Phân tích mối quan hệ giữa quản lý và thông tin trong quản lý. Phân tích tác dụng của hệ thống thông tin hỗ trợ ra quyết định. Cho ví dụ trong công tác quản lý của bản thân.Khoa học quản lý là một phạm trù rất rộng, dù theo nghĩa thông thường hay theo nghĩa chuyên môn. Quản lý cơm áo, gạo, tiền”, quản lý doanh trại, quản lý chế độ chính sách đủ loại... từ góc độ môn khoa học đi tìm phương thức đưa chủ trương, chính sách ứng dụng vào thực tế. Đúng ra, quản lý có nhiều cấp số, từ vĩ mô đến vi mô, từ bao quát, liên ngành, đến từng ngành, từ các hoạt động khoa học xã hội, tự nhiên, kỹ thuật, đến vô số lĩnh vực khácQuản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức. Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức. Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung. Quản lý bao gồm các yếu tố sau:
Trang 1Bài kiểm tra giữa kỳ Phân tích mối quan hệ giữa quản lý và thông tin trong quản lý Phân tích tác dụng của hệ thống thông tin hỗ trợ ra quyết định Cho ví dụ trong công tác quản lý của bản thân
Khoa học quản lý là một phạm trù rất rộng, dù theo nghĩa thông thường hay theo nghĩa chuyên môn Quản lý "cơm áo, gạo, tiền”, quản lý doanh trại, quản lý chế độ chính sách - đủ loại từ góc độ môn khoa học đi tìm phương thức đưa chủ trương, chính sách ứng dụng vào thực tế Đúng ra, quản lý có nhiều cấp số, từ vĩ
mô đến vi mô, từ bao quát, liên ngành, đến từng ngành, từ các hoạt động khoa học
xã hội, tự nhiên, kỹ thuật, đến vô số lĩnh vực khác
Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục
và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung Quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý Tác động có thể liên tục nhiều lần
- Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý Điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng
- Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác động và phải biết tác động Vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả
- Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là con người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật
Tóm lại: Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung
Thông tin (INFORMATION) là một khái niệm trừu tượng mô tả tất cả
những gì đem lại hiểu biết, nhận thức cho con người về đối tượng mình quan tâm
Trang 2Thông tin tồn tại khách quan Thông tin có thể tạo ra, phát sinh, truyền đi, lưu trữ, chọn lọc Thông tin cũng có thể bị méo mó, sai lệch do nhiễu hay do người xuyên tạc
Thông tin là một vấn đề phức tạp bao chứa đựng nội dung đa dạng và phong phú vì thế nó được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Theo nghĩa chung nhất thì thông tin được hiểu là những tri thức được sử dụng để định hướng, tác động tích cực và để điều khiển nhằm duy trì tính đặc thù
về chất, hoàn thiện và phát triển hệ thống
Thông tin quản lý là hệ thống tri thức được thu thập và xử lý để phục vụ
cho việc ban hành, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá quyết định quản lý
Có thể nói không quá rằng chức năng thông tin là phương tiện để thống nhất hoạt động của hệ thống giáo dục và hệ thống quản lý giáo dục Nó là phương tiện cung cấp đầu vào cho hệ thống quản lý, đồng thời cũng là phương tiện để thay đổi cách cư xử và để tác động lên sự thay đổi Do đó, có thể định nghĩa thông tin là bộ phận tri thức được sử dụng để định hướng, để tác động tích cực, để điều khiển, nghĩa là nhằm duy trì tính đặc thù về chất, hoàn thiện và phát triển hệ thống
Có thuật ngữ gần gũi với thông tin (information) là truyền tin, thông báo (communication) Đây là hai khái niệm khác nhau; tuy nhiên, chúng có quan hệ với nhau và thuật ngữ thông tin rộng hơn, nó bao gồm cả việc truyền tin, thông tin liên lạc
Thông tin trong quản lý là những tín hiệu được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định Thông tin trong quản lý gắn liền với quyết định quản lý Có thể xem thông tin trong quản lý như là hệ thần kinh của hệ thống quản lý nó có mặt và tác động đến mọi khâu của quá trình quản lý
Đặc điểm của thông tin trong quản lý: Thông tin quản lý khác với tin tức thông thường của các phương tiện thông tin đại chúng Thông tin quản lý đòi hỏi người nhận phải hiểu đúng ý nghĩa của thông điệp Bởi vậy thông tin quản lý bên cạnh tính thông điệp còn phải có địa chỉ cụ thể của người gửi và người nhận, phải
có tác dụng giúp người nhận ra được các quyết định quản lý, làm thay đổi trạng thái bất động của hệ thống Thông tn quản lý là sản phẩm của lao động quản lý,
Trang 3đồng thời là những thông điệp tin tức có lợi cho hệ thống quản lý Giống như tri thức và nhiều sản phẩm trí tuệ, giá trị thông tin của thông tin quản lý không bị mất
đi mà thậm chí còn được tăng lên trong quá trình tiêu dùng, thông tin quản lý rất
dễ sao chép và nhân bản, những giá trị kinh tế của thông tin quản lý lại có xu hướng giảm dần theo thời gian Thông tin quản lý gắn liền với quyền uy, quyền lực lãnh đạo Trên bình diện xã hội, việc lắm giữ thông tin đại chúng được xem như quyền lực thứ tư nhiều khi quyền lực của nó mạnh hơn những quyền lực cơ bản trong tam quyền phân lập Trong thời đại kinh tế tri thức, những nghành sử dụng thông tin nhiều để tạo được những sản phẩm có hàm lượng thông tin cao đều chờ thành những ngành có vai trò ngày càng quan trọng
Các nguồn tạo ra thông tin trong quản lý: Các quyết định và hành động thực hiện các đạo luật và các văn bản pháp luật khác Phục vụ và bảo vệ quyền tự do của công dân, thông tin chỉ thị quản lý Thông tin về các mối liên hệ ngược trong quá trình quản lý Các tình huống có vấn đề, sung đột, cực đoan, các tình huống phức tạp khác cần có sự can thiệp, tác nghiệp và chủ động mạnh mẽ của chủ thể quản lý Nguồn của thông tin tạo ra từ các tình huống (tình huống có vấn đề) Xuất hiện khi bộc lộ những sai lệch nghiêm trọng so với các tham số hoạt động đã định trước của các khách thể bị quản lý Khi xuất hiện những nghi ngờ về khả năng đạt được mục tiêu đã đề ra Trong quan hệ thông tin, tình huống có vấn đề cần dựa trên những tin tức và số liệu thực tế Tình huống xung đột thể hiện ở sự xuất hiện những mâu thuẫn mà người tham gia các quan hệ quản lý và các quan hệ khác Thông tin quản lý có thể từ bên trong hoặc bên ngoài tổ chức Thông tin nội bộ tổ chức thường được lấy qua báo cáo, sổ sách của tổ chức Thông tin bên ngoài có thể lấy từ đối tác, đối thủ cạnh tranh, tổ chức liên quan, các nhà cung cấp
Thông tin quản lý là thông tin mà có ít nhất một cán bộ quản lý cần hoặc
có ý muốn dùng vào việc ra quyết định quản lý của mình Các quyết định quản lý được chia thành 3 loại:
- Quyết định chiến lược là những quyết định xác định mục đích, mục tiêu
và nhiệm vụ của tổ chức; thiết lập các chính sách và những đường lối chung; xây
Trang 4dựng nguồn lực cho tổ chức… Trong một tổ chức sản xuất kinh doanh thông thường thì đỉnh chiến lược do Chủ tịch Hội đồng quản trị hay Tổng Giám đốc phụ trách
- Quyết định chiến thuật là những quyết định cụ thể hoá mục tiêu thành nhiệm vụ những quyết định kiểm soát và khai thác tối ưu nguồn lực Những người chịu trách nhiệm ban hành các quyết định chiến thuật có nhiệm vụ kiểm soát quản
lý, có nghĩa là dùng các phương tiện cụ thể để thực hiện các mục tiêu chiến lược Việc tìm kiếm để có được những nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu chiến lược, thiết lập các chiến thuật kinh doanh, tung ra các sản phẩm mới, thiết lập và theo dõi ngân sách… là trách nhiệm ở mức kiểm soát quản lý này Trong
tổ chức thông thường thì các nhà quản lý như trưởng phòng Tài vụ, trưởng phòng
Tổ chức, phòng Cung ứng nằm ở mức quản lý này
- Quyết định tác nghiệp là những quyết định nhằm thực thi nhiệm vụ Những người chịu trách nhiệm ban hành các quyết định tác nghiệp có trách nhiệm sử dụng sao cho có hiệu quả và hiệu lực những phương tiện và nguồn lực để tiến hành tốt các hoạt động của tổ chức nhưng phải tuân thủ những ràng buộc về tài chính, thời gian và kỹ thuật Những người trông coi kho dự trữ, trưởng nhóm, đốc công của những đội sản xuất thuộc mức quản lý này Trong các tổ chức, có ba dạng thông tin chủ yếu liên quan đến việc ban hành ba nhóm quyết định nêu trên,
đó là:
- Thông tin chiến lược liên quan chính đến những chính sách lâu dài của
tổ chức và là mối quan tâm chủ yếu của các nhà lãnh đạo cấp cao Đó là những thông tin liên quan đến việc lập kế hoạch chiến lược, xây dựng các dự án lớn hoặc đưa ra những dự báo cho sự phát triển trong tương lai Đối với mỗi chính phủ,
đó là những thông tin về dân cư, GDP, GDP bình quân đầu người, số liệu thống
kê về đầu tư nước ngoài, cán cân thu chi… Đối với mỗi doanh nghiệp, nó có thể
là thông tin về thị trường; mặt bằng chi phí nhân công, nguyên vật liệu; các chính
sách của Nhà nước có liên quan mới được ban hành; các công nghệ mới… Phần
Trang 5lớn các thông tin chiến lược không thu được sau quá trình xử lý thông tin trên máy tính
- Thông tin chiến thuật là những thông tin được sử dụng cho các mục tiêu
ngắn hạn (như một tháng, một quý, một năm), liên quan đến việc lập kế hoạch chiến thuật và là mối quan tâm của các phòng ban quản lý Đó là các thông tin thu được từ việc tổng hợp, phân tích số liệu bán hàng, thu tiền học phí; phân tích các báo cáo tài chính hàng quí, hàng năm… Dạng thông tin này từ những dữ liệu của các hoạt động giao dịch hàng ngày, do đó nó đòi hỏi một quá trình xử lý thông tin hợp lý và chính xác
- Thông tin tác nghiệp (thông tin điều hành) thường được sử dụng cho
những công việc cụ thể hàng ngày ở các bộ phận của tổ chức Ví dụ như thông tin
về số lượng từng loại mặt hàng bán được trong ngày, lượng đơn đặt hàng, tiến độ thực hiện các hợp đồng… Thông tin này có thể được rút ra một cách nhanh chóng
từ dữ liệu hoạt động của tổ chức và thường đòi hỏi thu thập dữ liệu một cách khẩn trương và xử lý dữ liệu kịp thời
Trong lĩnh vực vai trò ảnh hưởng của cá nhân, HTTT chỉ có thể tham gia một cách hạn chế và tham gia một cách gián tiếp Các hệ thống đóng vai trò hỗ trợ cho việc truyền thông tin bằng một số các ứng dụng hướng truyền thông tin và
tự động hóa các công việc văn phòng Những hệ thống này tham gia tích cực hơn vào lĩnh vực các hoạt động quản lý có vao trò thông tin như việc giới thiệu các thông tin mới của nhà quản lý được hỗ trợ bởi một hệ thống thông tin hung hậu, các hệ thông văn phòng và các chuyên trình chuyên gia Trong lĩnh vực vai trò ra quyết định, HTTT hỗ trợ quyết định và hệ thống dựa trên máy tính đóng vai trò khá quan trọng
Hệ thống thông tin là một hệ thống bao gồm các yếu tố có quan hệ với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và phân phối thông tin và dữ liệu và cung cấp một cơ chế phản hồi để đạt được một mục tiêu định trước
Các tổ chức có thể sử dụng các hệ thống thông tin với nhiều mục đích khác nhau Trong việc quản trị nội bộ, hệ thống thông tin sẽ giúp đạt được sự thông
Trang 6hiểu nội bộ, thống nhất hành động, duy trì sức mạnh của tổ chức, đạt được lợi thế cạnh tranh Với bên ngoài, hệ thống thông tin giúp nắm bắt được nhiều thông tin
về khách hàng hơn hoặc cải tiến dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh, tạo đà cho sự phát triển
Ví dụ: Cửa hàng bán sỉ và lẻ các loại nước ngọt, nước suối, rượu, bia… Đối tượng
mà cửa hàng giao tiếp là khách hàng mua các loại nước giải khát, nhà cung cấp (các công ty sản xuất nước giải khát) cung cấp các loại nước giải khát cho cửa hàng và ngân hàng giao tiếp với cửa hàng thông qua việc gửi, rút và thanh toán tiền mặt cho nhà cung cấp
Hệ thống thông tin thông thường được cấu thành bởi: Các phần cứng (Gồm các thiết bị/phương tiện kỹ thuật dùng để xử lý/lưu trữ thông tin Trong đó chủ yếu là máy tính, các thiết bị ngoại vi dùng để lưu trữ và nhập vào/xuất ra dữ liệu); Phần mềm (Gồm các chương trình máy tính, các phần mềm hệ thống, các phần mềm chuyên dụng, thủ tục dành cho người sử dụng); Các hệ mạng: để truyền dữ liệu; Dữ liệu (Con người trong hệ thống thông tin)
Hệ thống thông tin (HTTT) là hệ thống có nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ
và truyền thông tin đến các đối tượng cần sử dụng thông tin Hoạt động của một HTTT được đánh giá thông qua chất lượng của thông tin mà nó cung cấp với những tiêu chuẩn chất lượng như sau:
- Độ tin cậy thể hiện các mặt về độ xác thực và độ chính xác Thông tin ít
độ tin cậy dĩ nhiên là gây cho tổ chức những hậu quả tồi tệ
- Tính đầy đủ của thông tin thể hiện sự bao quát các vấn đề đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý Nhà quản lý sử dụng một thông tin không đầy đủ có thể dẫn đến các quyết định và hành động không đáp ứng với đòi hỏi của tình hình thực tế
- Tính thích hợp và dễ hiểu: thông tin cần mạch lạc, thích ứng với người nhận, không nên sử dụng quá nhiều từ viết tắt hoặc đa nghĩa tránh tổn phí do việc tạo ra những thông tin không dùng hoặc là ra quyết định sai vì thiếu thông
tin cần thiết
Trang 7- Tính được bảo vệ Thông tin là một nguồn lực quý báu của tổ chức Thông
tin phải được bảo vệ và chỉ những người được quyền mới được phép tiếp cận tới thông tin Sự thiếu an toàn về thông tin cũng có thể gây ra những thiệt hại lớn cho
tổ chức
- Tính kịp thời Thông tin có thể là tin cậy, dễ hiểu, thích ứng và được bảo
vệ an toàn nhưng vẫn không có ích khi nó không được gửi tới người sử dụng vào lúc cần thiết
Ngày nay, HTTT sử dụng các công cụ tính toán điện tử và các phương pháp
chuyên dụng để biến đổi các dòng thông tin nguyên liệu ban đầu thành các dòng thông tin kết quả
Khi nghiên cứu các HTTT cần phân biệt hai khái niệm: dữ liệu và thông tin
- Dữ liệu là các số liệu hoặc các tài liệu thu thập được chưa qua xử lý, chưa
được biến đổi cho bất cứ một mục đích nào khác Ví dụ, các cuộc điều tra dân số
sẽ cung cấp nhiều dữ liệu về số nhân khẩu của từng hộ gia đình, họ tên, tuổi, giới tính, nghề nghiệp… của từng thành viên trong mỗi hộ… Khi một doanh nghiệp bán được một lô hàng nào đó sẽ sinh ra các dữ liệu về số lượng hàng hoá đã bán, giá bán, địa điểm bán hàng, thời gian bán hàng, hình thức thanh toán, giao nhận hàng… Các dữ liệu này sẽ được lưu trữ trên các thiết bị tin học và chịu sự quản
lý của một chương trình máy tính phục vụ cho nhiều người dùng với các mục đích khác nhau
- Khác với dữ liệu được xem là nguyên liệu ban đầu, thông tin có dạng như
sản phẩm hoàn chỉnh thu được sau quá trình xử lý dữ liệu, là những dữ liệu đã được xử lý sao cho nó thực sự có ý nghĩa đối với người sử dụng Ví dụ như Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội có thể dựa vào dữ liệu điều tra dân số để thống
kê số người theo độ tuổi, theo giới tính… Các doanh nghiệp dựa vào dữ liệu bán hàng để tính tổng doanh thu, số lượng hàng đã bán trong một giai đoạn nào đó (ngày, tuần, tháng…)
Trang 8Các HTTT có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý kinh tế Làm thế nào để có một HTTT hoạt động có hiệu quả cao là một trong những công việc của bất kỳ một nhà quản lý hiện đại nào
Trong các tổ chức, vai trò của các nhà quản lý thể hiện qua chính các hoạt động mà họ thường thực hiện và thường được chia thành 3 nhóm chính: vai trò giữa các cá nhân với nhau, vai trò mang tính thông tin và vai trò có tính quyết định
- Vai trò có tính cá nhân xuất hiện khi nhà quản lý hành động như một người đại diện của tổ chức ở môi trường bên ngoài tổ chức, hoặc với tư cách là nhà lãnh đạo chỉ bảo, khuyến khích và hỗ trợ cho những người làm việc dưới quyền
- Vai trò mang tính thông tin: khi nhà quản lý đóng vai trò trung tâm tiếp nhận thông tin mới nhất, chính xác nhất và phân phối những thông tin đó đến những nhân viên cần phải biết về nó
- Vai trò có tính quyết định: khi nhà quản lý ban hành các quyết định, từ đó các đơn vị, cá nhân trong tổ chức sẽ phải thực hiện các quyết định đó
Theo các lý thuyết quản lý hiện đại, việc ra quyết định quản lý không hẳn
là trung tâm của các hoạt động quản lý, tuy nhiên nó rất quan trọng và mang tính thách thức lớn nhất đối với các nhà quản lý
Các quyết định quản lý có thể được phân thành 3 mức: chiến lược, chiến thuật và tác nghiệp Trong mỗi mức, các quyết định còn được phân loại theo dạng
có cấu trúc (có thể lập trình được), dạng không có cấu trúc (không lập trình được)
và dạng bán cấu trúc
- Các quyết định không có cấu trúc là các quyết định mà các nhà ra quyết
định phải tự đánh giá và hiểu rõ vấn đề được đặt ra Những quyết định này thường quan trọng, mới lạ, không theo nguyên tắc và không có một quá trình nào có thể tạo ra chúng Ví dụ các quyết định bổ nhiệm cán bộ, quyết định mở ngành đào tạo mới, thiết lập một dây chuyền sản xuất mới…
Trang 9- Các quyết định có cấu trúc được ban hành theo một quy trình gồm một
chuỗi các thủ tục đã được xác lập trước, có tính lặp đi lặp lại và theo thông lệ Ví
dụ các quyết định số tiền thưởng theo doanh số bán hàng của các nhân viên bán hàng, quyết định khen thưởng sinh viên xếp loại xuất sắc, giỏi hàng năm…
- Các quyết định bán cấu trúc là giao thoa của 2 dạng trên Các nhà quản
lý ra quyết định một phần dựa trên kinh nghiệm đã có, một phần dựa vào những thủ tục đã thiết lặp sẵn; các quyết định ít có tính lặp lại Ví dụ như các quyết định mức chi khen thưởng cho cán bộ có thành tích công tác tốt, cho sinh viên đạt kết quả học tập cao…Nhìn chung, quá trình ra quyết định được tiến hành qua 4 bước:
- Thu thập thông tin: tìm kiếm các thông tin từ các CSDL bên ngoài và bên
trong tổ chức liên quan đến các vấn đề mà nhà quản lý cần ra quyết định HTTT
sẽ rà soát toàn bộ các dữ liệu trong quá khứ của tổ chức cũng như các dữ liệu từ môi trường bên ngoài liên quan đến chính sách, pháp luật của nhà nước, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp… Những thông tin thu được từ các HTTT
sẽ giúp nhà quản lý nhận thức được các vấn đề thách thức hay các cơ hội đang xuất hiện với tổ chức của họ
- Thực hiện các hoạt động thiết kế: tùy thuộc vào đặc điểm của vấn đề cần
giải quyết, các nhà quản lý sẽ xác định các quyết định ban hành có dạng cấu trúc hay phi cấu trúc Đối với dạng quyết định có cấu trúc, cần chỉ rõ các bước cần thực hiện với những phương án cụ thể Khi đó, các kỹ sư viết phần mềm dễ dàng lập trình để hỗ trợ việc ban hành các quyết định có cấu trúc Ngược lại với các quyết định phi cấu trúc, do phần lớn các bước tiếp theo sau một hành động được lựa chọn là khó xác định trước, các kỹ sư viết phần mềm rất khó lập trình và chỉ
có thể xây dựng một số tình huống dạng “Nếu – Thì”…
- Lựa chọn một nhóm các quyết định cụ thể Để có thể giúp cho nhà quản
lý lựa chọn một quyết định nào đó, HTTT thường phải thu thập đầy đủ thông tin
về vấn đề cần giải quyết và có một tập sẵn có các quyết định cùng các cân nhắc cần lựa chọn Các nhà quản lý sẽ lựa chọn các quyết định trong một trạng thái
“hợp lý có giới hạn” Nói chung, HTTT thường giúp các nhà quản lý bằng cách
Trang 10đưa ra một số các nhận xét, trong đó nhấn mạnh những điểm cần cân nhắc với mỗi một phương án nào đó
- Thực hiện các quyết định đã được lựa chọn Ở bước này HTTT cung cấp
cho các nhà quản lý các báo cáo điều hành về các hoạt động đang được thực hiện bởi các quyết định đã được lựa chọn, từ đó có thể đánh giá và điều chỉnh quyết định nếu thấy cần thiết
HTTT hỗ trợ ra quyết định (DSS – Decision Support System) là HTTT cho phép tổng hợp dữ liệu và phân tích dữ liệu qua các mô hình phức tạp để hỗ trợ cho những quyết định dạng không có cấu trúc hoặc bán cấu trúc
Hệ thống này có chức năng cung cấp thông tin và trợ giúp cho các nhà quản
lý trong suốt quá trình xây dựng và thông qua các quyết định quản lý Các nhà quản lý có thể tìm những dữ liệu thích hợp, lựa chọn và sử dụng các mô hình thích hợp, điều khiển quá trình thực hiện nhờ những phương tiện có tính chuyên nghiệp
Hệ thống hỗ trợ ra quyết định được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực hoạt động của các tổ chức Trước đây, các HTTT trợ giúp ra quyết định hướng đến các nhà quản
lý cấp cao, còn ngày nay bắt đầu nhằm vào đối tượng là các nhà quản lý cấp trung Một HTTT hỗ trợ ra quyết định được tổ chức hiệu quả nếu có khả năng phục vụ nhiều cấp quản lý khác nhau:
- Đối với các nhà quản lý cấp cao: DSS hỗ trợ ban hành các quyết định chiến lược nhằm xác định mục tiêu, các nguồn lực và các chính sách của tổ chức trong dài hạn Vấn đề quan trọng ở đây là dự đoán được tương lai của tổ chức và môi trường mà tổ chức đang hoạt động trong đó
- Đối với các nhà quản lý cấp trung: DSS hỗ trợ ban hành các quyết định chiến thuật để giải quyết các vấn đề như phân bổ hiệu quả các nguồn lực, xác định cách thức tổ chức thực hiện các nhiệm vụ một cách tốt nhất Việc điều khiển quá trình này đòi hỏi mối liên hệ chặt chẽ với những người thực hiện nhiệm vụ cụ thể nào đó của tổ chức