Chuyên đề chuyên sâu bôi dưỡng học sinh giỏi Tỉnh, học sinh giỏi Quốc gia. Chuyên đề tổng hợp và phân tích chi tiết về đặc trưng của thơ ca, cùng với hệ thống đề luyện tập, kèm theo lời giải chi tiết. Đây là tài liệu học tập cần thiết cho giáo viên và học sinh.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HSG QUỐC GIA
LUYỆN ĐỀ:
ĐẶC TRƯNG CỦA THƠ CA
(PHẦN I)
Trang 2Đề 1:
“Thơ đi giữa nhạc và ý Rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan Rơi vào vực nhạc thì thơ dễ làm đắm say lòng người nhưng cũng dễ nông cạn Tố Hữu đã giữ được thế quân bình giữa hai vực thu hút ấy Thơ của anh vừa ru người trong nhạc, vừa thức người bằng ý” (Chế Lan Viên –
Lời nói đầu trong tập thơ Tố Hữu”)
Từ đoạn trích “Việt Bắc” của Tố Hữu, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
– “Thơ là đi giữa nhạc và ý”:
+ Nhạc tính trong thơ biểu hiện ở các yếu tố về vần, thanh, âm hưởng, nhịp điệu… và được khơi nguồn từ cảm xúc của nhà thơ; nhạc điệu của bài thơ chính là nhạc điệu của tâm hồn tác giả; tính nhạc làm nên sự hấp dẫn riêng biệt cho thơ
+ Ý là nội dung tư tưởng mà tác giả gửi gắm trong bài thơ
+ “Thơ đi giữa nhạc và ý” nghĩa là thơ vừa phải có tính nhạc để tạo sức hấp dẫn riêng làm đắm say lòng người, tránh được sự khô khan, nhưng đồng thời thơ cũng phải chứa đựng nội dung ý nghĩa nhất định để gửi gắm thông điệp sâu sắc về cuộc sống, tránh nông cạn
– “Tố Hữu đã giữ được thế quân bình giữa hai vực thu hút ấy Thơ của anh vừa ru người trong nhạc, vừa thức người bằng ý”:
+ Thơ Tố Hữu có sự hài hòa giữa “nhạc” và “ý”;
+ Chất nhạc làm cho thơ Tố Hữu ngọt ngào, tha thiết dễ đi vào lòng người; đồng thời thơ ông lay động hồn người bằng những ý thơ sâu sắc về những tình cảm lớn
2.Lí giải
Trang 3- Tại sao thơ cần có sự kết hợp giữa ý và nhạc?
Mỗi tác phẩm văn học bao giờ cũng là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức “Mỗi tác phẩm là sự trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức” Nội dung nào cũng được thể hiện qua một hình thức nhất định Ngược lại, hình thức nào cũng chuyển tải một nội dung nhất định Nên, khi nội dung, tức phần “ý” và hình thức, tức phần “nhạc” hòa hợp với nhau có thể chuyển tải nội dung đến người đọc một cách tốt nhất, sâu sắc và ấn tượng nhất, dễ đi vàolòng người
- Tại sao thơ TH có sự kết hợp giữa ý và nhạc?
+ Thơ trữ tình chính trị
+ TH được kế thừa chất trữ tình ngọt ngào từ quê hương / TH quan niệm: Thơ
là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình thơ có tính nhạc
3 Chứng minh
3.1.Bài thơ Việt Bắc “thức người bằng ý”:
+ Kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, hòa bình trở lại với miền Bắc, cán bộ cách mạng và Trung ương Đảng chia tay đồng bào, chiến khu Việt Bắc
về Hà Nội Sự kiện lịch sử ấy khơi nguồn cảm hứng cho Việt Bắc
+ Việt Bắc là bản anh hùng ca tổng kết một giai đoạn lịch sử gian lao mà hào hùng của dân tộc với những mảng hoài niệm chân thực, rõ nét về con người
+ Tái hiện kỷ niệm về Việt Bắc là để:
~ Bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng của cán bộ cách mạng với đồng bào và quê hương Việt Bắc
~ Đối thoại giữa “mình – ta” còn được xem là lời tự vấn của tác giả với lòng mình về nghĩa tình thủy chung đối với đất và người Việt Bắc
Trang 4~ Nhắn gửi bài học sâu sắc về đạo lý dân tộc: “uống nước nhớ nguồn”, “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”, quá khứ lịch sử luôn là một phần của hiện tại hôm nay.
3.2.Bài thơ Việt Bắc “ru người trong nhạc”:
- Chất nhạc của bài thơ được tạo nên từ nhịp điệu của cảm xúc, tâm trạng của thi nhân:
~ Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ
~ Kết cấu theo lối đối đáp, hô ứng kết hợp với cặp đại từ “mình-ta” thường gặp trong ca dao dân ca đã biến cuộc chia tay tập thể mang ý nghĩa lịch sử trở thành cuộc tình tự nồng nàn, tha thiết vừa ngân nga vừa sâu lắng giữa kẻ ở người đi
- Chất nhạc của bài thơ được tạo nên bởi những yếu tố hình thức:
~ Thể thơ lục bát truyền thống chuẩn trong cách gieo vần, phối thanh, gần gũi với ca dao dân ca tạo nên âm điệu ngọt ngào
~ Nhịp thơ có sự thay đổi phù hợp với cảm xúc: chậm rãi, tha thiết, lắng sâu trong hoài niệm về thiên nhiên, con người; nhanh, mạnh, hối hả gấp gáp khi tái hiện những tháng ngày kháng chiến hào hùng và niềm vui chiến thắng -> Việt Bắc là một bản nhạc đa dạng về tiết tấu, có nhẹ nhàng sâu lắng, có cao trào hào sảng, hân hoan
~ Nghệ thuật dùng từ láy, điệp từ ngữ, điệp cấu trúc cú pháp…
~ Nghệ thuật tiểu đối…
4 Đánh giá, nhận xét:
– Ý kiến của Chế Lan Viên không chỉ đánh giá đúng đắn, ghi nhận và tôn vinh tài năng thơ Tố Hữu mà còn có tư cách là một định nghĩa về thơ nói chung
– Bài thơ Việt Bắc hài hòa giữa “nhạc” và “ý”, vì vậy một vấn đề lịch sử chính trị vốn khô khan, khó viết, qua ngòi bút Tố Hữu đã thành những vần thơđến với người đọc bằng con đường của trái tim; thêm một lần nữa chứng tỏ:
Tố Hữu là đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị
Đề 2
Trang 5Trong bài thơ “Vân chữ”, Lê Đạt viết:
“Mỗi công dân đều có một dạng vân tay Mỗi người nghệ sỹ thứ thiệt đều có một dạng vân chữ Không trộn lẫn”
Từ hai đoạn thơ dưới đây, hãy chỉ rõ dạng “vân chữ” “không trộn lẫn” của
mỗi nhà thơ
“Sông Mã… mưa xa khơi” (Tây Tiến)
“Nhớ gì như nhớ người yêu
………….suối Lê vơi đầy” (Việt Bắc)
Gợi ý 1.Mở bài :
+Giới thiệu hai đoạn thơ trong đề bài
+ Trích dẫn ý kiến của Lê Đạt
+ Giới thiệu vấn đề nghị luận: “vân chữ” “không trộn lẫn” của mỗi nhà thơ trong hai đoạn thơ trên
- Tại sao mỗi nhà thơ cần có 1 dạng vân chữ ?
Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, k thừa nhận sự lặp lại Cái bình thường là cái chết của nghệ thuật
Tạo nên nét riêng của mỗi tác giả, sự đa dạng, hấp dẫn của nghệ thuật2.3 Chứng minh
Trang 6- PT đoạn thơ trong bài TT để thấy đặc điểm pc củ QD : Tài hoa, độc đáo ; hào hoa, lãng mạn
- PT đoạn thơ trong bài VB để thấy đặc điểm phong cách thơ TH
Cổ nhân từng nói: “Thi trung hữu họa”, “Thi trung hữu nhạc” Anh/chị hiểu
ý kiến trên thế nào? Bằng hiểu biết của mình về bài thơ “Tây Tiến” và “Việt Bắc”, hãy làm sáng tỏ
– Thi trung hữu họa: Trong thơ có hoạ (có tranh, có cảnh)
- Thi trung hữu nhạc: Trong thơ có nhạc
=> Ý kiến trên của người xưa nói đến đặc trưng của thơ trữ tình là giàu hình ảnh và nhạc điệu Ý kiến của cổ nhân hoàn toàn đúng đắn và xác đáng
2.Lí giải ý kiến:
Trang 7– Thơ – nhạc – hoạ đều là các loại hình nghệ thuật, song có sự khác biệt, đặc biệt là về chất liệu xây dựng hình tượng nghệ thuật để phản ánh cuộc sống Nếu hoạ dùng đường nét, màu sắc, nhạc dùng giai điệu, âm thanh thì thơ cũngnhư các tác phẩm văn chương lại sử dụng ngôn từ làm chất liệu Ngôn từ có đặc điểm riêng: đó là chất liệu phi vật thể, vì vậy, tác động nhận thức không trực tiếp bằng các loại hình nghệ thuật khác song sức gợi mở của nó lại hết sức dồi dào, mạnh mẽ Nó tác động vào liên tưởng của con người và khơi dậy những cảm nhận cụ thể về màu sắc, đường nét, hình khối, âm thanh, giai điệu.– Thi trung hữu họa bởi vì: Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống, thơ ca cũng không nằm ngoài quy luật đó Thơ ca phản ánh cuộc sống qua hệ thống ngôn từ giàu hình ảnh Không ở thể loại văn học nào ta bắt gặp nhiều hình ảnh, biểu tượng (hình ảnh có ngụ ý), hình tượng (hình ảnh có ngụ ý xuyên suốt tác phẩm) nổi bật như thơ ca Hình ảnh trong thơ là sự khách thể hóa những rung cảm nội tâm bởi thế giới tinh thần vốn vô hình nên nhất thiết phảidựa vào những điểm tựa tạo hình cụ thể để hữu hình hóa Hình ảnh trong thơ nổi bật vì còn mang màu sắc của cảm xúc mãnh liệt và trí tưởng tượng phong phú.
– Thi trung hữu nhạc bởi vì: Thơ ca là sự biểu hiện trực tiếp cảm xúc, tình cảm của con người Cảm xúc biểu lộ mạnh mẽ ở thanh điệu, nhịp điệu của lời nói (ngôn từ) Tính nhạc là đặc thù cơ bản của việc phô diễn tình cảm của thơ
ca Âm thanh và nhịp điệu làm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều
từ ngữ không thể nói hết Nhạc điệu trong thơ thể hiện nhịp vận động của đời sống, của nhịp đập trái tim, bước đi của tình cảm con người
2 Chứng minh qua hai bài thơ Tây Tiến và Việt Bắc
a Thi trung hữu họa:
– Với trí tưởng tượng bay bổng, phong phú, kết hợp bút pháp miêu tả khái quát và cận cảnh, thủ pháp đối lập tương phản… Bài thơ Tây Tiến đã vẽ lên trước mắt người đọc:
+ Bức tranh chân thực về khung cảnh núi rừng miền Tây hiểm trở hùng vĩ
Trang 8nhưng vô cùng trữ tình thơ mộng.
+ Bức chân dung về người lính Tây Tiến hào hùng nhưng cũng rất đỗi hào hoa
– Bằng lối nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống (so sánh, ẩn
dụ, tượng trưng, ước lệ…) được sử dụng thích hợp… Bài thơ Việt Bắc đã tái hiện thành công:
+ Bức tranh thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc
+ Bức tranh về cuộc sống con người trong kháng chiến, bức tranh Việt Bắc ra quân hào hùng
b Thi trung hữu nhạc:
– Xuân Diệu nhận xét: Đọc bài thơ Tây Tiến như ngậm âm nhạc trong miệng Tính nhạc trong Tây Tiến thể hiện ở:
+ Thể thơ thất ngôn mang âm hưởng trầm hùng phù hợp với việc biểu đạt nội dung
+ Phối hợp nhịp nhàng giữa các thanh bằng trắc, sự hiệp vần: ơi, biện pháp điệp từ: nhớ, ngàn thước…
+ Sử dụng thành công hệ thống từ láy
+ Nhạc điệu của bài thơ còn được tạo nên từ nỗi nhớ tha thiết, tình yêu sâu đậm của nhà thơ với mảnh đất Tây Bắc, với binh đoàn Tây Tiến, với quê hương, đất nước Đó là nhạc điệu tâm hồn của thi nhân
– Tính nhạc trong Việt Bắc thể hiện ở:
+ Thể thơ lục bát: Nhịp nhàng, tha thiết, ngọt ngào, sâu lắng nhưng biến hóa sáng tạo không đơn điệu
Trang 9+ Biện pháp điệp: điệp từ: nhớ, có nhớ; điệp cấu trúc: mình đi – mình về; câu hỏi tu từ… tạo nên nhịp ru cho bài thơ, diễn tả thành công nỗi lòng kẻ đi – người ở.
+ Cách gieo vần và sử dụng từ láy cũng góp phần tạo nên nhạc điệu cho bài thơ
+ Việt Bắc có giọng điệu tâm tình, tự nhiên, đằm thắm, là tiếng nói của tình thương mến ngọt ngào, là khúc tình ca và bản hùng ca về kháng chiến và con người kháng chiến… Thơ Tố Hữu phong phú nhạc điệu, một thứ nhạc giàu có
tự bên trong của tâm hồn hoà với nhạc điệu lôi cuốn của đời sống
3 Đánh giá, nâng cao vấn đề
– Khẳng định câu nói của cổ nhân là hoàn toàn đúng với thơ ca và được minh chứng rõ qua hai bài thơ Tây Tiến và Việt Bắc
– Hai bài thơ giàu chất nhạc, chất họa, thể hiện tài năng của hai nhà thơ trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật
– Bài học cho người nghệ sĩ và người tiếp nhận
Bằng việc cảm nhận bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh, anh (chị) hãy bình luận
ý kiến trên
Hướng dẫn :
1 Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,25 điểm): Có đủ các phần mở bài,
thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn đề nghị luận, thân bài triển khai được
vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
Trang 10– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận Phần Mởbài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cánhân.
– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 01 đoạn văn
Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn
2 2 Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm): Vai trò của cảm
xúc trong thơ ca: Khi cảm xúc quá sôi nổi, mãnh liệt nó sẽ phá vỡ những hình thức có tính khuôn mẫu, ổn định.
– Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận như trên
– Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.– Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác
3 Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các
thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; kiến thức về lí luận, về tác phẩm và đoạn trích (2,5điểm)
3.1 Giới thiệu vài nét về tác giả Xuân Quỳnh và bài thơ “Sóng” (0,25đ) 3.2 Giải thích ý kiến của Hoài Thanh (0,5đ):
+ “Cảm xúc” là những rung động, là tình cảm- đây là yếu tố quan trọng nhất của thơ Khởi nguồn của thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc “Sôi nổi” chỉ mức độ của cảm xúc: nồng nàn, cháy bỏng, mãnh liệt dâng trào “Ý thơ” chỉ
tư tưởng, tình cảm
+ “Những đường viền có sẵn”, “khuôn khổ câu thơ”: Những quy định có sẵn
từ trước, những hình thức có tính chất khuôn mẫu, ổn định “Xô đẩy”, “không
đi theo”, “lung lay” đều chỉ sự bứt phá, vượt ra khỏi những quy định
=> Khi cảm xúc, tình cảm trong thơ đến mức mãnh liệt nó sẽ phá vỡ những khuôn mẫu, những hình thức có tính chất ổn định Từ đó cho thấy trong mối
Trang 11quan hệ giữa nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật của thơ thì nội dung cảm xúc đóng vai trò chi phối.
3.3 Cảm nhận bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh (1,25đ)
+ “Sóng” là dòng cảm xúc “quá chừng sôi nổi”, là tiếng nói tình cảm mãnh liệt của một trái tim phụ nữ yêu chân thành, da diết Cái “tôi” trữ tình khi thì hóa thân vào “em”, khi thì soi mình vào “sóng” “Sóng” và “em” cùng song song tồn tại để bộc lộ những cảm xúc của nhân vật trữ tình
++ Những trạng thái cảm xúc phong phú, phức tạp có lúc tưởng mâu thuẫn
mà lại thống nhất trong tâm hồn người con gái đang yêu
++ Khát vọng tự nhận thức, khát vọng tình yêu
++ Nỗi nhớ cháy bỏng, da diết trong tình yêu
++ Tình cảm thủy chung khăng khít
++ Những dự cảm âu lo và niềm tin vào tình yêu chân chính
++ Khát vọng bất tử hóa tình yêu
+ Ở “Sóng” có sự phá vỡ những hình thức, khuôn mẫu có tính chất ổn định (“câu chữ không đi theo đường viền có sẵn, khuôn khổ câu thơ bị lung lay”)++ Âm điệu của bài thơ: Bài thơ có âm điệu của sóng Sóng biển hay cũng chính là sóng lòng của người con gái đang yêu Âm điệu đó được tạo nên do thể thơ (thể thơ năm chữ, gieo vần, ngắt nhịp, hài thanh linh hoạt); phương thức tổ chức ngôn từ và hình ảnh
++ Kết cấu của bài thơ độc đáo thể hiện “dòng cảm xúc quá chừng sôi nổi”:
Cả bài thơ có 9 khổ Bốn khổ đầu và bốn khổ cuối mỗi khổ đều có 4 câu, riêng khổ giữa (khổ 5) có 6 câu Kết cấu đó khiến người ta liên tưởng tới hai chân sóng và đỉnh sóng
++ Hình tượng thơ: Có hai hình tượng song song tồn tại: Sóng và em, lúc thì phân thân soi chiếu vào nhau, lúc lại hòa với nhau làm một Sóng biển và sóng lòng hòa quyện trong nhau
++ Các biện pháp tu từ: Ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được sử dụng linh hoạt nhằm diễn tả những cảm xúc trong tâm hồn người con gái đang yêu
Trang 12++ Ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên như tiếng lòng chân thành của người phụ
nữ, không màu mè, kiểu cách
3.4 Bình luận ý kiến của Hoài Thanh (0,5đ): Học sinh có thể nêu ý kiến và lí
giải:
+ Nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật trong thơ phải có sự hài hòa, phùhợp với nhau Tuy nhiên, trong mối tương quan giữa nội dung và hình thức thìnội dung là cái có trước và bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo Thông qua ý thức năng động và tích cực chủ quan của người nghệ sĩ, nội dung cố gắng đi tìm một hình thức thể hiện phù hợp với nó, để bộc lộ một cách đầy đủ nhất, hấp dẫn nhất bản chất của nó Khi tiếng nói cảm xúc, tình cảm trong thơ nồng nhiệt đến độ cao trào thì nó sẽ vượt ra khỏi khuôn khổ hình thức bình thường
để rồi lại đi tìm một cách thể hiện khác phù hợp với nó Đó chính là sự “phá
vỡ những đường viền có sẵn”
+ Khi cảm xúc phá vỡ những giới hạn, những hình thức cũ thì sẽ có một hình thức mới ra đời Đây cũng chính là hành trình đi tìm sự sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ Nghệ thuật cũng vì thế mà luôn sáng tạo, luôn mới mẻ, hấpdẫn (dẫn chứng: Thơ mới 30-45)
+ Ý kiến của nhà phê bình Hoài Thanh là ý kiến xác đáng, đúng đắn, đầy biệnchứng về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong thơ Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng: Không phải cứ có cảm xúc mãnh liệt thì sẽ có sự phá cách
và tạo nên cái mới trong nghệ thuật thơ ca Việc sáng tạo nên những hình thứcmới mẻ còn phải phụ thuộc vào cái tài của người nghệ sĩ Cảm xúc chỉ là phần
“xương thịt”, là yếu tố khơi nguồn và thúc đẩy Hơn nữa, không chỉ thơ mà đối với loại hình nghệ thuật nào cũng vậy nội dung cảm xúc, tư tưởng luôn đóng vai trò chủ đạo, quyết định đối với hình thức thể hiện
– Điểm 2,25- 2,5: Đảm bảo các yêu cầu trên song một trong các luận điểm giải thích, bàn luận chưa trình bày được đầy đủ
– Điểm 1,75- 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm giải thích, phân tích, bàn luận còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc
Trang 13liên kết chưa thực sự chặt chẽ.
– Điểm 1,0 -1,5 : Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên
– Điểm 0,5 – 0,75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên
– Điểm 0,25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên
– Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên
4 Sáng tạo (0,5 điểm) Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu
sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận
Đề 5
Bàn về ngôn ngữ trong thơ, Nguyễn Đình Thi viết:
“Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh
nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, tỏa ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy Sức mạnh nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy.”
(Mấy ý nghĩ về thơ, Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 52, NXBGD, 2008)Qua bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) và Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo), anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận xét trên
Hướng dẫn cách làm bài :
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng về cơ bản cần có các ý sau:
Mở bài :
+ Giới thiệu bài thơ Sóng và thi sĩ Xuân Quỳnh
+ Giới thiệu bài thơ Đàn ghi ta của LOr- ca và nhà thơ Thanh Thảo
+ Giới thiệu ý kiến của Nguyễn Đình Thi :“Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, tỏa ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy Sức mạnh nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy.”
+ Nêu vấn đề cần nghị luận : Sức mạnh của thơ
Thân bài :
Trang 141 Giải thích ý kiến của Nguyễn Đình Thi:
– Ngôn ngữ thơ (chữ và nghĩa trong thơ) vừa có nghĩa do bản thân câu chữ mang lại (nghĩa của nó, nghĩa gọi tên) vừa có nghĩa do câu chữ gợi ra (cảm xúc, hình ảnh, vùng ánh sáng lay động, sức gợi)
– Khẳng định: Sức mạnh nhất của thơ là sức gợi ấy
=> Bằng cách diễn đạt hình ảnh rất cụ thể và sinh động, Nguyễn Đình Thi đã nhấn mạnh và làm nổi bật một đặc trưng bản chất của thơ ca: ngôn ngữ trong thơ, vấn đề chữ và nghĩa Tác giả vừa khẳng định vừa cắt nghĩa, lí giải sức mạnh của thơ nằm ở sức gợi
2 Chứng minh nhận định qua hai bài thơ
Học sinh phải chỉ ra và phân tích được đặc điểm ngôn ngữ thơ trong hai bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) và Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo) Không nhất thiết phải phân tích cả bài mà có thể lựa chọn những câu thơ, đoạn thơ tiêu biểu để làm sáng tỏ vấn đề
a Bài thơ Sóng:
Ý khái quát : Giới thiệu sơ lược về tác giả tác phẩm và nội dung bài thơ XuânQuỳnh là nhà thơ của hạnh phúc đời thường: tiếng thơ khao khát tình yêu, hạnh phúc đời thường bình dị
– Cái tôi độc đáo: giàu vẻ đẹp nữ tính, thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt gắn với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ., cùng những dự cảm bất trắc
Tác phẩm: 1967, nhân chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình),
in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào, là bài thơ tình nổi tiếng của Xuân Quỳnh, góp phần tạo nên vị trí “nữ hoàng thơ tình Việt Nam”
Trang 15mặt nước, dưới lòng sâu…)
+ Nghĩa mà sóng gợi ra (hình ảnh, cảm xúc…): những cung bậc tâm trạng người con gái trong tình yêu, những khát vọng hạnh phúc đời thường và khao khát tự hoàn thiện bản thân
=> Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh dung dị mà có sức gợi sâu xa từ hình ảnh thực
mà liên tưởng đến tâm trạng người con gái trong tình yêu, khát vọng bất tử hóa, tự hoàn thiện bản thân để hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống Chính sức gợi này đã tạo nên sức sống cho bài thơ
b Đàn ghi ta của Lor-ca:
Ý khái quát : Giới thiệu sơ lược về tác giả tác phẩm và nội dung bài thơ:Cùng với Xuân Quỳnh, Thanh Thảo cùng thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộckháng chiến chống Mỹ nhưng trang thơ Thanh Thảo lại có dấu ấn rất riêng Ông là người đi đầu trong phong trào cách tân thơ Việt, con đường mà ông lựa chọn để cách tân thơ Việt là việc đào sâu cái tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt mới qua hình thức những câu thơ tự do, phá bỏ mọi ràng buộc, khuôn sáo Thanh Thảo đi theo trường phái thơ tượng trưng siêu thực có nguồn gốc từ phương Tây mà Lor-ca là một đại biểu đi đầu trong trường phái thơ đó Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” được rút ra từ tập “Khối vuông ru bích”, bài thơ đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Lor-ca
Phân tích:
– Về chữ: lối thơ tự do, ngôn từ thơ giàu màu sắc tượng trưng siêu thực, giàu nhạc tính, mô hình mở giải phóng cảm xúc và tưởng tượng…
– Về nghĩa:
+ Hình tượng Lor-ca và những giai điệu, cung bậc của tiếng đàn ghi ta
+ Nỗi đau xót trước cái chết đầy bi phẫn của Lor-ca, niềm trân trọng, đồng cảm của Thanh Thảo trước nhân cách cao thượng và vẻ đẹp tâm hồn Lor-ca…
=> Ngôn ngữ thơ có nhiều đổi mới, giàu tượng trưng thiên về gợi, không coi trọng tả thực, mỗi từ ngữ, hình ảnh, câu thơ đều có độ mở cho phép tiếp nhận dân chủ, sáng tạo Sức gợi của ngôn ngữ thơ tạo ra mạch ngầm đa nghĩa cho
Trang 16tác phẩm.
3 Đánh giá chung
– Về ý nghĩa của vấn đề: ý kiến của Nguyễn Đình Thi về một trong những đặctrưng bản chất của thơ không chỉ có tác dụng nhất thời mà ngày nay vẫn còn nguyên giá trị bởi ý nghĩa thời sự, tính chất khoa học đúng đắn
+ Đối với người sáng tác: định hướng cho sự sáng tạo, làm thơ phải biết lựa chọn ngôn ngữ hàm súc, giàu sức gợi, có sức hấp dẫn, lôi cuốn…
+ Đối với người thưởng thức: định hướng tiếp nhận, đọc thơ không chỉ hiểu nghĩa câu chữ mà phải dựng dậy lớp nghĩa được gợi ra từ câu chữ
Kết bài : Khẳng định ý nghĩa của câu nói Đánh giá chung về bài thơ Sóng và Đàn ghi ta của Lor-ca
Đề 6
“Ngàn trái tim mang trong một trái tim” (Cảm xúc – Xuân Diệu)
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em” (Tự hát – Xuân Quỳnh)
Đặc trưng nào của thơ đã được hai thi sĩ nhắc đến trong những ý thơ
trên Sự gặp gỡ và khác biệt của họ khi thể hiện đặc trưng ấy trong Vội
vàng và Sóng?
Gợi ý:
1 Giải thích
– Trái tim trong thơ là biểu tượng của tâm hồn
+ Câu thơ của Xuân Diệu: muốn nhấn mạnh tâm hồn nhà thơ thật bao dung, nhân hậu không chỉ chứa đựng những tình cảm, những cảm xúc phong phú của riêng mình mà tập trung cho những buồn vui của cuộc đời rộng lớn, của
số phận nhân loại
+ Câu thơ của Xuân Quỳnh: muốn nói đến ước muốn sống chân thật với những khát vọng chân thành; tâm hồn nhà thơ xúc động mãnh liệt với những buồn vui, khổ đau hạnh phúc của mình, của đời “đúng nghĩa trái tim”
– Học sinh có thể dựa vào lí luận đặc trưng của thơ để giải thích lí do sao hai câu thơ trên đều nói đến “trái tim”
Trang 17+ Đặc trưng của văn học là tình cảm Văn học xuất phát từ tình cảm, từ tâm
hồn tác giả tìm đến tâm hồn người đọc Văn học cần sự đồng cảm, đồng điệu.+ Nhà thơ, nhà văn phải biết sống chân thành, nhạy cảm với đời, với người thìtác phẩm của họ mới phong phú, giàu giá trị và tìm được sự đồng điệu trong tâm hồn người đọc
*Vội vàng: Xuân Diệu muốn thể hiện điều sâu thẳm nhất trong tâm hồn
mình đó là khát vọng sống mãnh liệt, một niềm ham sống vô biên, khao khát vô cùng.
– Ca ngợi cuộc sống muôn màu, muôn vẻ, hấp dẫn và quyến rũ
– Ca ngợi tình yêu và tuổi trẻ
– Giục giã vội vàng sống từng phút, từng giây, cố níu giữ thời gian cũng như niềm tiếc nuối mùa xuân, tuổi trẻ đều là biểu hiện của những khát vọng sống sâu xa trong trái tim của nhà thơ Niềm khát sống ấy thể hiện qua cái nhìn củanhà thơ với hiện thực khách quan
* Ở Sóng, Xuân Quỳnh muốn chứng minh một tình yêu vô bờ vừa truyền
thống vừa hiện đại từ sâu thẳm trái tim của người phụ nữ.
– Nét đẹp truyền thống của người phụ nữ: đằm thắm, dịu dàng, hồn hậu, chung thuỷ
– Nét đẹp hiện đại của người phụ nữ: táo bạo, mãnh liệt, dù có phấp phỏng lo
âu trước cái vô tận của thời gian nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu
Trang 183 Đánh giá
– Người sáng tác thơ cần có cảm xúc chân thành
– Nhưng cách thể hiện cảm xúc của mỗi tác giả có thể khác nhau Chính điều
đó đã góp phần làm nên sự đa dạng, phong phú cho văn học
– Người đọc khi tìm hiểu tác phẩm phải có sự đồng điệu với tâm hồn thi nhân
Đề 7
Bàn về thơ, Tố Hữu cho rằng:
“Bài thơ hay là bài thơ chỉ làm cho người ta không còn nhìn thấy câu thơ, chỉ còn cảm thấy tình người, quên rằng nó là tiếng nói của ai, người ta chỉ còn cảm thấy nó như tiếng ca cất lên từ lòng mình, như là của mình vậy”.
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ bằng một bàithơ đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 10
Yêu cầu chung:
- Học sinh nhận diện đúng kiểu bài, hiểu đúng vấn đề cần nghị luận
- Bài viết thể hiện kĩ năng làm văn nhuần nhuyễn, lập luận chặt chẽ; diễnđạt mạch lạc; kiến thức lí luận, văn học sâu sắc
Yêu cầu cụ thể:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau những cần đảm bảonhững ý sau:
TB *Giải thích:
- Bài thơ hay: là bài thơ đạt đến độ hoàn thiện về hình thức và
nghệ thuật, bài thơ ấy khẳng định được giá trị qua thời gian và đạt
đến giá trị chân, thiện, mĩ
- Ý kiến của Tố Hữu cho rằng thơ hay là thơ có sự hoàn thiện
giữa nội dung và hình thức của tác phẩm Nhưng điều Tố Hữu
cho là quan trong hơn cả của thơ chính là tình cảm, cảm xúc của
nhà thơ đọng lại Và những tình cảm cảm xúc ấy vượt qua được
2,0
Trang 19giới hạn của cá nhân vươn tới nhiều người, trở thành tiếng lòng
của người đọc Nghĩa là nhà thơ nói hộ lòng mình và lòng người,
tìm thấy sự đồng điệu, đồng cảm với nhiều người, nhiều thế hệ
Làm được điều đó nhà thơ phải là người có trái tim sâu sắc, giàu
cảm xúc và tài năng nghệ thuật cao
→ Như vậy thơ hay là thơ có nội dung tình cảm sâu sắc thể hiện
bằng một hình thức nghệ thuận hoàn mĩ, hướng người đọc đến
những giá trị chân, thiện, mĩ
*Bàn luận:
- Đặc trưng cơ bản của thơ là tình cảm, cảm xúc của người nghệ
sĩ Vì vậy tình cảm, cảm xúc chính là yếu tố gốc rễ làm nên sự
sống của thơ
+ Tuy nhiên, không phải tình cảm nào cũng làm nên thơ Tình
cảm hời hợt, nhạt nhẽo, khiên cưỡng, giả tạo không thể thành thơ
Nếu không có tình cảm sâu sắc, thơ chỉ là sự sáo rỗng của những
con chữ vô hồn Tình cảm trong thơ phải là những tình cảm chân
thật và được đẩy tới độ nồng nàn, mãnh liệt nhất “chín đỏ trong
cảm xúc” (Trần Đăng Khoa).
+ Tình cảm, cảm xúc trong thơ là của riêng thi sĩ nhưng không thể
là những tình cảm dị biệt Nó lại phải mang tính phổ quát, trở
thành tình cảm chung của mọi người Bởi thơ là chuyện tâm hồn
đi tìm một tâm hồn đồng điệu, là tiếng nói tri âm, con đường của
thơ là đi từ trái tim đến với trái tim Những vần thơ hay bao giờ
cũng có sức đồng cảm rộng lớn
Để đạt được điều đó thì thơ phải là hiện thực, phải là cuộc đời:
+ Thơ ca phải bắt nguồn từ hiện thực đời sống, từ những
buồn vui, đau khổ, hạnh phúc của con người
+ Thơ ca phải hướng tới cuộc đời, con người chứ không
tách biệt khỏi đời sống
3,5