1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

69 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Cho đến thời điểm này đã có một số công trình, bài báo nghiên cứu về HĐTD cũng như các biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng dưới các góc độ pháp lý khác nhau, t

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô khoa Luật trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn tận tâm giúp đỡ trong suốt quá trình em học tập tại trường Và em cũng vô cùng biết ơn sự giúp đỡ thầm lặng của các anh, chị Thư ký khoa đã luôn là cầu nối giữa sinh viên và khoa thêm thân thiết Những kiến thức và tình cảm em được học ở trường sẽ luôn là những ký ức đẹp và

là hành trang quý giá nhất để em vững bước ở tương lai

Em cũng xin dành lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Giảng viên

hướng dẫn ThS ĐOÀN TRỌNG CHỈNH, trong suốt quá trình hướng dẫn Khóa

luận tốt nghiệp đã tận tình chỉ bảo, chia sẽ kinh nghiệm và giúp đỡ em hoàn thành tốt Khóa luận tốt nghiệp Những kiến thức quý báu này tài sản vô cùng lớn đối với

em trong suốt quá trình học tập trên giảng đường đại học Chân thành cảm ơn thầy

Đạt được những thành quả to lớn này, em cũng xin dành lời cảm ơn đến tất

cả người thân, bạn bè đã luôn là động lực và luôn dành sự tin tưởng ủng hộ đến em

từ trước đến nay

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận, do chưa có những kinh nghiệm thực tiễn nên không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý của Giáo viên hướng dẫn và quý thầy cô để em có thể rút ra được những kinh nghiệm và ngày càng hoàn thiện bản thân hơn

Cuối lời, em xin kính chúc quý Thầy, Cô, gia đình và bạn bè luôn khỏe mạnh và thành công trong công việc

Trân trọng cảm ơn!

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt

nghiệp này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định);

Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác

Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường

và pháp luật

Sinh viên

NGUYỄN THỊ CẨM TIÊN

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH ẢNH

02 Tình hình xử lý nợ của VAMC từ năm 2015 đến 2017

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu khoá luận 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 6

1.1 Sơ lược về Biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 6

1.1.1 Lịch sử hình thành Hợp đồng tín dụng 6

1.1.2 Lịch sử hình thành Biện pháp bảo đảm trong Hợp đồng tín dụng 10

1.2 Pháp luật về biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 14

1.2.1 Pháp luật về Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong dân sự 14

1.2.2 Pháp luật về cầm cố, thế chấp và bảo lãnh trong Hợp đồng tín dụng 25

Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 35

2.1 Thực trạng của Biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 35

2.1.1 Thực trạng áp dụng pháp luật về biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 35

2.1.2 Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng tín dụng về áp dụng biện pháp bảo đảm, xử lý tài sản đảm bảo 41

2.2 Bất cập còn tồn tại trong thực hiện biện pháp bảo đảm và kiến nghị hòa thiện pháp luật về bảo đảm 47

2.2.1 Bất cập tồn tại trong pháp luật về Biện pháp bảo đảm trong Hợp đồng tín dụng 47

2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện 52

KẾT LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

cơ bản còn bị hiểu sai, hiểu nhầm.1

Bên cạnh đó, tính đến thời điểm này các đề tài về HĐTD tuy nhiều nhưng còn bị bó buộc trong một khuôn khổ nhất định không thể phát huy được một cách toàn diện góc nhìn từ khoa học đến thực tiễn của một vấn đề Mặt khác, đề tài này

sẽ là một sự cập nhật những quy định mới của pháp luật, giúp người đọc có thể nhìn nhận một cách rõ ràng nhất

Gần đây, vấn đề tín dụng đen dần trở nên rất phức tạp “Núp bóng” hoạt động cho vay bằng tín chấp Để tiếp cận với nguồn thì vốn vô cùng dễ dàng, nhưng lãi nằm ở mức khá cao dần dần người đi vay không có khả năng trả nợ Khi đó, các

tổ chức tín dụng đen sẽ sử dụng các phương thức đòi tiền vô cùng côn đồ, đăng ảnh người đi vay lên mạng xã hội với nhiều lời lẽ xúc phạm danh dự nhân phẩm Từ đó gây mất trật tự an toàn xã hội và các vấn đề an toàn thông tin của người dân

Ngày nay, cho vay không có bảo đảm chiếm tỷ lệ cao trong hoạt động cho vay nói chung Lợi bất cập hại, rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng rất lớn Muốn cân bằng giữa các hình thức cho vay, tác giả thiết nghĩ rằng chúng ta cần hiểu rõ biện pháp bảo đảm bằng tài sản, từ đó khắc phục hoàn thiện những khó khăn, thúc đẩy việc áp dụng biện pháp này nhiều hơn Vừa không ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể, mà còn hoàn thiện cơ chế cho vay an toàn của các tổ chức tín dụng

1 Phụ lục 01 Phiếu khảo sát

Trang 7

2

Nhận thấy cần thiết phải đem đến một công trình nghiên cứu sâu về HĐTD nói chung và biện pháp bảo đảm trong HĐTD nói riêng để làm rõ cũng như đem đến cho người đọc một góc nhìn toàn diện về vấn đề này

Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về Biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng” làm đề tài nghiên cứu và thực hiện khóa luật tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Cho đến thời điểm này đã có một số công trình, bài báo nghiên cứu về HĐTD cũng như các biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng dưới các góc độ pháp lý khác nhau, tiêu biểu như một số công trình bài báo như:

Đăng ký giao dịch bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử

lý tài sản đảm bảo trong pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, của Phùng Bá Đáng, năm 2011; Pháp luật hiện hành về đăng ký các giao dịch bảo đảm trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, Luận văn thạc sĩ Luật học, của Hoàng Thị Ngọc Phượng, năm 2009 Nên việc tiếp cận đề tài là vô cùng dễ dàng Tuy nhiên, các văn bản quy phạm về tín dụng có số lượng khá lớn và gia tăng theo từng ngày, nên đòi hỏi phải luôn có sự cập nhật một cách liên tục

Bên cạnh đó, hoạt động cho vay tín dụng của các tổ chức tín dụng được còn điều chỉnh bởi các nghị định, thông tư Ngân hàng nhà nước còn đưa ra nhiều văn bản, chỉ thị như: Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 23/02/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2016; Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Chỉ thị số 05/CT-NHNN ngày 15/7/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông 2

Từ thực tế trên có thể cho thấy rằng hiện tại pháp luật Việt Nam có quá nhiều quy định điều chỉnh hoạt động “vay – cho vay” của các tổ chức tín dụng Lợi bất cập hại, điều này khiến nguồn thông tin bị nhiễu, khó có thể có một cái nhìn toàn diện, chính xác nhất Xuất phát từ thực tiễn như vậy, tác giả chọn đề tài “Pháp

2 Tác giả Nguyễn Kiên Bích Tuyến, Tạp chí dân chủ và pháp luật, bài viết “Pháp luật Việt Nam về hoạt động

sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại”, Nguồn: te.aspx?ItemID=187

Trang 8

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-3

luật về Biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng” làm đề tài nghiên cứu và thực hiện khóa luật tốt nghiệp

Với mục tiêu đem lại một góc nhìn khác một góc nhìn tổng quan, khóa luận

“Biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng” giúp người đọc tổng kết lại các kiến thức tổng quan về pháp luật của hợp đồng tín dụng nói chung và các biện pháp trong hợp đồng tín dụng nói riêng và các vấn đề thực tiễn của nó Hy vọng khóa luận này sẽ đem lại nguồn kiến thức bổ ích cho người đọc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

HĐTD hàm chứa nhiều nội dung quan trọng, có ý nghĩa rất lớn trong đời sống Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay và chịu trách nhiệm trước quyết định của mình.3

Trong nội hàm của khóa luận này, tác giả chỉ tập trung làm rõ bảo đảm tiền vay bằng tài sản

Đối với HĐTD, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng có ba biện pháp bảo đảm thường được sử dụng đó là Cầm cố; Thế chấp và Bảo lãnh

Tác giả sẽ phân tích tổng quát về các biện pháp bảo đảm trong HĐTD từ cái nhìn lịch sử đến hiện tại, từ cái nhìn tổng quát đến cái nhìn pháp lý Mặc khác, bài viết dựa vào phương pháp liệt kê, đối chiếu và so sánh sẽ phân tích các biện pháp bảo đảm gồm cầm cố, thế chấp và bảo lãnh

Trong phần chung về biện pháp bảo đảm trong HĐTD, phạm vi nghiên cứu

là tổng hợp các quy định hiện hành của Quốc Hội, Chính Phủ, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam về HĐTD, về hoạt động cho vay của ngân hàng và về đăng ký các biện pháp bảo đảm

Nghiên cứu cụ thể về các biện pháp bảo đảm, tác giả chỉ nghiên cứu trong phạm vi BLDS 2015 Bên cạnh đó sẽ kết hợp với một phần những quy định được Chính phủ cũng như Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành để làm rõ vấn về nghiên cứu

3 Giáo trình Luật Ngân hàng Đại học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.332

Trang 9

4

Đặc biệt có thể kể đến quyết định 217/QĐ-NH1 năm 1996 về Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn Ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Trong nội dung khóa luận, tác giả sẽ sử dụng quyết định trên trong phạm vi nhất định Các quy định trên chỉ có giá trị tham khảo

Bên cạnh đem đến cho bạn đọc những quy định hiện hành của pháp luật về biện pháp bảo đảm trong HĐTD, tác giả sẽ kết hợp phân tích các vấn đề về thực hiện biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng trên thực tiễn Tranh chấp HĐTD

là dạng tranh chấp kinh doanh–thương mại khá phổ biến, chỉ đứng sau tranh chấp

về dân sự và tranh chấp về hôn nhân gia đình Từ những trường hợp tranh chấp cụ thể có liên quan đến biện pháp bảo đảm trong HĐTD có các kiến nghị hoàn thiện pháp luật

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài trong điều kiện pháp luật Việt Nam hiện nay, đó là: Phương pháp kế thừa; Phương pháp đối chiếu với văn bản pháp quy; Phương pháp thống kê, chọn lọc; Phương pháp phân tích, so sánh; và một số phương pháp kết hợp khác

Thông qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam, có sự so sánh, đối chiếu, chọn lọc một cách khoa học khóa luận tốt nghiệp hướng tới mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ các quy định về vấn đề Biện pháp bảo đảm trong HĐTD

Trong chương 1 của khóa luận, tác giả sử dụng phương pháp liệt kê, chọn lọc, so sánh là chủ yếu Phương pháp liệt kê kết hợp chọn lọc giúp đem những quy định của pháp luật vào bài viết một cách có hệ thống

Khác với chương 1, chương 2 được tác giả kết hợp tất cả các phương pháp Với mong muốn đem khóa luận với một bố cục chặt chẽ, nên khi thực hiện chương

2 của khóa luận không thể tránh khỏi việc phải so sánh nội dụng giữa chương 1 và chương 2 sao cho hợp lý, cân đối Bên cạnh đó cần có sự kết hợp với phương pháp đối chiếu, nắm bắt được sự khác biệt trong quy định của pháp luật và việc áp dụng

nó trên thực tế Trên thực tế, có nhiều vấn đề cần đưa ra kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng Tuy vậy, cần phải liệt kê

Trang 10

Một là, nghiên cứu các quy định của pháp luật về các biện pháp bảo đảm

trong HĐTD, trong đó tập trung vào các quy định pháp luật đang hiện hành

Hai là, phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật về các

biện pháp bảo đảm trong HĐTD trong các trường hợp cụ thể

Ba là, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về

các biện pháp bảo đảm trong HĐTD

5 Kết cấu khoá luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bố cục khóa luận tốt nghiệp được chia làm hai chương:

Chương 1: Tổng quan về biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

về biện pháp đảm bảo trong hợp đồng tín dụng

Trang 11

Tại đại hội Đảng lần thứ X (2006) Đảng ta đã nhấn mạnh rằng “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác” Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 01 năm 2007 Từ khi chính thức là thành viên của WTO đến nay, tiến trình chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ngày càng được đẩy mạnh, đạt được nhiều kết quả trên nhiều lĩnh vực

Kinh tế phát triển, hoạt động sản xuất hàng hóa thúc đẩy xã hội và các mối quan hệ gắn liền với nó Quan hệ tín dụng là một trong số đó, cần hiểu rằng, tổ chức tín dụng là phạm trù ra đời gắn liền với sự vận động trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Chính sản xuất hàng hóa đã kéo theo sự vận động nguồn vốn cho việc mở rộng kinh doanh từ đó đặt nền tảng cho hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng, là một kết quả tất yếu của quan hệ hàng hóa tiền tệ Vì thế, cùng với sự phát triển của xã hội, của nền kinh tế đặc biệt là kinh tế thị trường mà theo hoạt động tín dụng ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ Qua hoạt động tín dụng của mình, các tổ chức tín dụng đã phải quyết được một hiện tượng cung – cầu, thừa – thiếu vốn, tiền tệ một cách nhanh chóng, chuyên nghiệp bằng việc huy động nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn dựa trên những nguyên tắc nhất định.5

Bài viết nhiều lần nhắc đến hai cụm từ “Ngân hàng” và cụm từ “tổ chức tín dụng” Tuy là hai khái niệm khác nhau, nhưng ngân hàng và tổ chức tín dụng có tính chất khá tương đồng Luật Các tổ chức tín dụng tại điều 3 khoản 1 và khoản 2

Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Chủ biên: PGS.TS Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm

2005, tập II, phần thứ ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2010, tr 72.

Trang 12

7

“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.”

“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng ”

Như vậy, khi đề cập đến ngân hàng là đề cập đến một trong các hình thức của tổ chức tín dụng mà loại hình này có thể thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng Trong nội hàm bài viết này, tác giả không có sự phân biệt quá rõ ràng giữa hai khái niệm này, mà tạm thời xem hai khái niệm này gần như tương đồng, có thể thay thế cho nhau

Hoạt động tín dụng ngân hàng vốn mang nhiều rủi ro nên cần có một công

cụ ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên như: đối tượng, thời gian, phương thức thực hiện hợp đồng Vì thế hình thức của hợp đồng tín dụng là phải được lập thành văn bản với các điều khoản thể hiện sự thỏa thuận các yếu tố trên Hợp đồng càng rõ ràng thì quyền, lợi ích chính đáng của các bên càng được bảo vệ chặt chẽ

Tín dụng ngân hàng là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp cho các thành phần kinh

tế nói chung và kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng thực hiện quá trình tái sản xuất

mở rộng, ứng dụng khoa học kỹ thuật Ngay từ ban đầu khi xuất hiện, HĐTD đã mang những ý nghĩa đặc biệt như vậy

Khái niệm hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng được thể hiện trong Bộ Luật Dân sự 2015 dưới dạng Hợp đồng vay tài sản Điều 463, BLDS 2015 đã định nghĩa hợp đồng vay tài sản như sau:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Khái niệm này vẫn còn quá chung Tài sản trong khái niệm này là một phạm trù rất rộng nên nhìn chung định nghĩa này chỉ thể hiện được một phần chứ

Trang 13

và các văn bản hướng dẫn của nó đã cụ thể hóa khi đưa ra một khái niệm chung nhất về hoạt động cho vay: Theo quy định tại khoản 16 điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng 2010:6

“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”

Từ định nghĩa khác nhau dẫn đến hậu quả tất yếu là quyền và nghĩa vụ của các bên là khác nhau Cách thức thực hiện hợp đồng cũng khác nhau Nếu như BLDS 2015 là sự thể hiện mạnh mẽ của phương thức bình đẳng thỏa thuận, sự thỏa thuận của các bên là yếu tố chính và quan trọng nhất thì trong Hợp đồng tín dụng, nguồn chính cho các quan hệ hợp đồng tín dụng là Luật Các tổ chức tín dụng và Quy chế cho vay do Ngân hàng nhà nước ban hành

Hiện tại, chưa có một khái niệm nào thực sự phản ảnh chính xác về hợp đồng tín dụng Thực tế cho thấy rằng:

HĐTD về bản chất là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng (bên cho vay) giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định, theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Hay nói đúng hơn:

“Hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng (bên cho

vay) và tổ chức cá nhân có đủ điều kiện do luật định (bên đi vay) Theo đó, các bên thỏa thuận việc tổ chức tín dụng (bên cho vay) sẽ cho bên vay ứng trước một khoản tiền trong một thời gian nhất định và với điều kiện bên vay sẽ hoàn trả cả gốc và lãi Trong HĐTD thường phải có bảo đảm.”

6

Trang 14

9

Đặc điểm của hợp đồng tín dụng

HĐTD mang đặc điểm chung của một hợp đồng với tính chất là một văn bản ghi nhận sự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, HĐTD cũng mang đậm bản sắc riêng Bản sắc riêng ấy thể hiện qua những đặc điểm sau:

Một đặc điểm khá nổi bật và đặc trưng của HĐTD đó là một bên của hợp đồng luôn là tổ chức tín dụng Nếu không có ít nhất một bên là tổ chức tín dụng thì không thể khẳng định được đó có chính xác là HĐTD hay không

Đặc điểm thứ hai là đặc điểm giúp phân biệt với hợp đồng vay tài sản thuộc phạm trù của BLDS 2015 đó là đối tượng của hợp đồng phải là tiền tệ Tiền là một đối tượng cụ thể và duy nhất, còn tài sản là một phạm trù rộng mà muốn hiểu nó cần phải có một công trình nghiên cứu Có thể nói rằng, HĐTD đã cụ thể hóa và đậm chất chuyên ngành hơn rất nhiều so với Hợp đồng vay tài sản.7

Đặc điểm thứ ba là HĐTD luôn có quy định về lãi suất Đây chính là đặc điểm thoạt nhìn khá bình thường nhưng theo tác giả nó thể hiện rõ nhất khái niệm của một HĐTD Như chúng ta đã biết, cho vay là nghiệp vụ quan trọng nhất và cũng là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn nhất cho các tổ chức tín dụng

Mặc khác, cho vay tín dụng là hoạt động trong khoảng thời gian nên không thể tránh khỏi việc đồng tiền bị mất giá so với ban đầu Lãi thể hiện cho khoản lợi

mà tổ chức tín dụng có được, là một bù đắp cho sự trượt giá của đồng tiền Vì vậy

mà lãi chính là một nguyên tắc, một đặc điểm thể hiện rõ ràng nhất bản chất của một hợp đồng tín dụng

Đặc điểm thứ tư của Hợp đồng tín dụng là nó có thời hạn và phải được hoàn trả “Vay và cho vay” là hoạt động tất yếu của bất cứ một ngân hàng nào Tuy nhiên, đây là một quá trình tuy tuần hoàn nhưng không phải là vô hạn, Ngân hàng

sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để sử dụng cho hoạt động cho cá nhân,

tổ chức khác vay Cần phải biết rằng, nguồn vốn nhàn rỗi này được huy động một cách có thời hạn và ngân hàng không biết khi nào khách hàng có nhu cầu lấy lại số tiền ấy dù có thể kiểm soát nhưng không phải là kiểm soát tuyệt đối Từ đó mà, việc

7

Tất cả các giao dịch dù theo hình thức nào, xác lập lợi ích bảo đảm trên động sản và vật gắn liền với bất động sản (§9.109(a) The Uniform Commerce Code (Bộ Luật Thương mại thống nhất ) (UCC) (bản tiếng Anh)).

Trang 15

1.1.2 Lịch sử hình thành Biện pháp bảo đảm trong Hợp đồng tín dụng

Các biện pháp bảo đảm là một chế định đã tồn tại từ thời xa xưa trong lịch

sử nhân loại Cho đến ngày nay, biện pháp bảo đảm đã được quy định trong hầu hết pháp luật của nhiều nước trên thế giới Chế định các biện pháp bảo đảm trong pháp luật Việt Nam kế thừa những giá trị của pháp luật thời kỳ phong kiến và pháp luật của Pháp Vì vậy, chế định về các biện pháp bảo đảm của Việt Nam tương đồng với chế định về các biện pháp bảo đảm trong pháp luật của Pháp và một số nước trong

hệ thống pháp luật dân sự Tuy nhiên, ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của các giao dịch thương mại quốc tế, chế định về các biện pháp bảo đảm đã được quốc tế hóa và chịu không ít bởi những tư tưởng của pháp luật Anh - Mỹ 9

Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng các quan hệ về Dân sự - Kinh doanh thương mại đều là những hình thái đặc biệt, bởi nó đa dạng phong phú Và đối tượng của Hợp đồng tín dụng cũng là đối tượng đặc biệt – Tiền tệ, nên lại càng

có nhiều vấn đề đáng lo ngại hơn Để bảo đảm cho khả năng trả nợ khi đến hạn của khách hàng, ngân hàng cần đưa ra một biện pháp mà theo đó, quyền được thanh toán của ngân hàng được đảm bảo Biện pháp bảo đảm là đối tượng thuộc phạm vi quyền hạn của Ngân hàng và người đi vay có nghĩa vụ thực hiện nếu được yêu cầu

Các biện pháp đó được pháp luật nhìn nhận dưới tên “biện pháp bảo đảm” hay “bảo đảm tiền vay” sau đây sẽ gọi chung là Biện pháp bảo đảm Nếu như năm

1989 bắt đầu sự kiện hệ thống các Ngân hàng của Việt Nam chuyển sang mô hình hai cấp thì các biện pháp bảo đảm cũng được áp dụng kèm theo đó Tuy nhiên, các biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng lần đầu được pháp luật ghi nhận vào

8 Tạp chí tài chính, Trần Thế Hệ, “Pháp luật về biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại”, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu trao-doi/trao-doi-binh-luan/phap-luat-ve-bien-phap-bao- dam-trong-hoat-dong-cho-vay-cua-ngan-hang-thuong-mai-125761.html

9 Tác giả Nguyễn Kiên Bích Tuyến, Tạp chí dân chủ và pháp luật, bài viết “Pháp luật Việt Nam về hoạt động

sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại”, Nguồn:

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=187

Trang 16

11

năm 1997, từ thời điểm đó đến nay biện pháp bảo đảm dần được củng cố và phát triển trở thành một bộ phận không thể thiếu trong các giao dịch về dân sự và đặc biệt là trong hợp đồng tín dụng

Hoàn trả tín dụng là điều kiện quan trọng nhất trong việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của tổ chức tín dụng, tuy nhiên lợi nhuận càng cao lại ẩn chứa rủi ro càng nhiều Đặc trưng của các tổ chức tín dụng là hoạt động “đi vay để cho vay”, trong quá trình vận hành đó, rủi ro tín dụng là khó tránh khỏi

Trong hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng, biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản đóng vai trò rất quan trọng, bởi vì trong cơ chế thị trường sẽ tất yếu xảy

ra hiện tượng có một số doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, ngược lại có một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ.10

Vì vậy trong quá trình hoạt động cụ thể là trong nghiệp vụ cho vay, cấp tín dụng Để hạn chế rủi ro các ngân hàng luôn tạo ra cho mình cơ sở bảo đảm cho việc thu hồi nợ khi khách hàng không tự nguyện trả nợ hoặc không còn khả năng trả nợ khi đến thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán

Khái niệm biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

“Bảo đảm” có nghĩa là cam đoan chịu trách nhiệm về một việc gì đó Theo

từ điển Thuật ngữ Tài chính – Tín dụng của Viện khoa học tài chính “Bảo đảm tín dụng” (Credit warrant) là cơ sở mà dựa vào đó người cho vay có thể thu hồi số tiền

đã cho vay trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ.11

Biện pháp bảo đảm trong Hợp đồng vay là việc bên vay hoặc bên thứ ba, sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo cho khả năng thanh toán khoản vay đối với bên cho vay Biện pháp bảo đảm cần phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hoạt động cho vay luôn đặt trong một hành lang pháp lý vô cùng chặt chẽ nhằm hạn chế đến mức tối đa những rủi ro có thể xảy ra Chẳng hạn, theo pháp luật Nhật Bản thì mọi quan hệ vay nợ chỉ có thể phát sinh trên cơ sở bảo đảm bằng tài sản Hay pháp luật của Cộng Hòa Pháp, ngoài việc quy định các biện pháp bảo đảm trong hợp đồng, nhà lập pháp còn quy định cả

1010 Theo Giáo trình Luật Ngân hàng Đại học Luật Thành Phố Hô Chí Minh, tr.334

11 Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin

Trang 17

“Tổ chức tín dụng phải yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, biện pháp bảo đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng.”

Từ đó, có thể nhận thấy biện pháp bảo đảm mang lại ý nghĩa đặc biệt cho hợp đồng tín dụng

Ý nghĩa của biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng cần có bảo đảm bởi những lý do sau:

Thứ nhất, nhìn từ góc độ của bên cho vay cụ thể là ngân hàng Khi cho vay tín dụng, cần có sự bảo đảm rằng khách hàng có đủ khả năng thanh toán khoản vay của họ khi đến hạn, ngân hàng cần bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình thông qua việc xác lập các giao dịch bảo đảm

Có thể nói giao dịch bảo đảm chỉ là một cam kết cho khả năng thanh toán của khách hàng, đây không phải là biện pháp “trao đổi” tài sản khi mà bên vay không có khả năng thanh toán thì ngân hàng trực tiếp nhận tài sản bảo đảm Quy trình xử lý tài sản đảm bảo thực chất là vô cùng nghiêm ngặt, tuân thủ tuyệt đối quy định của pháp luật Nên thông thường các ngân hàng, chỉ muốn đảm bảo việc khách hàng có thể thanh toán cho khoản vay của họ trong trường hợp thật cần thiết mới xử

lý tài sản đảm bảo Vậy, Biện pháp bảo đảm giúp bảo vệ lợi ích của các bên trong quan hệ tín dụng.13

Thứ hai, nhìn từ góc độ của bên vay Cũng tương tự như bên cho vay, bên vay cũng không mong muốn mất tài sản đảm bảo nên sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh

12 Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Luật ngân hàng, NXB Công An Nhân Dân, tr.89

13 Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Nguyễn Kiên Bích Tuyền, “Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại thông qua hoạt động cấp tín dụng”, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh- te.aspx?ItemID=187

Trang 18

13

toán nợ cho bên cho vay để tránh việc tài sản đem đi bảo đảm bị xử lý theo quy định của pháp luật Ngoài ra, có thể nhận thấy một điều vô cùng rõ ràng là khi có bảo đảm khả năng được tổ chức tín dụng cho vay sẽ cao hơn, tạo được sự tin tưởng thì việc vay vốn sẽ dễ dàng hơn Vậy, Biện pháp bảo đảm giúp nâng cao trách nhiệm của bên đi vay trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ

Có những ý kiến cho rằng, việc bảo đảm không có lợi cho bên vay Ý kiến này hoàn toàn không chính xác Xuất phát từ những quan điểm tác giả vừa nêu trên đây, Biện pháp bảo đảm mang lại lợi ích cho cả hai bên và là một cơ sở pháp lý nhằm thu hồi các khoản nợ cho ngân hàng Việc xử lý tài sản là hậu quả cả hai bên không mong muốn Mặt, khác trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay là bên có rủi ro nhiều hơn nên việc pháp luật Pháp luật đặt ra vấn đề Bảo đảm đã phải cân bằng lợi ích của đôi bên đồng thời cũng cần phải đảm bảo quyền lợi ích chính đáng cho bên cho vay

Thông thường, trong các hợp đồng tín dụng thường có điều khoản về bảo đảm cũng như tài sản bảo đảm Tuy nhiên, các bên có thể thành lập thêm 01 hợp đồng bảo đảm riêng biệt Hợp đồng bảo đảm quy định quyền và nghĩa vụ của các bên, mô tả tài sản đảm bảo, quy định phương thức xử lý tài sản đảm bảo Nếu hợp đồng bảo đảm vô hiệu cũng không ảnh hưởng đến hợp đồng tín dụng, hậu quả pháp

lý nghiêm trọng nhất là món nợ tín dụng trở thành nợ không có bảo đảm.14

14 Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Hồ Quang Huy, “Các biện pháp bảo đảm dân sự trong Bộ Luật dân sự 2005”, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=112

Trang 19

14

1.2 Pháp luật về biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

1.2.1 Pháp luật về Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong dân sự

Thứ nhất, trong một hợp đồng tín dụng có thể phát sinh nhiều nghĩa vụ như

trả nợ gốc, trả lãi và đặc biệt là nghĩa vụ trả gốc từng phần, nghĩa vụ khi đáo hạn hợp đồng tín dụng Trong trường hợp này, nếu chúng ta không xác định phạm vi bảo đảm sẽ rất khó khăn

Thứ hai, có những nghĩa vụ không phát sinh ở một thời điểm nhất định mà

các bên có thể kiểm soát được, nhất là nghĩa vụ trong tương lai Vì thế mà, để đảm bảo cho quyền và lợi ích của tất cả các bên Nếu nằm trong khả năng, các bên nên

có một sự xác định phạm vi bảo đảm ngay từ đầu

Phạm vi bảo đảm là bộ phận quan trọng của biện pháp bảo đảm, đây vẫn là yếu tố còn gây tranh cãi Bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các bên

Phạm vi bảo đảm là những nghĩa vụ mà bên bảo đảm phải dùng tài sản bảo đảm, để thanh toán khi bên bảo đảm không có khả năng thanh toán hoặc khi tài sản đảm bảo bị đem ra xử lý theo quy định của pháp luật Phạm vi bảo đảm bao gồm: một phần hoặc toàn bộ

Đối với nghĩa vụ được bảo đảm toàn bộ Nghĩa vụ đó bao gồm: trả nợ gốc,

trả lãi, trả lãi trên số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm trả, tiền phạt và cả nghĩa vụ bồi thường thiệt hại

Nợ gốc là nghĩa vụ tuyệt đối của bên bảo đảm Các nghĩa vụ về lãi, phạt có thể thương lượng một mức phù hợp hoặc có thể miễn giảm Nhưng thông thường nghĩa vụ đối với nợ gốc là không thể thay đổi

Trang 20

15

Trả lãi là nghĩa vụ được xác định ngay từ ban đầu của các bên và được đề cập trong hợp đồng vay Nghĩa vụ trả lãi tuy do các bên thỏa thuận, nhưng nó vẫn luôn có những hạn chế nhất định Vấn đề về lãi từ năm 2015 đến nay bị hạn chế hơn rất nhiều so với trước đây Tại điều 468, Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định như sau:

“Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay.”

Việc hạn chế lãi suất như trên là biện pháp bảo vệ quyền lợi cho bên vay Bên vay thường chấp nhận trả lãi cao để đáp ứng cho nhu cầu hiện tại của mình Nếu không quy định mức trần sẽ không kiểm soát được mức lãi mà bên cho vay đặt

ra Điều này có thể gây mất cân đối, ổn định cho thị trường tiền tệ Hậu quả khó mà kiểm soát được, bởi, hiệu ứng trên thị trường này là hiệu ứng domino, sự sụp đổ một cách có hệ thống của nó khó mà kiểm soát hay đẩy lùi

Nghĩa vụ trả lãi trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả là một quy định khá mới và đặc thù của các hợp đồng vay Pháp luật ghi nhận một mức cụ thể và có mức chế tài khá cao khi con số này lên đến 150% lãi suất vay theo hợp đồng

Tiền phạt là một yếu tố khá đặc biệt Hợp đồng tín dụng bản thân nó là hợp đồng kinh doanh thương mại, bởi có một chủ thể là Ngân hàng, nhưng hợp đồng tín dụng không hoàn toàn bị điều chỉnh bởi Luật Thương mại 2005 và BLDS 2015 Tiền phạt là một chế tài đặc biệt của hợp đồng kinh doanh thương mại, nó đã được đưa vào hợp đồng vay và có thể sẽ là xu hướng mới cho các hợp đồng tín dụng trong tương lai

Khái niệm tiền phạt được quy tại điều 300 và điều 301 Luật Thương mại

2005 lần lượt như sau:

“Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận

Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.”

Trang 21

16

Phạt vi phạm là một điều khoản trong hợp đồng, có giá trị ràng buộc với các bên Và mức phạt cũng là mức nhất định theo quy định của pháp luật Khác với chế tài bồi thường thiệt hại, thiệt hại ở mức nào thì bên bị thiệt hại sẽ được bồi thường đến mức đó Nhưng phạt vi phạm phải là số phần trăm cụ thể theo quy định của pháp luật và con số đó hiện tại là 8%

Nghĩa vụ Bồi thường thiệt hại, bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.15

Có nghĩa là, nếu hành vi vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên vay gây ra tổn hại với bên cho vay thì bên vay phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây

ra Và đương nhiên việc vi phạm này, phải đáp ứng các tiêu chí để trở thành căn cứ cho việc bồi thường thiệt hại theo quy định tại điều 304 Luật Thương mại 2005

Đối với nghĩa vụ được bảo đảm một phần Nếu trong hợp đồng tín dụng,

không có điều khoản quy định về việc bên bảo đảm chỉ có nghĩa vụ bảo đảm một phần nghĩa vụ thì đương nhiên sẽ được hiểu là nghĩa vụ được bảo đảm toàn bộ

Vì thế mà việc phải được lập thành văn bản, thể hiện nội dung cụ thể trên một điều khoản là yếu tố đặc biệt quan trọng khi xét tính hiệu lực của một thỏa thuận về phạm vi bảo đảm Vì vậy, ngay từ đầu tác giả đã đánh giá tầm quan trọng của việc xác định phạm vi bảo đảm trong bất kỳ một hợp đồng tín dụng nào

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai là việc bên bảo đảm phải thực hiện nghĩa vụ hình thành sau khi giao dịch bảo đảm được ký kết Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai mang lại rất nhiều rủi ro cho bên bảo đảm vì chúng ta không thể lường trước tất cả những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai

Khoản 1 điều 294 BLDS 2015 đã chỉ ra rằng: Khi các bên giao kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai phạm vi bảo đảm phải được thỏa thuận một cách

cụ thể, chi tiết, đặc biệt phải có sự thỏa thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đó

15 Điều 303 Luật Thương mại 2005

Trang 22

Đăng ký tài sản bảo đảm

“Đăng ký biện pháp bảo đảm là việc cơ quan đăng ký ghi vào sổ đăng ký hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu về việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm;” 16

Đối với bản thân hoạt động tín dụng: Đăng ký giao dịch bảo đảm là toàn bộ quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật, phát sinh giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với bên nhận bảo đảm thông qua việc ghi vào sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm Bên đi vay dùng tài sản

để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng tín dụng đối với tổ chức tín dụng là cơ sở xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản

Đối với vụ việc dân sự, đăng ký tài sản đảm bảo không phải là điều kiện tiên quyết để một giao dịch bảo đảm có hiệu lực pháp luật mà nó nằm trong thỏa thuận của các bên.17

Tuy nhiên, đối với hoạt động nghiệp vụ ngân hàng thì đăng ký bảo đảm thực sự cần thiết Bởi tài sản đảm bảo là một điều kiện đủ trong hoạt động cho vay, ngân hàng buộc phải cho vay dựa trên nguyên tắc khách hàng có tài sản bảo đảm hoặc hình thức bảo đảm khác Để chứng minh cho việc bên vay có tài sản bảo đảm, phụ thuộc vào việc đăng ký và đăng ký giao dịch bảo đảm là minh chứng cho tỷ lệ bảo đảm an toàn của một tổ chức tín dụng nói chung và một ngân hàng nói riêng.18

Đăng ký giao dịch bảo đảm là điều kiện để xác định thời điểm có hiệu lực của giao dịch bảo đảm và là thời điểm xác định hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định tại điều 297 BLDS 2015 Thực tiễn cho thấy việc kí kết hợp đồng tín

16

Khoản 1 điều 3 Nghị định 102/2017/NĐ-CP, Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm, 01/09/2017, Chính Phủ

17 Khoản 1 điều 298 Bộ Luật Dân sự 2015

18 Tin nhanh chứng khoán.vn, Đỗ Mến, “Rắc rối phân định tài sản phạm vi bảo đảm”,

https://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/rac-roi-phan-dinh-pham-vi-tai-san-bao-dam-172932.html

Trang 23

Tùy vào loại tài sản được chọn làm tài sản bảo đảm mà sẽ được đăng ký tại những cơ quan khác nhau.21

Một là, đối với biện pháp bảo đảm bằng tàu bay, cơ quan có thẩm quyền là Cục Hàng không Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải

Hai là, đối với biện pháp bảo đảm bằng tàu biển, cơ quan có thẩm quyền là Cục hàng hải Việt Nam hoặc Chi Cục Hàng hải, Cảng vụ hàng hải theo phân cấp của Cục Hàng hải Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải

Ba là, đối với biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cơ quan có thẩm quyền là Chi nhánh văn phòng đăng kí đất đai và Văn phòng đăng kí đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và môi trường

Cuối cùng, đối với các biện pháp bảo đảm bằng động sản và tài sản không thuộc quyền hạn của các cơ qua trên thì thuộc sự quản lý của Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng kí quốc gia giao dịch bảo đảm trực thuộc Bộ Tư pháp

Thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm ở thời điển hiện tại là vô cùng dễ dàng, chúng ta có thể chọn lựa một trong 04 phương thức nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm Gồm: Qua hệ thống đăng ký trực tiếp; Nộp trực tiếp; Qua đường bưu điện; Qua thư điện tử trong trường hợp người được

19 Theo Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.180

20 Khoản 1 điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP, Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm, 01/09/2017, Chính Phủ

21 Điều 9 Nghị định 102/2017/NĐ-CP, Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm, 01/09/2017, Chính Phủ

Trang 24

Ngoài việc xác định thời điểm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì đăng ký giao dịch bảo đảm còn là một căn cứ quan trọng trong việc xác định thứ tự

ưu tiên thanh toán khi tài sản bảo đảm được xử lý

Đăng ký biện pháp bảo đảm đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu khi nhắc đến các biện pháp bảo đảm Bên cạnh đó, thấy được ý nghĩa đặc biệt của việc đăng ký pháp luật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất góp phần bảo vệ quyền, lợi ích cho các bên

Tài sản bảo đảm và Xử lý tài sản bảo đảm

Tài sản là một khái niệm trong BLDS 2015 cũng bởi các quan hệ dân sự thường xoay quanh vấn đề chính đó là tài sản, quyền nhân thân, trong đó quan hệ về tài sản chiếm tỷ lệ áp đảo Tài sản trong BLDS 2015 được chia làm hai loại: bất động sản và động sản Ngoài ra, tùy theo tiêu chí phân chia, tài sản có thể được chia thành nhiều loại khác nhau Nhưng chung quy tài sản phải là vật, tiền, giấy tờ có giá

và quyền tài sản

Tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng phải đáp ứng điều kiện về quyền sở hữu nên nó thường là bất động sản hoặc động sản có đăng ký Đối với các bất động sản khi tham gia vào giao dịch bảo đảm cần có Giấy chứng nhận quyền hợp pháp như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Đối với tài sản đảm bảo là động sản có đăng ký hoặc không có đăng ký thì tùy từng loại có chế định riêng, phương thức mô tả riêng

22 Điều 13 Nghị định 102/2017/NĐ-CP, Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm, 01/09/2017, Chính Phủ

23 Khoản 1 điều 16 Nghị định 102/2017/NĐ-CP, Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm, 01/09/2017, Chính Phủ

Trang 25

Hai là, theo khoản 1 Điều 295 BLDS 2015 tài sản bảo đảm có thể được mô

tả chung, nhưng phải xác định được Đây chính là tiền đề của quy định về mô tả đối với động sản có đăng ký và giấy chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với bất động sản tại quy định của nghị định 102/2017/NĐ-CP và điều 8 Thông tư 08/2018/TT/BTP Trong tất cả các giao dịch bảo đảm, đối tượng là tài sản, việc xác định tài sản bảo đảm là một trong những quy định quan trọng Nếu ngay từ giai đoạn xác định tài sản đảm bảo mà các quy định pháp luật không được áp dụng chặt chẽ sẽ không bảo đảm được quyền lợi cho bên nhận bảo đảm

Ba là, theo khoản 3 Điều 295 BLDS 2015 tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác định giao dịch Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản chưa hình thành hoặc tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch Đối với từng loại tài sản mà có cách xác lập giao dịch bảo đảm riêng

Đối với tài sản hình thành trong tương lai thì khi kê khai, mô tả tài sản có những nội dung có thể lược bỏ Và khi tài sản hình thành trong tương lai trở thành tài sản hiện có thì các bên phải tiến hành đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm đã đăng ký theo quy định tại điều 18 Nghị định 102/2017/NĐ-CP

Bốn là, giá trị tài sản đảm bảo có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm

Tại điều 12 của quyết định 217 có quy định như sau:

Trang 26

21

“Tổ chức tín dụng căn cứ vào giá trị của tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh đã được định giá để xác định số tiền cho vay Số tiền cho vay tối đa bằng 70% giá trị tài sản thế chấp, cầm cố và tài sản bảo lãnh đã được xác định và ghi trên hợp đồng Riêng tài sản dùng để cầm cố thì mức cho vay tối đa có thể bằng 80% giá trị tài sản cầm cố Mức cho vay cụ thể đối với từng loại tài sản do Tổ chức tín dụng hướng dẫn.”

Có rất nhiều cách thức xác định giá trị tài sản bảo đảm Nhưng thông thường, ngân hàng với khách hàng tự xác định giá trị tài sản với nhau thông qua biên bản định giá trên cơ sở thỏa thuận Tuy nhiên, phương thức xác định trên lại bộc lộ những yếu điểm nhất định, những đánh giá trên chỉ dựa trên những hiểu biết

và cách nhìn nhận chủ quan của các bên không thể mang lại kết quả chính xác, khách quan nhất giá trị tài sản bảo đảm

Vì vậy, ngân hàng và khách hàng cần có sự thỏa thuận với nhau để một đơn

vị thứ ba tiến hành thẩm định giá cho tài sản đảm bảo Đó có thể là một đơn vị thẩm định giá độc lập các Đơn vị này có thể là một tổ chức ngoài nhà nước hoặc các đơn

vị nằm trong danh sách đơn vị thẩm định giá của Bộ Tài chính Có như vậy, kết quả thẩm định mới vừa đảm bảo khách quan vừa đảm bảo giá trị đích thực của tài sản bảo đảm

Dù hiện tại không có những quy định cụ thể nhưng trên thực tế, các ngân hàng vẫn đang sử dụng quy định tại quy chế này và chỉ chấp nhận cho vay 70-80% giá trị tài sản đảm bảo, thậm chí là thấp hơn để bảo đảm tốt nhất quyền lợi và khả năng thu hồi nợ của mình

Mặt khác, một tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ Trong giao dịch bảo đảm, một tài sản có thể được dùng để bảo đảm cho một hoặc nhiều nghĩa vụ nhưng phải đáp ứng được điều kiện nó phải có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm Nếu một tài sản được bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ, thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ khác Mỗi lần sử dụng tài sản đó để bảo đảm đều phải lập thành văn bản.24

24

Nguyễn Lợi, “Yêu cầu và tiêu chí đo lường phát triển bền vững ngân hàng thương mại”, Tạp chí Ngân hàng, số 24, tháng 12/2014, tr 38.

Trang 27

22

Về phương thức xử lý tài sản đảm bảo Có 03 phương thức xử lý tài sản bảo đảm gồm: Bán đấu giá tài sản; Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản và Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm Nếu không có thỏa thuận, tài sản bảo đảm sẽ được xử lý theo phương thức bán đấu giá tài sản

Trên thực tế, xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động ngân hàng phụ thuộc lớn vào các thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và theo tác giả có hai nội dung nổi bật:

Một là, đối với tài sản bảo đảm là động sản thì căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng được phép bán đấu giá, thu hồi vốn cho vay

Hai là, đối với tài sản bảo đảm là bất động sản Đây là trường hợp xảy ra nhiều tranh chấp khi xử lý tài sản bảo đảm Nếu bên bảo đảm không thực hiện đúng với hợp đồng thì buộc ngân hàng phải khởi kiện ra tòa án để giải quyết theo thủ tục

nợ nếu không thực hiện ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm Giao tài sản để thực hiện xử lý là một nghĩa vụ trong chế định luật dân sự năm 2015

Hợp đồng tín dụng là hợp đồng có thời hạn, khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ của mình Trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì ngân hàng có căn cứ để

xử lý tài sản đảm bảo

Thực hiện các nghĩa vụ sau khi xử lý được tài sản đảm bảo

Thực hiện xử lý tài sản đảm bảo cần phải xác định thứ tự ưu tiên thanh toán Một tài sản có thể được sử dụng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ Khi tài sản này bị xử lý để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác dù chưa

Trang 28

Thứ tư, trường hợp có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ

ba được ưu tiên thanh toán trước

Thứ năm, trường hợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác lập theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm

Số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo thứ tự

ưu tiên

Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm

Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm

Trang 29

24

Trang 30

Ký quỹ; Bảo lưu quyền sở hữu; Bảo lãnh; Tín chấp và Cầm giữ tài sản.25

Tuy nhiên, trong hợp đồng tín dụng chỉ có ba biện pháp được sử dụng chính

là Cầm cố tài sản, Thế chấp tài sản và Bảo lãnh Hoạt động của ngân hàng nói riêng các tổ chức tín dụng nói chung áp dụng nhiều hơn ba biện pháp bảo đảm cũng bởi hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng là vô cùng đa dạng, dựa theo từng công việc cụ thể ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp bảo đảm riêng cho phù hợp Tuy nhiên đối với nghiệp vụ cho vay tín dụng chỉ có biện pháp cầm cố, thế chấp và bảo lãnh được

áp dụng thường xuyên

Biện pháp bảo đảm bằng cầm cố

Cầm cố theo định nghĩa của điều 2.2 quyết định 217/QĐ-NH1 năm 1996 về Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn Ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 17/08/1996 là:

“Cầm cố tài sản vay vốn Ngân hàng là việc bên vay vốn (bên cầm cố) có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của mình cho bên cho vay vốn (gọi

là bên nhận cầm cố) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm nợ gốc, lãi và tiền phạt lãi quá hạn);”

Có thể thấy, BLDS 2015 có định nghĩa về biện pháp bảo đảm bằng cầm cố khá tương đồng với quyết định năm 1996 Dù khái niệm cầm cố tài sản của BLDS

2015 là quy định dành cho cả quan hệ về Dân sự, nhưng tổng quan thì hai quy định

này cũng được xem là có thể thay thế cho nhau Điều 309 BLDS 2015 định nghĩa:

“Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.”

Cầm cố tài sản là một quy định khá đặc biệt và nó hoàn toàn khác với hai chế định còn lại bởi bản chất của cầm cố tài sản là việc bên cầm cố phải giao tài sản

25 Điều 292 Bộ Luật Dân sự 2015

Trang 31

26

bảo đảm cho bên nhận cầm cố Từ đó dẫn đến quyền và nghĩa vụ của các bên cũng khác rất nhiều so với 02 biện pháp bảo đảm còn lại

Có thể nhận biết sự khác biệt giữa ba biện pháp bảo đảm này bằng yếu tố có

“chuyển giao tài sản” hay không Thế chấp và bảo lãnh là những biện pháp không đặt ra vấn đề chuyển giao tài sản, nhưng cầm cố tài sản nhất định phải xảy ra hành động chuyển giao tài sản

Hiệu lực của cầm cố tài sản Biện pháp bảo đảm bằng cầm cố tài sản có thể được lập thành một hợp đồng riêng biệt Theo đó, hợp đồng bảo đảm bằng biện pháp cầm cố sau đây gọi chung là hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, biện pháp cầm cố có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố Riêng đối với tài sản cầm cố là bất động sản thì hiệu lực đối kháng với người thứ ba được tính từ thời điểm biện pháp bảo đảm được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền

Cầm cố được sử dụng phổ biến đối với các tài sản đảm bảo là động sản, bởi tính chất “động” của nó thích hợp cho việc chuyển giao qua lại giữa các chủ thể một các dễ dàng

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong biện pháp cầm cố tài sản cũng có nhiều yếu tố đặc trưng so với hai biện pháp còn lại:

Căn cứ quy định tại điều 311 BLDS 2015, nghĩa vụ quan trọng nhất của bên

cầm cố đó là “Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố đúng thỏa thuận” Chỉ có

biện pháp bảo đảm bằng cầm cố thì bên bảo đảm mới có nghĩa vụ này Bên cạnh đó, còn có các nghĩa vụ như thông báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nghĩa vụ thanh toán chi phí bảo quản tài sản cầm cố trong một mức hợp lý

Tuy tài sản cầm cố do bên nhận cầm cố chiếm giữ nhưng bên cầm cố vẫn

có những quyền hạn nhất định đối với tài sản của mình với một điều kiện quan trọng là phải có sự đồng ý của bên nhận cầm cố Đó là các quyền sau:

Một là, được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố

Trang 32

27

Hai là, nếu tài sản cầm cố đang được bên nhận cầm cố giữ mà có thiệt hại làm giảm giá trị của tài sản đó thì bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại Thiệt hại đến đâu phải bồi thường đến đó

Ba là, nếu có thỏa thuận việc cho phép bên nhận cầm cố sử dụng tài sản cầm cố dưới các hình thức cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố

và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố Khi bên cầm cố có căn cứ cho rằng việc

sử dụng đó của bên nhận cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị, bên cầm cố có quyền bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng những tài sản này

Khi việc cầm cố tài sản chấm dứt, bên nhận cầm cố có nghĩa vụ chuyển giao tài sản trở lại cho bên cầm cố kể cả những hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản trong quá trình cầm cố cũng phải được giao trả lại cho bên cầm cố Việc trả lại tài sản cầm cố phải bao gồm giấy tờ liên quan của tài sản đó

Biện pháp bảo đảm bằng thế chấp

Trong ba biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng thì thế chấp là biện pháp được thực hiện phổ biến nhất Từ năm 1996, tại quyết định 217/QĐ-NH1 về Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn Ngân hàng

do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành, Pháp luật Việt Nam đã có cái nhìn khá hoàn thiện về thế chấp Cụ thể tại điều 2.1, quy định như sau:

“Thế chấp tài sản vay vốn Ngân hàng là việc bên vay vốn (gọi là bên thế chấp) dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm nợ gốc, lãi và tiền phạt lãi quá hạn) đối với bên cho vay (gọi là bên nhận thế chấp).”

Tuy nhiên, tài sản thế chấp trong quyết định này được chỉ định cụ thể là bất động sản Quy định trên khiến giao dịch bảo đảm bằng thế chấp bị bó buộc trong một khuôn khổ khá hẹp BLDS 2015 lại mang đến một khái niệm và một cách nhìn khá mới về thế chấp, mở rộng phạm vi các tài sản thế chấp

Vì thế mà, hiện tại thế chấp là biện pháp bảo đảm được sử dụng phổ biến nhất bởi những lý do sau đây:

Trang 33

28

“Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).” 26

Điểm đặc biệt, nằm ở yếu tố “chuyển giao tài sản” Dù đang trong thời kỳ thế chấp nhưng bên thế chấp vẫn có thể sử dụng tài sản tạo ra thu nhập, từ đó tăng khả năng thanh toán cho khoản nợ của mình Việc sử dụng tài sản trong thời kỳ thế chấp có những hạn chế nhất định

Bên nhận thế chấp cũng không quan trọng việc mình nắm giữ tài sản thế chấp Bởi, nếu bên nhận thế chấp có giữ được tài sản thế chấp thì tương tự như Cầm

cố, bên nhận thế chấp cũng không được sử dụng tài sản thế chấp trừ việc có thỏa thuận Nên việc có giữ tài sản hay không, không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền của bên nhận cầm cố, thế chấp

Từ việc không đặt ra vấn đề chuyển giao tài sản, BLDS 2015 đã chỉ định người giữ tài sản thế chấp chính là bên thế chấp Bên thế chấp có quyền sử dụng, khai thác tài sản bảo đảm trong phạm vi được cho phép để bảo đảm khả năng thanh toán cho bên nhận thế chấp

Ngoài ra, căn cứ khoản 2 Điều 317 BLDS 2015 thì tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp

Theo đó, tài sản thế chấp cũng có thể được bên thứ ba giữ theo thỏa thuận của cả hai bên, việc thỏa thuận nhằm bảo vệ quyền lợi ích chính đáng cho cả bên thế chấp cũng như bên nhận thế chấp Quy định trên ra đời gặp nhiều ý kiến trái chiều, bởi việc giao tài sản cho bên thứ ba đồng nghĩa với bản chất của thế chấp tài sản không còn

Tương tự như hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng thế chấp cũng có hiệu lực

kể từ thời điểm giao kết và thế chấp tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba

kể từ thời điểm đăng ký Quy định này một lần nữa đã khẳng định được tầm quan trọng của việc đăng ký giao dịch bảo đảm

26 Khoản 1 Điều 317 Bộ Luật Dân sự 2015

Trang 34

29

Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên

Cùng với việc không chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm đồng nghĩa với việc quyền, nghĩa vụ của bên bảo đảm cũng đặc biệt hơn biện pháp cầm cố tài sản Theo tác giả, có những điểm đáng chú ý sau:

Một là, bên thế chấp phải giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp thay vì phải giao tài sản như biện pháp cầm cố

Hai là, bên thế chấp có nghĩa vụ bảo quản giữ gìn tài sản, có nghĩa cụ khắc phục hư hỏng, sửa chữa hoặc thay thế tài sản có giá trị tương đương nếu tài sản thế chấp không đảm bảo được giá trị như ban đầu

Ba là, bên thế chấp có quyền sử dụng tài sản thế chấp cho các hầu hết các giao dịch để khai thác lợi ích của tài sản đó trừ các giao dịch về bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp

Bốn là, đối với tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh Bên mua có quyền bán, trao đổi, thay thế nhưng quyền yêu cầu bên mua thanh toán, số tiền thu được từ việc bán hàng hóa, tài sản được trao đổi hoặc thay thế sẽ phải trở thành tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp

Năm là, đối với việc cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp bên thế chấp phải thông báo cho ngân hàng và thông báo với bên được cho thuê được cho mượn về việc tài sản thế chấp đang được thế chấp tại ngân hàng

Sáu là, nếu có sự đồng ý của ngân hàng nhận bảo đảm bằng thế chấp, bên thế chấp có thể thực hiện tất cả các quyền trên tài sản thế chấp ngoài việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp

Bên cạnh quy định về quyền và nghĩa vụ của bên nhận thế chấp và bên thế chấp, BLDS 2015 còn quy định về quyền và nghĩa vụ của người thứ ba giữ tài sản thế chấp tại điều 324, BLDS 2015

Ngày đăng: 04/03/2021, 20:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư Pháp (2018), Thông tư 08/2018/TT-BTP hướng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp, ban hành ngày 5/10/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 08/2018/TT-BTP hướng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Năm: 2018
2. Chính Phủ (2006), Nghị định 163/2006/NĐ-CP về Giao dịch bảo đảm, ban hành ngày 29/12/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 163/2006/NĐ-CP về Giao dịch bảo đảm
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2006
3. Chính Phủ (2012), Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, ban hành ngày 22/01/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi "Nghị định 163/2006"/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2012
4. Chính Phủ (2017), Nghị định 102/2017/NĐ-CP về Đăng ký biện pháp bảo đảm, ban hành ngày 01/09/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 102/2017/NĐ-CP về Đăng ký biện pháp bảo đảm
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2017
5. Công bố bản án (2018), Bản án số 03/2018/KDTM-ST về tranh chấp hợp đồng tín dụng, Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta191397t1cvn/chi-tiet-ban-an Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 03/2018/KDTM-ST về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tác giả: Công bố bản án
Năm: 2018
6. Công bố bản án (2018), Bản án số 08/2018/KDTM-ST, Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp. Nguồn:https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta219462t1cvn/chi-tiet-ban-an Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 08/2018/KDTM-ST, "Tranh chấp hợp đồng tín "dụng, thế chấp
Tác giả: Công bố bản án
Năm: 2018
7. Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư 36/2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 20/11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 36/2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Năm: 2014
8. Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2018), Chỉ thị 05/CT-NHNN năm 2018 về tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 17/09/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 05/CT-NHNN năm 2018 về tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống "các tổ chức tín dụng" gắn với xử lý nợ xấu do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Năm: 2018
9. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật số 46/2010/QH13 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 46/2010/QH13 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2010
10. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật số 47/2010/QH12 Luật các tổ chức tín dụng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 47/2010/QH12 Luật các tổ chức tín dụng
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2010
11. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật số 45/2013/QH13 Luật đất đai 2013, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 45/2013/QH13 Luật đất đai 2013
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2013
12. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật số 65/2014/QH13 Luật nhà ở 2014 Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 65/2014/QH13 Luật nhà ở 2014
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2014
13. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật số 66/2014/QH13 Luật Kinh doanh bất động sản 2014, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 66/2014/QH13 Luật Kinh doanh bất động sản 2014
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2014
14. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật số 91/2015/QH13 Bộ Luật dân sự 2015, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 91/2015/QH13 Bộ Luật dân sự 2015
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2015
15. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật số 92/2015/QH13 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 92/2015/QH13 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2015
16. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật số 100/2015/QH13 Bộ luật Hình sự 2015, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 100/2015/QH13 Bộ luật Hình sự 2015
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2015
17. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2017), Luật số 17/2017/QH14 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi 2017, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 17/2017/QH14 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi 2017
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2017
18. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2017), Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.Sách, báo, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w