Chuyên đề chuyên sâu bôi dưỡng học sinh giỏi Tỉnh, học sinh giỏi Quốc gia. Chuyên đề tổng hợp và phân tích chi tiết về vẻ đẹp tâm hồn, tài năng, trí tuệ của con người Việt Nam qua Văn học dân gian. Chuyên đề kèm theo hệ thống đề luyện tập, có lời giải chi tiết. Đây là tài liệu học tập cần thiết cho giáo viên và học sinh.
Trang 2MỤC LỤC
I Tại sao VHDG thể hiện sâu sắc tâm hồn, trí tuệ, tài năng của con người
Việt Nam thời xưa? 3
II Vẻ đẹp tâm hồn, trí tuệ, tài năng của con người VN qua VHDG 3
1 Vẻ đẹp tâm hồn con người VN qua VHDG 3
2 Trí tuệ, tài năng của con người VN qua VHDG 9
a Trí tuệ của con người VN trong nhận thức về vũ trụ, thiên nhiên 9
b Trí tuệ của con người VN trong nhận thức về con người và các mối quan hệ xã hội 11
c Trí tuệ, tài năng của con người Việt Nam trong việc sáng tạo các tác phẩm VHDG 13
III Nét riêng biệt, độc đáo trong nội dung và cách thể hiện tâm hồn, trí tuệ, tài năng của con người VN qua VHDG 14
1 Nét riêng biệt trong nội dung 14
2 Nét riêng trong cách thể hiện 14
IV Luyện tập 14
Trang 3I Tại sao VHDG thể hiện sâu sắc tâm hồn, trí tuệ, tài năng của con người Việt Nam thời xưa?
- Mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm
Tác phẩm văn học lấy ngôn từ nghệ thuật làm chất liệu và hình tượng nghệthuật làm phương tiện phản ánh thế giới Thông qua đó, nhà văn thể hiện tư
tưởng, tình cảm và những triết lý nhân sinh của mình “Tác phẩm nghệ thuật
nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ.” (Nguyễn Đình Thi)
Tác giả của tác phẩm văn học dân gian là người bình dân lao động Trong quátrình sáng tác và lưu truyền, tác giả dân gian đã gửi gắm tư tưởng, tình cảm,lối tư duy, thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan Thông qua tác phẩmVHDG, ta thấy được tâm hồn, trí tuệ, tài năng của người bình dân
- Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống
Bản chất của văn học là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống Thông quavăn học, ta nhận thức được hiện thực đời sống của thời đại được tác giả phảnánh Tác phẩm văn học vì thế là thước phim quay chậm, giúp người đời sau
có thể soi vào đó để “hồi quang quá khứ”, để biết và hiểu được hiện thực đãxảy ra
Tác phẩm văn học dân gian được hình thành từ thuở sơ khai mở nước, khingười Việt chưa có chữ viết, ghi lại quan điểm, nhận thức của người Việt vềthế giới xung quanh, thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của người Việtthuở ban đầu
II Vẻ đẹp tâm hồn, trí tuệ, tài năng của con người VN qua VHDG
1 Vẻ đẹp tâm hồn con người VN qua VHDG
a Tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước
Trang 4Văn học dân gian sinh thành từ trong đời sống của người bình dân – những cưdân nông nghiệp, gắn liền với văn hóa làng xã Con người Việt Nam sốngchan hòa gắn bó với làng quê, với thiên nhiên.
- Yêu cảnh thiên nhiên gần gũi, thân thuộc
“Gió đưa cành trúc la đà……….Tây Hồ”
- Tự hào về cảnh trí thiên nhiên đất nước
“Đồng Đăng có phố Kì Lừa……… Tam Thanh”
“Nam Kì sáu tỉnh em ơi, Cửu Long chín ngọn cùng khơi một nguồn.
Sông Hương nước chảy trong luôn, Núi Ngự danh tiếng cả muôn dặm ngoài.
“Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
“Ngày xuân cái én xôn xao, Con công cái bán ra vào chùa Hương Chim đón lối, vượn đưa đường,
Nam mô đức Phật bốn phương chùa này.
“Ngọ Môn năm cửa chín lầu, Cột cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng.
Trang 5 Ở đâu năm cửa, nàng ơi!
Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?
Sông nào bên đục bên trong?
Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh?
Đền nào thiêng nhất xứ Thanh?
Ở đâu mà lại có thành tiên xây?
Ở đâu là chín tầng mây?
Ở đâu lắm nước, ở đâu nhiều vàng?
Chùa nào mà lại có hang?
Ở đâu lắm gỗ thời nàng biết không?
Ai mà xin lấy túi đồng?
Ở đâu lại có con sông Ngân Hà?
Nước nào dệt gấm thêu hoa?
Ai mà sinh ra cửa, sinh nhà, nàng ơi?
Kìa ai đội đá vá trời?
Kìa ai trị thủy cho đời bình yên
Anh hỏi em trong bấy nhiêu lời?
Xin em giảng rõ từng nơi từng người.
- Thành Hà nội năm cửa, chàng ơi!
Sông Lục Đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng Nước sông Thương bên đục bên trong,
Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh.
Trang 6Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh,
Ở trên tỉnh Lạng, có thành tiên xây.
Trên trời có chín từng mây, Dưới sông lắm nước, núi nay lắm vàng.
Chùa Hương Tích mà lại ở hang;
Trên rừng lắm gỗ thời chàng biết không?
Ông Nguyễn Minh Không xin được túi đồng, Trên trời lại có con sông Ngân Hà.
Nước Tàu dệt gấm thêu hoa;
Ông Hữu Sào sinh ra cửa, ra nhà, chồng ơi!
Bà Nữ-Oa đội đá vá trời;
Vua Đại Vũ trị thủy cho đời bình yên
- Tình yêu thiên nhiên gắn liền với lao động sản xuất
“Đứng bên ni đồng………bát ngát mênh mông”
- Luôn nhớ về quê hương mỗi khi đi xa
“Anh đi anh nhớ quê nhà………… bên đường hôm nao”
b Tâm hồn chan chứa tình yêu thương giữa con người với con người
Con người Việt Nam vốn có truyền thống tương thân tương ái, truyền thốngnhân đạo từ ngàn xưa Hơn nữa, môi trường sống cộng đồng làng xã khiếncon người gắn bó gần gũi với nhau Sản xuất nông nghiệp và nền kinh tế cònlạc hậu khiến con người cần phải gắn bó, nương tựa vào nhau để sinh sống
Trang 7- Tình cảm yêu thương trong gia đình: biết ơn ông bà cha mẹ, yêu quí anhem
“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
“Anh em như thể tay chân Rách lành đùm đọc, dở hay đỡ đần”
“Chồng em áo rách em thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người”
- Tình cảm yêu thương, đùm bọc giữa những người trong một cộng đồng”
“Nhiễu điều……….thương nhau cùng”
“Bầu ơi……… một giàn”
- Tình yêu đôi lứa
“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
“Khăn thương nhớ ai……
Lo vì một nỗi không yên một bề”
Tâm hôn lãng mạn bay bổng, khao khát tình yêu và hạnh phúc
Trang 8c Tâm hồn yêu đời, lạc quan, tin tưởng ở tương lai, tin tưởng ở chính mình
Quy luật của cuộc sống: thiện thắng ác, qua cơn bĩ cực đến ngày thái lai.Người bình dân VN luôn tin vào quy luật đó và lấy đó làm điểm tựa tinh thần
để vượt qua gian khó
- Lạc quan, hi vọng một tương lai tốt đẹp hơn
Ví dụ: Mười cái trứng
- Tin tưởng ở chính nghĩa, cái thiện thắng cái ác
Ví dụ: Kết thúc có hậu trong truyện cổ tích
- Cuộc sống gian khổ khó khăn nhưng luôn tràn ngập tiếng cười:
+ Ca dao hài hước
+ Truyện cười dân gian
d Nghị lực phi thường, vượt lên khó khăn, nghịch cảnh
- Kiên trì, bền bỉ làm lụng vượt qua khó khăn
+ Vượt qua khó khăn, thiếu thốn về vật chất, không đầu hàng số phận
Ví dụ: Chử Đồng Tử
VD: Mười cái trứng
+ Vượt qua thiên tai để kiến tạo cuộc sống
Ví dụ: Sơn Tinh Thủy Tinh
- Kiên trì đấu tranh chống lại cái ác, giành lại sự sống, bảo vệ tình yêu và hạnh phúc
+ Đấu tranh với cái ác để giành lại sự sống
Ví dụ: những lần hóa thân của Tấm
Trang 9+ Bảo vệ tình yêu và hạnh phúc
Ví dụ: Chử Đồng Tử
- Kiên trì đấu tranh chống lại kẻ thù, bảo vệ giang sơn gấm vóc
Ví dụ: Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy, Thánh Gióng
Con em bụng đói da vàng bọc thân Sớm hôm em chạy tảo tần
Bữa khoai bữa sắn em lần nuôi con
Đá mòn nhưng dạ không mòn Quê em còn khổ em còn đánh Tây -
“Đã là cây bách, cây tùng Nắng mưa đâu quản, bão giông đâu sờn
Đã rằng vì nước vì non Nước nhà còn giặc, ta còn ra đi”
“Thà rằng uống nước hố bom Còn hơn theo giặc, lưng khom, chân quỳ”
Trang 10“Con ơi, con ngủ cho mùi
Để mẹ ngồi vót cho rồi bó chông.
Chông này gìn giữ non sông, Chông này góp sức diệt quân bạo tàn.
Chông này xóa sạch tóc tang, Chông này đem lại tiếng đàn lời ca Cho con gần mẹ gần cha,
Cho nước độc lập, cho nhà yên vui.
Con ơi con ngủ cho mùi,
Để mẹ ngồi vót cho rồi bó chông”
-2 Trí tuệ, tài năng của con người VN qua VHDG
Văn học dân gian Việt Nam là nguồn tư liệu ít được khai thác về mặt triếthọc, vì, trước hết người ta thường coi đó là thứ văn học truyền miệng, kỹthuật lưu truyền thấp kém nên dễ bị tam sao thất bản Thứ đến, nó bị xem làloại văn phong không bác học, có nhiều hạn chế, lạc hậu Song, thật ra trongthứ văn chương bình dân ấy đã ẩn chứa những khái niệm trừu tượng mà ở đó,chúng ta cũng có thể nghiệm được năng lực tư duy, phán đoán, phân tích vànhận thức của người Việt Nam Thông qua văn học dân gian, ta thấy được trítuệ và tài năng của con người Việt Nam
a Trí tuệ của con người VN trong nhận thức về vũ trụ, thiên nhiên
- Nhận thức về sự hình thành của vũ trụ
Các thần thoại, truyền thuyết dân gian cổ xưa do những người dân sơ khai vớimột trí thông minh chưa phát triển đã đặt vấn đề về nguồn gốc của vũ trụ, conngười:
Trang 11+ Trời và đất cách xa nhau Theo thần thoại, đó là do có thần trụ trời đã dựngmột cây cột chống trời, đẩy trời lên cao.
+ Trời tròn, đất vuông (Sự tích bánh chưng bánh giày)
+ Tính tương đối của khối lượng, thời gian, không gian
Thuyết tương đối của Anhxtanh khẳng định rằng, một vật khi chuyển độngvới một vận tốc nhanh bằng tốc độ ánh sáng thì khối lượng của nó có thể tănglên, không gian co lại và thời gian thì trôi chậm đi Thuyết tương đối đó, ngàynay, đã được các nhà bác học kiểm nghiệm là đúng và chuẩn xác Một con tàu
vũ trụ đi với vận tốc xấp xỉ vận tốc ánh sáng, thời gian trôi đi ở đó chỉ có 1năm; trong khi đó, lấy sự đứng yên của trái đất làm chuẩn thì thời gian đã trôi
là 100 năm Trong truyền thuyết của nhiều dân tộc đã từng có những liên hệđến tính tương đối của khối lượng, không gian, thời gian tương tự như vậy,chẳng hạn trong truyền thuyết Từ Thức gặp tiên của người Việt Nam Chàngtrai Từ Thức vô tình cứu một nàng tiên bị mắc nạn trên trần thế, vì cảm phụctấm lòng hào hiệp, nàng mời Từ Thức lên cõi tiên chơi có 3 năm Khi trở vềlàng quê thì mọi vật đã đổi thay, thời gian trôi đi tận 80 năm, bạn bè ngườithân đều đã chết hết cả, đứa cháu khi chàng ra đi mới 1 tuổi nay đã trở thànhông lão 80 tuổi
=> Một số nhà nghiên cứu văn hoá dân gian trên thế giới đã mạnh dạn tuyên
bố rằng, những người sáng tạo ra các truyền thuyết trên đã đi trước các nhàkhoa học khi đặt vấn đề nguồn gốc vũ trụ và "rất có thể nhiều giả thuyết của
các nhà khoa học về vũ trụ được sinh ra bởi sự thúc đẩy của tâm thức dân
gian nhiều hơn bởi các suy luận khoa học
- Nhận thức về sự hình thành của con người, sự tồn tại của các tộc người khác nhau (Truyện “Quả bầu mẹ”)
- Nhận thức tự nhiên để phục vụ lao động sản xuất
Trang 12“Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”
“Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa”
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”
=> Nhận thức, hiểu rõ các hiện tượng tự nhiên không phải là chuyện một sớmmột chiều, mà là kết quả của sự đúc rút kinh nghiệm qua hàng nghìn năm.Nhờ việc nhận thức được các hiện tượng tự nhiên, người bình dân Việt Nam
có thể chủ động trong lao động sản xuất để đạt kết quả tốt:
“Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm”
Nhờ nhận thức được tự nhiên mà con người có thể cải tạo tự nhiên để phục vụcho cuộc sống: Đắp đê chống lũ lụt (Sơn Tinh Thủy Tinh), khai phá đầmhoang (Chử Đồng Tử)
b Trí tuệ của con người VN trong nhận thức về con người và các mối quan hệ xã hội.
- Nhận thức: con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội
Có một câu tục ngữ đẹp được coi là tiêu biểu cho tư tưởng nhân văn về conngười, đề cao hết mức giá trị và vị thế của con người trong trời đất Đó là
“người là hoa của đất” Như vậy, con người là sản phẩm của tự nhiên, nhưng
là sản phẩm cao nhất, hoàn mỹ nhất của tự nhiên, vừa có vẻ đẹp về thể xác,vừa có vẻ đẹp về tâm hồn, trí tuệ
Con người là chúa tể của muôn loài vì nó có trí khôn (“Trí khôn của ta đây”);
, có khả năng cải tạo thiên nhiên, nó là Con nhưng cũng là Người Ngoài
Trang 13những nhu cầu bản năng, con người còn có ý thức, có khả năng thăng hoanhững nhu cầu ấy thành Người Chẳng hạn, con người thăng hoa nhu cầu ănuống thành văn hoá ẩm thực, thăng hoa nhu cầu tình dục thành tình yêu.
- Con người đề cao đời sống tinh thần hơn là vật chất, coi linh hồn cao hơn thể xác.
+ Con người ham sống nhưng không sống bằng mọi giá Họ hiểu sống phải cóvật chất nhưng còn hiểu sống cần có cả những cái cao hơn vật chất, đó là tinh
thần, là tình thương và danh dự (“Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con” “Sống vì mồ mả, ai sống bằng cả bát cơm”…).
“Thà ăn bắp họp đông vui/ Còn hơn giàu có mồ côi một mình” hoặc hoặc
“Đói cho sạch, rách cho thơm” Họ ca ngợi cảnh “Cơm trắng ăn và chả chim/ Chồng đẹp vợ đẹp những nhìn mà lo”, nhưng cũng chia sẻ niềm vui với cảnh “Râu tôm nấu với ruột bầu/ Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”.
+ Họ coi linh hồn cao hơn thể xác Vợ Trương Ba nhận anh hàng thịt làchồng, vì xác anh hàng thịt mang linh hồn Trương Ba Nói thế không phải làngười bình dân xưa hiểu quá đơn giản về bản thể con người Trong bản thểcon người, trước cả Preude, người bình dân xưa hiểu vai trò, vị thế của vôthức, của ẩn ức sinh lý trong tâm thức con người Có một chuyện: Người anhmới cưới vợ, có việc phải đi xa ít lâu, dặn em trai ở nhà phải trông coi chị dâucho mình Người em ở buồng bên cạnh, sợ chị dâu đêm đi (theo trai) liền đụcvách ra một lỗ rồi thò tay qua đặt lên bụng chị (để nếu chị bỏ đó thì biết) Nàongờ bụng chị ngày một to ra, khi người anh trở về cho là em đã phạm tội loạnluân, liền đánh chửi, người em thanh minh không được, tự tử chết Sau chịdâu đến kì mãn nguyệt khai hoa, sinh ra một cái bàn tay Như vậy, người bìnhdân xưa thừa nhận bản năng vô thức có vị trí của nó trong tâm thức conngười, ngay cả khi nó đã bị (được) ý thức chế ngự
Trang 14- Nhận thức được vai trò của lao động sản xuất và sự cần thiết của công
cụ sản xuất
Người bình dân hiểu rằng muốn có hạnh phúc, trước hết phải được ấm no.Muốn ấm no thì cần phải lao động cái quan trọng nhất, tiên tiến nhất trong sảnxuất là công cụ lao động VD: Truyện “Thần sắt” (cổ tích dân tộc Thái), sở dĩngười xấu xí, con gái trông thấy phải chạy, bà già thì ôm mặt khóc vì anh đói
ăn, mùa màng thất bát do chỉ biết lấy que chọc lỗ gieo hạt Đến khi có sắt, biếtrèn cuốc cày, làm đất kĩ, mùa màng bội thu, ăn no, mặc ấm, anh trở nên dẹp
đẽ, bà già trông thấy cười, con gái trông thấy chạy theo
Trong quan niệm của người bình dân, nhiều nhân vật chính diện mà họ xâydựng trong thần thoại, truyền thuyết là những người anh hùng trong lao động:Sơn Tinh là anh hùng trị thủy, Chử Đồng Tử là anh hùng khai phá đầm lầy…
- Ý thức về nòi giống, quốc gia, dân tộc
Có thể nói, ít có dân tộc nào trên thế giới có ý thức sâu sắc về nòi giống nhưdân tộc Việt Nam Câu chuyện thần thoại Lạc Long – Âu Cơ là niềm tự hàocủa người Việt Nam hàng ngàn năm nay
- Quan điểm mỹ học dân gian: Đề cao cái đẹp phẩm chất bên trong hơn là
vẻ bề ngoài: “Cái nết đánh chết cái đẹp”, “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
- Quan điểm đạo đức học dân gian: Đề cao tình yêu thương, lòng nhân đạo
VD: “Thương người như thể thương thân”, “Dẫu xây chín đợt phù đồ/ Sao bằng làm phúc cứu cho một người”;
Trang 15Con người được đặt trong các mối quan hệ xã hội và có ảnh hưởng lẫn nhau.
“Một người làm quan cả họ được nhờ”
Đề cao địa vị xã hội của con người:
- Trí tưởng tượng phong phú, sáng tạo hình ảnh, chi tiết kì ảo hoang đường
- Biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật để thể hiện tư tưởng, tình cảm
III Nét riêng biệt, độc đáo trong nội dung và cách thể hiện tâm hồn, trí tuệ, tài năng của con người VN qua VHDG.
1 Nét riêng biệt trong nội dung
- Đời sống tâm hồn phong phú, trọng nghĩa tình, coi trọng đời sống tinh thần,xem đó là sức mạnh để vượt qua khó khăn, nghịch cảnh
- Mặc dù nhận thức về thiên nhiên ở mức độ sơ khai, nhận thức nhưng chưathể lí giải tự nhiên từ góc nhìn khoa học nhưng người bình dân luôn chủ động,sáng tạo để chế ngự thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho đời sống
2 Nét riêng trong cách thể hiện
- VHDG là tiếng nói của người bình dân lao động, thể hiện đời sống tâm hồn
và sức sống của con người gắn liền với những cảnh sinh hoạt đời thường,thiên nhiên dân dã, gần gũi Cách nói giản dị dễ hiểu, hình ảnh thân thuộc
- Lí giải tự nhiên hoặc thể hiện ước mơ khát vọng bằng những yếu tố kì ảohoang đường