Câu hỏi: Anhchị hãy đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển chương trình giáo dục nơi anhchị đang công tác? Câu hỏi: Hãy thiết kế ma trận môn học anhchị đang trực tiếp giảng. Khái niệm về chương trình giáo dục Theo Luật giáo dục nước CHXHCN Việt Nam 2005, sửa đổi 2009 đưa ra quan niệm pháp lý “CTGD thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo”. Quan niệm đã nêu rõ các thành tố tạo nên CT, chúng đóng vai trò chỉ đạo các hoạt động thực tiễn về phát triển CTGD cũng như Quản lý phát triển CTGD ở nước ta. Phát triển chương trình giáo dục là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng chương trình giáo dục. Theo quan điểm này chương trình giáo dục là một thực thể không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi, mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tùy theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh tế xã hội, của thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ, và cũng là theo yêu cầu của thị trường sử dụng lao động. Nói cách khác, một khi mục tiêu đào tạo của nền giáo dục quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thì chương trình giáo dục cũng phải thay đổi theo, mà đây lại là quá trình diễn ra liên tục nên chương trình giáo dục cũng phải được không ngừng phát triển và hoàn thiện. Phân loại chương trình giáo dục Tùy theo những căn cứ cụ thể, có thể phân chia CT thành các loại khác nhau. Các loại CT phân biệt theo chủ thể quản lý: CT quốc gia, CT địa phương và CT nhà trường.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÀI KIỂM TRA MÔN: PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
Giảng viên phụ trách: TS Nguyễn Phương Huyền
Học viên:
Hà Nội - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÀI KIỂM TRA MÔN: PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
Giảng viên phụ trách: TS Nguyễn Phương Huyền
Học viên:
Hà Nội - 2021
Trang 3Hạn nộp bài theo quy định: ngày……tháng 8 năm 2021 Thời gian nộp bài: ngày … tháng 8 năm 2021
Nhận xét của giảng viên chấm bài:
Điểm:………Giảng viên (kí tên)………
Trang 4BÀI KIỂM TRA Câu hỏi: Anh/chị hãy đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển chương trình giáo dục nơi anh/chị đang công tác?
Câu hỏi: Hãy thiết kế ma trận môn học anh/chị đang trực tiếp giảng
BÀI LÀM Khái niệm về chương trình giáo dục
Theo Luật giáo dục nước CHXHCN Việt Nam 2005, sửa đổi 2009 đưa ra quan niệm pháp lý “CTGD thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức,
kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo” Quan niệm đã nêu rõ các thành
tố tạo nên CT, chúng đóng vai trò chỉ đạo các hoạt động thực tiễn về phát triển CTGD cũng như Quản lý phát triển CTGD ở nước ta
Phát triển chương trình giáo dục là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng chương trình giáo dục Theo quan điểm này chương trình giáo dục
là một thực thể không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi, mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tùy theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh tế
- xã hội, của thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ, và cũng là theo yêu cầu của thị trường sử dụng lao động Nói cách khác, một khi mục tiêu đào tạo của nền giáo dục quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thì chương trình giáo dục cũng phải thay đổi theo, mà đây lại là quá trình diễn ra liên tục nên chương trình giáo dục cũng phải được không ngừng phát triển và hoàn thiện
Phân loại chương trình giáo dục
Tùy theo những căn cứ cụ thể, có thể phân chia CT thành các loại khác nhau Các loại CT phân biệt theo chủ thể quản lý: CT quốc gia, CT địa phương
và CT nhà trường
Trang 5Các loại chương trình phân biệt theo cách thức tổ chức nội dung: CT phân ban, CT tích hợp và CT hoạt động
Các loại chương trình phân biệt theo yêu cầu thực hiện CT: CT bắt buộc và
1 Thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành (Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006)
Thực hiện các môn học bắt buộc:
Lớp 1, 2, 3: Có 10 môn (Tiếng việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội,
Âm nhạc, Mỹ thuật, Thủ công, Thể dục, Giáo dục tập thể, Giáo dục ngoài giờ lên lớp); số tiết trên tuần của Lớp 1: 23, Lớp 2 và 3: 24, (chưa tính tiết tự chọn)
Lớp 4, 5: Có 11 môn (thêm các môn Khoa học, Lịch sử - Địa lý, bớt môn
Tự nhiên và Xã hội); số tiết trên tuần Lớp 4, 5: 26 (chưa tính tiết tự chọn) Có 03 môn học tự chọn gồm Tiếng Anh, Tin học và Tiếng dân tộc
2 Một số kết quả nổi bật
a) Được đánh giá cao trong khu vực
Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN sau Singapore) Tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08 %, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN Học sinh tiểu học Việt Nam tham gia kỳ đánh giá quốc tế PASEC 10 năm 2011 đạt kết quả rất cao (cao nhất trong cộng đồng các nước nói tiếng Pháp) Học sinh tiểu học Việt Nam tham gia các cuộc thi trong khu vực và quốc tế đều đạt thứ hạng cao như: thi Toán APMOS, IMC, thi Robotics, Cờ vua, Giáo dục tiểu học Việt Nam bảo đảm được các mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay, tạo nền móng vững chắc cho học sinh tiếp tục học lên cấp trung học cơ sở
Trang 6b) Các mục tiêu Quốc gia đối với giáo dục tiểu học được duy trì, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững
Hiện nay, 100% các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, trong đó có 16 tỉnh/thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 (theo Nghị định số 20/2014/NĐ-CP và Thông tư số 07/2016/TT-BGDĐT)
Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,10% Tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08 %
c) Cơ sở vật chất được quan tâm và đầu tư xây dựng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh trong độ tuổi và thực hiện đổi mới giáo dục ở cấp tiểu học
Toàn quốc hiện có 13.995 trường tiểu học (với 17.609 điểm trường), trong
đó số trường tiểu học công lập là 13.735 (giảm 1.052 trường so với năm học trước)
và 260 trường ngoài công lập; tỉ lệ trung bình trường tiểu học/xã là 1,25; tỉ lệ trung bình điểm trường/trường tiểu học là 1,26; nhiều trường tiểu học có từ 3 đến 5 điểm trường (chủ yếu ở các vùng miền núi) Số trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia trên toàn quốc đạt 66%, trong đó có 1.946 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ
2 đạt tỉ lệ 13,9% Toàn quốc có 247.976 phòng học kiên cố, đạt 71.1%; phòng bán kiên cố, đạt 24%, vẫn còn trên 5% phòng học tạm và mượn
Hiện tại ở cấp Tiểu học tỷ lệ phòng học trung bình chung cả nước là 0,89 (Miền núi phía Bắc 0,90; Tây Nguyên 0,85; Tây Nam Bộ 0,7) để tổ chức dạy học
2 buổi/ngày tỷ lệ phòng học phải đạt 1,0 (1 lớp/1 phòng học) Tỷ lệ học sinh tiểu học 2 buổi/ngày trên toàn quốc hiện nay đạt gần 80% Nhiều địa phương đã đạt tỉ
lệ 100% học sinh học 2 buổi/ngày như: Nam Định, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hà Nam Tỉ lệ học sinh học 2 buổi/ ngày thấp tập trung ở 02 khu vực: các tỉnh miền núi hoặc có đông học sinh dân tộc; khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp Những tỉnh có tỉ lệ học sinh học 2 buổi/ngày thấp là Tuyên Quang (44,5%), Đồng Nai (30,2 %), Hưng Yên (20%)
d) Đánh giá chất lượng đội ngũ
Trang 7Cả nước có gần 400 ngàn giáo viên tiểu học, tỷ lệ giáo viên biên chế gần 85% nên rất yên tâm công tác và tâm huyết với nghề Số giáo viên đạt chuẩn đào tạo và trên chuẩn đạt 99,9%, (Đại học và trên Đại học đạt 60%) Tỉ lệ giáo viên/lớp, bình quân cả nước đạt 1,38 giáo viên/lớp nên đủ để tổ chức dạy đủ các môn học và dạy học 2 buổi/ngày
đ) Đổi mới hiệu quả các phương thức dạy học
Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình hiện hành theo hướng đổi mới, dạy học Tiếng Anh và Tin học đã được đặc biệt chú trọng Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá theo Thông tư 30 và Thông tư 22 đã phát huy hiệu quả và nhận được
sự đồng thuận của phụ huynh học sinh Giáo dục Tiểu học đã vận dụng các thành tựu về khoa học giáo dục của thế giới vào điều kiện thực tế của Việt Nam một cách hiệu quả như: Phương pháp “Bàn tay nặn bột”, Phương pháp dạy học Mỹ thuật của Đan Mạch, mô hình Trường học mới,
Toàn quốc đã có 92% học sinh khối 3-5 được học tiếng Anh; môn Tin học đạt gần 70% Việc đánh giá học sinh theo Thông tư 30 và Thông tư 22 đã bước đầu nhận được sự đồng thuận và sự hợp tác, tham gia của phụ huynh học sinh
3 Bên cạnh những thuận lợi mà chúng ta đạt được thì cũng gặp những khó khăn trở ngại nhất định đó là:
Một là, Phải thích ứng với nhiều điểm mới của chương trình giáo dục phổ thông mới Sở dĩ giáo viên phổ thông hiện nay mang tâm trạng lo lắng, bất an khi tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới vì họ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; trước hết là giáo viên phải thích nghi với những điểm mới nổi bật của chương trình, cụ thể là: Kế hoạch giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông mới chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản từ lớp 1 đến lớp 9 (9 năm) gồm Tiểu học và THCS, nhằm trang bị cho học sinh (HS) tri thức, kĩ năng nền tảng; hình thành phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi; chuẩn
bị tâm thế cho việc thích ứng với những thay đổi nhanh chóng nhiều mặt của xã hội tương lai; đáp ứng yêu cầu phân luồng sau THCS theo các hướng: học lên THPT học nghề hoặc tham gia cuộc sống lao động và giai đoạn giáo dục định
Trang 8hướng nghề nghiệp (3 năm từ lớp 10 đến lớp 12) nhằm phát triển năng lực theo
sở trường, nguyện vọng của từng học sinh (HS), đảm bảo HS tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn sau giáo dục phổ thông có chất lượng hoặc tham gia cuộc sống lao động Điểm mới tiếp theo là hệ thống các môn học gồm các môn học bắt buộc (là môn học mà mọi HS đều phải học), môn học bắt buộc có phân hóa (là môn học mà nội dung được thiết kế thành các chủ đề hoặc học phần, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc (là môn học mà HS bắt buộc phải lựa chọn trong số các môn học định hướng nghề nghiệp ở lớp 11, 12 theo quy định của chương trình giáo dục phổ thông) Điểm mới nữa làmột số môn học có tên mới và một số môn mới, hoạt động giáo dục mới (theo hướng tích hợp, liên môn và định hướng nghề nghiệp cho HS) Điểm mới cuối cùng là kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kì ở cơ sở giáo dục, các kì đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương và các kỳ đánh giá quốc tế HS hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ được cấp bằng tốt nghiệp THPT (không tổ chức một kì thi chung như hiện nay)
Những điểm mới trên đòi hỏi người giáo viên phải được trang bị kiến thức,
kỹ năng, phương pháp, lẫn kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động dạy học; kết quả giáo dục phản ánh sự đầu tư và năng lực của người thầy
Hai là, những hạn chế, bất cập về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, kinh phí đào tạo trong ngành giáo dục Để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới cần giải quyết căn cơ vấn đề tình trạng đội ngũ giáo viên sẽ thừa thiếu cục
bộ, một số giáo viên đơn môn chắc chắn sẽ thừa, trong khi giáo viên môn nghệ thuật sẽ thiếu trầm trọng, đặc biệt là giáo viên dạy tích hợp một số môn chưa có;
cơ sở vật chất, trang thiết bị, không gian riêng ở nhiều địa phương sẽ không đáp ứng được yêu cầu do có nhiều môn học mới, đòi hỏi rèn luyện kỹ năng, chú trọng giáo dục nhân cách cho học sinh; hơn nữa việc giáo dục trải nghiệm sáng tạo cũng cần kinh phí thực hiện và hơn hết là đảm bảo sự an toàn cho học sinh, tạo niềm tin cho phụ huynh cùng đồng hành với nhà trường trong việc giáo dục con em mình
Trang 9Ba là, dạy học nội dung giáo dục lịch sử địa phương Trong chương trình giáo dục phổ thông mới đề cao nội dung giáo dục lịch sử địa phương; tuy nhiên, việc biên soạn tài liệu, giáo trình, sự liệu vật chất lại phụ thuộc vào năng lực của giáo viên, điều kiện thực tế của từng địa phương Từ đó, dẫn đến tình trạng kiến thức còn nặng và sự lệch nhau giữa nội dung lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương Nhận thức về vai trò giáo dục chưa thực sự thống nhất, đồng thuận trong các cấp quản lý và các tầng lớp nhân dân Vẫn còn tư duy bao cấp, sức ì trong nhận thức, tác phong quan liêu trong ứng xử với giáo dục của nhiều cấp, nhiều ngành, của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; bệnh thành tích, hư danh, chạy theo bằng cấp trong cán bộ và người dân chậm được khắc phục Bên cạnh đó, do đặc thù vùng miền nên việc tổ chức các hình thức dạy học sẽ kém phong phú, việc dạy học lịch sử địa phương tại thực địahay việc ứng dụng công nghệ thông tin ít các trường tổ chức thực hiện Việc tổ chức cho học sinh tham quan, học tập ở các di tích lịch sử chỉ diễn ra đối với các trường nằm ở trung tâm hoặc là gần các di tích…Mặt khác, một số học sinh không ham thích học lịch sử địa phương còn diễn ra ở một số trường học, nên dẫn đến tình trạng một số tiết học chưa đảm bảo được nội dung và yêu cầu của chương trình
Bốn là, công tác xã hội hoá giáo dục Trong những năm qua, các trường trung học phổ thông nói chung dưới sự lãnh chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, quản lý công tác xã hội hoá giáo dục đã được tiến hành dưới nhiều hình thức và đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, việc thực hiện xã hội hoá giáo dục vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như: một số xã, phường, cấp ủy, chính quyền địa phương, đoàn thể và cha mẹ học sinh (CMHS) chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con
em mình; chưa nhận thức đúng đắn về vị trí, tầm quan trọng của giáo dục; do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên một bộ phận học sinh phải bỏ học vào đời kiếm sống; một số lực lượng xã hội quan niệm cho rằng nội dung chính của công tác xã hội hoá giáo dục là chỉ huy động kinh phí trong nhân dân hoặc là để cho dân lo là chính, dẫn đến việc đầu tư cho giáo dục chưa đúng mức Mặt khác, việc quản lý
Trang 10công tác xã hội hoá giáo dục còn thiếu biện pháp phù hợp, tính khả thi chưa cao Điều này chắc chắn ảnh hưởng đến tâm lý của giáo viên khi giảng dạy, một khi chưa thật sự an tâm công tác thì chất lượng giáo dục sẽ không đạt được kết quả như mong muốn
Tóm lại: Phát triển chương trình giáo dục không phải là vấn đề mới, song trong bối cảnh đổi mới nền giáo dục hiện nay theo hướng tiếp cận năng lực, một chương trình giáo dục quốc gia nhưng được triển khai thành nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau thì vấn đề PTCTGD trở nên có tính cấp thiết cao Vấn đề PTCTGD cần được làm sáng rõ trên phương diện lí luận, cần được nhận thức đầy đủ không chỉ của các nhà hoạch định chính sách giáo dục quốc gia mà của cả nhà trường phổ thông, của các nhà giáo trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục PTCTGD trong phạm vi nhà trường phổ thông phải trở thành hoạt động thường xuyên và liên tục trong quá trình giáo dục Nó phải trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường nhằm giúp cho quá trình giáo dục gắn liền với thực tiễn, đáp ứng được nhu cầu của người học và xã hội; góp phần tạo nên bản sắc và văn hóa giáo dục của nhà trường Những nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay về PTCTGD cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như phát triển chương trình nhà trường, phát triển chương trình môn học; hoặc phát triển về phương pháp giáo dục và cách thức đánh giá trong giáo dục theo tiếp cận năng lực
Trang 11ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÀI TIỂU LUẬN KIỂM TRA CUỐI KÌ MÔN: PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
Giảng viên phụ trách: TS Nguyễn Phương Huyền
Học viên:
Hà Nội - 2021
Trang 12Hạn nộp bài theo quy định: ngày……tháng 8 năm 2021 Thời gian nộp bài: ngày … tháng 8 năm 2021
Nhận xét của giảng viên chấm bài:
Điểm:………Giảng viên (kí tên)………
Trang 14BÀI KIỂM TRA TIỂU LUẬN CUỐI KỲ Câu hỏi: Hãy thiết kế ma trận môn học anh/chị đang trực tiếp giảng
K2 (2)
K3 (3)
K4 (4)
K5 (5)
KN
1 (9)
KN
2 (10)
KN
3 (11)
KN
4 (12)
KN
5 (13)
TĐ1 (14)
TĐ2 (15)
TĐ3 (16)
TĐ4 (17)
Trang 153 Kỹ thuật thiết bị thông tin vô
5 Kỹ thuật, thiết bị chuyển
6
Kỹ thuật, thiết bị truyền số
liệu, truyền hình, Radio
chính trị trong Quân đội nhân
dân Việt Nam
Trang 169 Tổ chức, bảo đảm TTLL
10 Phương pháp huấn luyện
11 Phương pháp huấn luyện kỹ
12 Phương pháp huấn luyện chiến
13 Phương pháp nghiên cứu khoa
Trang 17I MỤC TIÊU, YÊU CẦU ĐÀO TẠO
1 Mục tiêu
Đào tạo bổ sung hoàn thiện kiến thức trình độ đại học ngành Chỉ huy - Tham mưu Thông tin cho cán bộ đã tốt nghiệp đào tạo sĩ quan Chỉ huy - Tham mưu Thông tin cấp phân đội trình độ cao đẳng, nhằm chuẩn hoá trình độ đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển của quân đội; có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực lãnh đạo; năng lực tham mưu, tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc cấp chiến thuật và quản lý, chỉ huy, huấn luyện bộ đội; có khả năng phát triển lên cán bộ cấp tiểu đoàn thông tin và các chức vụ tương đương
Học viên tốt nghiệp được cấp bằng đại học, ngành Chỉ huy - Tham mưu Thông tin, hệ chính quy
2 Yêu cầu
2.1 Phẩm chất chính trị, đạo đức
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, với Tổ quốc, với nhân dân, yên tâm gắn bó với sự nghiệp xây dựng Quân đội
- Có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, tinh thần trách nhiệm cao, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của Quân đội Sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao
- Có phong cách làm việc chính quy, dân chủ, chủ động, sáng tạo; có lối sống lành mạnh, khiêm tốn, giản dị, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gắn bó với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm
2.2 Kiến thức và kỹ năng
2.2.1 Kiến thức
- Có hiểu biết hệ thống về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các kiến thức khoa học xã hội và nhân văn khác
- Nắm vững và vận dụng tốt kiến thức về công tác đảng, công tác chính trị để
tổ chức thực hiện các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị tại đơn vị