Đây là căn cứ pháp lý cho việc xây dựng một mô hình tố tụng rút gọn trong TTDS ở Việt Nam.Ngoài ra, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã quy định “ Vụ án dân sự về bảo vệ qu
Trang 1RÓT GỌN THEO YÊU CẲU CẢI CÁCH T ư PHÁP
VÀ HỘI K ị u ậ ĩ k i n h t ể QUỐC TÊ E ĩ t N NAY
|r a ự f : TRẠNG VẢ GI Ả ỉ PHẢP
ĩ
HÀ N Ộ I- 20! í
= 0
Trang 2B ộ TU PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ ■ •
BAO CAO KET QUA
TÊN ĐỀ TÀI
GỌN THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY THựC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Hà Nội, ngày thảng năm 20 Hà Nội, ngày thảng năm 20
Trang 3B ộ T ư PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
ĐÈ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC CẤP B ộ
RÚT GỌN THEO YÊU CẦU CẢI CÁOÍI TƯ PHÁP
VÀ HỘI NHẬP KINH TÉ QUỐC TẾ HIỆN NAY
THựC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Anh Tuấn
Thư kí đề tài: TS Nguyễn Thị Thu Hà
-0734?
HÀ NỘI- 2014
Trang 4D A N H S Á C H M I i m ; \ í ; i 'ò i T H ự c 1 I I Í : \• *
1 TS NGUYỄN CÔNG BÌNH Hiệu trưởng Trường Trung
5» TS NGUYỄN TRIÈU DƯƠNG Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 2
6 TS LÊ THU HÀ Văn phòng Ban Chỉ đạo cải
cách tư pháp Trung ương
10 TS BÙI THỊ HUYÈN Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 10
11 LS TRÀN ĐỨC SƠN Công ty Luật Gide Loyrette
Nouel
Chuyên đề 9
12 TS TRÀN PHƯƠNG THẢO Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 3
13 TS TRẦN ANH TUẤN Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 4, 7, 8
114 ThS NGUYỄN SƠN TÙNG Trường Đại học Luật Hà Nội Báo cáo khảo sát
Trang 61.5.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng thủ tục tố tụng 7dân sự rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế
Trang 72.1.3 Mô hình về thủ tục tổ tụng dân sự rút gọn theo pháp luật 34một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.2 Thực trạng tố tụng dân sự và xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút 48 gọn ở Việt Nam
2.2.1 Các quy định có liên quan tới giản lược về thành phần và 49 thủ tục tố tụng dân sự trong lịch sử
Trang 8PHẦN THÚ HAI
CÁC CHUYÊN ĐÈ VÀ BÁO CÁO KHẢO SÁT ĐÈ TÀI
1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục tố tụng dân sự rút
gọn
2 Mối liên hệ giữa việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn với
một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự
3 Sự tương đồng và khác biệt giữa thủ tục giải quyết việc dân sự
và thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
4 Thủ tục tổ tụng dân sự rút gọn theo pháp luật một số nước trên
thế giới và việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt
7 Thực trạng xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam
8 Yêu cầu của cải cách tư pháp, hội nhập kinh tế quốc tế đối với
việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam
9 v ề xác định phạm vi loại việc khi xây dựng thủ tục tố tụng dân
sự rút gọn ở Việt Nam
10 về đề cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán khi xây dựng thủ
tục tố tụng dân sự rút gọn
11 về bảo đảm hiệu quả của hoạt động tố tụng và quyền tiếp cận
công lý của công dân khi xây dựng thủ tục tổ tụng dân sự rút gọn
12 Việc bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tranh tụng của đương sự khi
xây dựng thủ tục tổ tụng dân sự rút gọn
Tran 13C
244
251
270
279
Trang 913 về cơ chế kết họp hoà giải khi giải quyết vụ việc theo thủ tục tố 294tụng dân sự rút gọn
Trang 10PHẦN THỨ NHẤT
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Trang 11BÁO CÁO TỎNG HỢP KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐÈ TÀI CÁP B ộ VÁN ĐÈ XÂY DựNG THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN s ự RÚT GỌN • • • « •
THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH T ư PHÁP VÀ HỘI NHẬP KINH TỂ QUỐC TÉ HIỆN NAY - THựC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
1 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) Việt Nam hiện hành chỉ quy định về thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự mà không quy định
về thủ tục giản đơn để giải quyết các tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng, các đương sự thừa nhận nghĩa vụ hoặc những tranh chấp có giá ngạch thấp Trong khi đó, pháp luật TTDS của nhiều nước trên thế giới đều thiết lập bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường các thủ tục TTDS đặc biệt, trong đó có thủ tục rút gọn Đây là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết các loại việc đáp ứng những điều kiện nhất định với một trình tự đơn giản, ngắn gọn Thủ tục này là một trong những công cụ hữu hiệu của người dân cũng như Tòa án trong việc thực hiện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức một cách nhanh chóng, linh hoạt và hiệu quả
Việc nghiên cứu cho thấy, xu hướng cải cách thủ tục tố tụng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay là pháp luật TTDS của các nước đang ngày càng xích lại gàn nhau hơn, loại bỏ dần những yếu tố không hợp lý và chấp nhận những ưu điểm của hệ thống pháp luật khác Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, các tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự, thương mại, lao động với nước ngoài phát sinh ngày một nhiều, đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia tương thích với pháp luật của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước mà Việt Nam có ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp hoặc tham gia Điều ước quốc tế, trong đó cỏ thủ tục tố tụng tư pháp Xét dưới góc độ kinh tế học thì các doanh nghiệp nước ngoài khi xúc tiến đầu tư bao giờ cũng quan tâm tới tính hiệu quả và nhanh chóng, sự bảo đảm an toàn pháp lý của hệ thống tư pháp và thủ tục TTDS trong trường hợp giữa các đổi tác
1
Trang 12có tanh chấp về quyền lợi Do vậy, để tạo điều kiện khuyến khích, thu hút đầu
tư rước ngoài thì việc nghiên cứu xây dựng thủ tục TTDS rút gọn là cần thiết nhàn đáp ứng yêu cầu về tính nhanh chóng, đơn giản và hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp
Bên cạnh đó, thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự ở Việt Nam cho thấy
đã xiất hiện nhiều vụ việc đơn giản, có chứng cứ rõ ràng, giá trị tranh chấp không lớn nhưng các Tòa án vẫn phải áp dụng thủ tục thông thường để giải quyếi gây kéo dài thời gian và tổn phí cho cả Nhà nước và đương sự Nhiều vụ việc :uy đơn giản nhưng người có nghĩa vụ vẫn lạm dụng quyền kháng cáo nhằn trì hoãn việc thi hành nghĩa vụ của mình và trong nhiều trường hợp chi phí cho hoạt động tố tụng còn lớn hơn nhiều so với lợi ích cần được bảo vệ Chẳng
hạn, ‘ở các đô thị lớn như TP.HCM, trung bình một thẩm phản một thảng phải giải cưyết từ 10 vụ việc trở lên Trong sổ đổ, có không ỉt trường hợp tranh chấp đơn ậản, các bên đều thừa nhận và mong tòa giải quyết n h a n h đ ư ơ n g sự chỉ chờ nột phán quyết của Tòa án để thực hiện việc thi hành án bảo vệ quyền lợi hợp ìháp cho họ Nhưng tòa không thể đưa ra xét xử ngay vì một trong các nguỳ.n nhân là thẩm phản sợ nếu không tiến hành đầy đủ các bước lấy lời khai, hòa ỊÌải như luật định, dù không cần thiết thì cũng cỏ thể bị hủy, sửa án
Nhậi thức được những hữu ích của thủ tục rút gọn cũng như tổng kết thực tiễn của loạt động tố tụng tư pháp tại Tòa án, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/62005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ
rõ qian điểm về việc xây dựng thủ tục rút gọn Theo đó, cần phải " Xây dựng
cơ ciế xét xử theo thủ tục rút gọn đổi với những vụ án cỏ đủ một sổ điều kiện nhấiđịnh”.
Để cụ thể hóa chủ trương về việc xây dựng thủ tục rút gọn của Bộ Chính trị mư nêu trên, Nghị quyết sổ 428/NQ-UBTVQH13 ngày 29/12/2011 của ủ y ban ĩhường vụ Quốc hội về triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chiơng trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII đã đưa Phá) lệnh Thủ tục rút gọn trong TTDS vào chương trình xây dựng Pháp lệnh và
(1) hb://duthaoonlùie.quochoi.vn/DuThao/Lists/TT TINLAPPHAP Án dân sự: Cổ nên xứ rứt gọn?
2
Trang 13giao cho Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan trình dự thảo Đây là căn cứ pháp lý cho việc xây dựng một mô hình tố tụng rút gọn trong TTDS ở Việt Nam.
Ngoài ra, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã quy định
“ Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thù tục giản đơn quy định trong pháp luật TTDS ” nhưng cho đến nay thủ tục này vẫn chưa được xây dựng trong pháp luật TTDS v ấ n đề đặt ra là “thủ tục giản đom”
trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có đồng nghĩa với thủ tục TTDS rút gọn hay không Đây cũng là vấn đề càn phải có những nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ bản chất và nội hàm của “thủ tục rút gọn” cần phải được xây dựng theo Nghị quyết 48 và 49 - NQ/TW 2005 của Bộ Chính trị
Xét dưới góc độ Hiến pháp thì năm 2013, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua và ban hành Hiến pháp năm 2013, trong đó có những sửa đổi,
bổ sung về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án trong tố tụng cho phù
hợp với thủ tục tổ tụng rút gọn Theo đó, “ Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cổ Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn Tòa án nhủn dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét x ử theo thủ tục rút gọn (Điều 103) Do vậy, Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) và các văn
bảr hướng dẫn với tư cách là công cụ hữu hiệu bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức cần có những sửa đổi, bỗ sung cho phù hợp với các nguyên tắc trong Hiển pháp năm 2013 nhằm làm cơ sở quy định về thủ tục rút gọn trong TTDS
Với những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “ vẩn đề xây dựng thủ tục TTDS rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kỉnh tế quốc tế hiện nay - Thực trạng và giải pháp” nhằm làm rõ yêu cầu của việc xây dựng thủ tục
TTDS rút gọn, cơ sở khoa học của việc xây dựng và đề xuất các giải pháp xây dựig mô hình thủ tục này ở Việt Nam là cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thục tiễn
1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thủ tục TTDS rút gọn mới chỉ bước đàu được đề cập nghiên cứu tại một
và công trình về TTDS Tuy nhiên, các công trình này không đi sâu nghiên cứu
3
Trang 14vè thủ tục TTDS rút gọn hoặc có nghiên cứu về thủ tục TTDS rút gọn nhưng còn
ở mức độ hạn chế, chưa luận giải toàn diện và sâu sắc về vẩn đề nghiên cứu Cụ thể là:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Một sổ vẩn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng BLTTDS ” do Toà án nhân dân tối cao thực hiện
năm 1996 đã có những nghiên cứu bước đầu về thủ tục TTDS rút gọn như các loại việc phát sinh từ thực tiễn có thể giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn, nêu một số ý kiến khác nhau khi xây dựng thủ tục này ở Việt Nam Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thủ tục tố tụng rút gọn trong công trình này mới dừng lại ở mức
độ khái quát, gợi mở vấn đề chứ chưa phân tích sâu về cơ sở khoa học của việc xây dựng thủ tục này, toàn bộ kết quả nghiên cứu chỉ được thể hiện trong giới hạn 6 ừang (từ trang 70 đến 74 và từ trang 302 - 303)
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng cải cách tư pháp ”, Mã số:
LH - 09 - 04/ĐHL - HN (Đại học Luật Hà Nội) do TS Trần Anh Tuấn thực hiện
n ăn 2010 đã đề cập đến thực trạng pháp luật TTDS Việt nam chưa đáp ứng được yêu cầu về tính linh hoạt, mềm dẻo và có hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi của đương sự cũng như việc đa dạng hoá các loại hình thủ tục tố tụng cho phủ hợp với tính chất của từng loại tranh chấp đồng thời đưa ra yêu cầu cần thiết
p h a xây dựng thủ tục rút gọn Tuy nhiên, đề tài chưa nêu ra được cụ thể phạm
vi các loại việc áp dụng thủ tục TTDS rút gọn cũng như trình tự, thủ tục rút gọn
•đưorc thực hiện như thế nào
- Luận văn thạc sỹ Luật học về “Những vẩn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng thủ tục rút gọn trong TTDS Việt Nam” của tác giả Trần Anh Tuấn
năn 2000 mới chỉ ra được mối liên hệ giữa các nguyên tắc của luật dân sự vớiviéc xây dựng thủ tục rút gọn, nhu cầu của việc xây dựng thủ tục TTDS rút gọnrứưng chưa có điều kiện nghiên cứu chuyên sâu về yêu cầu cải cách tư pháp và
hộ nhập đối với việc xây dựng thủ tục này ở Việt Nam v ấ n đề phân hoá loạivitc có thể giải quyết theo thủ tục rút gọn và cơ chế tương ứng về thủ tục cũngnv/i chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung, chưa có sự luận giải hợp lý về mối
4
Trang 15liên hệ giữa tính chất của loại việc và thủ tục tố tụng cần phải xây dựng, chưa làm rõ được tính hiệu quả của thủ tục tổ tụng dưới góc độ kinh tế học, kiến nghị
về cơ chế kháng án trong Luận văn cần phải được nhận thức lại dưới góc nhìn về bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân Ngoài ra, một số loại việc được tác giả đề xuất trong Luận văn này từ năm 2000, nay đã được đưa vào thủ tục giải quyết việc dân sự trong BLTTDS năm 2004 Thực tiễn lập pháp này cũng
đặt ra một van đê cân phải giải quyêt vê lý luận là thủ tục giải quyêt việc dân sự
có phải là thủ tục rút gọn hay không, cần phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ bảnchất, đặc điểm của thủ tục TTDS rút gọn để có cơ sở xác định mô hình thủ tục rút gọn cần phải được xây dựng ở Việt Nam
- Các bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí có nghiên cứu về
những vấn đề riêng lẻ của thủ tục TTDS rút gọn như “ vẩn đề thủ tục rút gọn trong TTDS ở nước ta" của tác giả Trần Đức Mai đăng trên Tạp chí Tòa án nhân
dân Số5/l 998; “Bàn về thủ tục rút gọn trong hoạt động tố tụng của các cơ quan
tư pháp nhằm góp phần sừa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992” của tác giả Trần Huy Liệu đăng trên Tạp chí Luật học số 5/2001; “ về việc xác định phạm vi nhữrg vụ kiện được giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn” của tác giả Trần Anh Tuẩr đăng trên Tạp chỉ Luật học số 2/2002; “Thủ tục xét x ử nhanh trong BLT^DS Pháp và yêu cầu xây dựng thủ tục rút gọn trong BLTTDS Việt Nam”
của 'ác giả Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Dân chủ pháp luật số 2/2004;
“Luặ so sảnh và thực tiễn xây dựng BLTTDS Việt Nam” của tác giả Trần Anh Tuẩi đăng trên Tạp chí Luật học số 4/2007; “Hoàn thiện thủ tục rút gọn đáp ứng vêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả Nguyễn Đức Mai đăng trên tạp chí
Tòa án nhân dân số 15/2008 Các bài viết này đề cập đến các Vấn đề khác nhaucủa hủ tục TTDS rút gọn như yêu cầu của việc xây dựng thủ tục rút gọn, phạm
vi lcại việc được áp dụng thủ tục TTDS rút gọn, mối liên hệ của việc xây dựngthủ ục TTDS rút gọn với một số nguyên tắc cơ bản của luật TTDS; hội đồng xét
xử rít gọn Tuy nhiên, những vấn đề có tính lí luận về thủ tục TTDS rút gọnhầu như không được đề cập đến, nhiều vấn đề có ỷ nghĩa về lí luận và thực tiễnchư: được nghiên cứu hoặc có đề cập đến nhưng chưa được lý giải một cách
5
Trang 16thỏa đáng và cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn.
Ở nước ngoài, vấn đề thủ tục TTDS rút gọn được tiếp tục nghiên cứu
trong các sách như: Luật Nhật bản của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản; Luật
so sánh của giáo sư Michael Bogdan; Kỷ yếu của dự án VIE/95/017 về pháp luật TTDS; một số tài liệu hội thảo về pháp luật TTDS do Nhà pháp luật Việt
pháp tổ chức tại Hà Nội Các tài liệu nguyên bản bằng tiếng nước ngoài được
nghiên cứu là cuốn Japaness Law - Volume 2 (1997 -1998) của Japan International operation agency; Lexique des termes juridiques của Serge Guinchard, Gabriel Montagnier, édition Dalloz 2001; Procẻdure civile, Nxb
DALLOZ, 2000 của cố giáo sư VINCENT (J.) và giáo sư GUINCHARD (S.);
Procédure civỉle Droit interne et droit communautaire, Nxb Dalloz, 2006 của của tác giả Serge Guinchard, Frédérique Ferrand; Droit et pratique de procẻdure civile, D 2007/2008, của tác giả Serge Guinchar; La pratique des procédures rapides, 2e éd Litec 1998 của tác giả ESTOUP (P.); Droit judiciaire privé, Litec, 5e éd 2006.v.v Các tài liệu trên có đề cập tới những khía cạnh
khác nhau của thủ tục TTDS rút gọn như một số vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục
tố tụng đặc biệt tại Pháp và Cộng đồng Châu Ầu, thực tiễn về thủ tục tố tụng đặc biệt tại Pháp, thủ tục ra lệnh thanh toán nợ, buộc làm một công việc theo pháp luật Pháp Đây là những tài liệu tham khảo có giá trị được sử dụng để so sánh, tìm ra những điểm hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam để
có thể tiếp thu trong quá trình xây dựng thủ tục TTDS rút gọn ở Việt Nam
1.3 Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu
- Đ ổi tượng nghiên cứu của đề tài là:
+ Chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân và những yêu cầu đặt ra với việc cải cách thủ tục TTDS
+ Các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam trong đó bao gồm các quy định hiện hành về thủ tục tố tụng thông thường và các quy định liên quan đến thủ tục rút gọn đã từng tồn tại trong các văn bản pháp luật từ trước tới nay
+ Các quy định của pháp luật TTDS một số nước trên thế giới để tham
6
Trang 17khảo trong quá trình xây dựng thủ tục TTDS rút gọn ở Việt Nam.
+ Thực tiễn các hoạt động TTDS của Toà án nhằm làm rõ khả năng xây dựng thủ tục rút gọn trong TTDS ở Việt Nam
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
+ Hiện thực hóa đường lối cải cách tư pháp của Đảng được nêu trong
Nghị quyết 48 và 49 -NQ/TW 2005 của Bộ Chính trị về “Xây dựng cơ chế xét
xử theo thủ tục rút gọn đổi với những vụ án có đủ một sổ điều kiện nhất định”.
+ Xác định các yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập kinh tế quốc tế đối với
1.4 Pham vi nghiên cứu đề tài
Với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu như đã trình bày ở trên, đề tài được triển khai nghiên cứu trên toàn bộ hệ thống pháp luật về thủ tục TTDS của Việt Nam cũng như thực tiễn hoạt động TTDS của Toà án Ngoài ra, đề tài còn triển khai nghiên cứu các quy định của pháp luật TTDS của một số nước có quy định
về thủ tục TTDS rút gọn như Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quổc, Nhật Bản, Thái Lan, Singgapor, Australia nhằm so sánh và tham khảo
1.5 Nội dung nghiên cứu
1.5.1 Những vẩn đề lỷ luận cơ bản về xây dựng thủ tục tố tụng dân sự
rút gọn theo yêu câu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tê quôc tê
- Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục TTDS rút gọn;
- Yêu cầu của cải cách tư pháp, hội nhập kinh tế quốc tể đối với việc xây dựng thủ tục TTDS ở Việt Nam;
- Mối liên hệ giữa việc xây dựng thủ tục TTDS rút gọn với một số nguyêntắc cơ bản của pháp luật dân sự và TTDS;
7
Trang 18- Mô hình vê thủ tục TTDS rút gọn theo pháp luật một sô nước trên thê giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Thực tiễn về loại việc có thể giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn;
- Thực trạng xây dựng thủ tục TTDS rút gọn ở Việt Nam
1.5.3 Quan điểm và đề xuất mô hình về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
- Quan điểm xây dựng thủ tục TTDS rút gọn ở Việt Nam;
- Đề xuất về xây dựng mô hình thủ tục TTDS rút gọn ở Việt Nam
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghién cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đường lối, chủ trương chínl sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoạt động tư pháp
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện đề tài là phưcng pháp mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, lịch sử, tư duy logic, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học, phỏng vấn chuyên sâu, khảo sát.v.v
Các phương pháp trên được áp dụng linh hoạt tuỳ vào từng nội dung và nhữrg yêu cầu của đề tài Đặc biệt phương pháp khảo sát thực tế, điều tra xã hội học tược sử dụng đối với các cán bộ làm công tác xét xử, các luật sư, người bảo
vệ qiyền lợi cho đương sự tại các Tòa án, Văn phòng luật sư nhằm xác định yêu tầu và khả năng thực tế về loại việc và mô hình thủ tục TTDS rút gọn có thể được xây dựng ở Việt Nam
8
Trang 192 PHẦN NỘI DUNG
rút gọn theo yêu câu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tê quôc tê
2.1.1.1 Khải niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
Việc nghiên cứu nhận diện bản chất của thủ tục TTDS rút gọn là tiền đề căn bản cho việc nhận thức để xây dụng thủ tục này nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế Nghiên cứu lý luận ở Việt Nam về thủ tục TTDS rút gọn cho thấy đây là một vấn đề mới chưa được đề cập trong các Giáotrình luật TTDS của các cơ sở đào tạo luật và nghề luật hiện nay Công trình vềTTDS đầu tiên ở Việt Nam, do giáo sư Nguyễn Huy Đẩu thực hiện tuy không đưa ra một khái niệm cụ thể về loại hình thủ tục này nhưng đã có bàn tới thủ tục
giản ược hay thủ tục không đới tranh Theo đó, “ Thủ tục giản lược (procẻdure sommaire) là mội thủ tục ỉt nệ thức, đỡ tổn kém, và mau chóng hơn, được nhà lập pháp dự liệu như biệt lệ đối với thủ tục tổ tụng thông thường”(1\
Theo Giáo sư Nguyễn Huy Đẩu thì thủ tục giản lược được áp dụng đối
với “ các việc kiện về đối nhân động sản có chứng khoán không bị tranh nại, các cơn kiện này không có chứng khoán nhưng dưới 90.000 quan, các tổ quyền bất ốộng sản hoa lợi đồng niên dưới 8.000 quan, các đơn thỉnh cầu tạm thời hoặc kiện về tiền thuê nhà, ỉủa ruộng" Theo thủ tục giản lược 11 án p h ỉ được tham toán ngay trong bản án chứ không phải theo một thủ tục riêng, nếu phải cho nở cuộc điều tra thì xét hỏi ngay trước Tòa, chớ không cần chỉ định Thẩm phảr riêng để đôn đốc và sau hết, được miễn phải đưa ra thử điều giải trước khi ãànị đường xét xử ’^2\ Như vậy, thủ tục giản lược có thể áp dụng với những việc kiện có chứng cứ rõ ràng (có chứng khoán không bị tranh nại) hoặc không có chứĩg cứ rõ ràng nhưng giá trị tranh chấp nhỏ (kiện về đoi nhân động sản dưới
90 ơ)0 quan hoặc kiện về bất động sản hoa lợi đồng niên dưới 8.000 quan, kiện
về tủn thuê nhà, lúa ruộng).
(1) Gí Nguyễn Huy Đầu (1962), “Luật dân sự tố tụng Việt Nam ”, xuất bản tại Sài Gòn, ứ 503.
(2) Gí Nguyễn Huy Đẩu (1962) “Luật dân sự tổ tụng Việí Nam ”, xuất bàn tại Sài Gòn, ừ 503, 504.
Trang 20Trong công trình nghiên cứu của mình Giáo sư Nguyễn Huy Đẩu cũng đã
'ê cập tới Cơ chê xét xử một lân, xét xử một Thâm phán đôi với các vụ kiện
có giá ngạch thấp Theo đó, tại Trung - Việt, theo Nghị định ngày 20/10/1947
1 _ T T ^ ^ 1 /V 1 / 1 1 A ,1 > ' n p 1 X Ã T 4- * • • r 1 ** r
cua Hội đông châp chánh lâm thời Trung kỳ vê sửa đôi giá ngạch cũ có quy định: Các Toà đệ nhị cấp xử chung thẩm các việc tương tranh động sản hoặc đối với ttigười, việc thương sự; việc đòi tiền bồi hoàn hay bồi thường với giá ngạch trên 500 $ nhưng dưới 1500 $, về bất động sản theo giá ngạch đồng niên không quá 150$ (Điều 19)(1)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều quốc gia trên thế giới, ngoài thủ tục thông thường đều có quy định riêng về thủ tục giải quyết đối với các vụ kiện có giá ngạch thấp Ở Pháp, trong thủ tục giải quyết các vụ kiện có giá ngạch thấp thì đương sự không được quyền kháng cáo phúc thẩm(2) Tương tự, ở Đức, Tòa
án tư pháp có thẩm quyền thấp nhất ở Đức là Tòa Amtsgericht (AG) hay còn gọi
là Tòa án cơ sở có thẩm quyền sơ thẩm các vụ khiếu kiện nhỏ như tranh chấp giữa chủ nhà và người thuê nhà, vấn đề gia đình hoặc các vụ việc nhỏ khác Tòa Amtsgericht (AG) có thẩm quyền xét xử các tranh chấp có giá ngạch đến 6.000 euro, các vụ án hôn nhân gia đình (không phụ thuộc vào giá ngạch) Việc giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình tại AG thông thường do một Thẩm phán thực hiện Cũng như tổ chức hệ thống tư pháp của nhiều nước Châu
Âu khác, theo pháp luật Đức thì đương sự chỉ có thể yêu cầu phúc thẩm, nếu nội dung yêu cầu phúc thẩm có giá ngạch từ 6.000 euro trở lên hoặc AG cho phép phúc thẩm và ghi rõ trong bản án(3)
Nghiên cứu các tài liệu lý luận về tố tụng của các nước theo hệ thống luật dân sự, mà điển hình là Pháp cho thấy cũng không có một khái niệm riêng về
thủ tục TTDS rút gọn Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Pierre ESTOUP thì “các thủ tục ra lệnh là loại hình thủ tục đom giản cho phép người có quyền cổ được
(1) GS Nguyễn Huy Đẩu (1962), ĩĩđd, tr 255, 256.
(2) Serge Guinchard, Gabriel Montagnier (2001), Lexỉque des termes juridiques, édition DaIIoz , tr 325.
(3) Michael BOGDAN (1994), “Luật So sánh", KIuwer Norstedts jurịdik Tano, tr 149 (Người dịch: PGS TS
Lê Hồng Hạnh và Ths Dương Thị H iền ); Hải Lộc, “ 77/n hiểu hệ thong Tòa án và công tác đào tạo các chức
danh ỉư pháp cùa Cộng hòa Liên bang Đ ứ c” từ địa chỉ ừang Web: http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien~cuu-
trao-doi.aspx.
10
Trang 21lệnh buộc buộc người cỏ nghĩa vụ phải thanh toán một khoản nợ hoặc thi hành một nghĩa vụ từ hợp đồng”(l\ c ố gắng tìm kiếm những luận giải về thuật ngữ
“thủ tục TTDS rút gọn” cho thấy trong lịch sử tố tụng Pháp, thủ tục ra lệnh tham toán nợ được thiết lập ở Pháp bằng sắc luật ngày 25/8/1937, dưới tên gọi
khác là “thủ tục đom giản thu hồi những món nợ thương mại n h ỏ Từ sắc lệnh
72-790 ngày 28/8/1972 thủ tục này đã mở rộng áp dụng đối với cả lĩnh vực dân
sự và thương mại mà không phụ thuộc vào giá trị của tranh chấp Từ mô hình này Sắc lệnh 88-209 ngày 4/3/1988 đã đưa vào một thủ tục mới là thủ tục ra lệnh thực
hiện công việc nhằm đơn giản hóa việc kiện của người tiêu dùng trong việc yêu
cầu Tòa án buộc bên ký kết họp đồng phải thi hành nghĩa vụ đã cam kết
Theo các tổ tụng gia của Pháp, thủ tục buộc làm một công việc là thủ tục cho piép đạt được một Án lệnh của Thẩm phán cấp thẩm nhằm buộc phải thực hiện nghĩa vụ như giao đồ vật, trả lại một tài sản, cung cấp một dịch vụ do tính chất của nghĩa vụ là rõ ràng Đó là một thủ tục đơn giản cho phép đạt được lệnh buộc [àm một công việc từ Thẩm phán Toà sơ thẩm thẩm quyền hẹp hoặc Thẩm phán hoà giải(2) Thủ tục buộc thanh toán là thủ tục cực kỳ đơn giản cho phép đòi thanh toán những khoản nợ dân sự hoặc thương mại rõ ràng bằng cách yêu cầu Thẩm phán hoà giải, Thẩm phán Toà sơ thẩm thẩm quyền hẹp, Chánh án Toà thươrg mại cấp cho một lệnh buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán Nếu bên có nghĩa vụ không phản kháng lệnh trả nợ, lệnh này sẽ có giá trị cưỡng chế thi hành(3)
Ở Đvc, cũng thiết lập thủ tục ra lệnh thanh toán nợ Theo đó, Tòa Amtsgericht (AG)hay còn gọi là Tòa án cơ sở có thẩm quyền ra lệnh thanh toán nợ theo thủ tục xét xr nhanh đối với yêu cầu thanh toán các khoản nợ đã rõ ràng(4)
Như vậy, kết quả nghiên cứu trên cho thấy “thủ tục TTDS rút gọn” dường như à “thủ tục đơn giản”, bao gồm thủ tục ra lệnh thanh toán và ra lệnh buộc
thực hiện công việc và thủ tục xét xử một lần đối với những vụ kiện có giá trị nhỏ ở Việt Nam, thủ tục TTDS rút gọn là một vấn đề mới, còn đang trong quá
(1) Piere ESTOUP (1990), La praíique des procédures rapỉdes, Nxb Litec, tr 279.
(2) Sene Guinchard, Gabriel Montagnier (2001), Lexique des termes juridiques, édition Dalloz, tr 306.
(3) Sd^e Guinchard, Gabriel Montagnier (2001), Lexique des termes juridiques, édition DaIloz, ừ 307.
(4).Miaael BOGDAN, Tỉđd, tr 149; Hải Lộc, Tỉãd từ địa chỉ trang Web: http://ioj.gov.vn/cƯtintuc/Pages/nghien-cuu-ừao-doi.aspx.
11
Trang 22trình bàn thảo và xây dựng Nhận thức về thủ tục này về phương diện lý luận cũng còn có những ý kiến khác nhau Trong công trình nghiên cứu cấp bộ “ Mộ/
sổ van đề về cơ sở lý ỉuận và thực tiễn của việc xây dựng BLTTDS” của Tòa án nhân dân tối cao năm 1995 cũng đã khẳng định “ đa sổ các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực xây dựng pháp luật về TTDS đều thống nhất quan điểm là cần xây dựng thủ tục rút gọn trong TTDS, tuy nhiên, thủ tục
đó cần xây dụng theo phương thức nào, quy trình rút gọn thể hiện ở điểm mẩu chốt nào thì lại có nhiều ỷ kiến khác nhau,,(-{\ Công trình nghiên cứu này cũng
chưa iưa ra khái niệm về thủ tục TTDS rút gọn mà chỉ kiến nghị:
“Xây dựng thủ tục rút gọn để giải quyết các vụ kiện đơn giản, bị đơn không phản đối yêu cầu của nguyên đơn, các vụ kiện về hợp đồng hoặc nghĩa vụ
về tài sản có giá ngạch thấp hoặc theo sự lựa chọn của đương sự với các định hướng cụ thể sau đây:
- Thủ tục rút gọn do một Thẩm phán giải quyết;
- Quyết định của Thẩm phán theo thủ tục rút gọn có hiệu lực pháp luậtngay,{2)
Trong công trình nghiên cứu cách đây hơn mười năm, ThS Trần Anh
Tuấn cũng đã rút ra định nghĩa về thủ tục rút gọn như sau “ Thủ tục rút gọn trong TTD l là một quy trình tổ tụng được ảp dụng để Tòa án giải qưyết các loại vụ kiện iân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình có nội dung đơn giản, chửnị cử rô ràng hay ừ-anh chấp hợp đồng về tài sản cỏ giá ngạch thấp , theo
đó trmg một thời hạn ngắn Thẩm phản nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ Ĩghĩa Việt Nam, độc lập một mình xét xứ và ra quyết định có hiệu lực thỉ hànk^2\ Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này đi theo hướng đối lập giữa thủ
tục tiông thường và thủ tục rút gọn mà chưa chú trọng đến việc phân hóa loại việc với những cơ chể kháng án tương ứng Nhiều loại việc trước đó được tác giả (ề xuất giải quyết theo thủ tục rút gọn nay đã được đưa vào thủ tục giải
(1) Vin Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao (1995), “M ột số vắn đề về cơ sở ỉỷ ỉuận và thực tiễn c ừ i việc
xây dmg BLTTD S”, Đề tài cấp bộ, ừ 70.
(2) Vin Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao, Tỉđd\ tr 82.
Trẫ Anh Tuấn (2000), “Những vắn đề lý luận và thực tiễn của việc Xây dimg thủ tục rủí gọn trong TTDS Việt
Nam ” Luận văn cao học, ứ 85.
12
Trang 23quyết việc dân sự trong BLTTDS năm 2004 Do vậy, khái niệm này hiện nay không còn phù hợp, cần phải được nghiên cứu bổ sung và chỉnh sửa.
“Sau khỉ BLTTDS ra đời, cũng đã cổ nhiều ỷ kiến cho rằng thủ tục giải qicyết việc dân sự được quy định từ Điều 311 đến Điều 341 BLTTDS năm 2004 chính là thủ tục rút gọn Tưy nhiên, việc nghiên cứu pháp luật TTDS của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng đây chỉ là các thủ tục tổ tụng đặc biệt chứ không phải là thủ tục rút gọn theo đủng nghĩa của HÓ”* Nghị quyết số 49 -
NQ/TW của Bộ chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 đã củng cổ cho nhận định này và chỉ rõ cần phải tiếp tục 11 Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định TS Nguyễn Công Bình cũng đã đưa ra lập luận để khẳng định thủ tục giải quyết việc dân sự không phải là thủ tục TTDS rút gọn Bởi vì, thủ tục này chỉ được Tòa án áp dụng để giải quyết đổi với những việc không có tranh chấp như các yêu cầu công nhận các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động hoặc các yêu cầu công nhận, không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật giữa các đương sự mà không được áp dụng để giải quyết đổi với những việc
có tranh chấp Thời gian, trình tự giải quyết vụ việc cũng tương tự như thủ tục tố tụng thông thường, nhiều quy định của thủ tục tổ tụng thông thường vẫn được dẫn chiếu áp dụng cho thủ tục giải quyết việc dân sự(2\
v ề thuật ngữ, theo nghiên cứu của tác giả trên thì thủ tục rút gọn là cụm
từ ghép của "thủ tục" và "rút gọn" Trong tiếng Việt, "thủ tục" được định nghĩa
là “những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chỉnh thức”^ \ Thủ tục TTDS là một loại của thủ tục tố tụng mà
việc áp dụng nhằm bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ án dân
sự Thuật ngữ "rút g ọ n " được định nghĩa là "làm cho cỏ hình thức ngắn gọn, đơr giản hơn ”(4K Theo định nghĩa này thì rút gọn là làm cho các việc không có
(1) Tần Anh Tuấn (2009), “Pháp luật TTDS Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế ”, ừong cuốn “Pháp luật
Việt Vam trong tiến trình hội nhập quốc tế vò phái triển bển vữ ng”, Nxb CAND, ừ 441.
Tì Nguyễn Công Bình, Chuyên đề 1, “Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục TTDS ríứ gọn ” ừ 131 (3) hìàng Phê (chủ biên) (2004), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bàn Đà Năng - Trung tâm Từ điền học, tr 960 (4) Iroàng Phê (chủ biên) (2004), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nằng - Trung tâm Từ điền học, tr 960.
13
Trang 24nhiều thành phần, không có nhiều mặt, trở thành không phức tạp hay rắc rối Như vậy, theo nghĩa chung thì thủ tục rút gọn có thể được hiểu là những việc cụ thể mà Tòa án phải làm để tiến hành một công việc có tính chất chính thức theo một trật tự quy định ngắn gọn, đơn giản Tác giả này cũng nhận định ràng một
sổ bài viết được công bố trong thời gian qua tuy có đề cập đến khái niệm thủ tục
TTDS rút gọn nhưng còn chung chung như "thủ tục tổ tụng rút gọn là thủ tục giải quyết án nhanh chóng, giúp các cơ quan tố tụng giảm tải, ừ'ảnh được án quả h ạ n ^ hoặc phát triển khái niệm thiên về xác định loại việc được giải quyết theo thủ tục rút gọn: "thủ tục rút gọn trong TTDS là thủ tục tố tụng để giải quyéí đối với những tranh chấp nhỏ, đơn giản và có chứng cứ rõ ràng p \
Tuy vậy, với góc tiếp cận này thì thủ tục TTDS rút gọn là thủ tục giải quyềt nhanh các vụ việc, được áp dụng đối với các tranh chấp nhỏ, đơn giản và
có chứng cứ rõ ràng và với mục đích là giảm tải, tránh được án quá hạn Tuy nhiên, hạn chế của hai định nghĩa này là mới chỉ ra được tính nhanh chóng và loại việc có thể giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn mà chưa bao quát được
bản chất hay tính “rút gọn” của thủ tục này Tính chất "rút gọn" của thủ tục
TTDS rút gọn thể hiện ở chỗ, nếu như ở thủ tục TTDS thông thường, Tòa án phả] tiến hành tất cả các khâu, các công việc để giải quyết vụ việc dân sự thi ở thủ tục TTDS rút gọn một số khâu, một số công việc có thể không phải thực hiệr, thành phần giải quyết cũng đơn giản hóa và thời gian giải quyết được rút
ngắi Từ góc nghiên cứu này, cũng có ý kiến cho rằng: ‘‘‘‘Thủ tục TTDS rút gọn
là 17ỘÍ trong các thủ tục đặc biệt của TTDS được pháp luật quy định để áp dụng giải quyết các vụ việc dân sự, hỏn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động cỏ nội dung đơn giản, rõ ràng hoặc cỏ giá ngạch thấp, với thủ tục, thàĩh phần tiến hành tổ tụng và tham gia tổ tụng được giản lược, thời hạn giải quyết ngắn”(3).
Định nghĩa trên đã chỉ ra được đặc thù về loại việc được giải quyết theo
Trang 25thủ tục rút gọn, sự giản lược về thành phần tiến hành tố tụng và sự rút ngắn về thời hạn giải quyết nhưng lại mặc định ràng thành phần tham gia tố tụng được giản lược là chưa thực sự phù hợp Mặt khác, định nghĩa này chưa phản ánh được đặc thù về hiệu lực của phán quyết theo thủ tục rút gọn, đặc biệt là cơ chế kháng án nhằm chuyển đổi giữa thủ tục TTDS rút gọn và thủ tục tố tụng thông thường nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý và an toàn pháp lý của các đương
sự trong TTDS
Với những luận giải trên, kế thừa và phát triển toàn bộ kết quả nghiên cứu
lý luận về thủ tục tố tụng thủ tục giản lược (Giáo sư Nguyễn Huy Đẩu); về thủ tục đơn giản hay thủ tục ra lệnh (Pierre ESTOUP); Kết luận trong công trình nghiên cứu cấp bộ của Viện Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao; Luận văn thạc sỹ về những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng thủ tục rút gọn trong TTDS (Ths Trần Anh Tuấn) và kết quả nghiên cứu về khái niệm thủ tục TTDS rút gọn tại Chuyên đề 1 (TS Nguyễn Công Bình), nhóm nghiên cứu
đã đi tới nhận định: Thủ tục TTDS rút gọn là loại hình thủ tục tố tụng được giản lược, cỏ tính đơn giản và nhanh chóng, được một Thẩm phán áp dụng để giải quyếl các vụ kiện dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động có giá ngạch thấp hoặc nội dung đơn giản, rõ ràng theo cơ chế xét xử một lần, cơ chế phúc thẩm với sự giản lược về thủ tục hoặc cơ chế kháng án chuyển hóa t) tụng Từ nhận định này có thể rút ra khái niệm về thủ tục TTDS rút gọn như eau:
“ Thủ tục TTDS rút gọn là loại hình thủ tục tổ tụng được giản lược, do một Thẩn phản tiến hành giải quyết đổi với các vụ kiện dân sự, hôn nhân gia đình, kỉnh ỉoanh, thương mại, lao động cổ nội dung đơn giản, rõ ràng hoặc có giả trị nhỏ heo một trình tự tổ tụng đơn giản, nhanh chóng, phán quyết của Tòa án cỏ
h iệ u 'ực pháp luật ngay hoặc cổ thể bị phản kháng để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thông thường hoặc thủ tục phúc thẩm được giản lược”.
2.1.1.2 Đặc điểm của thủ tục tổ tụng dân sự rút gọn
Từ việc nghiên cứu nhận diện về bản chất của thủ tục TTDS rút gọn,nhón nghiên cứu đã đi sâu làm rõ đặc điểm của thủ tục này trên cơ sở đối chiểu
15
Trang 26với thủ tục giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự Kết quả nghiên cứu cho thấy được một số điểm tương đồng giữa hai loại hình thủ tục tố tụng được giản lược
so với thủ tục giải quyét vụ án dân sự là thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục rút TTDS rút gọn như sau:
- Thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục TTDS rút gọn được áp dụng đổi với một số vụ việc có tính đơn giản hơn so với những tranh chấp dân sự được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự
- Thủ tục rút gọn và thủ tục giải quyết việc dân sự đều tuân theo những trình tự nhất định được pháp luật TTDS quy định như thụ lý yêu cầu, chuẩn bị cho việc giải quyết yêu cầu và tổ chức phiên tòa hay phiên họp để giải quyết đơn yêu cầu Những công việc này là không thể thiếu trong quy trình giải quyết các
vụ việc dân sự nói chung
- Trình tự tố tụng theo thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục TTDS rút gọn đều được giản lược hơn so với thủ tục giải quyết vụ án (Thủ tục tố tụng thông thường) như Tòa án không nhất thiết phải tổ chức phiên tòa do một Hội đồng gồm nhiều thành viên tiến hành, trong phiên tòa không nhất thiết phải thực hiện tuần tự các bước của thủ tục giải quyết vụ án, có thể lược bỏ các thủ tục không cần thiết(I)
Đề tài cũng đi sâu nghiên cứu về các đặc điểm của thủ tục TTDS rút gọn,
tạo tiền đề cho việc định hướng nhận diện mô hình thủ tục TTDS rút gọn ở Việt Nam Dựa trên kết quả nghiên cứu của các tác giả chuyên đề số 1, 2, 3 và 4, nhóm nghiên cứu đã rút ra những đặc điểm cơ bản của thủ tục TTDS rút gọn về loại việc, thành phần giải quyết, về thời hạn tố tụng và các thủ tục được giản lược so với thủ tục tố tụng thông thường Cụ thể là thủ tục TTDS rút gọn được
áp dụng đối với các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động có nội dung đơn giản, rõ ràng hoặc có giá ngạch thấp; việc giải quyết do một Thẩm phán tiến hành mà không cần có Hội đồng xét xử; với thời
ĩ s Trần Phương Thảo, Chuyên đề 3 uSự tương đồng và khác bỉệí giữa thù tự: giải quyết việc dân sự và thù tục 'ỈTDS ríiĩ gọn ”, tr 164.
16
Trang 27hạn giải quyết được rút nsắn và thủ tục được đơn giản hoá(1).
- Loại việc được giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn là những vụ kiện chứng cứ rõ ràng, nội dung tranh chấp đơn giản, người có nghĩa vụ đã thừa
nhận hoặc không phản đổi nghĩa vụ của mình, tài sản tranh chấp cỏ giá trị
không lớn
Đây là điểm khác biệt với các loại việc hiện được giải quyết theo thủ tục
giải quyết việc dân sự Thủ tục TTDS rút gọn được áp dụng đối với những vụ
kiện dân sự mặc dù có thể vẫn có sự tranh chấp quyền lợi giữa các đương sự với
nhau nhưng nội dung sự việc đơn giản, chứng cứ rõ ràng hay một bên đương sự
đã thừa nhận hoặc không phản đối nghĩa vụ; tranh chấp có giá ngạch thấp Còn
các việc dân sự được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự là loại việc
được các đương sự thỏa thuận hoặc một bên đương sự yêu cầu Tòa án công nhận
hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó Đó là, các loại việc sau đây:
+ Các việc dân sự không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa
các bên do các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc
cũng như những quyền, lợi ích giữa các bên và các bên cùng yêu cầu Tòa án
công nhận để làm cơ sở cho thi hành án sau này Cụ thể những việc dân sự này
là yéu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, yêu cầu
công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con khi ly hôn
+ Các việc dân sự mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích
hợp pháp giữa các bên do tính chất đặc thù của loại việc và chỉ một bên đương
sự )êu cầu Tòa án giải quyết, bao gồm một bên đương sự yêu cầu xác định tĩnh
ừạng của một cá nhân do sự vắng mặt của họ tại nơi cư trú hoặc yêu cầu xác
địnl năng lực hành vi dân sự của một cá nhân; yêu cầu Tòa án tuyên bổ chấm
dứt một quan hệ pháp lý đang tồn tại như yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, yêu
cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ
(1) Tì Nguyễn Công Bình, Chuyên đề 1, “Khái niệm, đặc điểm và ỷ nghĩa cùa thủ tục tố tụng dân sự rủi gọn”,
ứ 1:4; TS Nguyễn Triều Dương, Chuyên đề 2, “M ối liên hệ giữa việc xây dựng thủ íục TTDS rút gọn với một
số nỵiyên tắc cơ bàn của TTD S", ừ 144, 145; TS Trần Phương Thảo, Chuyên đề 3, ứ 164; TS Trần Anh Tuẩn
và Ltật sư Trương Quang Dũng - Công ty Luật Audier và cỘH§»aự^ChL^ên đề 4 , “Thủ.lục ĨT D S rút gọn theo
phápỉuậĩ một số nước trên thể giới và việc xây dựng thủ tục gặn ở iNam ", ừ Ụ72 - 185.
17 TRI :r:r 3 DAI HỌC •
Prĩ^NGínn 3 5 0
Trang 28- Thủ tục TTDS rút gọn được tiến hành theo cơ chế một Thẩm phán phán quyểỉ mà không phải thông qua Hội đồng xét xử
Nghiên cứu lý luận tố tụng của nhiều nước có quy định về thủ tục TTDS
rút gọn và dựa vào tính chất đơn giản, rõ ràng của những vụ kiện dân sự được
giải quyết bằng thủ tục rút gọn có thể nhận thấy những nước này đều vận dụng
cơ ché một Thẩm phán phán quyết đối với những vụ việc có giá trị tranh chấp
nhỏ, r.ội dung tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng Cơ chế một Thẩm phán
phán cuyết mà không có sự tham gia của hội thẩm nhân dân này sẽ có tác dụng
đẩy nhanh tiến trình giải quyết một sổ vụ việc dân sự, giảm bớt chi phí tố tụng,
tiết kièm cho ngân sách nhà nước cũng như đương sự, đồng thời nâng cao trách
nhiệm cá nhân của Thẩm phán
Nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành cho thấy, theo quy định tại
Điều 52 BLTTDS sửa đổi thì việc sơ thẩm vụ án dân sự có tranh chấp do một
Hội đmg gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân tiến hành Việc sơ
thẩm àệc dân sự thông thường chỉ do một Thẩm phán tiến hành mà không có sự
tham ịia của hội thẩm nhân dân Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt,
đối vci một số việc dân sự có mức độ phức tạp, khó khăn hơn thì việc giải quyết
các yói cầu đó cần phải có số thành viên tham gia giải quyết gồm ba Thẩm phán
(Điều52 BLTTDS sửa đổi, bổ sung) Đó là các yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia
đình, kinh doanh thương mại, lao động được quy định tại khoản 5 Điều 26,
khoảr 6 Điều 28, khoản 2 và 3 Điều 30, Điều 32 BLTTDS hoặc xét kháng cáo,
khánị nghị đối với quyết định giải quyết việc dân sự sẽ do một tập thể gồm ba
Thẩrr phán giải quyết Ngoài ra, đối với yêu cầu hủy quyết định của trọng tài
thiươrg mại do trước đó việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại do
một tọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên giải quyết nên
Trầ] Anh Tuấn (2009), “ Cơ sở xác định cảc việc dân sự và thủ tục áp dụng”, ừong Đe tài Khoa học cấp
trường 'ê “Việc dân sự và thù tục giải qưyết việc dán sự tại Tòa án nhân dân”, Hà Nội, tr 55 Trong Luận văn
cao học “N hững vấn đề ỉỷ luận và thực tiền cùa việc xây dựng thủ tục rút gọn írong TTDS Việt Nam ”, (2000) tại
TrườngĐH Luật Hà Nội, tác giả đã đi theo hướng kiến nghị những loại việc trên sẽ được giải quyết theo thủ tục
TTDS út gọn Tuy nhiên, hiện nay các loại việc này đã được giải quyết theo một loại hình thủ tục tố tụng đơn
giản h a là thủ tục giải quyết việc dân sự.
chồng'
18
Trang 29khi giải quyết yêu cầu hủy quyết định của trọng tài thương mại cũng phải do một
tập thể: gồm ba Thẩm phán giải quyết
- Thủ tục TTDS rút gọn là thủ tục giải quyết về nội dung quyền và nghĩa vụ của đương sự nhưng được đom giản hỏa hơn so với thủ tục tố tụng thông thường
Như đã phân tích ở trên thì thủ tục rút gọn và thủ tục giải quyết việc dân
sự có điểm tương đồng ở chỗ một số thủ tục có thể được giản lược hơn so với
thủ tục tố tụng thông thường như thủ tục hòa giải, tranh luận, nghị án, tuyên
án (1) Một số tác giả chuyên đề thậm chí còn cho rằng “Thủ tục rút gọn trong
TTDS là một bộ phận của thủ tục TTDS thông thường, nỏ góp phần khắc phục
những vướng mắc của thủ tục thông thường khi giải quyết những vụ việc đơn
giản, cỏ chứng cứ rõ ràng bởi sự ngắn gọn, nhanh chóng”^2\ Tuy nhiên, cần
nhận thức rằng thủ tục TTDS rút gọn không phải là một bộ phận của thủ tục
TTDS thông thường mà là một loại hình thủ tục tố tụng riêng biệt Việc nghiên
cứu cho thấy lý luận TTDS của nhiều nước có quy định về thủ tục TTDS rút gọn
đều đi theo hướng thủ tục rút gọn được xây dựng trên cơ sở đơn giản hóa thủ tục
tố tụng thông thường, có thể bỏ qua các bước không cần thiết, đương sự có thể
đến Tòa án trực tiếp yêu cầu bằng lời nói và không cần phải làm đơn khởi kiện,
trình tự phiên tòa không buộc phải tuân theo các quy định về thông báo phiên
tòa, thẩm vẩn và tranh luận như với các vụ án dân sự khác v.v Tuy nhiên, do
sự khác nhau về tính chất loại việc được áp dụng nên quyết định giải quyết việc
dân sự của Tòa án vẫn có thể bị xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm nhằm đảm
bảo nguyên tắc hai cấp xét xử(3) Trong khi đỏ, quyết định của Tòa án giải quyết
vụ kiện theo thủ tục TTDS rút gọn sẽ có hiệu lực ngay hoặc vụ việc sẽ được
chuyển sang giải quyết theo trình tự tố tụng thông thường nếu không thỏa mãn
các tiêu chí về loại việc được giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn
(1) TS Trần Phương Thào, Chuyên đề 3, “Sự tương đồng và khác biệt giữa thù tục giải qưyểt việc dân sự vá thủ
tục tố tụng dân sự rúí g ọ rì\ tr 164.
(2l TS Nguyễn Văn Cường, Ths Phùng Thị Hoàn s Chuyên đề 6, “Thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự và yêu
cầu về xây dựng thù tục ria gọn ”, ứ 197.
(3) TS Trần Anh Tuấn và Luật sư Trương Quang Dũng - Công ty Luật Audier và cộng sự, Chuyên đề 4, “Thủ
tục TTDS rủt gọn theo pháp luật một số nước í rên thế giới và việc xây dựng í hủ tục TTDS rứt gọn ở Việt Nam ”,
ừ 175, 176; TS Trần Phương Thảo, Chuyên đề 3, “Sự tương đồng và khác biệt giữa thủ tục giải quyết việc dân
sự và thủ tục tố tụng dân sự rút gọn”, ữ 170.
19
Trang 30- Thủ tục TTDS rút gọn là thủ tục bào vệ quyền lợi của đương sự một
cách nhanh chóng với thời hạn tố tụng được rút ngẳn
Như đã phân tích ở trên thì thủ tục TTDS rút gọn được xây dựng trên cơ
sở đơn giản hóa thủ tục tố tụng thông thường, lược bỏ các bước không cần thiết,
quyết định của Tòa án giải quyết vụ việc theo thủ tục rút gọn sẽ có hiệu lực ngay
hoặc được chuyển sang giải quyết theo trình tự tố tụng thông thường nếu không
thỏa mãn các tiêu chí về loại việc được giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn Do
thủ tục tố tụng được giản lược nên việc bảo vệ quyền lợi của đương sự sẽ nhanh
chóng hơn so với thủ tục tố tụng thông thường, thời hạn giải quyết cũng được
rút ngắn hơn Trong thủ tục tổ tụng thông thường, tranh chấp có tính quyết liệt
nên thời gian giải quyết vụ án thường kéo dài hơn do Tòa án cần có thời gian để
tiến hành xác minh, thu thập các chứng cứ, tài liệu để làm sáng tỏ sự việc, vụ án
được giải quyểt tuần tự qua cấp sơ thẩm, phúc thẩm nhằm bảo đảm nguyên tắc
hai cấp xét xử Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả chuyên đề thì thời
gian giải quyết vụ kiện dân sự theo thủ tục TTDS rút gọn sẽ được rút ngắn do sự
giản lược về thủ tục, giới hạn về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và việc áp
dụng cơ chế xét xử một lần(1\
Như vậy, kết quả nghiên cứu lý luận đã làm sáng rõ được khái niệm, đặc
điểm cơ bản của thủ tục TTDS rút gọn trong mối liên hệ với thủ tục thông
thường và thủ tục giải quyết việc dân sự Để làm rõ về giá trị của thủ tục TTDS
rút gọn, việc nghiên cứu vê ý nghĩa của thủ tục này là hêt sức cân thiêt
2.1.1.3 Ỷ nghĩa của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
- Việc xây dựng thủ tục TTDS rút gọn là sự hiện thực hỏa yêu cầu về cải
cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại
thế giới, nhưng pháp luật TTDS của chúng ta lại thiếu vắng các quy định về thủ
(1) TS Nguyễn Công Binh, Chuyên đề 1, “Khải niệm, đặc điềm và ý nghĩa cùa thủ tục TTDS rút gọn " tr 136;
TS Ngjyễn Văn Cường, Chuyên đề 6, “Thực tiễn giâi qưyếí các vụ việc dân sự và y ê u cầu về xây dựng thù iục
rủi gọK \ ứ 195, 196; TS Trần Phương Thảo, Chuyên đề 3, “Sự tương đồng và khác bỉệí giữa thủ tục giải qưyểt
việc dờ 1 sự và thù lục tố ĩụng dân sự rủi gọn” tr 167, 168; TS Trần Anh Tuấn, Chuyên đề 7, "Thực trạng xây
dựng u ủ tục TTDS rút gọn ở Việt Nam ”, tr 226, 230; TS Trần Anh Tuẩn và Ths Đặng Thanh Hoa, Chuyên đề
8, “YẻL cầu cùa cải cách tư pháp, hội nhập kỉnh tế, quốc tế đối với việc xây dựng thủ tục TTDS rủí gọn ờ Việt
20
Trang 31tục tố tụng giản đơn áp dụng đổi với các vụ kiện dân sự, thương mại đơn giản,
rõ ràng Do vậy, pháp luật TTDS của chúng ta cũng chưa thực sự đáp ứng được
các yêu cầu về tính mềm dẻo, linh hoạt mà công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế
đặt ra Nhận thức được thực tế này, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của
Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ cần phải
íl Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đổi với những vụ án cổ đủ một
sổ điều kiện nhất định”; “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục TTDS ", Việc thiết lập
thủ tục rút gọn trong TTDS là cấp thiết, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, đáp ứng yêu cầu về cải cách thủ tục tố
tụng tư pháp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Thủ tục TTDS rút gọn là thủ tục ít tổn kém, góp phần giảm bớt các chi
p hí tố tụng, tạo điều kiện cho các Tòa án có thể tập frung thời gian và nguồn lực
vào những vụ án khổ khăn, phức tạp
Xét dưới góc độ kinh tế học, theo thủ tục TTDS rút gọn, trình tự tố tụng
được giản lược và thời gian giải quyết được rút ngắn nên các đương sự sẽ không
phải mất nhiều thời gian theo kiện, tránh được các tổn phí một cách không cần
thiết Tòa án cũng không phải tiến hành tất cả các thủ tục tố tụng như đối với thủ
tục thông thường nên có thể tiết kiệm được thời gian, nhân lực và các chi phí
phát sinh
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các giao lưu dân sự, kinh tế,
lao động ngày càng mở rộng dẫn tới số lượng các tranh chấp về dân sự, kinh tế,
lao động phát sinh cũng ngày một gia tăng, đa dạng và phức tạp Để khắc phục
áp lực về công việc cho ngành Tòa án thì hai giải pháp cần phải xem xét, đó là
tăng biên chế Thẩm phán cho ngành Tòa án và lược bỏ những khâu rườm rà,
không cần thiết ngay trong chính các quy định về thủ tục Nếu như chỉ tính tới
giải pháp tăng số lượng Thẩm phán thì kinh phí của Nhà nước cho hoạt động xét
xử của Tòa án sẽ ngày một gia tăng Cho nên, song song với việc khắc phục tình
trạng mât cân đôi giữa sô lượng công việc và biên chê Thâm phán, cân phải tính
đến phương án cải cách thủ tục tố tụng, đẩy nhanh tiến độ giải quyết tranh chấp
* để giải quyết tình trạng án tồn đọng Việc nghiên cứu xây dựng một loại hình
21
Trang 32thủ tạc đơn giản, nhanh chóng hơn để giải quyết những tranh chấp có nội dung
đơn giản, chứng cứ đã rõ ràng hoặc có giá ngạch thấp, tạo điều kiện cho ngành Tòa án có thể tập trung thời gian và nguồn lực con người vào những vụ án khó
khăr, phức tạp hơn
- Thủ tục TTDS rút gọn là phương tiện để đương sự cỏ thể nhanh chóng bảo
vệ co niệu quả quyền lợi của mình, nâng cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phản
Theo thủ tục TTDS rút gọn, trình tự tổ tụng được giản lược và thời gian
giải qiyết được rút ngắn nên các đương sự sẽ không phải mất nhiều thời gian
theo kiện, mà có thể nhanh chóng đạt được quyết định có hiệu lực pháp luật của
Tòa kì làm cơ sở buộc đối phương phải thực hiện nghĩa vụ của mình Với điểm
đặc bệt về sự đơn giản hóa thủ tục tố tụng và hiệu lực của phán quyết sẽ hạn
chế điợc hiện tượng lạm dụng quyền kháng án nhằm trì hoãn việc thi hành
nghĩa vụ Ngoài ra, thủ tục TTDS rút gọn được xây dựng sẽ là cơ sở pháp lý cần
thiết dể nâng cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán trong việc giải quyết
nhaiử chóng, đúng pháp luật những loại tranh chấp có nội dung đơn giản, rõ
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc cải cách thủ tục tố
tụng ư pháp, đổi mới hoạt động của Tòa án là một trong những nội dung và yêu
cầu a bản của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta đề xướng Tại Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã chỉ rõ: "Tiếp tục xây dựng và hoàn
thiệnhệ thống các văn bản pháp luật làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của hệ
thốnị các cơ quan tư pháp, đảm bảo mọi vỉ phạm pháp ỉuật đều phải xử lý, mọi
côngiân đều bình đẳng trước pháp luật".
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động phát
triển rong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, góp phần thúc đẩy
kinh ể - xã hội phát triển thì các tranh chấp phát sinh từ chính các quan hệ này
22
Trang 33cũng cần phải được giải quyết một cách nhanh chóng, có hiệu quả và công bàng Thực tế này đòi hỏi pháp luật TTDS cũng phải được hoàn thiện, đổi mới trên cơ
sở cải cách các thủ tục tố tụng, tạo cơ chế mềm dẻo, linh hoạt, nhanh chóng và hiệu quả Tại Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Đảng
ta đã chỉ rõ đường hướng cơ bản của việc đổi mới hoạt động tố tụng của Toà án
cũng như việc hoàn thiện pháp luật TTDS: "Hoạt động tư pháp phải nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân .bỏ thủ tục xét xử sơ chung thẩm của Toà án nhân dân tỗi cao và Toà án quân sự Trung ương Nghiên cứu
áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử kịp thời một sổ vụ án đơn giản, rõ ràng".
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ ra những nhiệm vụ trọng tâm trong việc hoàn
thiện thủ tục tố tụng tư pháp Đó là cần phải “Hoàn thiện các thủ tục tổ tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyển con người Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đổi với những vụ
án có đủ một sổ điều kiện nhất định”; “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục TTDS Đ ổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đom đến Tòa án, Tòa án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn Khuyển khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết
Như vậy, việc xây dựng thủ tục TTDS rút gọn là nhằm hiện thực hóa nhiệm vụ cải cách tư pháp, xây dựng một thủ tục tố tụng thực sự của dân, do dân
và vì dân Theo định hướng này, thủ tục TTDS rút gọn được xây dựng phải đáp ứng yêu cầu về tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyên con người, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; đơn giản hóa thủ tục nhận và thụ lý đơn kiện, khuyển khích việc thương lượng, hoà giải và vai trò hỗ trợ của Tòa án trong việc công nhận thỏa thuận giữa các bên Ngcài ra, có thể nhận thấy rằng, phần lớn các hoạt động TTDS của Toà án chính
, (1) Đmg Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49 - N Q /TƯ ngày 2/6/2005 cùa Bộ chính trị, Ban Chấp hành
Truny ương Đảng khỏa ỈX về Chiến ỉược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội, ừ 3,4.
Trang 34là hoạt động của Thẩm phán Do vậy, cải cách tố tụng tư pháp có thể xuất phát
từ chính sự đổi mới về thành phần tiến hành tố tụng, nâng cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động Cần phải mạnh dạn trao quyền cho một Thẩm phán có thể độc lập ra quyết định giải quyết tranh chấp nếu sự việc đã rõ ràng hoặc bị đơn đã thừa nhận nghĩa
vụ của mình, không phản đổi yêu cầu của nguyên đơn Cải cách này một mặt vẫn đảm bảo được việc giải quyết của Toà án là đúng đắn, đồng thời có thể tiết kiệm được cho Nhà nước về nguồn lực con người, đề cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán trong việc giải quyết tranh chấp
Theo đường lối đổi mới của Đảng về cải cách tư pháp hiện nay, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án cấp huyện ngày càng được mở rộng nhằm giảm nhẹ gánh nặng xét xử phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao Theo xu hướng này Toà án cấp huyện phải là cấp chủ yếu xét xử sơ thẩm các vụ án dân
sự, kinh tế, lao động, trong đó có các việc kiện đơn giản, rõ ràng hoặc có giá ngạch thấp Do vậy, thủ tục TTDS rút gọn được xây dựng nhàm tạo cơ sở pháp
lý cho việc nâng cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán trong việc giải quyết những vụ kiện đơn giản, rõ ràng hoặc có giá ngạch thấp, kịp thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhân dân, khắc phục tình trạng kéo dài thời gian giải quyết vụ việc một cách không cần thiết
gọn vói các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
Khi nghiên cứu về mối tương quan giữa pháp luật nội dung và pháp luật
tố tụng, Mác kết luận rằng " Thủ tục tổ tụng và pháp luật liên hệ mật thiết với nhau như hình thải của thực vật với thực vật, hình thải của động vật với thịt và máu của động vật Thủ tục tổ tụng cũng như các luật pháp đều cùng phải quản triệt lĩột tinh thần bởi vì thủ tục tổ tụng chỉ là hình thức tồn tại của luật, do đổ cũng là biểu hiện của đời sổng bên ừ"ong của luật" Các nhà nghiên cứu về tố tụng học của Châu Âu cũng khẳng định “Mối liên hệ giữa tố quyền và quyền lợi
24
Trang 35là không thể phủ nhậnn{X\ Giữa pháp luật dân sự và pháp luật TTDS có một mối
quan hệ gắn bó mật thiết hữu cơ như vậy cho nên việc nghiên cứu xây dựng một
thủ tục TTDS rút gọn trong điều kiện hiện tại không thể tách rời các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật dân sự
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định Điều 4 tới
Điều 12 Bộ luật dân sự năm 2005 là tư tưởng chỉ đạo trong việc vận dụng để
giải quyết các tranh chấp Đó là các nguyên tắc sau đây: Nguyên tắc tự do, tự
nguyện cam kết thoả thuận (Điều 4); nguyên tắc bình đẳng (Điều 5); nguyên tắc
thiện chí, trung thực (Điều 6); nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự (Điều 7);
nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp (Điều 8); nguyên tắc tôn
trọng, bảo vệ quyền quyền dân sự (Điều 9); Nguyên tắc tuân thủ pháp luật (Điều
11); Nguyên tắc hòa giải (Điều 12) Việc nghiên cứu cho thấy những nội dung
cơ bản của nguyên tắc này vẫn được kế thừa trong Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi
- Theo kết quả nghiên cứu thì các nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận; bình đẳng; thiện chí, trung thực; chịu trách nhiệm dân sự; hoà giải;
tôn trọng, bảo vệ quyền quyền dân sự được quy định tại các Điều 4, Điều 5,
Điều 6, Điều 7, 9 của Bộ luật dân sự là tiền đề quan trọng cho việc nghiên cứu
xây dựng một thủ tục đơn giản hơn áp dụng giải quyết những tranh chấp đơn
giản, rõ ràng hoặc một bên đương sự thừa nhận nghĩa vụ của mình:
về phương diện lý luận, để thủ tục TTDS rút gọn được xây dựng đáp ứng
được yêu cầu về tính nhanh chóng, hiệu quả thì việc xây dựng thủ tục này phải
căn cứ vào tính chất của từng loại tranh chấp Do chứng cứ của vụ tranh chấp đã
rõ ràng, người có nghĩa vụ đã thừa nhận nghĩa vụ của mình nên vấn đề giải
quyết tranh chấp chỉ còn là việc buộc người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ
của mình Theo nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự, nếu người có nghĩa vụ
không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình thì sẽ bị cưỡng chế thực hiện theo
quy định của pháp luật Trong những trường hợp này các tình tiết của vụ kiện đã
được xác định thông qua các chửng cứ có độ tin cậy hoặc thông qua lời thừa
(1) Mác — Ằnghen (1995), tập 1, tx 158; Serge Guinchard et Frédérique Ferrand (2006), "Procédure civile",
• Dalloz, 20 édition, ừ 129.
25
Trang 36nhận của bên có nghĩa vụ nên Tòa án có thể nhanh chóng ra phán quyết buộc họ
phải thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình Phán quyết của Toà án là cơ sở pháp
lý để người được thi hành án có thể yêu cầu cơ quan thi hành án áp dụng các
biện pháp cưỡng chế cần thiết
- Dưới góc độ kinh tể học cần phải tính đến hiệu quả xã hội của việc giải quyết các tranh chấp về tài sản có giá trị nhỏ Theo nghiên cứu thì có thể coi quy
định tại Điều 8 và Điều 12 Bộ luật dân sự về nguyên tắc tôn trọng đạo đức,
truyên thống tốt đẹp và nguyên tắc hòa giải trong quan hệ dân sự là tư tưởng chỉ
đạo để vận dụng giải quyết các tranh chấp về tài sản có giá trị nhỏ:
Theo các nguyên tắc trên thì việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân
sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập
quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết tương thân, tương ái và các giá trị đạo
đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Trong
trường hợp có tranh chấp nhỏ thì trên cơ sở tinh thần đoàn kết tương thân, tương
ái vả truyền thống hòa giải của dân tộc, Thẩm phán có thể giúp các bên thương
lượr.g để giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa giải Việc xây dựng một thủ
tục giản lược hơn có thể giải quyết dứt điểm tranh chấp là giải pháp để phát huy
truyèn thống tốt đẹp của người Việt, khắc phục hiện tượng giá trị việc kiện tuy
không lớn nhưng do mâu thuẫn cá nhân hoặc tâm lý cố chấp theo kiện đến cùng
dẫn tới vụ kiện phải qua nhiều cấp xét xử, gây tổn phí cho đương sự và hệ thống
tư piáp trong khi lợi ích cần bảo vệ là không lớn
gọn với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay
cần phải hướng tới bảo đảm các thủ tục phải thuận tiện cho người dân khi có yêu
cầu khởi kiện; bảo đảm đa dạng hóa các phương thức và thủ tục giải quyết tranh
chấp; bảo đảm tính linh hoạt, mềm dẻo về thủ tục và hiệu quả khi áp dụng trong
thực tiễn(1)
, Tl Trần Anh Tuấn (2010), “Hoàn thiện pháp ỉuậí Việí Nam về thủ tục giài quyết vụ việc dân sự theo định
hướnr cài cách tư pháp Đe tài khoa học cấp ứường, Hà Nội, ư 6.
Trang 37Như đã luận giải ở trên thì thủ tục TTDS rút gọn là thủ tục giải quyết về quyền và nghĩa vụ của đương sự nhưng được đơn giản hóa hơn so với thủ tục tố tụng thông thường (đặc điểm thứ ba) Do vậy, về phương diện lý luận thì việc xây dựng các quy định về thủ tục TTDS rút gọn ở Việt Nam về căn bản phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của TTDS Theo đó, thủ tục rút gọn được xây dựng vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự như quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp (Điều 4), quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5), bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự (Điều 9), bảo đảm quyền tranh luận trong TTDS (Điều 23 a), bảo đảm quy én khiếu nại, tố cáo trong TTDS (Điều 24); các nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh của đương sự (Điều 6), về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Điều 7) Ngoài ra, các nguyên tắc liên quan đến tính độc lập, khách quan và giám sát tố tụng của Tòa án cũng phải được áp dụng đối với thủ tục TTDS rút gọn được xây dựng như nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 12), Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia TTDS (Điềd 16), Bảo đảm pháp chế trong TTDS (Điều 3), Giám đốc việc xét xử (Điều 18)
Tuy nhiên, việc nghiên cứu cũng cho thấy rằng cơ chế một Thẩm phán raphán quyết và sự giản lược về thủ tục tổ tụng là hai đặc điểm cơ bản của thủ tụcTTDS rút gọn Do vậy, một số nguyên tắc của TTDS có thể sẽ không được ápdụng đối với thủ tục TTDS rút gọn hoặc việc áp dụng có thể chỉ được thực hiện
ở mọt mức độ nhất định do yêu cầu giản lược về thành phần và thủ tục tố tụngđối /ới một số loại tranh chấp có tính đặc thù Chẳng hạn, nguyên tắc Hội thẩmnhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự (Điều 11), Toà án xét xử tập thể (Điều14) có thể không được áp dụng với thủ tục TTDS rút gọn; nguyên tắc tráchnhiệm hòa giải của Tòa án (Điều 10), nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử(ĐĨẾU 17), nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS (Điều 21)
có tiể chỉ được thực hiện ở mức độ hạn chế đối với thủ tục TTDS rút gọn Việckhôig áp dụng các nguyên tắc này đối với thủ tục TTDS rút gọn được xây dựng
đã tược mở đường bởi những sửa đổi mới đây về nguyên tắc hoạt động của Tòa
27
Trang 38án tậ Điều 103 Hiển pháp năm 2013.
Có thể nhận thấy rằng Hiến pháp là đạo luật gốc của cả hệ thống pháp luật Do vậy, những sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp sẽ là cơ sở pháp lý của việc sửa đổi một số quy định của pháp luật TTDS Hiến pháp năm 201- đã có một sổ sửa đổi, bổ sung đối với các nguyên tắc về TTDS như nguyên tắc việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm nhân dân tham gia; nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số; nguyên tắc tranh tụng; nguyên tắc chế độ xét
xử sorthẩm, phúc thẩm được bảo đảm (1) Do vậy, trong lần sửa đổi BLTTDS tới đây thì các quy định về một số nguyên tắc có liên quan tới sự giản lược về thàrii phần và thủ tục tiến hành tố tụng đã được sửa đổi bởi Hiến pháp năm 2013 cần phải được chỉnh sửa theo hướng xác định những ngoại lệ đổi với các vụ kiện giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn
- Nguyên tắc về sự tham gia tổ tụng của Viện kiểm sát với việc xây dựng thú tụ: TTDS rút gọn
Theo nghiên cứu thì việc không quy định về sự tham gia bắt buộc của Viện ciểm sát trong thủ tục TTDS rút gọn là nhằm đáp ứng yêu cầu giản lược về thủ tỊC và thành phần tiến hành tố tụng Nhóm nghiên cứu chuyên đề cũng cùng
có chmg một nhận định về vấn đề này Theo TS Trần Phương Thảo thì do tính chất \ụ việc quá đơn giản, chứng cứ rõ ràng, nghĩa vụ đã được bị đơn thừa nhận hay gá trị tranh chấp nhỏ nên quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát tại
phiên tòa không nên cứng nhắc Sau khi Tòa án đã ra phán quyết thì Viện kiểm sát vài có thể kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án thông qua việc yêu cầu Tì>a án chuyển hồ sơ vụ việc cho Viện kiểm sát(2) TS Nguyễn Triều Dương cho ring cần phải sửa đổi nguyên tắc về sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát
theo lướng coi sự không tham gia của Viện kiểm sát vào quá trình giải quyết vụ
án thto thủ tục rút gọn như là một ngoại lệ của nguyên tắc này(3)
(1) TS Nguyễn Triều Dương, Chuyên đề 2, “M ối liên hệ giữa việc xây dựYìg thủ tục TTDS rút gọn với một sỗ
ngưyênắc cơ bàn cùa TTDS’\ tr 144, 145; Xem Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
TS.^rần Phương Thào, Chuyên đề 3, “Sự tương đồng và khác biệt giữa thủ íục giải qưyểt việc dân sự và íhủ
tục tô Í7ìg dân sự rứt gọn”tr. 168, 169.
TS Nguyễn Triều Dương, Chuyên đề 2, “M ối liên hệ giữa việc xây dựng thù tục TTDS rút gọn với mộí số
nguyên ắc cơ bản của TTDS”, tr 159, 160.
28
Trang 39- Nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án và nguyên tắc quyển tự định đoạt của đương sự với việc xây dựng thủ tục TTDS rút gọn
Trách nhiệm hòa giải của Tòa án là một nguyên tắc cơ bản và đặc trưng
trong TTDS Việt Nam Do những lợi ích của hòa giải nên nhà lập pháp đã đề
cao vai trò của Tòa án trong việc hòa giải giữa các bên về tranh chấp, thậm chí
coi đây là một thủ tụng tố tụng bắt buộc trước khi tiến hành xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự Trường hợp hòa giải thành thì quyết định của Tòa án công nhận kết
quả hòa giải sẽ có hiệu lực pháp luật ngay và được thi hành theo thù tục thi hành
án dân sự Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc hòa giải của Tòa án có tính bắt
buộc hay có thể tùy nghi lại phụ thuộc vào tính chất đơn giản hay phức tạp của
các lcại việc được giải quyết theo thủ tục rút gọn Đối với những vụ án có giá trị
nhỏ cố tính đơn giản, rõ ràng thì không nên coi hòa giải tại Tòa án là có tính bắt
buộc trước khi xét xử, còn những tranh chấp có giá trị nhỏ nhưng do những
vướng mắc về tâm lý, tình cảm, mâu thuẫn cá nhân thì vẫn phải tiến hành hòa
giải trước khi xét xử sơ thẩm Ngoài ra, đối với những tranh chấp có chứng cứ rõ
ràng, một bên đương sự đã thừa nhận hoặc không phản đối nghĩa vụ hoặc việc
áp dụng pháp luật là đơn giản thì sẽ hợp lý hơn nếu cho phép Thẩm phán có thể
tùy nghi quyết định cỏ càn thiết phải triệu tập các bên đương sự đến để hòa giải
trước khi xét xử hay không
Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là một nguyên
tắc đic trưng của TTDS Theo nguyên tắc này đương sự có quyền tự quyết định
về lựa chọn phương thức để giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của ninh, tự mình quyết định việc khởi kiện hay không khởi kiện trước Tòa án
hoặc thỏa thuận với nhau về việc giải quyết quyền lợi đang tranh chấp Từ trước
tới ruy, Giáo trình về TTDS của các cơ sở đào tạo luật và nghề luật ở Việt Nam
dườrg như không đặt ra vấn đề mở rộng áp dụng nguyên tắc này theo hướng ghi
nhận quyền lựa chọn thủ tục TTDS của đương sự Hai công trình nghiên cứu
gần (ỉây về thủ tục TTDS tiếp cận theo hướng thừa nhận quyền của đương sự
tron£ việc thỏa thuận lựa chọn thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp giữa họ
với ihau Tuy nhiên, quan điểm về giới hạn của sự mở rộng này cũng còn có
29
Trang 40điểm khác biệt nhất định Viện nghiên cứu Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân
tối c-ao cho ràng ''cần quy định quyền của các bên đưong sự được lựa chọn thủ tục rú t gọn để giải quyết tranh chấp giữa họ và khỉ đã lựa chọn thủ tục rút gọn, các dương sự cũng phải tuân theo quy định của pháp luật về phán quyết của Tòa
án theo thủ tục rút gọn đó Đây là một vẩn đề mang tính cải cách quan trọng trong thủ tục TTDS ở nước ta mà những nhà làm luật cần nghiên cứu khi xây dựng quy trình TTDS ”^ \ Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả Trần Anh Tuấn cũng cho ràng “nếu các bên đương sự hoàn toàn tự nguyện trong việc thỏa thuận lựa chọn thủ tục giản đơn hơn để giải quyết tranh chấp giữa họ với nhau thì pháp luật cũng nên tôn trọng quyền tự định đoạt này Tuy nhiên, công trình nghiên cứu thứ hai này lại đi theo hướng giới hạn quyền lựa chọn thủ
tục này trong một khuôn khổ nhất định Theo đó, “để tránh việc đương sự lạm dụng quyền thỏa thuận lựa chọn thủ tục rút gọn nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ, gây thiệt hại cho lợi ích của người thứ ba, đồng thời bảo đảm cho Tòa
án có thể giải quyết chính xác, đúng pháp luật vụ kiện trong một thời hạn rút ngắn thì việc quy định như thể nào cũng là điều cần cân nhắc Chỉ nên giới hạn quyền thỏa thuận lựa chọn thủ tục rút gọn của đương sự đổi với những vụ kiện
cỏ nội dung đơn giản, Tòa án không mất nhiều thời gian để xác mỉnh”(ĩ\
Từ những góc nhìn trên, nhóm nghiên cứu cho rằng chính các bên đương
sự là chủ thể có lợi ích tranh chấp, nên quyền tự thỏa thuận về lựa chọn thủ tục TTDS rút gọn của họ cần được ghi nhận với điều kiện thỏa thuận này không gây tổn hại đến lợi ích họp pháp của các chủ thể khác Ngoài ra, cần cân nhắc về loại việc được xác định có thể giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn, mức độ giản lược về thủ tục được xây dựng để từ đó quyết định về giới hạn quyền thỏa thuận lựa chọn thủ tục TTDS rút gọn cũng như tham khảo thêm kinh nghiệm quốc tế
về vấn đề này để tìm kiếm giải pháp hợp lý ở Việt Nam
(1) Viện Khoa học xét xử - Tòa án nhân dần tối cao (1995), “Một số vấn đề vẻ cơ sở ỉý luận và thực tiền của việc
xây dựng BLTTDS”, Đề tài cấp bộ, ữ 72.
(2) Trần Anh Tuấn (2000), “Những vắn đề ỉý luận và thực tiễn của việc xây dựng thủ tục rút gọn trong TTDS Việt
Nam "t Luận văn cao học, tr 41.
í3) Trần Anh Tuấn (2000), Tỉđd, ừ 73.
30