• Ký sinh trùng sốt rét ký sinh phát triển trong cơ thể người qua 2 thời kỳ• Giai đoạn ngoài hồng cầu • Giai đoạn trong hồng cầu... Thoa trùng vào tế bào gan sinh sản thành thể phân liệt
Trang 2CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA KÝ
SINH TRÙNG SỐT RÉT
• Mặc dù có 100 loài plasmodium nhưng chỉ có 4 loại ký sinh trừng sốt rét có thể gây bệnh cho người: Plasmodium vivax, P ovale, P falciparum,
P Malariae
• Thường gặp là 2 loài p falciparum và p Vivax
• Sự truyền bệnh do muỗi cái Anopheles.
• :
Trang 3• Ký sinh trùng sốt rét ký sinh phát triển trong cơ thể người qua 2 thời kỳ
• Giai đoạn ngoài hồng cầu
• Giai đoạn trong hồng cầu
Trang 4Giai đoạn ngoài hồng cầu
• Muỗi Anopheles cái bị nhiễm chích người lành sẽ truyền thoa trùng (sporozoit) từ tuyến nước bọt qua người Thoa trùng vào tế bào gan sinh sản thành thể phân liệt mô (tissue schizont), giai đoạn này gọi là giai đoạn ngoài hồng cầu hay tiền hồng cầu kéo dài 5-16 ngày tùy loài Plasmodium.
Trang 5Giai đoạn ngoài hồng cầu
• Đối với loài P falciparum và P malariae sự phát triển trong tế bào gan đến đây là hết nên chi cần diệt ký sinh trùng trong máu là khỏi hẳn bệnh Đối với P vivax, sau giai đoạn tiền hồng cầu vẫn còn dạng ký sinh trùng tiếp tục sinh sản nhiều tháng hay nhiều năm trong tế bào gan gọi là hypnozoit
sẽ gây tái phát bệnh sau này Do đó, đối với P vivax và P ovale ngoài cách diệt ký sinh trùng trong máu còn phải diệt cả trong tế bào gan mới
là chữa tận gốc.
Trang 6Giai đoạn trong hồng cầu
• Thể vô tính: ký sinh trùng qua sinh sản vô tính thành lập thể tự dưỡng sau đó thành thể phân liệt máu (blood schizonts) Các hồng cầu chứa thể phân liệt bể ra tạo thành tiểu thể hoa thị (merozoties), hiện tượng này gây sốt Các tiểu thể hoa thị lại tiếp tục gây nhiễm các hồng cầu khác Mỗi cơn sốt tương ứng với một chu kỳ vô tính trong hồng cầu Đối với P vivax, P falciparum, P ovale: chu kỳ đó là 48 giờ, P malariae: 72 giờ Vì vậy, tùy loại ký sinh trùng mắc phải mà có cơn sốt cách ngày hoặc cách hai ngày.
Trang 7Giai đoạn trong hồng cầu
• Thể hữu tính: Thể này không gây cơn sốt nhưng gây lan truyền bệnh sốt rét Một số tự dưỡng chuyển thành giao tử bào đực và cái, khi nằm trong hồng cầu không phân chia, nếu được muỗi Anopheles hút sẽ thực hiện sinh sản hữu tính trong ruột muỗi thành thoa trùng, đó là chu kỳ bào tử sinh (sporogony) Thoa trùng đến cư trú ở tuyến nước bọt của muỗi, rồi tiếp tục truyền bệnh.
Trang 8Nhóm thuốc chủ yếu diệt thể phân liệt trong hồng cầu
• Chloroquin
• Quinin và Quinidin
• Mefloquin
Trang 12Nhóm chủ yếu diệt giao tử bào:
primaquin
• Primaquin là dẫn xuất 8-aminoquinolein Chất chuyển hoá của primaquin là quinolin-quinon ức chế chuỗi hô hấp thông qua coenzym Q của ký sinh trùng ngoài hồng cầu.
Trang 13Nhóm chủ yếu diệt giao tử bào:
primaquin
• Có tác dụng ở giai đoạn gan của 4 loài Plasmodium Là thuốc duy nhất diệt các hyponozit của P.vivax và P.ovale.
• Diệt giao tử bào của 4 loại Plasmodium.
• Muốn tiêu diệt dạng ký sinh trùng ở gan của các dạng kháng primaquin (ở New Guinea, Đông Nam Á, và có lẽ ở Trung Mỹ và Nam Mỹ) không thể chỉ dùng liều điều trị thông thường mà phải tăng liều và dùng nhiều lần (ví dụ 30 mg base trong 14 ngày).
Trang 14Thuốc ức chế tổng hợp acid folic
• Nhóm cạnh tranh với PABA: Sulfamid và sulfon
• Nhóm ức chế DHFR: Pyrimethamin và proguanil
Trang 15Nhóm cạnh tranh với PABA:
Sulfamid và sulfon
• Do cấu trúc tương tự PABA nên sulfamid và sulfson cạnh tranh với PABA trong quá trình tổng hợp acid folic, do ức chế dihydropteroat synthetase.
• Các sulfamid thường dùng: Sulfadiazin, sulfadoxin (t1/2=170giờ).
• Các sulfon thường dùng: Dapson (DDS), acedapson.
• Chống thể phân liệt hồng cầu yếu.
• Không tác dụng trên thể gan và giao tử bào.
• Trị sốt rét không dừng sulfamid và sulfon riêng lẻ, luôn luôn phối hợp với thuốc khác.
Trang 16• Proguanil có hoạt tính với thể gan.
• Cả 2 thuốc không diệt giao tử bào và thể hypnozoit của p.vivax và p.ovale.
• Kháng thuốc thường gặp với p.falciparum, ít hơn với p.vivax
Trang 17Các kháng sinh trị sốt rét:
tetracyclin và doxycyclin
• Diệt thể phân liệt của 4 loài Plasmodium, không
có hiệu lực với Plasmodium giai đoạn gan.
• Trị cơn sốt rét cấp do p.falciparum kháng đa thuốc Thường phối hợp với quinin hoặc quinidin.
• Doxycyclin là thuốc tiêu chuẩn để hoá phòng ngừa ở vùng kháng thuốc cao
Trang 18Các kháng sinh trị sốt rét:
Clindamycin
• Tác dụng trên thể phân liệt hồng cầu Thuốc thay thế khi có chống chỉ định với doxycyclin (trẻ em dưới 8 tuổi, phụ nữ mang thai) để phối hợp với quinin hoặc quinidin Clindamycin phối hợp với thuốc khác để trị nhiễm Toxoplasma, Pneumocystis và Babesia.
Trang 19thể ký sinh trùng nên ngăn tổng hợp pyrimidin Thuốc này chống thể phân liệt ở mô và hồng cầu.
• Malarone = Atovaquon 250mg + proguanil l00mg để giảm kháng thuốc,
dùng 1 mình atovaquon gây tái phát 30%
thời gian điều trị nhưng đắt tiền hơn Chẳng hạn để phòng ngừa, ngừng malaron chỉ 1 tuần sau khi rời vùng có sốt rét Mefloquin, doxycyclin cần 4 tuần vì chỉ diệt thể phân liệt hồng cầu.
Trang 20Halofantrin và lumefantrin
• Diệt thể phân liệt hồng cầu của 4 loài Plasmodium, đặc biệt diệt nhanh chống hầu hết p.falciparum kháng chloroquin.
• Trị sốt rét do p.falciparum kháng chloroquin với 3 liều PO 500mg mỗi 6 giờ với người không miễn dịch, lập lại chế độ liều trên trong một tuần Sử dụng halofantrin trị sốt rét bị hạn chế vì hấp thu không đều và độc tim Không được dừng halofantrin để phòng ngừa.
Trang 21• Artemisinin và dẫn xuất diệt thể phân liệt hồng cầu của 4 loài Plasmodium với tác động nhanh hơn thuốc khác, không tác dụng trên Plasmodium giai đoạn gan Diệt ký sinh trùng sốt rét nhanh, mạnh, độc tính thấp Giới hạn trị liệu của artemisinin là t1/2 ngắn nên không được dùng để pḥng ngừa, tổi phát cao, đắt tiền
hợp với artemisinin với thuốc khác có t1/2 dài vì artemisinin có t1/2 ngắn WHO khuyên các chế phẩm phối hợp với artemisinin để trị nhiễm P.fsalciparum không biến chứng
• Trị sốt rét do falciparum có biến chứng nặng.