1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

CHUYÊN ĐỀ BỔI DƯỠNG HSG: THƠ VĂN LÍ TRẦN

32 738 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 147 KB
File đính kèm THƠ VĂN LÍ TRẦN.rar (35 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề chuyên sâu bôi dưỡng học sinh giỏi Tỉnh, học sinh giỏi Quốc gia. Chuyên đề tổng hợp và phân tích chi tiết về vẻ đẹp THƠ VĂN LÍ TRẦN. Chuyên đề kèm theo hệ thống đề luyện tập, có lời giải chi tiết. Đây là tài liệu học tập cần thiết cho giáo viên và học sinh.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG ĐỘI TUYỂN HSG QUỐC GIA

NĂM HỌC 2020-2021 THƠ VĂN LÍ TRẦN

I.Bối cảnh chính trị, văn hóa, xã hội

1 Về chính trị:

- Thời đại Lý - Trần đảm đương hai sứ mệnh lịch sử to lớn: Hưng văn trị và định

vũ công, bảo vệ tổ quốc, chống họa xâm lăng và xây dựng nền móng vững chắc

cho chế độ phong kiến vừa hình thành

- Ðời Lý, Lý Thường Kiệt chống Tống; đời Trần, Trần Hưng Ðạo chống NguyênMông (3 lần) Thời kỳ này, triều đại Lý- Trần còn phải tiến hành những cuộc chiếntranh chống họa xâm lăng phương Nam (Chiêm Thành) Những thắng lợi vẻvang của những cuộc kháng chiến vệ quốc đã tạo thêm khí thế hào hùng, bản lĩnh,

sự tự tin cho một dân tộc nhỏ bé ở phương Nam

=> “Nước Nam bấy giờ vua tôi hòa hợp, lòng người như một, nhân tài lũ lượt kéo ra”

“Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp, cao siêu, vững vàng, vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ sử sách” (Lê Quý Đôn – Kiến văn tiểu lục)

- Mặt khác, thời đại Lý- Trần còn phải đảm đương sứ mệnh xây dựng chế độ phongkiến, chế định kỷ cương, điển lễ, văn hiến cho một quốc gia phong kiến có chủquyền, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển của chế độ phong kiến Việt Namtrong các thế kỷ sau

=> Lí Trần là hai triều đại lớn trong lịch sử dân tộc ta, được xem là một giai đoạnlịch sử oanh liệt nhất thời trung đại, giai đoạn mà dân tộc ta đã vươn lên mạnh mẽtrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, viết nên những trang sử chói lọitrong sự nghiệp đánh giặc giữ nước

2 Về kinh tế:

Trang 2

a Chế độ đại điền trang là một đặc điểm kinh tế cơ bản thời Lý- Trần

b Các triều vua đầu thời kỳ Lý- Trần đều rất quan tâm phát triển sản xuất nông nghiệp Từ đời Lê Hoàn đã tổ chức lễ cày ruộng để thể hiện tinh thần coi trọng

nghề nông (Cứ đến đầu tháng giêng, nhà vua đích thân cày một thửa ruộng mở đầunăm sản xuất) Hệ thống đê ở các con sông lớn được quan tâm triệt để nhằm bảo vệmùa màng, chống lụt lội Các chức quan Hà đê (chánh sứ và phó sứ) đưọc đặt ra đểchuyên coi việc đào kênh ngòi, đắp đê phục vụ giao thông, thủy lợi Việc mở rộngdiện tích canh tác, tổ chức khuyến khích khai hoang cũng được quan tâm

c Thủ công nghiệp, nhờ được quan tâm, cũng ngày càng phồn thịnh Nghề dệt

gấm, sản xuất nông cụ, vải lụa, đồ gốm, đồ sứ, đồ đồng, vũ khí, xe thuyền, khắcbản in, nung vôi, dệt the, đã phát triển mạnh ở các làng nghề, phường hội truyềnthống

3 Về văn hóa - xã hội

Sự phát triển của các học thuyết Nho - Phật- Lão trong giai đoạn đầu tiên của chế

độ phong kiến Việt Nam đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành, phân chia đẳngcấp trong xã hội Lý- Trần Cụ thể:

- Ở thời Lý, đạo Phật lan truyền khắp nước ta, có xu hướng phát triển thành quốcgiáo Vai trò độc tôn của Phật giáo đã dẫn đến việc phân chia các giai cấp trong xãhội thời Lý như sau:

+ Giai cấp được trọng vọng nhất thời Lý là giai cấp quý tộc và tăng lữ + Giai cấp quần chúng bị trị thời Lý gồm nông dân ở các làng xã, nông nô,

nô tỳ ở các điền trang, thợ thủ công, lái buôn

- Ở thời Trần, đạo Phật vẫn còn ảnh hưởng rất sâu sắc đến đời sống tinh thần củadân tộc nhưng vị trí độc tôn của nó đã dần phải nhường chỗ cho Nho giáo VuaTrần đề cao Nho giáo nhưng cũng coi trọng Phật giáo, đề cao tư tưởng “Tam giáođồng nguyên”

4 Về giáo dục và nghệ thuật

Trang 3

a Việc giáo dục đã được quan tâm từ rất sớm Năm 1070, Lý Thánh Tông lập

Văn Miếu ở quốc đô Thăng Long Năm 1075, Lý Nhân Tông mở khoa thi tamtrường và năm 1076 mở Quốc Tử giám chuyên lo việc giảng thuật Nho giáo Cácnăm 1086, 1152, 1165, 1193 đều có mở kỳ thi Ðến đời Trần, các kỳ thi Nho giáođược tổ chức thường lệ và có quy mô rộng rãi hơn thời Lý

b Tiếp thu những thành tựu rực rỡ của văn nghệ dân gian, các ông vua thời Lý, Trần đã nối tiếp xây dựng một nền văn nghệ cung đình giàu bản sắc dân tộc Ca

múa nhạc cung đình ở các triều Lý- Trần đều bắt nguồn từ ca múa nhạc dân gian(Múa rối, hát chèo, hát tuồng thường được các ông vua thời Lý- Trần đặc biệt yêuthích)

Phần lớn các công trình kiến trúc điêu khắc ở thời Lý- Trần đã bị hủy hoại trong 20năm đô hộ của giặc Minh nhưng theo các tài liệu sử học, khảo cổ học và một số dichỉ còn lại, có thể khẳng định rằng vương triều Lý- Trần đã cho xây dựng nhiềucông trình lớn (Năm 1031, có 950 ngôi chùa được xây Tháp Báo Thiên cao 12tầng Tháp Sùng Thiên ở Sơn Nam, Hà Nam Ninh ngày nay, cao đến 13 tầng Các

di tích chùa Một cột, chùa Keo, chùa Thầy, tháp Bình Sơn, chuông Quy Ðiền, đềucho thấy sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Lý Trần)

II Đặc điểm nội dung của thơ văn Lí – Trần

Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút đã nhận định "Thơ đời Trần tinh vi trong

trẻo, đều có sở trường tột bật cũng như đời Hán, đời Đường bên Trung Hoa" ([1]) hay Lê Quý Đôn trong Quần thư khảo biện và Thư kinh diễn nghĩa đã

tự hào rằng: "Nước Nam ta, hai triều nhà Lý, nhà Trần ngang vào khoảng triều nhà Tống, nhà Nguyên Lúc ấy tinh hoa, nhân tài cốt cách văn chương, không khác

gì Trung Hoa"

1 Thơ văn Lí – Trần thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc.

Yêu nước, tự hào dân tộc là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, cũng là mộtnội dung chủ đạo của Văn học Việt Nam qua nhiều thế kỉ Tuy nhiên, ở thời đại Lí

Trang 4

– Trần, một thời đại lịch sử có nhiều sự kiện đặc biệt thì nội dung yêu nước cũng

có những biểu hiện riêng rõ nét

a Thơ văn yêu nước đời Lí

- Tiếng nói tự hào của một dân tộc đang vượt qua những thử thách để khẳng địnhmình, tiếng nói chiến đấu mãnh liệt của thời đại:

“Nam quốc sơn hà… thủ bại hư”

Bài thơ ra đời trong khoảnh khắc nhưng lại có giá rị vĩnh viễn bởi nó biểu hiện bảnlĩnh, khí phách dân tộc, khẳng định chân lý ngàn đời: Chính nghĩa bao giờ cũngthắng phi nghĩa

- Tầm nhìn xa trông rộng, khát vọng xây dựng đất nước thịnh vượng

“Chiếu dời đô”

Việc đổi quốc hiệu, quốc đô đánh dấu bước chuyển mình trong công cuộc xâydựng cơ đồ độc lập tự chủ của dân tộc ĐV, đáp ứng nhu cầu củng cố vương quyềnphong kiến và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Bài chiếu đã nâng Lý Thái

Tổ lên một tầm cao khác thường Nó khẳng định một cái nhìn đúng đắn về xuhướng phát triển tất yếu của lịch sử của vị vua khai sáng nhà Lý cách đây gầnnghìn năm Tác phẩm đã đánh dấu những thành công bước đầu về nghệ thuật viếtvăn chính luận trong VHTÐ

b Thơ văn yêu nước đời Trần

- Văn học đời Trần tập trung xoáy mạnh vào đề tài chống quân Nguyên xâm lược với cảm hứng chủ đạo là lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc, tạo nên Hào khí Đông A mãnh liệt với các biểu hiện:

+ Thể hiện sâu sắc ý chí tự lực tự cường, bảo vệ giang sơn đất nước (Hịchtướng sĩ, thuật hoài)

VD:

''Nay ta bảo thật các ngươi : nên nhớ câu ''đặt mồi lửa vào dưới đống củi'' là nguy cơ, nên lấy điều ''kiềng canh nóng mà thổi rau nguội'' làm răn sợ Huấn

Trang 5

luyện quân sĩ, tập dượt cung tên ; khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là hậu Nghệ ; có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai” (Hịch)

VD: “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”

+ Yêu nước căm thù giặc (hịch tướng sĩ)

+ Khát vọng lập công giúp nước (thuật hoài, cảm hoài)

VD: “Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỉ độ long tuyền đái nguyệt ma”

+ Ý chí quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược (hịch, bạch đằnggiang phú)

VD: “…dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa,

ta cũng vui lòng”

“Thuyền bè muôn đội Tinh kì phấp phới Hùng hổ sáu quân Giáo gươm sáng chói Trận đánh được thua chửa phân Chiến lũy Bắc Nam chống đối”

+ Ca ngợi khí phách, chiến thắng vẻ vang của dân tộc, khát vọng đất nướchòa bình muôn thuở (Phò giá về kinh)

Ðoạt sóc Chương Dương độ Cầm hồ Hàm Tử quan

Thái bình tu nỗ lực Vạn cổ thử giang san

(Tùng giá hoàn kinh sư- Trần Quang Khải)

Trang 6

+ Nêu cao sức mạnh của chính nghĩa, của chữ “đức” trong cuộc chiến đấubảo vệ tổ quốc:

Giặc tan muôn thuở thanh bình Phải đâu đất hiểm cốt mình đức cao

(Bạch Ðằng giang phú- Trương Hán Siêu

=>Một thời đại văn học đầy chất tráng ca Hào khí thời đại ấy đã làm cho Trần

Phu, một sứ thần nhà Nguyên, vào thời điểm đó đi sứ sang ta, khi về lại TrungQuốc vẫn còn “giật mình kinh sợ” đến nỗi “tóc bạc” Cái cảm giác này ông có ghi

trong bài Sứ hoàn cảm sự:

Kim qua ảnh lý đan tâm khổ, Đồng cổ thanh trung, bạch phát sinh.

Dĩ hạnh quy lai thân kiện tại, Mộng hồi do giác chướng hồn kinh.

Dịch:

Bóng lè binh khí lòng đau khổ, Vang vọng trống đồng, tóc bạc sinh.

Mừng được về nhà, thân khoẻ mạnh, Ngủ dài, trở dậy, thấy còn kinh.

- Nội dung yêu nước không chỉ được thể hiện trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống xâm lược mà còn phát triển trên những khía cạnh tình cảm phong phú của nhà thơ:

+ Có khi, đó là nỗi nhớ nhà thầm lặng nhưng mãnh liệt của một nhà Nho xaquê hương:

Dâu già lá rụng tằm vừa chín Lúa sớm nở hoa cua béo ghê Nghe nói quê nhà nghèo vẫn tốt Giang Nam vui thú chẳng bằng về

Trang 7

(Quy hứng- Nguyễn Trung Ngạn)

+ Có khi, đó là sự ngợi ca các bậc minh quân thánh đế đã chèo lái conthuyền dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác:

Anh minh hai vị thánh quân Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh

+ Yêu nước còn được thể hiện bằng niềm hạnh phúc được nhìn thấy đấtnước hòa bình, được sống trong hòa bình:

Trăng vô sự chiếu người vô sự Nước ngậm thu lồng trời ngậm thu Bốn bề đã yên nhơ đã lắng

Chơi năm nay thú vượt năm xưa

(Hạnh Thiên Trường hành cung- Trần Thánh Tông)

+ Thương dân, lo cho đời sống của nhân dân

« Sinh dân nhất thị ngã bào đồng

Tứ hải hà tâm sử khốn cùng » (Hết thảy nhân dân đều là đồng bào của ta

Nỡ lòng nào để cho bốn bể phải khốn cùng)

(Nghệ An hành điện – Trần Minh Tông)

=>Có thể nói, trong lịch sử dân tộc, vương triều nhà Trần là một vương triều hùngmạnh nhất Ðây là thời kỳ mà mọi ý thức về quốc gia dân tộc đều phát triển mạnh

mẽ và đó cũng chính là nền tảng cho sự phát triển của văn học yêu nước

2 Thiên nhiên trong thơ văn Lí – Trần

Thời trung đại con người sống bằng nông nghiệp là chủ yếu, nên con người dựavào tự nhiên, khai thác tự nhiên mà sống Do đó, con người hòa nhập vào thiên

nhiên, xem thiên nhiên với con người là một "Vạn vật nhất thể" Con người chưa

xem mình là một chủ thể đối lập với tự nhiên là khách thể để chiêm nghiệm, phântích, lý giải Như vậy, đặc trưng của thế giới tự nhiên trong cái nhìn của con người

Trang 8

trung đại là chúng có tính toàn vẹn không phân hoá, không tách bạch Thế nên thơ

ca phương Đông rất chú ý đến hình ảnh của thiên nhiên và xem đây là một đốitượng thẩm mĩ

a Thiên nhiên trong thơ ca đời Lý đa phần là những biểu tượng, là phương tiện

để nói lên nội dung triết lý hay cảm quan Thiền đạo Những hình ảnh thiên nhiên thường tượng trưng cho những thực tế siêu nhiên, trừu tượng của triết lý.

VD:

“Cáo tật thị chúng” – Mãn giác thiền sư

Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Cáo tật thị chúng (Có bệnh bảo mọi người) trở thành một tác phẩm thi kệ nổi

tiếng thời kỳ văn học Lý – Trần, một tuyên ngôn triết học ẩn ngữ dưới hình thức

nghệ thuật văn chương Bài thơ mượn cảnh thị tình, lấy tình "trực chỉ chân tâm"nhằm khai phóng nhân sinh

Không có mới cũng chẳng có cũ, không có đi cũng chẳng có về; đáo hay khứ thực

ra chỉ là một thực tại bị chia cắt thành những khái niệm mà chỉ cần khởi tâm trí tuệthì bỗng dưng được con mắt sáng mà nhìn, mà nghe, mà cảm nhận cái thi vị củacuộc đời sau những tột cùng vô biên của sự phân chia, tách bạch

Tự nhiên, có con mắt thứ nhất mở ra phía sau trước nhìn vào chốn sinh linh mà lờirằng: đừng bảo, đừng nói, đừng ngộ nhận, chớ lời, chớ chắc, chớ đoan và còn

con mắt thứ hai dành cho kẻ Xuân Thu biết vui thú du xuân bốn mùa sẽ có được:

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Cùng với muôn vàn con mắt không phô diễn

Trang 9

Khứ (lạc, quá) - nhất chi mai -đáo (khai, lai)

Đạo bản vô nhan sắc, nhưng ta (và người) thì có thể thấy được (nhất chi mai) kia

là vật của đất trời, rỗng rang độc lập, hồn nhiên, như hữu sựu mà như vô sự Biết đâu lâu nay người sợ hãi là sợ cái có không không đối đãi, thì đây là vật chứng, là hiển nhiên của sinh diệt mà cũng là bất diệt Cái giả hợp tất chịu đổi thay: còn trẻ răng trắng má hồng, lúc tuổi già răng long tóc bạc Nhưng trong chỗ diệt diệt sinh sinh ấy có một thứ nhẩn nha ra ngoài sinh tử, và một lúc nào nhận diện được nhànhmai trước sân thì tức là đang sống, đang vui đùa với ông Phật vĩnh cửu của chính mình Tìm kiếm Phật ở bên ngoài thì cũng giống như cá chép tranh nhau nhảy ở

Vũ Môn, muôn đời làm sao hóa rồng được (?!)

Chân tánh là vô tánh Tử – sanh chẳng nói

Vì "không hoa, mặc bướm để lòng chi"?

b Thiên nhiên trong thơ văn đời Trần

- So với thiên nhiên trong thơ văn đời Lý, thiên nhiên trong thơ văn đời Trần thực hơn, đẹp hơn Các nhà thơ đã bắt đầu chú ý miêu tả đời sống thôn dã bình

dị Cảm xúc được thể hiện tinh tế hơn

+ Miêu tả cuộc sống bình dị của người lao động: (Thiên trường vãn vọng)

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên Bán vô bán hữu tịch dương biên Mục đồng địch lý ngưu quy tận Bạch lộ song song phi hạ điền

Trang 10

+ Cảnh vật được miêu tả bằng ngôn từ giản dị nhưng vẫn thể hiện được cái thần, cái đẹp của thiên nhiên : bức tranh đường đi Lạng Sơn, cảnh chùa Bảo

Phúc, động Chi lăng, Thạch Môn sơn, cảnh Thiên Trường, cảnh hồng rụng, tiếngchuông văng vẳng, tiếng sáo thuyền câu, :

Mưa tạnh vườn cây màn biếc rủ Tiếng ve chiều tối rộng bên tai

(Hạ cảnh- Trần Thánh Tông)

Hoặc:

Cổ tự thê lương thu ái ngoại Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ Thủy minh, sơn tĩnh, bạch âu quá Phong định, vân nhàn, hồng thụ sơ

(Lạng Châu vãn cảnh-Trần Nhân Tông)

+ Cảm xúc và cách miêu tả cảnh của nhà thơ thực sự tinh tế:

Thụy khởi khải song phi Bất tri xuân dĩ quy Nhất song bạch hồ điệp Phách phách sấn hoa phi

(Xuân hiểu- Trần Nhân Tông)

Dịch nghĩa

Ngủ dậy mở cánh cửa sổ,Không ngờ mùa xuân đã về

Trang 11

Một đôi bướm trắng,Phần phật cánh, bay đến với hoa.

Dịch thơ

Ngủ dậy ngỏ song mây Xuân về vẫn chửa hay Song song đôi bướm trắng Phấp phới sấn hoa bay

Xuân đã đến từ tối hôm qua mà thi nhân chẳng hay Sớm nay ngủ dậy muộn, vừa

mở cửa sổ ra xem Mới biết là xuân đã về Thi nhân biết bao ngỡ ngàng, ngạc nhiên và xúc động:

“Ngủ dậy ngỏ song mây Xuân về vẫn chửa hay”.

Đằng sau nội dung thông báo “xuân về vẫn chửa hay” hé lộ cho ta biết nhà thơ

đang sống giữa những tháng ngày yên vui trong khung cảnh đất nước thanh bình.Giọng điệu khoan thai của vần thơ cũng là nhịp điệu ung dung của cuộc sống nhànnhã sau khi đã đánh thắng lũ giặc phương Bắc Gặp lại mùa xuân như gặp lại bạn

cố tri vậy Phải là người yêu thiên nhiên, mến cảnh đẹp, Trần Nhân Tông mới “ngủdậy” đã “ngỏ song mây”

Đâu phải thi nhân hướng về ngoại cảnh mà cảnh đã vốn trong tâm người rồi, chỉcần mở mắt là bắt gặp Từng phút từng giây, cảnh vật chuyển dịch theo vòng tuânhoàn của vũ trụ, chỉ có lòng người là an tịnh tại tâm Thế nên, qua hai câu thơ thinhân ngỡ ngàng về sự chậm trễ của mình Mới hay, Trần Nhân Tông sống hết mìnhtrong từng khoảnh khắc, vô vi nhưng thức ngộ từng sát-na đang trôi đi, tĩnh mà lạiđộng, có mà như không có, vội vàng mà lại điềm nhiên trong u tịch thời gian

Thi nhân đã nhìn dòng thời gian đang chuyển luân bằng cái tâm của Phật Cảnhđộng mà tâm không động Tâm như không động nhưng đang chuyển dịch mãnhliệt Bởi thế, cái thần của bài thơ, cái hồn của vần thơ được cô động ở hai câu tiếp

Trang 12

theo Nhà thơ thật trẻ trung và hồn nhiên khi nhìn thấy ngoại cảnh, lòng đến xaoxuyến, rung động.

“Nhất song bạch hồ điệp Phách phách sấn hoa phi”

(Song song đôi bướm trắng Phất phới sấn hoa bay)

Xuân về trăm hoa đua nở, phô sắc khoe hương Nói đến hoa phải nói đến ongbướm Hai nét vẽ gợi cảm, sống động đặc tả tín hiệu mùa xuân, vẻ đẹp thơ mộngmùa xuân Hoa xuân như phô sắc khoe hương đợi chờ Hoa không được đặc tả, ýnhư chưa cần phô trương cũng đã đủ làm con người ta rạo rực trước hương xuânđang đến Bướm trắng một đôi, bay “sấn ” tới, đi tháng tới xông tới khóm hoa…

“Phách phách” là từ láy, gợi tả nhịp cảnh vồ rối rít của đôi cánh bướm Chữ ”sấn”

là nhãn tự diễn tả thật sinh động và tế nhị vẻ đẹp nên thơ, sức sống mãnh liệt củathiên nhiên tạo vật buổi xuân về Bằng cái nhìn non tơ, thi nhân đã cảm và miêu tảmột cách thi vị, đáng yêu cái sắc xuân, xuân tinh mơn mởn qua cánh bướm đangrối rít bay sấn tới những đoá hoa xuân

Nghê thuật miêu tả tinh tế và điêu luyện Trên nền hoa xuân rực rỡ muôn hồngnghìn tía nổi lên một đôi bươm bướm trắng Trên gam màu rực rỡ, lộng lẫy là haiđiểm trắng, gợi lên sự thanh khiết, trang nhã, thanh tân Câu thơ tả cảnh mà ngụtình, cho thấy con người và thiên nhiên giao hòa, công hưởng

Đến đây, ta chợt giật mình, hai con bướm trắng có thật là hai con bướm trắng hay

đó chỉ là ảo ảnh, là tâm cảnh mà thôi Rõ ràng, trong câu thơ “Nhất song bạch hồ điệp” (một đôi bướm trắng) đang hướng đến khóm hoa, cánh bướm phất phới

trong không trung Thế nhưng, bởi thi nhân đã nhắc đến mùa xuân mà trong lòng

đã hiện hình cánh bướm vậy Bởi quá rộn ràng mà chỉ trong khoảnh khắc, mùaxuân đã tràn ngập ở trong lòng Cánh bướm tượng trưng cho sự mờ ảo, là bóng hồn

Trang 13

bay lên hòa nhập vào đại vũ trụ hoan ca Thể như lão Trang Tử một ngày nọ nhìncánh bướm nà không thể biết mình là bướm hay bướm là mình vậy.

Xuân hiếu là một bài thơ xuân tuyệt hay Cảnh xuân và tình xuân hoà quyện Nghệthuật miêu tả chấm phá, Mỗi đường nét, mỗi màu sắc của hoa, của bướm rất tươitắn, nhẹ nhàng và thanh thoát Tả cảnh xuân chớm đến cũng là ngợi ca vẻ đẹp đấtnước thanh bình Yêu mùa xuân cũng là yêu quê hương đất nước Tâm hồn ông vua– thi sĩ trẻ và đẹp mãi với mùa xuân, với giang sơn Đại Việt Mà có lẽ, những vịvua trước đây cũng như sau này, do quá mải mê danh vọng, quyền hành, hoặc bỏ

bê việc nước chỉ để ăn chơi sa đọa, đua đòi hoa thơm của lạ, xây dựng nhiều cungđiện, đền đài để thoả thích “đi chơi ngắm cảnh đẹp”

Thơ là sự giãi bày, là tiếng nói đồng điệu trong không gian và thời gian Bài thơXuân Hiểể́u, viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đã đi suốt một hành trình trên 7 thế

kỷ Đọc nó, ta cảm thấy tâm hồn mình như được hòa nhập, gần gũi với người xưahơn

- Qua việc miêu tả thiên nhiên, các tác giả thường chú ý bộc lộ niềm tự hào về những chiến tích oanh liệt của dân tộc :

Lâu Lãi hang sâu hơn đáy giếng Chi Lăng ải hiểm tựa trời cao Ngựa leo, gió lướt ngoảnh đầu lại Cửa khuyết trời tây mây ráng treo

(Ải Chi Lăng- Phạm Sư Mạnh)

Các tác giả thường khai thác đề tài sông Bạch Ðằng với cảm hứng ca ngợi đầysảng khoái, tự hào:

« Ánh nước chiều hôm màu đỏ khé Tưởng rằng máu giặc vẫn chưa khô »

(Bạch Ðằng giang- Trần Minh Tông)

« Bát ngát sóng kình muôn dặm

Trang 14

Thướt tha đuôi trĩ một màu Nước trời : một sắc

Phong cảnh : ba thu »

(Bạch Đằng giang phú)

=>Có thể nói, thiên nhiên trong thơ văn Lí-Trần hết sức phong phú đa dạng Cácnhà thơ đã phát hiện, cảm nhận những vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên chứng tỏ họngày càng gắn bó hơn với cuộc đời, với con người

c Thơ Thiền trong văn học Lí-Trần

* Thơ Thiền Lí Trần mang nặng ý thức hệ Phật giáo

- LL sáng tác quan trọng là các nhà sư

- Mang nặng ý thức hệ Phật giáo, thể hiện tư tưởng, triết lý của đạo Phật

+ văn học thời Lý thường thể hiện sự tương đồng, sự vĩnh cửu của bản ngã

+ Quan niệm Sắc Không

=> Con người vô úy

* Thơ ca của các thiền sư dù mang nặng ý thức hệ Phật giáo nhưng thể hiện tinh thần nhập thế, gắn bó với cuộc đời.

+ Thái độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của các nhà sư, khát vọng hòa nhập vào cuộc đời, tham gia gánh vác những khó khăn của đất nước thời kì đầu xây dựng.

Trạch đắc long xà địa khả cư,

Dã tình chung nhật lạc vô dư.

(Chọn được đất long xà có thể ở được, Tâm tình nơi đồng quê suốt ngày vui không chán.)

(Không Lộ thiền sư, Ngôn hoài)

Nhà sư tìm thấy niềm vui trong cõi đời này không phải là những gì cao xa, viển vông, thoát lánh khỏi mặt đất mà là một niềm vui rất trần thế

+ Thơ Thiền thể hiện sự thâm nhập giữa con người và thiên nhiên Đó là sự giao hoà,

giao cảm giữa con người với thiên nhiên

Xuất phát từ 1 triết lý của Phật giáo: vạn vật trong thế giới này cùng chung một bản thể

và cho rằng chúng chỉ là muôn vàn dạng thức khác nhau mà thôi.

Trang 15

Xuân hoa dữ hồ điệp,

Cơ luyến cơ tương vi.

(Hoa xuân và bươm bướm

Hầu quyến luyến nhau lại hầu xa rời nhau.)

Giác hưởng tuỳ phong xuyên trúc đáo

Sơn nham đái nguyệt quá tường lai.

(Tiếng tù và theo gió luồn trúc mà đến,

Ngọn núi cao cõng trăng vượt tường mà qua)

(Viên Chiếu thiền sư)

- Nỗi “sầu” rất đời

Sư Huyền Quang là tổ thứ ba của Trúc Lâm, người mà Lê Quý Đôn đã từng cho là “tựa

hồ chẳng phải là lời nói của nhà tu hành” khi ông đọc một bài thơ của nhà sư Quả vậy, đọc thơ của sư Huyền Quang, dường như người ta không thấy “dáng mạo” của người tu hành mà thấy hiển hiện một tâm hồn thi sĩ - đậm đà chất đời, chất thực Những tình cảm của nhà sư rất dạt dào và được biểu thị một cách thành thực Chất đời, chất trần tục ấy được sư Huyền Quang gửi gắm qua bài thơ đề ở chùa Bảo Khánh Cũng chính sự nhập đời đó mà đọc bài thơ ta thấy lắng đọng một chút “sầu” rất đỗi con người:

Mây khói đồng hoang quê lắm vẻ,

Lầu Nam quán Bắc xế vừng hồng.

Thơ không tài liệu, xuất không chủ,

Mấy khóm hoa sầu nhớ gió đông.

Và cái thành thực mang nặng chất đời ấy nhiều lúc được nhà sư thể hiện rất bộc trực, không hề giấu giếm:

Muốn hướng lên trời xanh hỏi cớ tại sao,

Trơ trơ đúng một mình trong núi tuyết.

Bẻ cành không phải đón người mắt xanh,

Chỉ muốn mượn tình xuân để an ủi ông đau.

Trang 16

giữa Đạo và Đời có một sợi dây gắn kết và ánh xạ vào nhau; Đạo là sự thể hiện ở Đời, còn Đời là thước đo để đạt đến Đạo.

+ Nhân sinh quan tích cực: Mỗi người phải có ý chí, phải có một con đường đi riêng

cho bản thân mình để đạt được mục đích chứ không nên theo vết chân người đi trước, cũng không thể “dẫm chân” tại chỗ, chấp nhận thực tại mà phải biết vươn lên, phải biết khát khao cái lớn lao, cái cao cả hơn:

+ Thiền sư nhập thế giúp nước, giúp đời.

III Đặc điểm nghệ thuật thơ văn Lí – Trần

1 Chịu ảnh hưởng, kế thừa tinh hoa văn học Hán

a Nguyên nhân

Nước ta bị 1000 năm Bắc thuộc, văn hóa Hán đã xâm nhập vào VN bằng nhiều con

đường, trong con đường áp đặt do các quan cai trị Trung Quốc bảo trợ Vì thế, khi

nước nhà giành lại độc lập, văn học Lý – Trần có mặt đã chịu ảnh hưởng sâu sắc,thậm chí là nặng nề những yếu tố của văn hoá Hán, văn học Hán

b Biểu hiện

*Ngôn ngữ, văn tự

Văn học Lý Trần chủ yếu vay mượn văn tự Hán để sáng tác (mãi đến thế kỷ thứXIII, dưới đời Trần, mới sử dụng chữ Nôm để viết tác phẩm văn học)

* Thi văn liệu, điển cố, điển tích.

VH Lý Trần lấy thi văn liệu, điển cố, điển tích từ sử sách, từ thánh kinh hiền truyệncủa Trung Quốc Sự vay mượn đó nhiều đến nỗi trở thành những mô – típ quenthuộc, tạo nên tính quy phạm, ước lệ, tượng trưng trong văn học Hồi ấy, nhữngsáng tác văn chương có như thế mới được xem là bác học, cao nhã, cao quý

Chẳng hạn, nói đến cây và hoa, người đọc sẽ bắt gặp tùng, trúc, cúc, mai, sen…

Đây là những biểu tượng để chỉ phẩm chất, khí tiết của bậc trượng phu, người quân

tử; nói đến vật thì thường là long, ly, quy, phụng; nói đến người thì ngư, tiều, canh, mục; tả cảnh mùa thu phải là rừng phong lá rụng, sen tàn giếng ngọc, mây đùn cửa

Ngày đăng: 21/02/2021, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w