1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bổ trợ tư pháp trong tố tụng trọng tài thương mại

93 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo từ điển chuyên ngành luật Black’s Law, xuất bản lần thứ sáu 1991: “Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên đồng ý rằng một bên thứ ba trung lập Trọng tài

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trải qua 3 năm đại học, với em đã gặp không ít những khó khăn, thử thách Và

việc thực hiện Khóa luận tốt nghiệp lần này là một trong những thử thách cuối cùng mà

em phải vượt qua Để hoàn thành bài Khóa luận như ngày hôm nay đòi hỏi phải có sự

hỗ trợ, giúp đỡ từ nhiều phía Chính vì lẽ đó, em xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến

những người luôn bên cạnh trực tiếp cũng như gián tiếp quan tâm, giúp đỡ em trong

quá trình thực hiện

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại Học Công Nghệ TP Hồ Chí

Minh, nơi đã tạo điều kiện về vật chất, trang thiết bị cho em trong quá trình học tập tại

trường Bên cạnh đó em cũng xin cảm ơn các Phòng, Ban nhà trường đã hướng dẫn, hỗ

trợ em trong việc đăng ký thực hiện Khóa luận

Ngoài ra, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô Khoa Luật đã luôn thấu

hiểu, quan tâm đến nguyện vọng của chúng em Tạo cơ hội cho những sinh viên học

vượt như em có điều kiện thực hiện Khóa luận sớm hơn dự kiến

Cuối cùng, người em muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất là thầy Nguyễn Minh

Nhựt, ngoài việc là một giảng viên hướng dẫn thực hiện Khóa luận, thầy còn giúp đỡ,

định hướng sự nghiệp của em trong tương lai Thầy luôn tận tình giải đáp những khó

khăn, vướng mắc của em trong quá trình học tập cũng như trong công việc Một lần

nữa em xin chân thành cảm ơn thầy

Do kiến thức chuyên môn của em còn hạn chế, bài Khóa luận sẽ không tránh khỏi

những sai sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy, cô Em xin

chân thành cảm ơn!

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên NGUYỄN NHẬT ANH, MSSV: 1511270901

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp

này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và

theo đúng qui định);

Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác

Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và pháp luật

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Trang 4

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của khoá luận 3

NỘI DUNG CHÍNH ĐỀ TÀI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỔ TRỢ TƯ PHÁP 4

1.1 Khái quát về Trọng tài thương mại 4

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về Trọng tài thương mại 4

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật trọng tài ở Việt Nam 8

1.1.3 Thủ tục tố tụng Trọng tài thương mại 11

1.2 Pháp luật về bổ trợ tư pháp 13

1.2.1 Khái quát về bổ trợ tư pháp 13

1.2.2 Tầm quan trọng của việc bổ trợ tư pháp đối với hoạt động trọng tài 13

1.2.3 Cơ quan thực hiện bổ trợ tư pháp trong tố tụng trọng tài 14

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 17

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG BỔ TRỢ TƯ PHÁP TRONG LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NĂM 2010 18

2.1 Quy định về bổ trợ tư pháp bắt buộc 18

2.1.1 Tòa án chỉ định, thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc 18

2.1.2 Tòa án xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của Hội đồng trọng tài 22

2.1.3 Tòa án hủy phán quyết trọng tài hoặc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc 24 2.1.4 Tòa án công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam 27

Trang 6

2.2 Quy định về bổ trợ tư pháp theo yêu cầu 33

2.2.1 Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ 33

2.2.2 Tòa án hỗ trợ triệu tập người làm chứng 35

2.2.3 Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 36

2.2.4 Cơ quan thi hành án hỗ trợ thi hành phán quyết trọng tài 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 41

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỔ TRỢ TƯ PHÁP TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 42

3.1 Thực tiễn việc áp dụng hoạt động bổ trợ tư pháp đối với giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng tố tụng trọng tài 42

3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật bổ trợ tư pháp 55

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 58

KẾT LUẬN 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

PHỤ LỤC 61

Trang 7

Trọng tài là phương thức được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế thị trường như Anh, Pháp, Đức, Thụy Sĩ Phương thức trọng tài được các thương nhân nước ngoài ưa chuộng bởi nguyên tắc tôn trọng quyền

tự do thỏa thuận, quyền tự định đoạt và quyền tự chủ của đương sự Ngoài ra, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài khá nhanh gọn và đơn giản, với nguyên tắc giải quyết tranh chấp không công khai nên việc giữ được uy tín, bí mật kinh doanh và mối quan

hệ hợp tác giữa các bên được đảm bảo Một điều hết sức lưu ý, nếu không có vi phạm pháp luật trong tố tụng thì phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị, thời gian tố tụng không bị kéo dài, không ảnh hưởng nhiều đến lợi ích kinh doanh của đôi bên

Tuy là phương thức được ưu tiên hàng đầu trên thế giới, nhưng ở Việt Nam, hoạt động trọng tài lại khá khiêm tốn, số lượng các tranh chấp được các thương nhân đưa lên Trọng tài chưa thật sự cân xứng với phía Tòa án Thực tiễn đã có những báo cáo, phân tích đưa ra nhiều nguyên nhân dẫn đến việc các doanh nghiệp không mặn mà với loại hình giải quyết tranh chấp này Nhưng theo ý kiến cá nhân, tác giả cho rằng, để khuyến khích giới thương nhân lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp, cần có sự hỗ trợ tích cực từ phía cơ quan quyền lực nhà nước, mà điển hình là Tòa án

Trang 8

2

Chính vì lẽ đó, trên tinh thần vừa kế thừa những nghiên cứu, đánh giá của những tác giả đi trước, vừa tập trung đi sâu phân tích vai trò của cơ quan nhà nước trong việc

bổ trợ tư pháp đối với hoạt động trọng tài, khóa luận với chủ đề “Pháp luật về bổ trợ

tư pháp trong tố tụng trọng tài thương mại” sẽ đưa ra những lý luận về pháp luật

trọng tài ở Việt Nam cũng như thực tiễn việc bổ trợ tư pháp đối với hoạt động Trọng tài, song song đó là đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn về cơ chế

này trong tương lai

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Qua quá trình tìm hiểu, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực Trọng tài thương mại, như luận văn thạc sĩ của tác giả Tống Vân Huyền với chủ đề “Sự hỗ trợ của Tòa án đối với giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam” hay bài viết đăng trên diễn đàn doanh nghiệp của tác giả Phạm Tuấn Anh – Chánh tòa kinh tế Tòa án nhân dân Hà Nội với chủ đề “Vai trò của Tòa án trong

tố tụng trọng tài thương mại” Tuy nhiên việc nghiên cứu sự bổ trợ tư pháp đối với hoạt động trọng tài còn tương đối ít và khá chung chung, chưa làm bật lên được vai trò không thể thiếu của Tòa án – cơ quan bổ trợ tư pháp chủ yếu và Cơ quan thi hành án

Vì thế, đề tài này hy vọng sẽ mang lại kết quả thiết thực cho vấn đề hỗ trợ của Tòa án

và Cơ quan thi hành án đối với hoạt động trọng tài trong thời gian sắp tới

3 Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc

bổ trợ tư pháp đối với hoạt động giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài tại Việt Nam Khóa luận tập trung nghiên cứu về thẩm quyền, vai trò và trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với hoạt động trọng tài

Phạm vi nghiên cứu: khóa luận tập trung nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật về Trọng tài như Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (PLTTTM 2003), Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM 2010) và những văn bản có liên quan như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015), Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 (LTHADS) Ngoài ra, khóa luận còn nghiên cứu thêm ở các sách chuyên khảo, tạp chí chuyên ngành luật và những bài viết được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng

Trang 9

3

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Song song đó là sự kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích những quy định pháp luật trong lĩnh vực Trọng tài; tổng hợp những dẫn chứng, ví dụ, minh họa để làm rõ hơn các vấn đề trong hoạt động tố tụng trọng tài, so sánh các hình thức giải quyết tranh chấp, từ đó đưa ra những ưu điểm, hạn chế của từng phương thức giải quyết tranh chấp; khảo sát thực tiễn thông qua những bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài có liên quan đến đề tài khóa luận

5 Kết cấu của khoá luận

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo khóa luận được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Tổng quan về Trọng tài thương mại và pháp luật về bổ trợ tư pháp Chương 2: Quy định về hoạt động bổ trợ tư pháp trong Luật Trọng tài thương mại

năm 2010

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bổ trợ tư pháp

trong tố tụng trọng tài thương mại

Trang 10

4

NỘI DUNG CHÍNH ĐỀ TÀI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP

LUẬT VỀ BỔ TRỢ TƯ PHÁP 1.1 Khái quát về Trọng tài thương mại

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về Trọng tài thương mại

a) Khái niệm

Trọng tài thương mại là một thuật ngữ không còn quá xa lạ đối với đời sống kinh

tế - xã hội ở các nước trên thế giới Tuy nhiên, thuật ngữ này chỉ mới được biết đến và

sử dụng phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây Khái niệm này đã thay thế cho khái niệm Trọng tài kinh tế ra đời từ năm 1994 trong Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế

Hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới đã tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về Trọng tài Theo từ điển chuyên ngành luật Black’s Law, xuất bản lần thứ sáu (1991): “Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên đồng ý rằng một bên thứ ba trung lập (Trọng tài viên hay Hội đồng trọng tài)

sẽ ban hành một quyết định có căn cứ pháp lý sau khi các bên đã có cơ hội trình bày vụ tranh chấp của mình” Hay theo Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ: “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét, giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị buộc các bên phải thi hành” Như vậy, có khá nhiều khái niệm về Trọng tài thương mại, nhưng nhìn chung các khái niệm đều tập trung xem xét định nghĩa ở hai góc độ:

- Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh

thương mại, là quy trình tố tụng được dẫn dắt bởi một Hội đồng trọng tài hoặc một Trọng tài viên Họ với vai trò là bên thứ ba độc lập, đứng ra giải quyết tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành

- Trọng tài là một cơ quan tiến hành giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương

mại, được các Trọng tài viên đủ tiêu chuẩn thành lập theo pháp luật quốc gia nơi

cơ quan đặt trụ sở, để giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh

Trang 11

5

thương mại Có ba loại hình tổ chức của Trọng tài thương mại là Trung tâm trọng tài (VIAC, SIAC), Hiệp hội trọng tài (Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ, Hiệp hội trọng tài Nhật Bản) và Viện trọng tài (Viện trọng tài Luân Đôn, Viện trọng tài Stockholm –

b) Đặc điểm

Trọng tài thương mại, vừa là phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại, vừa mang bản chất của một cơ quan tài phán, có những đặc trưng như sau:

- Trọng tài thương mại là một tổ chức xã hội – nghề nghiệp, “có tư cách pháp nhân,

động trên tinh thần tự nguyện của những người sáng lập, không dựa trên ý chí của Nhà nước nên không mang bản chất quyền lực nhà nước Bên cạnh đó, Trọng tài viên không là viên chức nhà nước, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước và không nhân danh Nhà nước khi đưa ra phán quyết

- Thẩm quyền của Trọng tài không đương nhiên có Thẩm quyền của Trọng tài chỉ

phát sinh khi các bên trong tranh chấp có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận này có thể được xác lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Vì vậy, có thể nói, thẩm quyền của Trọng tài phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định của các bên tham gia tranh chấp Nếu các bên không thỏa thuận, hoặc có thỏa thuận mà thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được thì thẩm quyền giải quyết của Trọng tài cũng tuyệt nhiên là không

- Phương thức Trọng tài luôn đảm bảo cho đương sự quyền tự định đoạt rất cao

Đương sự có quyền lựa chọn hình thức trọng tài để giải quyết (Trọng tài quy chế hay Trọng tài vụ việc), lựa chọn Trọng tài viên, Bộ quy tắc trọng tài, ngôn ngữ sử dụng trong quá trình tố tụng và hơn thế nữa là luật áp dụng điều chỉnh vụ tranh chấp

- “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai”.3 Nguyên

Trang 12

6

cộng giúp cho các doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thay vì Tòa án Bởi đặc thù của lĩnh vực kinh doanh thương mại là sự cạnh tranh Để cạnh tranh được với đối thủ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đưa ra những cái mới, cái sáng tạo và đặc biệt là đảm bảo bí mật kinh doanh không bị tiết lộ Chính vì vậy, việc giải quyết tranh chấp không công khai đã phần nào giúp các doanh nghiệp hạn chế việc bí mật kinh doanh, thông tin nội bộ của công ty bị tràn ra bên ngoài, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh sau này Hơn thế nữa, việc không công khai thông tin doanh nghiệp sẽ đảm bảo được

uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế

- Phán quyết của Trọng tài là chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị và có

hiệu lực thi hành đối với các bên tranh chấp Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của tố tụng trọng tài, nhân danh ý chí và quyền định đoạt của các bên đương sự Các bên đương sự đã tự do lựa chọn và tín nhiệm người phán xử cho mình thì đương nhiên phải phục tùng quyết định của người đó

- Phương thức Trọng tài nhận được sự hỗ trợ từ Tòa án Với bản chất là cơ quan

quyền lực Nhà nước, những hoạt động hỗ trợ của Tòa án như thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng, giúp cho quá trình giải quyết tranh chấp của Trọng tài trở nên thuận lợi hơn Từ đó hoạt động trọng tài trở nên hiệu quả hơn, phía Tòa án

sẽ giảm bớt được gánh nặng trong việc phải thụ lý quá nhiều đơn kiện Đây có thể nói là sự hỗ trợ về mặt nhà nước, để bảo vệ và phát triển một tổ chức tài phán tư (Trọng tài) song song với một tổ chức tài phán công (Tòa án) Đảm bảo tự do ý chí cho đương sự trong việc lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp

c) Hình thức Trọng tài thương mại

Trọng tài thương mại tồn tại hai hình thức là Trọng tại vụ việc (Trọng tài ad hoc)

và Trọng tài thường trực (Trọng tài quy chế)

(i) Trọng tài vụ việc

doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có thể xét xử kín.”

Trang 13

7

“Trọng tại vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và

chấp được giải quyết Bản chất của Trọng tài vụ việc được thể hiện qua những đặc trưng cơ bản như sau:

- Trọng tài vụ việc được thành lập khi có phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động khi tranh chấp được giải quyết Nói cách khác, Trọng tài vụ việc chỉ mang tính chất lâm thời, không cố định, chỉ tồn tại và hoạt động trong quá trình giải quyết tranh chấp

- Trọng tài vụ việc không có cơ sở thường trực, không có bộ máy điều hành, không

có danh sách Trọng tài viên Trọng tài được chỉ định không bị giới hạn trong bất kỳ một danh sách Trọng tài viên nào của bất cứ Trung tâm trọng tài nào

- Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình mà thay vào đó là các bên tự thỏa thuận chọn một quy tắc tố tụng phổ biến và thường là những quy tắc tố tụng tại Trung tâm trọng tài có uy tín trong nước hoặc quốc tế

Ưu điểm của loại hình này là chi phí thấp, thời gian giải quyết nhanh do không phải thành lập hội đồng Tuy nhiên, Trọng tài vụ việc chỉ thích hợp với những tranh chấp nhỏ, ít phức tạp Do thiếu tính ổn định và quy chế hoạt động chưa chặt chẽ nên hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp không cao

(ii) Trọng tài thường trực

Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, hoạt động theo điều lệ riêng, thường xuyên tồn tại để giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của mình khi được các bên yêu cầu

Trên thế giới, Trọng tài thường trực được tổ chức ở ba dạng là: Trung tâm trọng tài (VIAC, SIAC), Hiệp hội trọng tài (Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ, Hiệp hội trọng tài Nhật Bản) và Viện trọng tài (Viện trọng tài Luân Đôn, Viện trọng tài Stockholm – Thụy Sĩ) Tại Việt Nam, nhà nước Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức Trung tâm trọng tài

Tương tự Trọng tài vụ việc, Trọng tài thường trực có những đặc điểm riêng biệt như sau:

5 Khoản 7 Điều 3 LTTTM 2010

Trang 14

8

- Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu, có trụ sở hoạt động và được cơ quan nhà nước cấp phép thành lập Trung tâm trọng tài không phải là do nhà nước thành lập nên không nằm trong danh sách những cơ quan nhà nước Đó là sự khác biệt cơ bản giữa Trọng tài và Tòa án hay Trọng tài kinh tế nhà nước trước đây

- Các Trung tâm trọng tài đều hoạt động độc lập với nhau, giữa các trung tâm không

có mối quan hệ lệ thuộc về cơ cấu tổ chức hoặc về tài chính Trong khi đó, Tòa án lại có sự liên hệ chặt chẽ và ràng buộc lẫn nhau từ các cấp

- Mỗi Trung tâm trọng tài đều tự xây dựng riêng cho mình một bản điều lệ và quy tắc tố tụng riêng trên cơ sở những quy định pháp luật về trọng tài do nhà nước ban hành Tuy nhiên, những quy tắc tố tụng này mang tính vận dụng và sáng tạo, các trung tâm đều muốn đơn giản hóa thủ tục pháp luật và tăng khả năng tự định đoạt của đương sự nhằm tạo sự mới lạ, hấp dẫn cho việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài, đây cũng được xem là điểm khác biệt cơ bản giữa Trọng tài và Tòa

án

Từ những đặc điểm trên ta có thể thấy Trọng tài thường trực với một cơ cấu tổ chức, quản lý cố định và bộ quy tắc tố tụng riêng, hơn thế nữa là một đội ngũ Trọng tài viên uy tín, trình độ chuyên môn cao nên việc giải quyết tranh chấp hiệu quả hơn Trọng tài vụ việc là điều hiển nhiên Tuy nhiên, Trọng tài thường trực cũng có một số hạn chế nhất định như: chi phí trọng tài cao; chỉ được chọn Trọng tài viên có trong danh sách; bộ quy tắc tố tụng đôi khi không phù hợp với một số tranh chấp cụ thể Như vậy, với mỗi hình thức trọng tài đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, đòi hỏi đương sự phải hiểu rõ tính chất của tranh chấp mà mình đang tham gia và đặc điểm của các loại hình trọng tài để chọn lựa cho mình một hình thức phù hợp, đảm bảo phán quyết có khả năng thực thi cao

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật trọng tài ở Việt Nam

Việt Nam là một đất nước trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử Hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về Trọng tài nói riêng cũng ít nhiều bị ảnh hưởng bởi những biến động này Tiến trình hình thành và phát triển của Trọng tài thương mại trải qua hai giai đoạn chủ yếu: giai đoạn từ những năm 60 của thế kỷ XX đến trước khi ban

Trang 15

9

hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (PLTTTM 2003) và giai đoạn kể từ khi ban hành PLTTTM 2003 đến khi ban hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM 2010)

a) Giai đoạn từ những năm 60 của thế kỷ XX đến trước khi ban hành PLTTTM

2003

Trong giai đoạn này, có hai hình thức trọng tài tồn tại song song ở Việt Nam, đó là Trọng tài kinh tế nhà nước và Trọng tài kinh tế phi nhà nước

(i) Trọng tài kinh tế nhà nước

Vào những năm 1960 của thế kỷ XX, khi công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc cơ bản hoàn thiện Đảng và nhà nước bắt đầu đẩy mạnh phát triển kinh tế -

xã hội, theo đó cơ chế tập trung, chuyên môn hóa, hợp tác hóa được đề cao, nhà nước trở thành đơn vị chủ quản đứng ra điều tiết mọi hoạt động kinh tế Trong giai đoạn này, Trọng tài kinh tế xuất hiện cùng với sự ra đời của chế độ hợp đồng kinh tế Khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 04/TTg ngày 04/01/1960 về ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế, không lâu sau đó, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 20/TTg ngày 14/01/1960 quy định về Tổ chức Hội đồng trọng tài (Trọng tài kinh tế nhà nước) Theo nghị định này, Hội đồng trọng tài sẽ được phân theo các cấp trung ương, khu, thành phố, tỉnh và bộ, với bản chất là một cơ quan nhà nước có chức năng chủ yếu là xử lý các vi phạm về hợp đồng kinh tế

Đến năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng ký ban hành Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981, Nghị định lần đầu tiên thống nhất tên gọi Hội đồng Trọng tài kinh tế là Trọng tài kinh tế và thành lập ngạch Trọng tài viên Ngày 17/04/1984, Hội đồng Bộ trưởng tiếp tục ban hành Nghị định số 62/HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế bộ, tỉnh, huyện

Năm 1986 đánh dấu một sự kiện lớn của nước ta, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI họp và thống nhất “đổi mới về kinh tế - chính trị - xã hội” Việt Nam bắt đầu chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường, xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp

và đổi mới quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế, tiến hành mở cửa kêu gọi đầu tư Với chính sách trên, Việt Nam đón nhận sự tham gia nhiều thành phần kinh tế khác nhau,

Trang 16

10

nhiều loại hình kinh tế mới lạ du nhập vào trong nước Điều này dẫn đến các tranh chấp trở nên đa dạng và phức tạp hơn Nhận thấy cơ chế Trọng tài kinh tế nhà nước không còn phù hợp với tình hình hiện tại, xã hội đòi hỏi phải đổi mới phương thức giải quyết tranh chấp Chính vì lẽ đó, Luật sửa đổi một số điều của Luật Tổ chức Tòa án năm 1993 ngày 28/12/1993 ra đời Theo đó, Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết những vụ án kinh

tế Bên cạnh đó, Trọng tài kinh tế nhà nước cũng chính thức bị giải thể

(ii) Trọng tài kinh tế phi nhà nước

Vào những năm 60 của thế kỷ XX, cùng với sự hình thành của tổ chức Trọng tài kinh tế nhà nước, thì hai tổ chức trọng tài phi chính phủ lần lược ra đời đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương (thành lập theo Nghị định số 59/CP ngày 30/4/1963) với nhiệm

vụ giải quyết tranh chấp giữa tổ chức kinh tế Việt Nam và tổ chức kinh tế nước ngoài; Hội đồng trọng tài hàng hải (thành lập theo Nghị định số 153/CP ngày 05/10/1964) với chức năng giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ hàng hải có yếu tố nước ngoài Tuy đây là hai tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhưng do được hình thành và hoạt động theo cơ chế của nền kinh tế kế hoạch tập trung nên chỉ phù hợp với tình hình nước ta ở thời điểm hiện tại Đến năm 1993, hai tổ chức này sáp nhập thành Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo Quyết định số 204/TTg ngày 28/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ Sau sự xuất hiện của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, Chính phủ tiếp tục ký ban hành Nghị định

số 116/CP ngày 05/09/1994 quy định tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế theo hình thức Trung tâm Trọng tài kinh tế

Trải qua gần 10 năm hoạt động (từ năm 1993 đến 2002) VIAC và các trung tâm trọng tài khác ở Việt Nam đã thể hiện được vai trò không thể thiếu của mình trong việc giải quyết tranh chấp thương mại Tuy nhiên, do không có sự đồng bộ về văn bản pháp luật điều chỉnh của những Trung tâm trọng tài, hiệu lực pháp lý còn yếu chỉ dừng ở mức nghị định Ngoài ra, các quy định, điều lệ còn có nhiều bất cập, một số nội dung còn lạc hậu so với thực tiễn, không còn vừa vặn với tình hình Việt Nam và thế giới hiện tại Chính vì vậy, hơn bao giờ hết, cần có một đạo luật về trọng tài ra đời để khắc phục những thiếu sót trên

Trang 17

11

b) Giai đoạn kể từ khi ban hành PLTTTM 2003 đến khi ban hành LTTTM 2010

Ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội ký ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại, đánh dấu bước chuyển tiếp trong quá trình phát triển của pháp luật trọng tài ở Việt Nam, và cũng là lần đầu tiên cụm từ “Trọng tài thương mại” xuất hiện trong

hệ thống pháp luật nước ta Đây có thể nói là một văn bản pháp luật tương đối toàn diện và hoàn chỉnh về mặt nội dung Pháp lệnh đã xác định phạm vi cụ thể của thẩm quyền trọng tài, đưa ra cơ chế xác định hiệu lực pháp lý của thỏa thuận trọng tài Ngoài

ra, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (PLTTTM 2003) còn quy định cụ thể về

tổ chức, hoạt động của Trung tâm trọng tài, quy định chặt chẽ quy trình tố tụng trọng tài, hơn thế nữa là việc bổ sung sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trọng tài

Tiến bộ là vậy, nhưng nền kinh tế lại vượt lên trên hẳn sự phát triển của pháp luật, PLTTTM 2003 qua 6 năm thực hiện cũng bắt đầu bộc lộ những hạn chế nhất định và không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội lúc bấy giờ Đó là những bất cập trong việc chưa xác định rõ phạm vi giải quyết tranh chấp, thiếu sót trong chế định thỏa thuận trọng tài, sự hỗ trợ của tòa án thì còn khá mờ nhạt và phạm vi căn cứ để hủy phán quyết trọng tài quá rộng Vì vậy, đây là thời điểm rất cần thiết cho một đạo luật mới ra đời nhằm mục đích cải cách và hoàn thiện những quy định đã lạc hậu của pháp lệnh Ngày 17/6/2010, Quốc hội chính thức ban hành Luật Trọng tài thương mại năm

2010 thay thế PLTTTM 2003, với hy vọng bổ sung các thiếu sót, sửa đổi những hạn chế và cập nhật thêm nhiều điểm mới từ pháp luật của các quốc gia trên thế giới để hoàn chỉnh đạo luật này khi đến với công chúng

1.1.3 Thủ tục tố tụng Trọng tài thương mại

Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài trải qua các bước như sau: Nguyên đơn phải nộp đơn khởi kiện tại Trung tâm trọng tài mà các bên đã thỏa thuận từ trước Đơn khởi kiện sẽ không được thụ lý nếu nộp không đúng Trung tâm trọng tài mà các bên đã thỏa thuận Trọng tài viên sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo của nguyên đơn, trong thời hạn luật định phải gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu đó cho bị đơn Trường hợp tranh chấp giải quyết bằng Trọng tài vụ việc thì nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện cho bị đơn Nếu không có thỏa thuận khác, nguyên đơn sẽ là bên có nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí trọng tài

Trang 18

12

Trong thời hạn luật định, kể từ khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo,

bị đơn phải nộp bản tự bảo vệ cho Trung tâm trọng tài Trường hợp giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài vụ việc thì bị đơn phải gửi cho nguyên đơn và Trọng tài viên bản

tự bảo vệ, tên và địa chỉ của người mà mình chọn làm Trọng tài viên Ngoài ra, nếu bị đơn có yêu cầu phản tố tại những vấn đề liên quan đến vụ tranh chấp thì bị đơn phải gửi đơn kiện lại cho Trung tâm trọng tài Trường hợp giải quyết bằng Trọng tài vụ việc thì đơn kiện lại phải gửi cho Hội đồng trọng tài và nguyên đơn Đơn kiện lại phải được nộp cùng thời điểm nộp bản tự bảo vệ

Sau khi có sự thống nhất giữa các bên về việc lựa chọn, chỉ định Trọng tài viên, Hội đồng trọng tài được thành lập Hội đồng trọng tài mới thành lập sẽ bắt đầu tiến hành nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị cho phiên họp giải quyết tranh chấp sắp diễn ra Hoạt động điều tra trước khi xét xử được xem là bước quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp Trong giai đoạn này, sẽ diễn ra các hoạt động thu thập chứng cứ, gặp

gỡ, trao đổi với các bên đương sự

Sau khi đã thực hiện xong công tác điều tra, phiên họp giải quyết tranh chấp được tiến hành Trong phiên họp giải quyết tranh chấp, sự vắng mặt của từng đương sự dẫn đến những hệ quả khác nhau Về phần nguyên đơn, nếu đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt không có lí do chính đáng hoặc tự ý rời khỏi phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được Hội đồng trọng tài chấp thuận thì coi như đã rút đơn khởi kiện Hội đồng chỉ tiếp tục giải quyết tranh chấp nếu bị đơn có đơn yêu cầu hoặc đơn kiện lại Về phía bị đơn, nếu bị đơn đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không vì lí do chính đáng hoặc tự ý rời khỏi phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được Hội đồng trọng tài chấp thuận thì Hội đồng trọng tài vẫn tiếp tục giải quyết tranh chấp dựa trên những chứng cứ, tài liệu hiện có

Trước khi tiến hành xét xử, theo yêu cầu các bên, Hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải, các bên tự thỏa thuận với nhau Nếu hòa giải thành, Hội đồng trọng tài lập biên bản hòa giải thành có chữ ký các bên, biên bản này có giá trị thi hành như một phán quyết trọng tài Ngược lại, nếu hòa giải không thành thì Hội đồng trọng tài tiếp tục quy trình giải quyết tranh chấp Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài

sẽ đưa ra phán quyết Phán quyết được quyết định dựa trên nguyên tắc biểu quyết theo

đa số, phán quyết có giá trị chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành

Trang 19

13

1.2 Pháp luật về bổ trợ tƣ pháp

1.2.1 Khái quát về bổ trợ tư pháp

Theo từ điển tiếng Việt, “bổ trợ” giúp thêm, phụ thêm vào cho đủ, cho tốt hơn, còn

“tư pháp” là việc xét xử các hành vi vi phạm pháp luật Từ đó, ta có thể hiểu bổ trợ tư pháp có nghĩa là sự giúp đỡ về việc xét xử các hành vi vi phạm pháp luật Như vậy, bổ trợ tư pháp trong hoạt động trọng tài là việc một cơ quan đứng ra giúp đỡ trọng tài trong việc xét xử các hành vi vi phạm pháp luật, hay nói các khác là giải quyết tranh chấp Hoạt động bổ trợ tư pháp đối với tố tụng trọng tài được cụ thể hóa thành những hoạt động hỗ trợ được pháp luật Việt Nam thừa nhận bao gồm: (i) Tòa án hỗ trợ chỉ định, thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc; (ii) Tòa án xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; (iii) Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ; (iv) Tòa án hỗ trợ triệu tập người làm chứng; (v) Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; (vi) Tòa án hủy phán quyết trọng tài hoặc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc; (vii) Tòa án ra quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; (viii) Cơ quan thi hành án hỗ trợ thi hành phán quyết trọng tài

1.2.2 Tầm quan trọng của việc bổ trợ tư pháp đối với hoạt động trọng tài

Trong lịch sử hình thành pháp luật trọng tài Việt Nam, ở giai đoạn trước khi Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (PLTTTM 2003) được ban hành, bản chất của cơ quan trọng tài lúc bấy giờ là một tổ chức phi chính phủ Vì tính phi chính phủ nên hoạt động tố tụng trọng tài gần như độc lập với hoạt động tố tụng của Tòa án Cả hai cơ quan tài phán này không có bất kỳ một mối liên hệ gì với nhau trong quá trình giải quyết tranh chấp Và đây cũng chính là lí do khiến cho hoạt động trọng tài kém phát triển vào thời gian này

Với ưu điểm nằm ở việc các bên đương sự được tự do thỏa thuận và tự nguyện chấp hành, mọi vấn đề đều được giải quyết dựa trên sự đồng thuận, hợp tác và thiện chí của đôi bên, điều này giúp cho hoạt động trọng tài trở nên linh hoạt và tự do hơn, không bị gò bó bởi những quy định khuôn mẫu Tuy nhiên, tính chất tôn trọng sự thỏa thuận và tự nguyện của Trọng tài cũng là một con dao hai lưỡi Vì một khi không có bất kỳ sự áp đặt, bắt buộc nào trong cơ chế thi hành những quy định của pháp luật

Trang 20

14

trọng tài thì người thực hiện có thể thi hành hoặc không thi hành, tất cả đều phải lệ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của họ lúc đó Đặc biệt là đối với việc thi hành phán quyết trọng tài, như ta đã nhận định phán quyết trọng tài không mang quyền lực nhà nước, không bắt buộc các bên phải thi hành như bản án, quyết định của Tòa án, cho nên phán quyết trọng tài tại thời điểm đó dường như không có khả năng thi hành hoặc thi hành một cách lỏng lẽo, rời rạc, không đáp ứng được nguyện vọng các bên tham gia tranh chấp Khi tham gia giải quyết tranh chấp thì mục đích cuối cùng của đương sự là muốn bên thua kiện phải thi hành phán quyết đó Như vậy, nếu phán quyết không được thi hành hoặc thi hành một cách không triệt để thì không ai muốn lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp nữa

Nhận ra được tầm quan trọng của sự hỗ trợ từ phía các cơ quan nhà nước đối với hoạt động trọng tài Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2003, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã bổ sung quy định về bổ trợ tư pháp, thừa nhận vai trò, trách nhiệm của cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Đây có thể nói là một sự tiếp sức rất cần thiết đối với hoạt động trọng tài ở thời điểm hiện tại, một bước ngoặc lớn giúp cho cơ chế Trọng tài bước sang trang mới, cải thiện vị trí của mình đối với việc giải quyết tranh chấp trong tương lai

Và đến LTTTM 2010 ra đời, quy định về bổ trợ tư pháp tiếp tục được kế thừa và hoàn thiện hơn Điều này thể hiện quan điểm của nhà nước trong việc khuyến khích đẩy mạnh sự phát triển của lĩnh vực trọng tài, tối đa hóa hiệu quả của hoạt động này trong tương lai

1.2.3 Cơ quan thực hiện bổ trợ tư pháp trong tố tụng trọng tài

a) Tòa án

Có thể nói Tòa án là cơ quan nắm vai trò chủ đạo đối với việc bổ trợ tư pháp trong hoạt động trọng tài Tòa án xuất hiện gần như xuyên suốt trong quá trình giải quyết tranh chấp của Trọng tài Từ khi bắt đầu hoạt động trọng tài, Tòa án đã tham gia vào việc xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, chỉ định, thay đổi Trọng tài viên, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Đến giai đoạn điều tra, xét xử thì Tòa án hỗ trợ Trọng tài ở việc triệu tập người làm chứng hay thu thập chứng cứ Và cuối cùng, khi phán quyết trọng tài được ban hành, Tòa án tiếp tục hỗ trợ

Trang 21

đồng trọng tài vụ việc

Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải quyết

tranh chấp

Xem xét hiệu lực của thỏa thuận

trọng tài và thẩm quyền của Hội

đồng trọng tài

Tòa án nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm

thời

Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần

được áp dụng

Hủy phán quyết trọng tài hoặc đăng

ký phán quyết trọng tài vụ việc

Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán

quyết trọng tài

Công nhận và cho thi hành phán

quyết của trọng tài nước ngoài tại

Việt Nam

Tòa án nơi người phải thi hành phán quyết

cư trú, làm việc (cá nhân) hoặc có trụ sở (tổ chức) hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài

6 Tham khảo khoản 3 Điều 7 LTTTM 2010

Trang 22

16

b) Cơ quan thi hành án

Tuy không thực hiện nhiều hoạt động hỗ trợ như Tòa án, song công việc hỗ trợ của

Cơ quan thi hành án lại mang tính quyết định hơn cả, đó chính là đảm bảo việc thi hành phán quyết của bên thua kiện bằng quyền lực của mình – quyền lực nhà nước

LTTTM 2010 quy định phán quyết sẽ được các bên tự nguyện thi hành, nếu bên phải thi hành không thi hành phán quyết thì bên còn lại có quyền yêu cầu sự hỗ trợ từ

Ngoài ra, đối với phán quyết trọng tài vụ việc muốn được

hỗ trợ thi hành từ phía Cơ quan thi hành án thì phán quyết đó phải được đăng ký tại

Như vậy, có thể nói với sự hỗ trợ của Cơ quan thi hành án, phán quyết trọng tài sẽ được đảm bảo thi hành trên thực tế Điều này là hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động trọng tài về sau Các doanh nghiệp sẽ an tâm hơn khi chọn phương thức này để giải quyết tranh chấp vì không còn quan ngại về việc phán quyết sẽ không được thực thi

7

Tham khảo khoản 1 Điều 66 LTTTM 2010

8 Tham khảo khoản 1 Điều 62 LTTTM 2010

Trang 23

17

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Như vậy, để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại thì ngoài những phương thức quen thuộc như thương lượng, hòa giải, tố tụng tại Tòa án, pháp luật Việt Nam đã sớm bổ sung thêm một phương thức mới được sử dụng rộng rãi trên thế giới

và cũng mang lại hiệu quả không kém những phương thức cũ, đó là phương thức Trọng tài thương mại

Ta có thể nhìn nhận Trọng tài ở hai góc độ khác nhau Một là một phương thức dùng để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại, hai là một tổ chức phi chính phủ, một cơ quan tài phán tư Dù nhìn ở góc độ nào thì chung quy khi nhắc đến Trọng tài, ta có thể nhận định ngay đó là một hình thức mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp

Sự hình thành và phát triển của pháp luật trọng tài Việt Nam đi cùng những giai đoạn thăng trầm của lịch sử đất nước Pháp luật trọng tài đã có những thay đổi, chuyển biến rõ rệt để vừa vặn với tình hình chung của thời cuộc Đánh dấu sự phát triển của pháp luật trọng tài là việc nhà nước ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm

2003, đây có thể nói là một bước chuyển mình, giúp cho hoạt động trọng tài trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết

Đến năm 2010, Luật Trọng tài thương mại ra đời, một lần nữa pháp luật trọng tài Việt Nam được hoàn thiện hơn, cụ thể là những quy định về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, thỏa thuận trọng tài, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp, đặc biệt hơn cả là

sự hoàn thiện những quy định về việc hỗ trợ của cơ quan nhà nước đối với hoạt động trọng tài Đây có thể nói là điểm nhấn của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, là cơ

sở để phát triển lòng tin của giới doanh nhân đối với phương thức giải quyết tranh chấp còn khá mới mẻ này

Vì vậy, để tìm hiểu thêm về hoạt động hỗ trợ này, hãy tiếp tục tìm hiểu thêm ở Chương 2: “Quy định về hoạt động bổ trợ tư pháp trong Luật Trọng tài thương mại năm 2010”

Trang 24

18

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG BỔ TRỢ TƯ PHÁP TRONG

LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NĂM 2010 2.1 Quy định về bổ trợ tư pháp bắt buộc

2.1.1 Tòa án chỉ định, thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc

a) Chỉ định Trọng tài viên

Trong hoạt động giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, việc thành lập Hội đồng trọng tài là điều tiên quyết Thành phần Hội đồng trọng tài có một hoặc nhiều Trọng tài viên tùy theo sự thỏa thuận của đương sự, nếu không thỏa thuận thì thành phần Hội đồng trọng tài bao gồm ba Trọng tài viên

Theo quy định về cách thức thành lập Hội đồng trọng tài tại Trung tâm trọng tài, trong trường hợp bị đơn không chọn được Trọng tài viên, hoặc các Trọng tài viên không chọn được người làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài, hoặc các bên không chọn được Trọng tài viên duy nhất, Chủ tịch Trung tâm trọng tài sẽ là người có nghĩa vụ thực hiện việc chỉ định Trọng tài viên Tuy nhiên, đối với hình thức Trọng tài vụ việc, làm thế nào giải quyết vấn đề nêu trên khi không có bộ máy quản lý như Trung tâm trọng tài Để tránh tình trạng bế tắc trong tố tụng (do các bên không chọn được Trọng tài viên), Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM 2010) quy định Tòa án là cơ quan hỗ trợ chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc, cụ thể như sau:

nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn; Trường hợp có nhiều bị đơn thì một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án có

đồng trọng tài, các bên có quyền yêu cầu Tòa án chỉ định Trọng tài viên làm Chủ

(trong trường hợp các bên thỏa thuận tranh chấp được giải quyết với một Trọng tài

9

Tham khảo khoản 1, 2 Điều 41 LTTTM 2010; Điểm a, b khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

10 Tham khảo khoản 3 Điều 41 LTTTM 2010; Điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

Trang 25

Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phải phân công một Thẩm phán thực hiện việc chỉ định Trọng tài viên Tòa án có thẩm quyền phải thông báo ngay cho đương sự và các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc về việc thụ lý

xét đơn chỉ định Trọng tài viên mà không cần mở phiên họp hay triệu tập các bên tranh chấp Khi xem xét đơn yêu cầu, Thẩm phán phải căn cứ vào tiêu chuẩn Trọng tài viên (quy định tại Điều 20 LTTTM 2010), quyền và nghĩa vụ của Trọng tài viên (quy định tại Điều 21 LTTTM 2010); danh sách Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài hoạt động tại Việt Nam (quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 LTTTM

Về xác định Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ, LTTTM 2010 có quy định như sau:

trú của bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức; Nếu có nhiều bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi

có trụ sở của một trong các bị đơn đó; Trong trường hợp bị đơn có nơi cư trú hoặc

11 Tham khảo khoản 4 Điều 41 LTTTM 2010; Điểm d khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

12 Tham khảo khoản 5 Điều 41 LTTTM 2010; Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

13

Khoản 3, 4 Điều 8 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

14 Tham khảo khoản 1 Điều 7 LTTTM 2010

Trang 26

20

trụ sở ở nước ngoài, Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở

Như vậy, quy định Tòa án hỗ trợ chỉ định Trọng tài viên đã góp phần hạn chế những bế tắc tồn tại trong quá trình tố tụng trọng tài, giúp việc giải quyết tranh chấp diễn ra suôn sẻ, thuận lợi hơn Thành lập Hội đồng trọng tài là một trong những điều tiên quyết cần phải thực hiện nếu muốn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Chính vì

lẽ đó mà quy định trên là hết sức cần thiết

b) Thay đổi Trọng tài viên

Để tránh tình trạng tiêu cực trong hoạt động trọng tài như việc Trọng tài viên được phân công có những biểu hiện cho thấy sự không vô tư, khách quan khi giải quyết tranh chấp, LTTTM 2010 đã quy định Trọng tài viên phải từ chối hoặc các bên có đơn yêu cầu thay đổi Trọng tài viên giải quyết tranh chấp khi thuộc một trong các trường

là hoàn toàn hợp lý khi căn cứ vào mức độ quan hệ của Trọng tài viên với đương

sự để xem xét việc thay đổi Trọng tài viên Việc Trọng tài viên là người thân thích hoặc đại diện cho một bên là sự bất lợi cho bên còn lại, dù trong trường hợp này Trọng tài viên có vô tư, khách quan hay không thì việc thay đổi trước sẽ ngăn ngừa được những tiêu cực không hay về sau

việc Trọng tài viên có lợi ích liên quan đến vụ tranh chấp sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến sự công tâm trong phán quyết trọng tài Vì thế, nếu Trọng tài viên rơi vào trường hợp này thì nhất định phải thay đổi

Đây là trường hợp được đánh giá là khá chung chung, gây khó khăn trong việc xác định yếu tố vô tư, khách quan Căn cứ này mang tính định tính nên khó áp dụng trong thực tế, đòi hỏi phải có minh chứng thực sự cụ thể, rõ ràng thì việc yêu cầu thay đổi mới có thể được chấp nhận

15

Tham khảo khoản 2 Điều 7 LTTTM 2010

16 Tham khảo khoản 1 Điều 42 LTTTM 2010

Trang 27

21

tranh chấp được đưa ra trọng tài để giải quyết, trừ trường hợp các bên đồng ý bằng văn bản” Đây là trường hợp mà trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (PLTTTM 2003) chưa có quy định và đến Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM 2010) ra đời thì trường hợp này mới được bổ sung thêm

Về thẩm quyền ra quyết định thay đổi Trọng tài viên, đối với hình thức Trọng tài quy chế, người ra quyết định là Chủ tịch Trung tâm trọng tài (nếu Hội đồng trọng tài chưa thành lập) hoặc do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài quyết định (nếu Hội đồng trọng tài đã thành lập) Còn với hình thức Trọng tài vụ việc thì để thay đổi Trọng tài viên, các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài sẽ cùng nhau đưa ra quyết định Tuy nhiên, trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết thì khi có đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền phân công một Thẩm phán quyết định về việc thay đổi Trọng tài viên, quyết định của Tòa án sẽ là

sau:

án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phải phân công cho một Thẩm phán giải quyết yêu cầu thay đổi Trọng tài viên Sau đó, Tòa án có thẩm quyền phải thông báo ngay cho Hội đồng trọng tài, các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài

vụ việc và các bên tranh chấp về việc thụ lý đơn yêu cầu và tên Thẩm phán được

đơn yêu cầu thay đổi Trọng tài viên mà không cần mở phiên họp hoặc triệu tập các

cứ vào tiêu chuẩn Trọng tài viên (quy định tại Điều 20 LTTTM 2010), quyền và nghĩa vụ của Trọng tài viên (quy định tại Điều 21 LTTTM 2010); danh sách Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài hoạt động tại Việt Nam (quy định tại điểm c khoản

17 Tham khảo khoản 4 Điều 42 LTTTM 2010

18

Tham khảo khoản 4 Điều 42 LTTTM 2010 và khoản 2 Điều 9 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

19 Tham khảo khoản 4 Điều 42 LTTTM 2010 và khoản 3 Điều 9 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

Trang 28

2.1.2 Tòa án xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của Hội đồng trọng tài

a) Việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án và Hội đồng trọng tài

Để tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài, trước tiên thỏa thuận trọng tài phải

có hiệu lực pháp luật (tức thỏa thuận trọng tài không thuộc các trường hợp thỏa thuận

trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ việc hay không

Vậy giữa Tòa án và Hội đồng trọng tài, cơ quan nào có thẩm quyền trong việc quyết định hiệu lực của thỏa thuận trọng tài cũng như thẩm quyền của Hội đồng trọng tài Điều 44 LTTTM 2010 quy định rằng các bên có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài Quy định này không nói rõ cơ quan nào

có thẩm quyền tuyên bố hiệu lực của thỏa thuận trọng tài hay thẩm quyền của Hội đồng trọng tài Tuy nhiên, theo nguyên tắc thẩm quyền của thẩm quyền thì Hội đồng trọng tài sẽ có thẩm quyền tự xem xét thẩm quyền của mình Nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 Điều 43 LTTTM 2010, cụ thể là nếu các bên đưa vụ tranh chấp ra trọng tài

và bị đơn yêu cầu xem xét lại hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, Hội đồng trọng tài phải xem xét lại hiệu lực của thỏa thuận trước khi giải quyết nội dung của tranh chấp

Khi Hội đồng trọng tài ra quyết định về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài hoặc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì quyết định này có thể bị Tòa án xem xét lại nếu một trong các bên có yêu cầu Có thể nói Trọng tài được ưu tiên trong việc tự đánh giá

20 Tham khảo khoản 4 Điều 42 LTTTM 2010 và khoản 4 Điều 9 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

21

Quy định cụ thể tại Điều 18 LTTTM 2010 và Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

22 Quy định cụ thể tại Điều 6 LTTTM 2010 và Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

Trang 29

23

thẩm quyền của mình, nhưng việc đánh giá này chỉ mang tính chất tương đối và vẫn phải chịu sự giám sát từ phía Tòa án Việc Tòa án xem xét lại quyết định của Trọng tài với hai mục đích như sau:

thực hiện được và ban hành quyết định mình không có thẩm quyền, Tòa án sẽ xem

một phán quyết trọng tài, thì khi có yêu cầu của một trong các bên, Tòa án có thể hủy phán quyết trọng tài do Hội đồng trọng tài ban hành, nếu Tòa án xét thấy thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực pháp lý, Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền

Ngoài ra, trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền giữa Tòa án và Trọng tài thì Tòa án phải xem xét liệu Hội đồng trọng tài có thẩm quyền đối với vụ việc các bên đưa ra hay không, nói cách khác là có thỏa thuận thuận trọng tài hợp pháp hay không Tòa án sẽ từ chối nếu thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, và ngược lại Tòa án sẽ thụ lý giải quyết tranh chấp nếu thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu hoặc không thể thực hiện

Đối với thành phần xét đơn của Tòa án, tại khoản 4 Điều 44 LTTTM 2010 quy định “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Chánh án Toà án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết đơn khiếu nại

23 Tham khảo khoản 1 Điều 44 LTTTM 2010

24 Thảm khảo khoản 2 Điều 68 LTTTM 2010

25

Tham khảo Điều 6 LTTTM 2010

26 Tham khảo Điều 7 LTTTM 2010

Trang 30

24

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét

và ra quyết định Quyết định của Toà án là cuối cùng”

Như vậy, thành phần xét đơn đối với trường hợp này chỉ có một Thẩm phán, trong khi đó thì thành phần xét đơn đối với trường hợp yêu cầu hủy phán quyết trọng tài có đến ba Thẩm phán, ngoài ra còn có sự tham dự của Viện kiểm sát và các bên liên quan

quyền hay không lại rất quan trọng, nó quyết định đến phương hướng giải quyết tranh chấp Chính vì thế, cần có những thay đổi trong thành phần xét đơn đối với việc xem xét quyết định của Hội đồng trọng tài, ta có thể thay đổi theo hướng quy định như trường hợp hủy phán quyết trọng tài để thuyết phục hơn, đảm bảo tính đúng đắn trong các quyết định của Tòa án

2.1.3 Tòa án hủy phán quyết trọng tài hoặc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc

a) Hủy phán quyết trọng tài

Như ta đã biết, phán quyết trọng tài là chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị, không có thêm bất kỳ giai đoạn xét xử nào Chính vì thế, để đảm bảo phán quyết trọng tài phải thật chính xác, hạn chế những sai lầm, các nhà làm luật đã ban hành thêm một cơ chế đảm bảo, đó là cơ chế hủy phán quyết trọng tài Và cơ quan có thẩm quyền hủy phán quyết không ai khác chính là Tòa án – cơ quan quyền lực nhà nước

Tại khoản 1 Điều 69 LTTTM 2010 quy định, sau khi Hội đồng trọng tài ra phán quyết, thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, một trong các bên có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét hủy phán quyết trọng tài Đơn yêu cầu phải được gửi kèm với tài liệu, chứng cứ chứng minh phán quyết trọng tài thuộc một trong những trường hợp bị hủy được quy định tại khoản 2 Điều 68 LTTTM 2010 Đó là những trường hợp như sau:

(i) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu Căn cứ này cần

Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP Một lưu ý là đối với trường hợp không có

27 Tham khảo Điều 71 LTTTM 2010

28

Quy định hình thức thỏa thuận trọng tài

29 Quy định thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Trang 31

Như vậy, đối với xem xét yêu cầu hủy phán quyết trong trường hợp này, Tòa án cần xem xét ở hai khía cạnh, đó là Hội đồng trọng tài có vi phạm hay không và vi phạm đó phải là vi phạm nghiêm trọng Vì nếu có vi phạm mà vi phạm đó không phải

là vi phạm nghiêm trọng thì Tòa án không hủy phán quyết trọng tài Tuy nhiên, vấn đề như thế nào mới là vi phạm nghiêm trọng thì pháp luật trọng tài chưa có quy định cụ thể, cần được bổ sung trong tương lai

(iii) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ Đối với trường hợp này, Thẩm phán sẽ tiến hành so sánh các điều khoản của thỏa thuận trọng tài với yêu cầu của các bên đệ trình lên Hội đồng trọng tài

để xem xét việc Hội đồng trọng tài có vượt quá thẩm quyền hay không

(iv) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài Trong trường hợp này, bên yêu cầu hủy phán quyết phải đưa ra tài liệu, bằng chứng chứng minh chứng cứ được Hội đồng trọng tài sử dụng trong vụ tranh chấp là giả mạo Nếu bên yêu cầu không đưa ra được bằng chứng xác thực cho vấn đề trên thì yêu cầu hủy phán quyết của một trong các bên sẽ bị bác bỏ

30 Tham khảo điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014

Trang 32

26

(v) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Đây là trường hợp gây tranh cãi khi đưa ra áp dụng trong thực tiễn LTTTM 2010 không định nghĩa như thế nào là “trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Cho đến khi Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ra đời, thuật ngữ “trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” được giải thích là “vi phạm các nguyên tắc

xử xự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam” Xét thấy, Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và có hiệu lực cao nhất, hướng các văn bản quy phạm pháp luật phải tuân theo Vậy ta có thể hiểu, nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam được hiểu là những nguyên tắc được tuyên bố trong Hiến pháp Việt Nam hoặc những nguyên tắc về hành

vi ứng xử được đưa vào luật khác của Việt Nam Tuy nhiên, để một phán quyết trọng tài bị hủy, ngoài việc chỉ ra được phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì Thẩm phán còn phải đánh giá thêm hai điều kiện như sau: thứ nhất, “Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết”; thứ hai, “phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba”

b) Đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc

Để phán quyết trọng tài vụ việc được hỗ trợ thi hành từ phía cơ quan nhà nước, mà

cụ thể là Cơ quan thi hành án dân sự, bên có yêu cầu phải tiến hành đăng ký phán quyết trọng tài tại Tòa án Việc đăng ký không mang tính chất bắt buộc, đây chỉ nhằm mục đích hỗ trợ từ phía nhà nước đối với phán quyết trọng tài nếu các bên không tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài Quy định này trước đây chưa xuất hiện trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (PLTTTM 2003), đến khi Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM 2010) ra đời thì tại Điều 62 quy định, khi có yêu cầu

Cơ quan thi hành án thi thành phán quyết trọng tài vụ việc, một trong các bên phải nộp đơn đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc tại Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết Tuy nhiên, trong trường hợp phán quyết trọng tài vụ việc đang được xem xét, giải quyết theo thủ tục hủy phán quyết thì khi nhận được đơn đăng ký phán quyết trọng tài, Tòa án đợi kết quả giải quyết yêu cầu hủy phán quyết

Trang 33

27

Phán quyết trọng tài phải được đăng ký trong thời hạn một năm, kể từ ngày phán quyết được ban hành Tòa án sẽ bác đơn yêu cầu nếu nộp quá thời hạn một năm kể từ ngày ban hành phán quyết Khi nộp đơn đăng ký phán quyết trọng tài, các bên lưu ý phải nộp các tài liệu kèm theo như sau: “a) Phán quyết trọng tài do Hội đồng trọng tài

vụ việc ban hành; b) Biên bản phiên họp giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài

vụ việc, nếu có; c) Bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ.” Trên thực tế thì có một số Tòa án vẫn chấp nhận đăng ký phán quyết trọng tài khi tài liệu kèm theo đơn yêu cầu chỉ bao gồm bản sao phán quyết trọng tài và bản sao thỏa thuận trọng tài đã được chứng thực hợp pháp

Sau khi đương sự nộp đơn đăng ký phán quyết trọng tài, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đăng ký phán quyết và các tài liệu kèm theo, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán giải quyết Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải kiểm tra tính xác thực của các tài liệu được gửi kèm theo đơn đăng ký Khi xem xét đăng ký phán quyết, Thẩm phán không phải mở phiên họp và không xem xét lại nội dung của phán quyết, Thẩm phán chỉ có nhiệm vụ xác minh lại các tài liệu kèm theo có hợp pháp hay không Ngoài ra, Thẩm phán có thể triệu tập một hoặc cả hai bên tranh chấp khi xét thấy cần thiết

Nếu xét thấy các tài liệu đính kèm là xác thực, Thẩm phán thực hiện đăng ký thông qua việc ra quyết định đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP Ngược lại, nếu Thẩm phán xác định phán quyết trọng tài là không có thật, Thẩm phán sẽ ban hành quyết định từ chối đăng ký phán quyết trọng tài theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, trong đó phải nêu rõ lý do từ chối Sau khi có quyết định từ chối, Thẩm phán phải thông báo ngay cho người nộp đơn và trả lại các tài liệu kèm theo

2.1.4 Tòa án công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

a) Quy định về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài theo Công ước New York (CƯNY) và pháp luật Việt Nam

Tại Điều III, CƯNY quy định: “Mỗi Quốc gia thành viên phải công nhận phán quyết trọng tài có giá trị ràng buộc và cho thi hành những phán quyết đó theo quy tắc

Trang 34

28

tố tụng của lãnh thổ nơi phán quyết sẽ được thi hành, theo các điều kiện được nêu trong các điều khoản dưới đây” Như vậy, công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài là biến các phán quyết trọng tài thành một bộ phận của pháp luật quốc gia, có hiệu lực thực thi như một bản án do Tòa án tại quốc gia ban hành

Tương tự, BLTTDS 2015 cũng có quy định: “Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật như quyết định của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo

tài nước ngoài được quy định cụ thể trong BLTTDS 2015 theo tinh thần của CƯNY mà Việt Nam gia nhập từ năm 1995

b) Hỗ trợ của Tòa án trong việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài

Để công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở Việt Nam, trong thời hạn 3 năm kể từ ngày phán quyết có hiệu lực pháp luật, người có yêu cầu

hợp không có điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế không quy định) Đơn yêu cầu phải được gửi kèm với các tài liệu sau: (i) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực phán quyết của trọng tài nước ngoài; (ii) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực thỏa thuận trọng tài Trong trường hợp phán quyết trọng tài và thỏa thuận trọng tài không được lập bằng tiếng Việt, người nộp đơn phải gửi kèm bản dịch đã được công chứng, chứng

Tòa án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài là Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi: (i) Người phải thi hành là cá nhân cư trú hoặc làm việc; (ii) Người phải thi hành án là cơ quan hoặc tổ

31 Tham khảo khoản 2 Điều 427 BLTTDS 2015

32 “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu quy định tại Điều 453 của Bộ luật này thì Bộ Tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền” – khoản 1 Điều 454 BLTTDS 2015

33 Tham khảo khoản 1, 2 Điều 453 BLTTDS 2015

Trang 35

xét lại bởi cơ quan có thẩm quyền của nước nơi Trọng tài ra phán quyết; (ii) Người phải thi hành là cá nhân chết hoặc người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó; (iii) Người phải thi hành là cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được đại diện

hoặc người phải thi hành tự nguyện thi hành phán quyết; (ii) Người phải thi hành là

cá nhân chết mà quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đó không được thừa kế; (iii) Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà quyền và nghĩa

vụ của cơ quan, tổ chức đó đã được giải quyết theo pháp luật Việt Nam; (iv) Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; (v) Tòa án không xác định được địa điểm nơi có tài sản tại Việt Nam của người phải thi hành theo yêu cầu của

đương sự liên quan và Viện kiểm sát trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành Phiên họp xét đơn yêu cầu sẽ được mở sau 20 ngày, kể từ ngày Tòa án ban hành quyết định mở phiên họp Phiên họp diễn ra với sự có mặt của Hội đồng xét đơn gồm ba Thẩm phán, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp, người được thi hành và người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ Trong quá trình xét đơn, Hội đồng không được xét xử lại vụ tranh chấp đã được trọng tài giải quyết Tòa án chỉ được kiểm tra tính xác thực, hợp lệ của những giấy tờ, tài liệu gửi kèm đơn yêu cầu Sau khi xem xét đơn yêu cầu, giấy tờ, tài liệu và nghe ý kiến

34 Tham khảo khoản 5 Điều 31; khoản 4 Điều 33; điểm b khoản 1 Điều 37; khoản 3 Điều 38; điểm e khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015

35

Tham khảo khoản 2 Điều 457 BLTTDS 2015

36 Tham khảo khoản 3 Điều 457 BLTTDS 2015

Trang 36

30

của những người được triệu tập, Kiểm sát viên, Hội đồng thảo luận và ra quyết

c) Căn cứ không công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài

Theo tinh thần của CƯNY, việc giải thích, xem xét đơn yêu cầu phải theo hướng ủng hộ việc công nhận và cho thi hành Chính vì lẽ đó, Tòa án không công nhận phán quyết khi và chỉ khi bên phải thi hành đưa ra được những chứng cứ chứng minh phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp không công nhận theo quy định tại Điều 495, BLTTDS 2015 Hội đồng xét đơn không được tự mình xem xét những căn

cứ để từ chối công nhận phán quyết mà bên phải thi hành không đưa ra hoặc không có yêu cầu Căn cứ không công nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài, là phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 459 BLTTDS

2015, cụ thể như sau:

dụng cho mỗi bên “Không có năng lực ký kết” là không có hoặc không đủ năng lực hành vi (người chưa thành niên, người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự), không có thẩm quyền thay mặt pháp nhân hoặc đại diện pháp luật của pháp nhân “Luật áp dụng cho mỗi bên” có nghĩa là khi xác định năng lực ký kết của các bên, Tòa án phải sử dụng luật áp dụng cho mỗi bên để xem xét, không được áp dụng pháp luật Việt Nam để xác định các bên có năng lực ký kết hay không Luật

áp dụng cho mỗi bên được xác định theo nguyên tắc xung đột pháp luật của Tòa

án, quy định như sau: (i) Đối với năng lực pháp luật của cá nhân nước ngoài, được

doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài, được xác định theo luật nơi doanh nghiệp, tổ

thỏa thuận trọng tài vô hiệu được dựa trên luật của nước được các bên lựa chọn hoặc luật của nơi phán quyết được tuyên nếu các bên không lựa chọn luật áp dụng Ngoài ra, theo nguyên tắc về tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, mọi sự thay đổi,

37 Tham khảo Điều 458 BLTTDS 2015

38

Tham khảo khoản 1 Điều 466 BLTTDS 2015

39 Tham khảo khoản 1 Điều 467 BLTTDS 2015

Trang 37

31

chấp dứt, hủy bỏ, gia hạn hoặc vô hiệu của hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Vì vậy, luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài không đương nhiên là luật điều chỉnh hợp đồng chứa điều khoản thỏa thuận trọng tài đó

viên và thủ tục giải quyết tranh chấp tại Trọng tài nước ngoài hoặc không thể thực hiện quyền tố tụng của mình vì lý do chính đáng khác Đây là việc mà bên phải thi hành phải chứng minh là họ bị tước quyền lợi trong quá trình tố tụng tại Trọng tài nước ngoài Tuy nhiên, cách thức thông báo về việc chỉ định Trọng tài viên, về thủ tục giải quyết tranh chấp được điều chỉnh bởi quy tắc tố tụng trọng tài do các bên lựa chọn trong thỏa thuận trọng tài Quy tắc tố tụng dân sự Việt Nam đương nhiên

sẽ không được áp dụng trong trường hợp này

bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá phạm vi của thỏa thuận trọng tài Trường hợp này tương tự với trường hợp hủy phán quyết trọng tài như đã phân tích ở trên

thỏa thuận trọng tài hoặc pháp luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên Căn cứ từ chối công nhận do thành phần Hội đồng trọng tài không phù hợp, được

áp dụng trong trường hợp đương sự bị tước quyền chỉ định Trọng tài viên hoặc quyền yêu cầu các thành viên Hội đồng trọng tài phù hợp với thỏa thuận trọng tài Đối với căn cứ từ chối công nhận do thủ tục trọng tài không phù hợp được áp dụng nếu một bên bị tước quyền được có thủ tục trọng tài phù hợp với thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, khi xem xét tính hợp pháp của thủ tục trọng tài, Thẩm phán phải dựa trên thỏa thuận của các bên, quy tắc trọng tài nước ngoài, luật trọng tài nước ngoài chứ không căn cứ thủ tục tố tụng của Việt Nam để xem xét

xác định phán quyết trọng tài có hiệu lực hay không phải căn cứ vào luật nơi phán quyết trọng tài được tuyên Thông thường, phán quyết trọng tài có hiệu lực tại thời điểm được thi hành theo luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài hoặc đáp ứng đủ các điều kiện quy định trong luật áp dụng là “có hiệu lực”

quyết đã được tuyên hoặc của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành Bởi vì, phán quyết vẫn có thể không ràng buộc do đang là đối tượng

Trang 38

32

được xem xét thủ tục yêu cầu hủy phán quyết Tòa án Việt Nam sẽ ra quyết định tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành nếu thấy rằng phán quyết trọng tài đang được cơ quan có thẩm quyền của nước nơi phán quyết xem xét

quyết của trọng tài nước ngoài thì phải có nghĩa vụ chứng minh phán quyết đó chưa có hiệu lực ràng buộc

thức trọng tài BLTTDS Việt Nam có quy định những vụ việc riêng biệt chỉ thuộc

việc thuộc thẩm quyền chuyên biệt của Tòa án thì Tòa án sẽ từ chối công nhận và cho thi hành phán quyết

của pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tương tự như căn cứ hủy phán quyết, thuật ngữ “trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” được giải thích theo tinh thần của Hiến pháp, CƯNY, Bộ luật dân sự, Nghị nguyết 01/2014 CƯNY không sử dụng thuật ngữ “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật”, thay vào đó là thuật ngữ “trái với chính sách công của nước nơi phán quyết được thực thi” Vậy, thuật ngữ “trái với các nguyên tắc cơ bản” cần được hiểu một cách đúng đắn, vì không phải mọi nguyên tắc được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam đều được xem xét để công nhận phán quyết Ở đây chúng ta cần phân biệt được giữa chính sách công trong quan hệ quốc gia và chính sách công trong quan hệ quốc tế Phạm vi của chính sách công trong quan hệ quốc gia luôn nhiều hơn và không đúng với tinh thần của Công ước là ưu tiên ủng hộ việc công nhận và cho thi hành phán quyết Như vậy, cần tiếp cận thuật ngữ “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật” theo hướng chính sách công trong các quan hệ quốc tế Thực tiễn, Tòa án nước ngoài cũng ủng

hộ sử dụng thuật ngữ trên theo tinh thần CƯNY Còn ở Việt Nam, Tòa án sử dụng cách hiểu theo chính sách công trong quan hệ quốc gia, điều này dẫn đến phạm vi

áp dụng căn cứ “trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là khá rộng, không tương thích với tinh thần của Công ước như đã nêu

40

Tham khảo điểm a khoản 2 Điều 457 BLTTDS 2015

41 Tham khảo điều 470 BLTTDS 2015

Trang 39

án nhân dân tối cao phân công làm chủ tọa của phiên họp Phiên họp phúc thẩm được tiến tương tự như phiên họp giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Qua quá trình xem xét tất cả các quy định pháp luật liên quan kèm theo tài liệu được gửi, Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị ban hành một trong các quyết định sau đây: giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị; đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại khoản 4 Điều 462 BLTTDS 2015; hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 462 BLTTDS 2015; hủy quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 457 BLTTDS 2015

e) Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Quyết định xét kháng cáo của Tòa án nhân dân cấp cao có thể bị xem xét theo thủ

được thực hiện theo quy định tại chương XX, XXI phần thứ năm BLTTDS 2015

2.2 Quy định về bổ trợ tƣ pháp theo yêu cầu

2.2.1 Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ

Một trong những yếu tố quan trọng để xác định kết quả của quá trình tố tụng, giải quyết tranh chấp là chứng cứ Để thắng kiện, đương sự phải chủ động cung cấp tài liệu,

42 Tham khảo khoản 6 Điều 462 BLTTDS 2015

Trang 40

34

chứng cứ có lợi cho mình, hoặc để đưa ra những kết luận đúng đắn trong quá trình tố tụng, Hội đồng trọng tài có thể tự mình thu thập chứng cứ cho vụ tranh chấp Chính vì thế, LTTTM 2010 quy định hai nguyên tắc cơ bản trong thu thập chứng cứ: một là, các bên có quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến các vấn đề tranh chấp cho Hội đồng trọng tài; hai là, Hội đồng trọng tài sẽ yêu cầu các bên, người làm chứng cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình hay theo yêu cầu một trong các bên,

Tuy nhiên, trong trường hợp Hội đồng trọng tài hoặc các bên đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết để thu thập chứng mà vẫn không tự mình thu thập được thì có thể gửi đơn đề nghị Tòa án yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp các tài liệu, chứng

cứ liên quan đến vụ tranh chấp Văn bản đề nghị Tòa án phải có nêu rõ vấn đề đang tranh chấp, chứng cứ cần thu thập, lý do không thu thập được chứng cứ, tên và địa chỉ

Ngoài ra, đơn đề nghị phải được gửi kèm với thỏa thuận trọng tài, đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ

đương sự hoặc Hội đồng trọng tài, Chánh án phải phân công một Thẩm phán xem xét và giải quyết yêu cầu

văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân lưu giữ chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho Tòa án

sát thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình

án, cơ quan, tổ chức, cá nhân lưu giữ chứng cứ có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ đó

43 Tham khảo khoản 1, 2, 3, 4 Điều 46 BLTTDS 2015

44 Tham khảo khoản 5 Điều 46 BLTTDS 2015

45 Tham khảo khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP

46

Tham khảo khoản 6 Điều 46 LTTTM 2010

47 Tham khảo đoạn 2 khoản 3 Điều 106 BLTTDS 2015

Ngày đăng: 04/03/2021, 20:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w