 9th edition, St Paul, MN: West, p.676
6 Nguyễn Văn Bình (2009), Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội,
tr.706
7
Trang 9hành là hợp hiến, bảo đảm được công lý.8 Như vậy, thủ tục rút gọn theo cách hiểu của hai nước này đều là một thủ tục riêng biệt, giải quyết một số loại vụ án nhanh gọn
Ở Việt Nam, thủ tục rút gọn đã được đề cập đến trong khoa học luật hình sự Thông tư số 10 ngày 08/7/1974 của Tòa án nhân dân tối cao, quy định thủ tục rút gọn được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử đối với những vụ án ít nghiêm trọng, đơn giản, rõ ràng Trên cơ sở kế thừa và phát huy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 đã quy định thủ tục rút gọn thành một chương riêng, tại chương XXXIV Trong
khoa học luật hình sự, thủ tục rút gọn được hiểu là “thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình
sự được áp dụng đối với những vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, có căn cước lai lịch rõ ràng” 9 Về phạm vi áp dụng, thủ tục rút gọn không được áp dụng với tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự mà chỉ được áp dụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm.10
Trong văn bản pháp lý, “thủ tục rút gọn” lần đầu tiên được đề cập tại Luật bảo
vệ người tiêu dùng được Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17/11/2010
và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 Tuy nhiên trong văn bản pháp lý này, Quốc hội không đưa ra khái niệm thế nào là thủ tục rút gọn mà chỉ ghi nhận việc Tòa án áp dụng thủ tục đơn giản để giải quyết các tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng và có giá trị tranh chấp nhỏ nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 41 Luật này chỉ quy định loại tranh chấp có thể được áp dụng thủ tục đơn giản và dẫn chiếu việc áp dụng trong thực tế sang quy định của pháp luật tố tụng dân
thủ tục rút gọn cũng được quy định tương ứng tại Điều 8 và Điều 10 Luật tổ chức Tòa
8 Đặng Thanh Hoa (2015), Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong pháp luật tố tụng
dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ, tr.18, 19
9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.535
10 Điều 318 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
Trang 10án nhân dân năm 2014 Tuy nhiên, trong cả Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa
án nhân dân năm 2014 vẫn chưa quy định khái niệm của thủ tục rút gọn
Trong nghiên cứu khoa học pháp lý ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu luật đã đưa
ra nhiều khái niệm về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn như: Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của tác giả Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài Vấn đề xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
– Thực trạng và giải pháp, cho rằng: “Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là loại hình thủ
tục tố tụng giản lược, do một Thẩm phán tiến hành giải quyết đối với các vụ kiện dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có nội dung đơn giản, rõ ràng hoặc có giá trị nhỏ theo một trình tự tố tụng đơn giản, nhanh chóng, phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật ngay hoặc có thể bị phản kháng để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thông thường hoặc thủ tục phúc thẩm được giản lược”.11
Trong sách chuyên khảo của tác giả Đặng Thanh Hoa về Thủ tục rút gọn trong
tố tụng dân sự, cho rằng: “Thủ tục rút gọn là một thủ tục đơn giản, gọn nhẹ hơn so với
thủ tục thông thường về thành phần, trình tự, thủ tục và thời gian giải quyết tranh chấp, được áp dụng đối với một số loại tranh chấp đơn giản hoặc có giá trị thấp” 12
Khái niệm của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn lần đầu tiên được quy định tại
khoản 1 Điều 316 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau: “Thủ tục rút gọn là thủ
tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật”
Và mới đây, trong luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Thu Vân đã đưa ra
khái niệm của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn như sau: “Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
là loại thủ tục tố tụng giản lược về thủ tục rút ngắn về thời gian so với thủ tục thông thường, được áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự có điều kiện nhất định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời nhưng
11 Trần Anh Tuấn (Chủ nhiệm đề tài), (2017), Vấn đề xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo yêu cầu cải
cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay – Thực trạng và giải pháp, Đề tài nghiên cứu Khoa học pháp
lý của Bộ Tư pháp, tr.15
12 Đặng Thanh Hoa (2016), Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Hồng Đức,
Trang 11vẫn bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và quyền lợi hợp pháp của các đương sự theo quy định của pháp luật”.13
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể kết luận khái niệm thủ tục tố tụng
dân sự rút gọn như sau: “Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là dạng thủ tục giản lược so
với thủ tục tố tụng thông thường, được rút ngắn về thời gian giải quyết, về trình tự các bước tiến hành tố tụng, về thành phần tham gia giải quyết; được áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự đơn giản, có giá trị tranh chấp thấp, có chứng cứ rõ ràng, các bên đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ, Tòa án chỉ cần căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có sẵn để ra quyết định cho vụ án đó”
Ở Việt Nam, các vụ án được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thông thường
là những tranh chấp phức tạp, mâu thuẫn gay gắt nên thời hạn giải quyết vụ án sẽ kéo dài để Tòa án có thời gian tiến hành xác minh chứng cứ, thu thập tài liệu Đối với các
vụ án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thời hạn giải quyết vụ án dân sự là không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ
án
13 Hoàng Thị Thu Vân (2017), Xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, tr.13
14 Đặng Thanh Hoa (2015), Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong pháp luật tố tụng
dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ, tr.60
Trang 12Về chi phí tố tụng: Mức tạm ứng án phí mà đương sự phải nộp theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn được giảm đáng kể so với thủ tục tố tụng dân sự thông thường Đối với Tòa án, chi phí về tài chính và nhân lực mà Tòa án dành cho hoạt động tố tụng cũng được giảm đáng kể
Thứ hai, rút gọn về trình tự thủ tục tố tụng
Rút gọn về trình tự thủ tục là sự giản lược bớt các thủ tục vốn không thể thiếu trong thủ tục tố tụng dân sự thông thường nhưng lại không thật sự cần thiết với tính chất của vụ việc được áp dụng theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn như: hoạt động tìm kiếm chứng cứ, hoạt động giám định chứng cứ, thủ tục hòa giải,… Sự rút ngắn này giúp giảm các chi phí tố tụng, tiết kiệm thời gian cho cả đương sự và Tòa án
Có quốc gia quy định đột phá ngay từ khâu yêu cầu khởi kiện của đương sự theo hướng đương sự có thể trình bày trực tiếp yêu cầu khởi kiện bằng miệng mà không cần làm đơn khởi kiện như: Tại Nhật Bản, luật nước này công nhận các quy định đặc biệt nhằm đơn giản hóa thủ tục khởi kiện, xét xử như: Việc khởi kiện có thể thực hiện bằng miệng Đương sự không cần phải chuẩn bị văn bản mà chỉ cần có mặt vào ngày tranh luận miệng để nêu ý kiến là đủ Tòa án khi thấy phù hợp có quyền yêu cầu nộp văn bản thay cho việc hỏi người làm chứng, đương sự hoặc người giám định, không phụ thuộc vào việc các bên đương sự có phản đối hay không Tại Trung Quốc, thì thủ tục rút gọn
có đặc điểm là khi hai bên đương sự có thể đồng thời đến tòa đề nghị giải quyết tranh chấp Tùy từng trường hợp, Tòa án có thể xét xử ngay hoặc định một ngày khác Đồng thời, Tòa có thể thông báo miệng cho các đương sự về nội dung khởi kiện.15
Thứ ba, rút gọn về thành phần tiến hành tố tụng
Do tính chất đơn giản và rõ ràng của vụ án dân sự nên cơ chế xét xử của thủ tục
tố tụng dân sự rút gọn ở thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều là do một Thẩm phán tiến hành, không có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn hay Hội thẩm nhân dân bởi vì Thẩm phán chỉ cần thẩm định lại sự việc, tài liệu, chứng cứ và áp dụng các quy định của pháp luật để ra phán quyết
15 Nguyễn Thị Minh, Thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Nguồn:
http://hvta.toaan.gov.vn/portal/page/portal/hvta/27676686/27677461?p_page_id=27676686&pers_id=28346379
Trang 13Về sự tham gia của Viện kiểm sát, phần lớn các nước đều quy định cơ quan công tố không có vai trò trong việc giải quyết các vụ án dân sự, họ chỉ có trách nhiệm chính là truy tố và buộc tội trong các vụ án hình sự.16 Còn ở Việt Nam, ngoài chức năng thực hành quyền công tố thì Viện kiểm sát còn có chức năng giám sát hoạt động xét xử của Tòa án
Thứ tư, rút gọn về cấp xét xử
Cơ chế kháng cáo phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn của các nước là không giống nhau Cụ thể:
Ở Pháp, đương sự không có quyền kháng cáo phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm được giải quyết theo thủ tục rút gọn nếu giá ngạch của vụ án dưới 4.000 Euro Ở Đức, những tranh chấp có giá ngạch dưới 6.000 Euro Ở Trung Quốc, các phán quyết sơ thẩm khi giải quyết theo thủ tục rút gọn có giá trị chung thẩm, đương sự không có quyền kháng cáo nhưng cho phép người có nghĩa vụ trả nợ được quyền phản đối với thủ tục ra lệnh thanh toán của Tòa án.17
Ở Anh, đương sự có quyền kháng cáo với điều kiện đương sự đó đã tham gia phiên tòa và yêu cầu kháng cáo có cơ sở và được đưa ra ngay sau khi kết thúc phiên tòa Có thể đưa ra kháng cáo đối với các phán quyết cho các vụ kiện nhỏ chỉ trong trường hợp có sự sai sót về pháp luật hoặc một số vi phạm nghiêm trọng khác trong các thủ tục tố tụng thông thường Ở Thái Lan, đương sự không có quyền kháng cáo bản án
sơ thẩm về vấn đề sự kiện của vụ án mà chỉ có quyền kháng cáo về vấn đề áp dụng pháp luật.18
Ở Nhật Bản, phán quyết cuối cùng của Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn không được kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Trong thời hạn 02 tuần kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án, đương sự có thể đưa ra yêu cầu phản đối quyết định đó của Tòa án
Thứ năm, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn chỉ được áp dụng đối với một số loại vụ
án nhất định
16 Hoàng Thị Thu Vân (2017), Xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, tr.16
17 Hoàng Thị Thu Vân (2017), Xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, tr.18
18 Đặng Thanh Hoa (2015), Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong pháp luật tố tụng
dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ, tr.58.
Trang 14Bản chất của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là thủ tục giản lược, rút gọn về thời gian, chí phí và trình tự thủ tục Vì vậy, những vụ án đơn giản, có giá trị tranh chấp nhỏ, có chứng cứ rõ ràng, đương sự đã thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ, Tòa án không cần phải thu thập thêm tài liệu, chứng cứ Đối với những vụ án phức tạp, chứng cứ không
rõ ràng, đương sự không thừa nhận nghĩa vụ thì không thể giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn bởi lẽ sẽ cần rất nhiều thời gian để xác minh, tổng hợp tài liệu, chứng cứ; phải tiến hành các bước hòa giải, lấy lời khai, Hội đồng xét xử không thể do một Thẩm phán tiến hành mà là một tập thể để bảo đảm rằng phán quyết đưa ra là đúng pháp luật
Tóm lại, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là thủ tục giải quyết các tranh chấp đặc thù, đáp ứng các điều kiện cơ bản do luật định như: Là tranh chấp đơn giản, giá trị tranh chấp nhỏ, có chứng cứ rõ ràng, đương sự đã thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ
Song ở một số nước trên thế giới chỉ cần một yếu tố “giá ngạch thấp” là đủ để
áp dụng như: Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, hoặc chỉ cần yếu tố là “tranh chấp có
chứng cứ rõ ràng hoặc đương sự thừa nhận nghĩa vụ” như: Nga, Đức, Nhật Bản, là
có thể áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn để giải quyết.19
1.1.3 Ý nghĩa thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
* Đối với đương sự
Thứ nhất, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn mang lại thuận lợi cho đương sự trong việc tiếp cận công lý
Khi áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn để giải các quyết vụ án dân sự, đương sự không phải thực hiện đầy đủ các bước tố tụng như thủ tục tố tụng dân sự thông thường mà chỉ cần thực hiện một số bước nhất định theo quy định của pháp luật Như vậy, các vụ án sẽ được giải quyết nhanh hơn, bảo vệ kịp thời được quyền lợi của đương sự từ đó tạo được lòng tin của người dân vào hoạt động của các cơ quan Nhà nước nói chung và Tòa án nói riêng và đặc biệt khi việc khởi kiện của người dân được
19 Xem thêm: Đặng Thanh Hoa (2016), Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản
Hồng Đức, tr.57, 61
Trang 15thuận lợi thì khi đó họ sẽ chọn phương thức giải quyết tranh chấp là khởi kiện tại Tòa
Thứ ba, áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn giúp tiết kiệm thời gian đáng kể cho các đương sự
Thời gian giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn được rút ngắn hơn nhiều so với thủ tục tố tụng thông thường, giảm số lần triệu tập đương sự, người làm chứng, giảm thời gian thu thập tài liệu chứng cứ, hạn chế số lần đi lại của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án
* Đối với Tòa án
Bên cạnh sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì các tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, lao động ngày càng tăng Do số lượng các vụ án liên quan đến những tranh chấp trên ngày càng nhiều, tạo áp lực lớn về số lượng công việc cho ngành Tòa án Số lượng công việc ngày càng nhiều mà số lượng Thẩm phán vẫn như vậy cho nên đã tạo sự không đồng bộ giữa số lượng Thẩm phán và chất lượng xét xử của Thẩm phán Trong trường hợp này, nếu tăng số lượng Thẩm phán thì đồng nghĩa với việc làm tăng chi phí của Nhà nước Để khắc phục tình trạng này thì những vụ án dân sự nào có
20 Điều 123 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga năm 2003 (2005), Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội
21 Nguyễn Quang Du (2004), Một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong dự thảo bộ luật tố tụng dân sự - Kinh nghiệm
của Cộng hòa Liên bang Đức,Kỷ yếu các tọa đàm tổ chức tại Việt Nam trong khuôn khổ dự án JICA 2000-2003,
Quyển 6, tr.42
Trang 16tính chất đơn giản Tòa án cần phải áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn giải quyết khi
đó sẽ rút ngắn được thời gian giải quyết vụ án, kết quả của vụ án vẫn bảo đảm được sự khách quan, đúng pháp luật, vẫn bảo đảm quyền lợi của các đương sự Ngoài ý nghĩa giải quyết nhanh chóng các tranh chấp, khiếu kiện thì thủ tục tố tụng dân sự rút gọn còn góp phần làm giảm đáng kể số lượng vụ án ngày càng gia tăng trong giai đoạn hiện nay giúp xây dựng nền tư pháp trong sạch và vững mạnh
Về thành phần tham gia giải quyết các vụ án dân sự trong thủ tục tố tụng dân sự rút gọn: Do một Thẩm phán tiến hành Việc quy định như vậy góp phần phát huy trình
độ chuyên môn, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán, từ đó góp phần nâng cao chất lượng công tác xét xử và hiệu quả hoạt động của Tòa án
Về chi phí tố tụng của ngành Tòa án: Chi phí được nhắc đến ở đây là chi phí về tài chính và về nhân lực mà Tòa án dành cho hoạt động tố tụng dân sự Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn giúp giản lược bớt các thủ tục không cần thiết, giảm các phiên họp giải quyết, rút ngắn thời gian tố tụng nên góp phần giảm bớt nguồn tài chính mà Tòa án phải bỏ ra cho việc tổ chức các phiên tòa, phiên họp và những chi phí liên quan khác
* Đối với xã hội
Trong nền kinh tế thị trường quốc tế, các giao dịch về dân sự nói chung và giao dịch kinh doanh thương mại nói riêng ngày càng đa dạng và phong phú nên dễ phát sinh các tranh chấp Những tranh chấp này nếu không được giải quyết nhanh chóng và triệt để thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh tế; nếu giải quyết chậm trễ sẽ gây tác động tiêu cực đến lợi ích của các đương sự Vì thế, áp dụng thủ tục tố tụng dân
sự rút gọn góp phần giải quyết nhanh chóng, đáp ứng kịp thời yêu cầu của đương sự từ
đó tác động tích cực lên đời sống xã hội
1.2 Lịch sử phát triển pháp luật tố tụng dân sự rút gọn
Trong pháp luật tố tụng dân sự ở nước ta từ trước đến nay thì thủ tục rút gọn chưa từng được quy định chính thức trong văn bản pháp luật nào nhưng một số nội dung của thủ tục rút gọn cũng đã được đề cập trong pháp luật Việt Nam ngay từ những năm 1945 – 1946 khi quy định về giải quyết một số vụ án có giá ngạch thấp bởi Tòa án
Trang 17cấp sơ thẩm và không được phép kháng cáo.22 Sự phát triển của các thủ tục mang tính rút gọn trong tố tụng dân sự sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Dựa vào các giai đoạn phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, có thể phân chia sự phát triển của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự thành 04 giai đoạn: Giai đoạn từ năm 1945 – 1989; giai đoạn từ năm 1989 – 2004; giai đoạn từ năm 2005 –
2015 và giai đoạn từ năm 2005 đến nay
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 – 1989
Cuộc Cách mạng tháng tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời và để ổn định tình hình kinh tế - chính trị, củng cố chính quyền, cải thiện đời sống người dân; Đảng và Bác Hồ đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật mới Bắt
đầu là Sắc lệnh 13 ngày 24/1/1946 về “Tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán”
Đây là sắc lệnh quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án, không quy định nhiều về các thủ tục tố tụng Lần đầu tiên, mô hình hệ thống Tòa án theo cấp xét xử được hình thành ở nước ta, gồm ba cấp xét xử: Tòa sơ cấp, Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm
Về thẩm quyền xét xử: Đối với Tòa án sơ cấp, theo Điều 10 Sắc lệnh 13 quy định:
“Mỗi tuần lễ có hai phiên tòa xét xử công khai: một phiên hộ và một phiên hình Tại phiên tòa, Thẩm phán xét xử một mình, lục sự giữ bút ký, lập biên bản án từ” Đối với
Tòa án đệ nhị cấp, khi xét xử về dân sự và thương sự, tại Điều 17 Sắc lệnh 13 quy định
rằng: “Chánh án phải xử một mình” Ở Tòa án thượng thẩm, theo Điều 43 Sắc lệnh 13 quy định: “Về các vấn đề liên can đến thủ tục, tạm tha, đòi bồi thường, việc hộ và
thương mại, ông Chánh án và hai Hội thẩm quyết nghị lấy các Phụ thẩm nhân dân không tham dự” Yếu tố rút gọn ở đây là rút gọn về thành phần xét xử trong hoạt động
tố tụng dân sự
Đến Sắc lệnh số 51 về “Ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công nhân
viên trong các Tòa án” ngày 17/4/1946 quy định thẩm quyền giữa Toà án các cấp căn
cứ theo giá ngạch của vụ kiện và quy định thẩm quyền chung thẩm, sơ thẩm của Tòa
án các cấp
22 Tòa án nhân dân tối cao (2014), Báo cáo về khả năng áp dụng thủ tục đơn giản trong giải quyết một số loại vụ
việc dân sự cụ thể và đề xuất mô hình khả thi cho Tòa án Việt Nam, Tài liệu hội thảo do Tòa án nhân dân tối cao
tổ chức tháng 11 năm 2014 tại Thành phố Hồ Chí Minh, tr.30
Trang 18Căn cứ vào Điều 6 và Điều 11 Sắc lệnh này, quy định về dân sự và thương sự
do Toà án sơ cấp có thẩm quyền xét xử, có thể thấy rõ hai cơ chế xét xử đó là xét xử sơ thẩm và chung thẩm Nói về xét xử chung thẩm thì đây là cơ chế xét xử một lần đối với các việc dân sự hay thương sự, bản án có hiệu lực pháp luật ngay và đương sự không
có quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm Cơ chế xét xử này đều được áp dụng ở cả Toà
án sơ cấp và Toà án đệ nhị cấp, áp dụng cho các vụ án mà đối tượng tranh chấp là những tài sản có giá trị nhỏ (định theo giá ngạch)
Cơ chế xét xử một lần tiếp tục được quy định tại Nghị định số 32 ngày
06/4/1952 của Bộ Tư pháp “Các Toà án cấp huyện có thẩm quyền chung thẩm các việc
kiện dân sự về động sản có giá ngạch không quá 60 kg gạo và các Toà án nhân dân cấp tỉnh xử chung thẩm các việc kiện về bất động sản mà giá ngạch không quá 60 kg gạo…”
Tại Thông tư số 4013 ngày 09/5/1959 của Bộ Tư pháp và Thông tư liên bộ Tư pháp – Toà án nhân dân tối cao số 93 ngày 11/11/1959 cũng quy định các Toà án cấp
huyện “có quyền xét xử chung thẩm các việc kiện dân sự mà giá ngạch không quá 60
đồng, không phân biệt động sản hay bất động sản”
Sau khi ban hành Hiến pháp năm 1959, ngày 17/4/1960 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân, đánh dấu bước ngoặc lớn trong ngành Tư pháp nước ta Theo quy định tại Điều 9 Luật tổ chức Toà án
nhân dân năm 1960: “Tòa án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử” (sơ thẩm và
phúc thẩm), không còn thủ tục chung thẩm như trước đây Theo Điều 12 Luật tổ chức
Toà án nhân dân năm 1960 quy định: “Khi sơ thẩm, Toà án nhân dân gồm một Thẩm
phán và hai Hội thẩm nhân dân; trường hợp xử những vụ án nhỏ, giản đơn và không quan trọng thì Toà án nhân dân có thể xét xử không có Hội thẩm nhân dân” Như vậy,
yếu tố rút gọn trong tố tụng dân sự vẫn được thể hiện rõ thông qua việc tối giản thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm từ một Thẩm phán, hai Hội thẩm xuống còn một Thẩm phán (không còn Hội thẩm) Đây chỉ là rút gọn về thành phần xét xử, chưa rút gọn về trình tự, thủ tục
Ngoài ra, trong giai đoạn này còn quy định Toà án xét xử bút lục ở trình tự phúc
thẩm “Xét xử bút lục là Hội đồng xét xử căn cứ những tài liệu có trong hồ sơ vụ án, mà
Trang 19những tài liệu này đã được Toà án cấp sơ thẩm đánh giá đầy đủ nên phiên toà sơ thẩm không cần triệu tập các đương sự, chỉ cần có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp” Việc xét xử bút lục ở giai đoạn phúc thẩm đối với vụ án dân sự được hướng
dẫn tại Thông tư 132 ngày 28/8/1972 khi đáp ứng các điều kiện nội dung vụ án rõ ràng, chứng cứ đầy đủ, khả năng hoà giải không còn, bản án sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật, hướng xét xử của Toà phúc thẩm cũng là y án sơ thẩm Như vậy, xét xử theo bút lục ở giai đoạn phúc thẩm thời kỳ này đã chứa đựng những yếu tố, nhân tố của thủ tục
tố tụng dân sự rút gọn 23
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta đã bầu ra Quốc hội nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đến ngày 18/12/1980, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới - Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm
1981 Ở Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 vẫn quy định chế độ hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Tuy nhiên, có điểm đáng chú ý là tại khoản 1 Điều 27 Luật này
quy định “Sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân tối cao” được áp dụng cho những vụ án đặc biệt nghiêm trọng Với quy định
như vậy thì đây không còn là thủ tục rút gọn với nghĩa là thủ tục đơn giản, nhanh chóng về thời gian và trình tự thủ tục như ban đầu
Tiếp đến Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1988, các quy định về cấp xét xử và thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao không có thay đổi mới so với Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 Theo khoản 1 Điều 27 Luật sửa
đổi, bổ sung Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1988 quy định: “Sơ thẩm đồng thời
chung thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao”
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1989 – 2004
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá thực hiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa Ngày 29/11/1989, Hội đồng Nhà nước
đã thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1990 Đây là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất từ trước đến nay, tạo ra một hành lang những chuẩn mực nhất định điều chỉnh các quan hệ tố tụng dân
23 Hồ Nguyễn Quân (2017), Một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Nguồn: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2139 (Truy cập ngày 24/5/2018)
Trang 20sự, đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình phát triển của pháp luật tố tụng dân
sự.24 Lần đầu tiên pháp điển hóa các quy định về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự cũng không có quy định về thủ tục xử rút gọn.25 Ngoài Pháp lệnh này còn có hai Pháp lệnh khác là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 Cả hai Pháp lệnh này cũng đều không quy định về thủ tục rút gọn để giải quyết các vụ án về kinh tế, lao động
Theo khoản 2, 3 Điều 23 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1995 có sự khác biệt về thẩm quyền giữa Toà hình sự, Toà dân sự, Toà hành chính với Toà kinh tế, Toà lao động Toà án nhân dân tối cao Toà kinh tế và Toà lao động Toà án nhân dân tối cao không có quy định về thẩm quyền sơ
thẩm đồng thời chung thẩm mà quy định: “Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng”
Ngày 02/04/2002 tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật tổ chức Tòa án nhân dân mới thay thế Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 (đã được thay đổi, bổ sung vào năm 1993 và 1995) có sự đổi mới của mỗi cấp Tòa án, đối với Tòa án nhân dân tối cao thì bãi bỏ quy định về chế độ cử Hội thẩm (ở Điều 3) Như vậy Tòa án nhân dân tối cao không còn thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm các vụ
án nói chung và vụ án dân sự, thương sự nói riêng Một điểm đáng chú ý nữa là thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự đã được quy định trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002
Tại Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khóa VIII, Đảng đã chỉ rõ cần phải: “Nghiên cứu áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử kịp
thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng” Thực hiện nhiệm vụ này, các nhà nghiên cứu lập
pháp đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết để xây dựng thủ tục rút gọn này ở Việt Nam, cụ thể là thủ tục này được xây dựng tại chương XV của Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 gồm 07 điều (từ Điều 234 đến Điều 243) Đến Dự thảo VIII thì phạm
vi áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn bị thu hẹp còn 03 điều (từ Điều 267 đến Điều 269)
24 Hồ Nguyễn Quân (2017), Một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Nguồn: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2139 (Truy cập ngày 24/5/2018)
25 Lê Thu Hà (2015), Bổ sung thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự (Sửa đổi), Tạp chí Nhà nước và Pháp
Trang 21tại chương XV với tên gọi “Thủ tục yêu cầu thanh toán nợ” Tuy nhiên cho tới Dự
thảo X và XI thì thủ tục rút gọn không còn tồn tại nữa Tuy thủ tục rút gọn không được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 nhưng lần đầu tiên trong Bộ luật này phân biệt quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự với thủ tục giải quyết vụ án dân sự Việc dân sự khác với vụ án dân sự, đây không phải là tranh chấp mà là yêu cầu giải quyết quyền và lợi ích trong quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại
và lao động Với bản chất không phải là tranh chấp nên thủ tục giải quyết việc dân sự đơn giản hơn nhanh hơn so với vụ án dân sự
Sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011, có nhiều ý kiến cho rằng thủ tục giải quyết việc dân sự từ Điều 311 đến Điều 341 Bộ luật này chính là thủ tục rút gọn vì thủ tục giải quyết việc dân sự được tiến hành nhanh hơn
và đơn giản hơn giống đặc điểm của thủ tục rút gọn từng được quy định trong giai đoạn trước Tuy nhiên, bản chất của thủ tục giải quyết việc dân sự chỉ áp dụng đối với yêu cầu công nhận các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động theo thỏa thuận của các đương sự 26
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2005 – 2015
Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 trong đó quy định: “Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn
đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”
Trong văn bản pháp lý, thủ tục đơn giản lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 về việc giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với các cá nhân, tổ chức kinh doanh Mặc dù thủ tục giản lược đã được đề cập trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 nhưng Luật không quy định khái niệm của thủ tục đơn giản mà chỉ nêu ra điều kiện để áp dụng thủ tục đơn giản trong giải quyết các
vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 vẫn chưa quy định Tòa án được xét xử theo thủ tục đặc biệt này
26 Hoàng Thị Thu Vân (2017), Xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, tr.36
Trang 221.2.4 Giai đoạn từ 2015 đến nay
Ngày 25/11/2015, tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được bố cục thành 10 phần, 42 chương, 517 điều, trong đó giữ nguyên 63 điều; sửa đổi, bổ sung 350 điều; bổ sung mới 104 điều; bãi bỏ 07 điều Đặc biệt hơn,
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung thủ tục rút gọn vào bộ luật, được quy định tại Phần thứ tư, gồm 2 chương 9 điều, từ Điều 316 đến Điều 324
1.3 Kinh nghiệm lập pháp quốc tế về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
1.3.1 Pháp luật Pháp
Trong liên minh Châu Âu, hệ thống pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp được coi là một điển hình mẫu mực Trên cơ sở sự kết hợp hài hòa giữa các nguyên tắc truyền thống, sự mềm dẻo linh hoạt trong việc xây dụng thủ tục giải quyết tranh chấp, bên cạnh các thủ tục thông thường, các nhà lập pháp của Pháp đã xây dựng được những thủ tục xét xử nhanh áp dụng đối với những tranh chấp mang tính đặc thù riêng
Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm 1807 đã đáp ứng được đòi hỏi cơ bản của thực tiễn giải quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm
1807, thủ tục xét xử nhanh được quy định để áp dụng giải quyết những việc mang tính khẩn cấp và những loại tranh chấp đơn giản.27
Đến Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm 1998, quy định về việc áp dụng thủ tục rút gọn trong: Giải quyết các tranh chấp có giá ngạch thấp, thủ tục ra lệnh thanh toán
và thủ tục lệnh buộc làm một công việc
Tranh chấp có giá ngạch thấp
Về phạm vi áp dụng: Tại Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp có thủ tục xét xử rút gọn để áp dụng giải quyết đối với các vụ án có giá trị tranh chấp không vượt quá 4.000 EUR Theo thủ tục này, người tham gia giải quyết các vụ án không phải là Thẩm phán chuyên trách mà là các Thẩm phán được tuyển chọn từ những người có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, làm việc tại Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp
27 Trần Anh Tuấn (2004), Thủ tục xét xử nhanh trong Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp và yêu cầu xây dựng thủ tục
Trang 23Những Thẩm phán này không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 07 năm và không được tái nhiệm.28
Về thủ tục áp dụng: Các bên phải cung cấp đầy đủ thông tin về vụ tranh chấp để Thẩm phán xem xét, sau đó Thẩm phán sẽ triệu tập hai bên đến một phiên hòa giải Nếu các bên không hòa giải được, Thẩm phán sẽ đưa ra phán quyết trên cơ sở hồ sơ và chứng cứ các bên cung cấp và chỉ triệu tập các bên đến để nghe phán quyết.29
Thủ tục ra lệnh thanh toán
Về phạm vi áp dụng: Thủ tục ra lệnh thanh toán là thủ tục giản đơn được thực hiện bởi Thẩm phán Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp hoặc Chánh án Tòa thương mại Chủ
nợ có thể xin thu hồi nợ theo thủ tục này trong các trường hợp sau đây: (1) Khoản nợ
có nguồn gốc từ một hợp đồng hoặc từ một nghĩa vụ theo điều lệ và là một số tiền nhất định; nếu là do hợp đồng thì được xác định theo các điều khoản của hợp đồng, kể cả điều khoản phạt (nếu có); (2) Nợ do cam kết nhận hoặc rút hối phiếu, ký nhận một kỳ phiếu, chuyển nhượng hoặc bảo lãnh các loại tín phiếu hoặc nhận chuyển nhượng một khoản nợ.30
Về thủ tục áp dụng: Chủ nợ hoặc người được ủy quyền phải nộp đơn yêu cầu kèm theo tài liệu chứng minh đến phòng thư ký lục sự Nếu Thẩm phán bác đơn, chủ
nợ có thể yêu cầu vụ việc được chuyển ngay đến Tòa án mà mình cho là có thẩm quyền giải quyết theo Điều 1048 Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm 1998 Khi bị bác đơn, chủ
nợ không được kháng cáo quyết định nhưng vẫn được quyền khởi kiện theo thủ tục thông thường Nếu Thẩm phán chỉ chấp nhận một phần yêu cầu thì chủ nợ cũng không
có quyền kháng cáo quyết định nhưng có quyền không tống đạt quyết định của Tòa án
và tiến hành khởi kiện theo thủ tục thông thường Lệnh trả nợ sẽ mất hiệu lực nếu không được tống đạt trong thời hạn 06 tháng.31 Sau khi nhận được lệnh của Thẩm phán, người mắc nợ có thể kháng cáo theo Điều 1412 Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm
1998
28 Trương Hòa Bình (2014), Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập Tòa giản lược trong hệ
thống Tòa án nhân dân, Tạp chí Tòa án nhân dân số 04/2014, tr.3
29 Đặng Thanh Hoa (2016), Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Hồng Đức,
Hà Nội, tr.64
30 Điều 1405, 1406 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
31 Điều 1407, 1409, 1411 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Trang 24Thủ tục buộc làm một công việc
Về phạm vi áp dụng: Trong trường hợp giá trị trái vụ không vượt quá phạm vi thẩm quyền Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp, đương sự có thể làm đơn đề nghị Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp cho thanh toán bằng tiền vật trái vụ phát sinh từ hợp đồng giữa những người không phải là thương nhân Nguyên đơn có thể đưa đơn đến Tòa sơ thẩm nơi cư trú của bị đơn hoặc đến Tòa sơ thẩm nơi thực hiện trái vụ.32
Về thủ tục áp dụng: Nguyên đơn phải nộp đơn tại Phòng lục sự của Tòa án có thẩm quyền Nếu thấy đơn có căn cứ, Thẩm phán sẽ ra quyết định bắt buộc người có nghĩ vụ thực hiện trái vụ, quyết định này có hiệu lực thi hành ngay không được phản kháng Trong trường hợp Thẩm phán bác đơn, nguyên đơn không được phản kháng, nhưng có quyền khởi kiện theo thủ tục thông thường.33
1.3.2 Pháp luật Liên bang Nga
Ở Nga, Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga năm 2003 được Quốc hội (Duma) thông qua ngày 23/10/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm 2003 Bộ luật này có kết cấu
7 phần, 47 chương và 446 điều, trong đó Mục I phần thứ hai quy định vể thủ tục rút gọn, là điểm mới của thủ tục tố tụng dân sự Liên bang Nga
Tại Mục I Phần thứ hai của Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga chỉ quy định một chương về Lệnh của Tòa án Theo Điều 121 Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga năm 2003, Lệnh của Tòa án – quyết định của Toà án do một Thẩm phán ban hành dựa trên yêu cầu đòi nợ hoặc đòi lại tài sản theo những căn cứ tại Điều 122 Bộ luật này:
- Yêu cầu căn cứ vào giao dịch đã được công chứng;
- Yêu cầu căn cứ vào giao dịch được thực hiện dưới hình thức văn bản viết không cần công chứng, chứng thực;
- Yêu cầu căn cứ vào đơn bác lại kỳ phiếu về việc không trả tiền, không chấp nhận và chấp nhận không định ngày tháng;
32 Điều 1425-1, 1425-2 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
33 Điều 1425-3, 1425-4, 1425-9 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Trang 25- Yêu cầu đòi tiền cấp dưỡng cho trẻ chưa thành niên không liên quan đến việc xác định cha, mẹ hoặc không liên quan đến việc phải triệu tập thêm những người khác;
- Yêu cầu công dân nộp khoản thuế bị thất thu hoặc nộp những khoản tiền bắt buộc khác;
- Yêu cầu đòi khoản tiền lương đã được chấm công nhưng chưa được trả cho người lao động;
- Yêu cầu của các cơ quan công an, cơ quan thuế, cơ quan thừa phát lại đòi hoàn trả chi phí cho việc tìm kiếm bị đơn, người có nghĩa vụ và tài sản của người đó hoặc chi phí cho việc tìm kiếm trẻ em bị người có nghĩa vụ đem đi mất, hoặc chi phí liên quan đến việc bảo quản tài sản của người có nghĩa vụ bị thu giữ và bảo quản tài sản của người có nghĩa vụ khi bị buộc chuyển đi nơi ở khác
Về thủ tục Lệnh của Tòa án: Theo Điều 124 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga năm 2003, người yêu cầu gửi văn bản yêu cầu có hình thức và nội dung được quy định cụ thể tại Điều này Trường hợp đơn yêu cầu hợp lệ, Lệnh thanh toán sẽ được ban hành trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mà không cần phải mở phiên toà xét xử và không phải triệu tập các bên để nghe lời giải thích của họ Sau khi
ra lệnh, Thẩm phán gửi bản sao lệnh của Toà án cho người có nghĩa vụ Người có nghĩa vụ có quyền phản đối trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận bản sao Thẩm phán huỷ bỏ lệnh của Toà án nếu người có nghĩa vụ phản đối trong thời hạn pháp luật quy định Trong trường hợp hết thời hạn pháp luật quy định, nếu người có nghĩa vụ không phản đối, Toà án chuyển cho người yêu cầu bản thứ hai lệnh của Toà án để đưa
ra thi hành.34
1.3.3 Pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Theo quy định tại Điều 141 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 2002, việc xác định vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn căn cứ vào ba tiêu chí sau: (i) Tranh chấp giữa các đương sự có sự thật rõ ràng mà hai bên đương sự cơ bản nhất trí, chứng cứ đưa ra rõ ràng Tòa án không cần phải tiến hành công việc điều tra, thu thập chứng cứ mà vẫn có thể làm rõ được sự thật, đúng sai của vụ án; (ii) Quan
hệ pháp luật về tranh chấp giữa các bên đã rõ về việc bên nào được hưởng quyền lợi,
34 Điều 126, 128, 129, 130 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga 2003 (2005), Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội
Trang 26bên nào phải gánh vác nghĩa vụ Đồng thời quan hệ pháp luật về việc giải quyết tranh chấp đó cũng đã được quy định tương đối rõ ràng; (iii) Tranh chấp mà hai bên không
có bất đồng lớn về đúng sai, trách nhiệm của các bên trong vụ án và các khoản chi phí
tố tụng
Theo Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm
2002, đối với những vụ kiện đơn giản Tòa án có thể giải quyết ngay hoặc quyết định vào một ngày khác nhưng thời hạn giải quyết theo thủ tục rút gọn không quá 03 tháng
Ngoài ra, theo Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 2002 quy định: Thủ tục yêu cầu thanh toán nợ được áp dụng khi chủ nợ yêu cầu người mắc nợ thanh toán tiền hoặc một chứng khoán có thể chuyển nhượng, theo đó chủ nợ có thể nộp đơn lên Tòa án có thẩm quyền yêu cầu một lệnh trả nợ, nếu đáp ứng được hai yêu cầu sau: (i) Chủ nợ và người mắc nợ không liên quan đến nghĩa vụ tranh chấp khác; (ii) Lệnh đòi nợ có thể tống đạt được đến người mắc nợ Khi làm đơn, chủ
nợ phải ghi rõ số tiền hoặc số lượng chứng khoán có thể chuyển nhượng được yêu cầu
và phải dựa trên bằng chứng, tài liệu thực tế Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận đơn của chủ nợ, Tòa án sẽ ra thông báo thụ lý Sau khi thụ lý, Tòa án sẽ kiểm tra tài liệu, chứng cứ do chủ nợ cung cấp; trường hợp nếu quan hệ giữa quyền của chủ nợ và con nợ là hợp pháp thì Tòa án sẽ ra quyết định yêu cầu con nợ thanh toán nợ trong vòng 15 ngày kể từ ngày thụ lý đơn khởi kiện; ngược lại nếu không có cơ sở trên thì Tòa án sẽ ra lệnh bác bỏ đơn khởi kiện Trong vòng 15 ngày kể từ ngàynhận được lệnh buộc thanh toán, con nợ phải có nghĩa vụ thanh toán hết nợ hoặc có thể phản đối yêu cầu trên bằng cách gửi văn bản đến Tòa án.35
Trường hợp không thực hiện được lệnh buộc thanh toán hoặc có yêu cầu phản đối của con nợ thì Tòa án sẽ ra quyết định kết thúc vụ án theo thủ tục rút gọn và chấm dứt hiệu lực thi hành của lệnh yêu cầu buộc thanh toán Chủ nợ có thể khởi kiện lại theo thủ tục tố tụng thông thường.36
35 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (2002), Bản dịch tiếng Việt, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội
36 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (2002), Bản dịch tiếng Việt, Nhà xuất bản Tư
Trang 27Điểm đặc biệt của thủ tục này trong tố tụng dân sự của Trung Quốc là có thể thực hiện việc khởi kiện bằng miệng Hai bên đương sự đồng thời đến Tòa án để đề nghị giải quyết tranh chấp
1.3.4 Pháp luật Nhật Bản
Pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản áp dụng thủ tục rút gọn trong việc giải quyết các tranh chấp có giá ngạch thấp, thủ tục yêu cầu thanh toán
Tranh chấp có giá ngạch thấp
Về phạm vi áp dụng: Nhật Bản quy định các vụ kiện có giá trị dưới 900.000 đồng yên Nhật (JPY) được giải quyết theo thủ tục rút gọn Ngoài ra, Nhật Bản còn quy định những tranh chấp có giá ngạch từ 300.000 JPY trở xuống được giải quyết theo thủ tục còn đơn giản hơn nữa 37
Về thủ tục áp dụng: Trình tự, thủ tục giải quyết (thủ tục triệu tập, chứng cứ, biên bản) cũng được rút gọn nhiều hơn so với thủ tục thông thường Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, việc tranh luận sẽ kết thúc vào ngày đầu tiên của phiên tòa Bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra sau khi kết thúc việc tranh luận, phán quyết không bị kháng cáo lên Tòa phúc thẩm
Thủ tục yêu cầu thanh toán
Về phạm vi áp dụng: Theo Điều 382 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản, yêu cầu thanh toán được áp dụng đối với các trường hợp liên quan đến nghĩa vụ thanh toán bằng tiền, bằng vật thay thế hoặc một số lượng nhất định chứng khoán có thể chuyển nhượng.38
Về trình tự, thủ tục: Khi nhận được yêu cầu của chủ nợ về thanh toán tiền và yêu cầu này được thừa nhận là có căn cứ thì Thư ký Tòa giản lược sẽ gửi văn bản nhắc nhở thanh toán cho con nợ Sau khi nhận được văn bản nhắc nhở, nếu trong vòng 2 tuần con nợ không có khiếu nại thì trong vòng 30 ngày sau đó chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án ra tuyên bố tạm thi hành đối với nhắc nhở thanh toán Nếu trong vòng 2 tuần, con nợ không khiếu nại đối với tuyên bố tạm thi hành này thì văn bản nhắc nhở thanh
37 Hiroshi Oda, (2009), Janpanese Law, Third Edition, Oxford University Press, pp.411, 412
38 Đặng Thanh Hoa (2016), Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Hồng Đức,
Hà Nội, tr.60
Trang 28toán sẽ trở thành giấy xác nhận nợ và chủ nợ có thể căn cứ vào đó để yêu cầu cưỡng chế thi hành Thủ tục này không hạn chế số tiền yêu cầu Trong trường hợp con nợ có khiếu nại đối với tuyên bố tạm thi hành thì tuyên bố này không còn hiệu lực thi hành
và được chuyển sang thủ tục thông thường để giải quyết.39
Theo Phạm Bá Sơn41 ở Hoa Kỳ, ngoài hình thức xét xử vụ kiện nhỏ được áp dụng thủ tục rút gọn thì còn hình thức xét xử khiếm diện và phán quyết rút gọn:
- Xét xử khiếm diện: Xét xử khiếm diện là một hình thức xét xử được áp dụng khi bị đơn không có phản hồi lại đối với thông báo về tranh tụng hoặc tham gia tranh tụng đúng theo thời gian Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Hoa
Kỳ, một phán quyết khiếm diện sẽ được đưa ra bởi Thư ký tòa nếu nguyên đơn kiện đòi một khoản tiền nhất định hoặc một khoản có thể chưa tính toán được nếu bị đơn không có mặt và không phải là người chưa thành niên hoặc không có năng lực pháp lý
- Phán quyết rút gọn: Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Hoa
Kỳ, một bên đương sự có thể yêu cầu Tòa án đưa ra phán quyết rút gọn đối với tranh chấp hoặc lời bào chữa hoặc một phần của tranh chấp và Tòa sẽ đưa ra phán quyết rút gọn nếu bên đưa ra yêu cầu có thể đưa ra bằng chứng chứng minh không tồn tại một tranh chấp thật sự liên quan đến sự kiện quan trọng và bên yêu cầu xứng đáng được hưởng phán quyết đó dựa trên cơ sở pháp luật
39 Ngô Cường (2014), Mô hình Tòa án đơn giản ở Nhật Bản, Tạp chí Tòa án nhân dân số 16/2014, tr.43
40 Đặng Thanh Hoa (2015), Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong pháp luật tố tụng
dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ, tr.45
41 Phạm Bá Sơn (2014), Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh, tr.36, 37
Trang 29Thứ hai, về đặc điểm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn: Là thủ tục được rút ngắn về thời gian và chi phí giải quyết vụ án; các bước tiến hành tố tụng và thành phần tham gia giải quyết vụ án Song, không phải vụ án nào cũng được áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn để giải quyết mà chỉ áp dụng đối với một số loại vụ án nhất định, thỏa các điều kiện luật định
Thứ ba, ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn: Giúp các đương
sự bảo vệ kịp thời và nhanh chóng quyền và lợi ích hợp pháp của mình; giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho các đương sự và Nhà nước Ngoài ra, khi áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn còn giúp cho ngành Tòa án giảm được tình trạng án tồn đọng, kéo dài
Ở Việt Nam, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn từng được quy định từ năm 1946 Tuy nhiên, tại thời điểm đó hình thức tố tụng rút gọn này hạn chế ở chỗ chỉ có một hình thức duy nhất là xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm và chỉ được áp dụng đối với tranh chấp dân sự có giá ngạch thấp
Theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tiêu chí áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn, các nước quy định chỉ cần đáp ứng được một trong các tiêu chí sau đây: (1) Giá ngạch thấp; (2) Là những tranh chấp đơn giản, có chứng cứ rõ ràng; (3) Đương sự thừa nhận nghĩa vụ
Từ những kết luận của Chương 1, trong Chương 2 tiếp theo, người viết sẽ trình bày các quy định của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 và thực tiễn giải quyết các vụ án bằng thủ tục này từ đó người viết trình bày các kiến nghị của mình góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn