KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
1.1.1 Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
Khái niệm thuật ngữ “tố tụng”
Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, thuật ngữ “tố tụng” ám chỉ đến việc thưa kiện, trong khi “tố tụng pháp lý” đề cập đến các thủ tục do pháp luật quy định liên quan đến cách thức tố tụng.
Thuật ngữ “tố tụng” được hiểu đơn giản là việc thưa kiện tại Tòa án, theo Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế Trong thời kỳ Pháp thuộc, “tố tụng” được sử dụng để dịch từ “procédure” (tiếng Pháp) hay “procedure” (tiếng Anh), có nguồn gốc từ chữ La tinh “processus” nghĩa là quá trình, trình tự, thủ tục Các Bộ luật như Bắc kỳ dân sự, thương sự tố tụng và Trung kỳ dân sự, thương sự tố tụng đã được áp dụng Trước năm 1975, miền Nam cũng có Bộ luật Hình sự tố tụng và Bộ luật Dân sự, Thương sự tố tụng (năm 1972).
Khái niệm tố tụng dân sự
Tố tụng dân sự là quy trình và thủ tục cần thiết để giải quyết các vụ việc dân sự cũng như các vụ án dân sự tại Tòa án, bao gồm cả quy trình thi hành án dân sự.
Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
Trong nhiều hệ thống pháp luật quốc tế, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn được áp dụng rộng rãi, nhưng vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau và chưa có khái niệm thống nhất về vấn đề này Bên cạnh thuật ngữ "thủ tục rút gọn", còn có các thuật ngữ tương tự như "thủ tục đơn giản" và "thủ tục giản lược".
Theo từ điển luật học Black’s Law Dictionary của Hoa Kỳ, thuật ngữ “Summary proceeding” được định nghĩa như sau: “A nonjury proceeding that settles a
1 Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, tr 302
2 Bửu Kế (1999), Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nhà xuất bản Thuận Hóa, tr.1819
3 Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục Pháp luật Trung ương số 04/2013 chủ đề: Pháp luật về tố tụng dân sự, tr.3
Thủ tục rút gọn là một phương thức xét xử không có bồi thẩm đoàn, được áp dụng nhằm giải quyết các tranh chấp hoặc định đoạt trong các vụ kiện một cách nhanh chóng và đơn giản.
Ngoài ra, trong từ điển luật học Black’s Law Dictionary còn có thuật ngữ
"Phán quyết rút gọn" hay "summary judgement" là quyết định của Tòa án về toàn bộ vụ kiện hoặc một số vấn đề cụ thể mà không cần tiến hành xét xử đầy đủ theo quy trình tố tụng thông thường.
Thuật ngữ "procédure sommaire" trong từ điển pháp luật Pháp – Việt được hiểu là thủ tục giản lược Đây là một quy trình tố tụng với các bước được đơn giản hóa so với thủ tục tố tụng thông thường, áp dụng tại các Tòa án theo thông luật hoặc Tòa án có thẩm quyền chung trong những tình huống đặc biệt.
Trong từ điển Tiếng Việt, không có thuật ngữ “thủ tục rút gọn”, nhưng có quy định về các từ “thủ tục” và “rút gọn” “Thủ tục” được định nghĩa là những việc cụ thể phải thực hiện theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc mang tính chất chính thức.
“rút gọn” là “làm cho có hình thức ngắn gọn, đơn giản hơn” 7
Thủ tục rút gọn, hay còn gọi là thủ tục giản lược, được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp, nhằm áp dụng cho một số loại vụ việc nhất định, cho phép giải quyết nhanh chóng và đơn giản Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, thủ tục rút gọn không được quy định trong một đạo luật cụ thể, mà dựa trên thực tiễn xét xử, cho phép Tòa án xử lý các yêu cầu khởi kiện có giá trị thấp bằng thủ tục đơn giản và có giá trị ràng buộc.
4 Bryan A Garner (2009), Black’s Law Dictionary, 9 th edition, St Paul, MN: West, p.599
5 Bryan A Garner (2009), Black’s Law Dictionary, 9 th edition, St Paul, MN: West, p.676
6 Nguyễn Văn Bình (2009), Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.706
7 Hoàng Phê (Chủ biên), (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.839, 1008
Thủ tục rút gọn trong hệ thống pháp luật Việt Nam được quy định bởi Thông tư số 10 ngày 08/7/1974 của Tòa án nhân dân tối cao, nhằm áp dụng cho các vụ án ít nghiêm trọng, đơn giản và rõ ràng trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Đây là một thủ tục riêng biệt, giúp giải quyết nhanh chóng một số loại vụ án, đảm bảo công lý và tính hợp hiến Bộ luật Tố tụng hình sự đã kế thừa và phát huy những quy định này, góp phần nâng cao hiệu quả xử lý các vụ án.
Năm 2003, thủ tục rút gọn được quy định trong một chương riêng, cụ thể là chương XXXIV Trong lĩnh vực luật hình sự, thủ tục rút gọn được hiểu là quy trình đặc biệt áp dụng cho các vụ án liên quan đến tội phạm ít nghiêm trọng, với sự việc phạm tội đơn giản và chứng cứ rõ ràng; đối tượng thực hiện hành vi phạm tội thường bị bắt quả tang và có căn cước rõ ràng Tuy nhiên, phạm vi áp dụng của thủ tục rút gọn không bao gồm tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự mà chỉ được thực hiện trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm.
Thủ tục rút gọn lần đầu tiên được đề cập trong Luật bảo vệ người tiêu dùng, được Quốc hội khóa XII thông qua vào ngày 17/11/2010 và có hiệu lực từ 01/7/2011 Mặc dù không có khái niệm rõ ràng về thủ tục rút gọn, Luật này ghi nhận việc Tòa án áp dụng thủ tục đơn giản để giải quyết các tranh chấp đơn giản, có chứng cứ rõ ràng và giá trị tranh chấp nhỏ nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Điều 41 của Luật chỉ quy định các loại tranh chấp có thể áp dụng thủ tục đơn giản và dẫn chiếu đến quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong thực tế.
Trong Hiến pháp năm 2013, thuật ngữ “thủ tục rút gọn” được đề cập tại Điều 103, quy định rằng việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn Tòa án nhân dân sẽ xét xử tập thể và quyết định theo đa số, ngoại trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn Thủ tục này cũng được quy định tại Điều 8 và Điều 10 của Luật tổ chức Tòa án.
Trong luận án tiến sĩ của Đặng Thanh Hoa (2015), tác giả phân tích quy trình rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh và thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Các thủ tục này được thiết kế nhằm nâng cao hiệu quả và giảm thiểu thời gian xử lý các vụ tranh chấp, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh Luận án đã nêu rõ những điểm mạnh và hạn chế trong việc áp dụng các quy định này, đồng thời đề xuất các giải pháp cải tiến để hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành.
9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, tr.535
10 Điều 318 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
Mặc dù Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã được ban hành, nhưng vẫn chưa có quy định rõ ràng về khái niệm thủ tục rút gọn.
Lịch sử phát triển pháp luật tố tụng dân sự rút gọn
Trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, thủ tục rút gọn chưa được quy định chính thức trong văn bản pháp luật nào Tuy nhiên, một số nội dung liên quan đến thủ tục này đã được đề cập từ năm 1945 – 1946, khi Tòa án quy định giải quyết một số vụ án có giá ngạch thấp.
Sự phát triển của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam phụ thuộc vào sự tiến bộ của pháp luật tố tụng dân sự Dựa trên các giai đoạn phát triển của pháp luật này, có thể chia quá trình phát triển của thủ tục rút gọn thành bốn giai đoạn chính: từ năm 1945 đến 1989, từ năm 1989 đến 2004, và từ năm 2005 đến nay.
2015 và giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Sau cuộc Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời nhằm ổn định tình hình kinh tế - chính trị và cải thiện đời sống nhân dân Để củng cố chính quyền, Đảng và Bác Hồ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới, trong đó có Sắc lệnh 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán Sắc lệnh này quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án, đánh dấu sự hình thành lần đầu tiên của hệ thống Tòa án theo cấp xét xử tại Việt Nam, bao gồm Tòa sơ cấp, Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm.
Về thẩm quyền xét xử: Đối với Tòa án sơ cấp, theo Điều 10 Sắc lệnh 13 quy định:
Mỗi tuần có hai phiên tòa công khai, bao gồm một phiên hộ và một phiên hình Tại phiên tòa, Thẩm phán sẽ tiến hành xét xử độc lập, trong khi luật sư sẽ giữ vai trò ghi chép và lập biên bản án từ.
Tòa án đệ nhị cấp theo Điều 17 Sắc lệnh 13 quy định rằng "Chánh án phải xử một mình" trong các vụ dân sự và thương sự Tại Tòa án thượng thẩm, Điều 43 Sắc lệnh 13 quy định rằng Chánh án và hai Hội thẩm quyết nghị về các vấn đề liên quan đến thủ tục, tạm tha, đòi bồi thường, việc hộ và thương mại, trong khi các Phụ thẩm nhân dân không tham dự Yếu tố rút gọn ở đây là thành phần xét xử trong hoạt động tố tụng dân sự Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 quy định thẩm quyền giữa các Tòa án căn cứ theo giá ngạch của vụ kiện và quy định thẩm quyền chung thẩm, sơ thẩm của các Tòa án.
Báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao năm 2014 đề cập đến khả năng áp dụng thủ tục đơn giản trong giải quyết một số loại vụ việc dân sự cụ thể Tài liệu này cũng đề xuất mô hình khả thi cho Tòa án Việt Nam, được trình bày trong hội thảo tổ chức vào tháng 11 năm 2014 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Điều 6 và Điều 11 của Sắc lệnh, có hai cơ chế xét xử chính là xét xử sơ thẩm và xét xử chung thẩm Xét xử chung thẩm là cơ chế xét xử một lần cho các vụ việc dân sự và thương sự, với bản án có hiệu lực pháp luật ngay lập tức và không cho phép kháng cáo xét xử phúc thẩm Cơ chế này được áp dụng tại cả Toà án sơ cấp và Toà án đệ nhị cấp, chủ yếu cho các vụ án có đối tượng tranh chấp là tài sản có giá trị nhỏ.
Cơ chế xét xử một lần được quy định tại Nghị định số 32 ngày 06/4/1952 của Bộ Tư pháp, trong đó các Tòa án cấp huyện có thẩm quyền chung thẩm các vụ kiện dân sự về động sản có giá ngạch không quá 60 kg gạo, và các Tòa án nhân dân cấp tỉnh xử chung thẩm các vụ kiện về bất động sản với giá ngạch tương tự.
Theo Thông tư số 4013 ngày 09/5/1959 của Bộ Tư pháp và Thông tư liên bộ Tư pháp – Toà án nhân dân tối cao số 93 ngày 11/11/1959, các Toà án cấp huyện được phép xét xử chung thẩm các vụ kiện dân sự với giá ngạch không quá 60 đồng, không phân biệt giữa động sản và bất động sản.
Sau khi ban hành Hiến pháp năm 1959, vào ngày 17/4/1960, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong ngành Tư pháp Theo Điều 9 của Luật này, Tòa án nhân dân thực hiện chế độ hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm), loại bỏ thủ tục chung thẩm trước đây Điều 12 quy định rằng trong xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân bao gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, nhưng trong trường hợp vụ án nhỏ và không quan trọng, Tòa án có thể xét xử chỉ với một Thẩm phán Điều này cho thấy yếu tố rút gọn trong tố tụng dân sự thông qua việc giảm số lượng thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm, mặc dù trình tự và thủ tục vẫn được giữ nguyên.
Trong giai đoạn này, Toà án quy định việc xét xử bút lục trong trình tự phúc thẩm, cho phép Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ 17 tài liệu, do đó không cần triệu tập các đương sự trong phiên tòa sơ thẩm, chỉ cần có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát Việc xét xử bút lục ở giai đoạn phúc thẩm đối với vụ án dân sự được quy định tại Thông tư 132 ngày 28/8/1972, khi các điều kiện như nội dung vụ án rõ ràng, chứng cứ đầy đủ, khả năng hòa giải không còn, và bản án sơ thẩm đã được xét xử đúng pháp luật được đáp ứng Hướng xét xử của Tòa phúc thẩm cũng nhằm y án sơ thẩm, cho thấy rằng xét xử theo bút lục trong giai đoạn phúc thẩm đã phản ánh những yếu tố của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn.
Sau khi miền Nam được giải phóng hoàn toàn, nhân dân Việt Nam đã bầu ra Quốc hội của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vào ngày 18/12/1980, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới, được gọi là Hiến pháp năm 1980, cùng với Luật tổ chức Toà án nhân dân.
Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 quy định chế độ xét xử hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm Đặc biệt, Điều 27 quy định rằng sơ thẩm đồng thời cũng là chung thẩm đối với những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, áp dụng cho các vụ án đặc biệt nghiêm trọng Quy định này cho thấy rằng thủ tục xét xử không còn đơn giản và nhanh chóng như trước, mà trở nên phức tạp hơn.
Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1988 không có sự thay đổi nào mới về cấp xét xử và thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao so với Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 Cụ thể, theo khoản 1 Điều 27 của luật này, Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền sơ thẩm và chung thẩm đối với những vụ án thuộc quyền xét xử của mình.
Kinh nghiệm lập pháp quốc tế về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
Trong Liên minh Châu Âu, hệ thống pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp được xem là mẫu mực nhờ vào sự kết hợp hài hòa giữa các nguyên tắc truyền thống và tính linh hoạt trong xây dựng thủ tục giải quyết tranh chấp Bên cạnh các thủ tục thông thường, các nhà lập pháp Pháp đã phát triển những quy trình xét xử nhanh cho các tranh chấp có tính chất đặc thù.
Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm 1807 đã đáp ứng nhu cầu cơ bản trong giải quyết tranh chấp, đó là tính nhanh chóng và bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự, giúp họ bảo vệ quyền lợi một cách hiệu quả.
Vào năm 1807, thủ tục xét xử nhanh đã được quy định nhằm giải quyết các vụ việc khẩn cấp và tranh chấp đơn giản Đến Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm 1998, quy định này được mở rộng để áp dụng thủ tục rút gọn cho các tranh chấp có giá ngạch thấp, thủ tục ra lệnh thanh toán và lệnh buộc thực hiện công việc.
Tranh chấp có giá ngạch thấp
Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp áp dụng thủ tục xét xử rút gọn cho các vụ án có giá trị tranh chấp không vượt quá 4.000 EUR Trong quy trình này, những người tham gia giải quyết vụ án không phải là Thẩm phán chuyên trách mà là các Thẩm phán có kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật, được tuyển chọn từ Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp.
Trong bài viết của Trần Anh Tuấn (2004), tác giả phân tích thủ tục xét xử nhanh trong Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp và đề xuất xây dựng thủ tục rút gọn cho Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam Nghiên cứu này được đăng tải trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 02/2004, trang 24.
Những Thẩm phán này không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 07 năm và không được tái nhiệm 28
Để áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp, các bên cần cung cấp đầy đủ thông tin liên quan để Thẩm phán xem xét Sau đó, Thẩm phán sẽ triệu tập hai bên tham gia phiên hòa giải Nếu không đạt được thỏa thuận hòa giải, Thẩm phán sẽ đưa ra phán quyết dựa trên hồ sơ và chứng cứ mà các bên đã cung cấp, và chỉ triệu tập các bên đến để thông báo kết quả phán quyết.
Thủ tục ra lệnh thanh toán
Thủ tục ra lệnh thanh toán là một quy trình đơn giản do Thẩm phán Tòa sơ thẩm hoặc Chánh án Tòa thương mại thực hiện, áp dụng cho các trường hợp cụ thể Chủ nợ có thể yêu cầu thu hồi nợ khi khoản nợ phát sinh từ hợp đồng hoặc nghĩa vụ theo điều lệ, với số tiền xác định, bao gồm cả các điều khoản phạt nếu có Ngoài ra, nợ cũng có thể phát sinh từ cam kết nhận hoặc rút hối phiếu, ký nhận một kỳ phiếu, chuyển nhượng hoặc bảo lãnh các loại tín phiếu, hoặc nhận chuyển nhượng một khoản nợ.
Chủ nợ hoặc người được ủy quyền cần nộp đơn yêu cầu và tài liệu chứng minh đến phòng thư ký lục sự Nếu đơn bị bác, chủ nợ có thể yêu cầu chuyển vụ việc đến Tòa án có thẩm quyền theo Điều 1048 Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm 1998 Chủ nợ không được kháng cáo quyết định bác đơn nhưng có thể khởi kiện theo thủ tục thông thường Nếu Thẩm phán chỉ chấp nhận một phần yêu cầu, chủ nợ cũng không có quyền kháng cáo nhưng có thể không tống đạt quyết định và tiến hành khởi kiện Lệnh trả nợ sẽ mất hiệu lực nếu không được tống đạt trong 06 tháng Người mắc nợ có quyền kháng cáo theo Điều 1412 Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp sau khi nhận được lệnh của Thẩm phán.
Bài viết của Trương Hòa Bình (2014) đề cập đến vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và việc thành lập Tòa giản lược trong hệ thống Tòa án nhân dân, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách quy trình xét xử để nâng cao hiệu quả và tiết kiệm thời gian trong hoạt động tư pháp.
29 Đặng Thanh Hoa (2016), Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Hồng Đức,
30 Điều 1405, 1406 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
31 Điều 1407, 1409, 1411 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Thủ tục buộc làm một công việc
Trong trường hợp giá trị trái vụ không vượt quá thẩm quyền của Tòa sơ thẩm, đương sự có thể nộp đơn yêu cầu Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp để thanh toán bằng tiền cho vật trái vụ phát sinh từ hợp đồng giữa các bên không phải là thương nhân Nguyên đơn có quyền gửi đơn đến Tòa sơ thẩm nơi cư trú của bị đơn hoặc nơi thực hiện trái vụ.
Nguyên đơn cần nộp đơn tại Phòng lục sự của Tòa án có thẩm quyền Nếu đơn được chấp nhận, Thẩm phán sẽ ra quyết định buộc người có nghĩa vụ thực hiện trái vụ, và quyết định này có hiệu lực ngay lập tức mà không thể phản kháng Trong trường hợp đơn bị bác, nguyên đơn không được phản kháng nhưng vẫn có quyền khởi kiện theo thủ tục thông thường.
1.3.2 Pháp luật Liên bang Nga Ở Nga, Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga năm 2003 được Quốc hội (Duma) thông qua ngày 23/10/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm 2003 Bộ luật này có kết cấu
Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga bao gồm 7 phần, 47 chương và 446 điều, với điểm nhấn là Mục I phần thứ hai quy định về thủ tục rút gọn, đánh dấu sự đổi mới trong hệ thống tố tụng dân sự.
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, Lệnh của Tòa án được quy định trong chương một của Mục I Phần thứ hai, cụ thể tại Điều 121 Lệnh này là quyết định do Thẩm phán ban hành dựa trên yêu cầu đòi nợ hoặc đòi lại tài sản, căn cứ theo Điều 122 của bộ luật.
- Yêu cầu căn cứ vào giao dịch đã được công chứng;
- Yêu cầu căn cứ vào giao dịch được thực hiện dưới hình thức văn bản viết không cần công chứng, chứng thực;
- Yêu cầu căn cứ vào đơn bác lại kỳ phiếu về việc không trả tiền, không chấp nhận và chấp nhận không định ngày tháng;
32 Điều 1425-1, 1425-2 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
33 Điều 1425-3, 1425-4, 1425-9 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (1998), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Yêu cầu cấp dưỡng cho trẻ chưa thành niên không cần xác định cha, mẹ hoặc triệu tập thêm người liên quan.
- Yêu cầu công dân nộp khoản thuế bị thất thu hoặc nộp những khoản tiền bắt buộc khác;
- Yêu cầu đòi khoản tiền lương đã được chấm công nhưng chưa được trả cho người lao động;