Câu 1: Phân tích các cấp độ trong quản lý chất lượng và xác định xem trong điều kiện cụ thể của giáo dục Việt Nam hiện nay thì cấp độ nào trong quản lý chất lượng là phù hợp? Hãy giải thích tại sao? BÀI LÀM Các cấp độ trong quản lí chất lượng 1. Kiểm soát chất lượng (Quality Control) Trên thực tế, tư tưởng về quản lí chất lượng xuất hiện rất sớm, nhưng mang tính tự phát. Từ trước cách mạng công nghiệp, những người thợ thủ công đã làm việc vừa với tư cách là người sản xuất vừa là người kiểm tra, tìm cách khắc phục những khiếm khuyết trong thao tác để tạo ra sản phẩm mà họ cho là có chất lượng tốt. Nhận thức về tiêu chuẩn chất lượng được ghi nhận vào thế kỉ XVIII, khi Honore Le Blannc, một nhà sản xuất người Pháp đã phát triển một hệ thống sản xuất đúng tiêu chuẩn với các chi tiết có khả năng lặp lại nhiều lần. Nhưng trào lưu chất lượng chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỉ XX, khi Frederick Winslow Taylor (18561915) đưa ra thuyết “Quản trị theo khoa học”. Bằng cách chia công việc thành từng phần chuyên biệt, mỗi công nhân chỉ tập trung vào phần việc của mình, bảo đảm chất lượng được giao cho nhân viên kiểm soát. Để đảm bảo cho sản phẩm được sản xuất một cách chính xác, người ta dựa vào bộ phận “kiểm soát chất lượng”. “Kiểm soát chất lượng” là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử của khoa học quản lí. Nó bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó. Đây là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong, có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi. Thanh tra nội bộ và thử nghiệm sản phẩm là những phương pháp phổ biến nhất. Hệ thống chất lượng dựa chủ yếu trên giấy tờ, sổ sách ghi nhận kết quả từng ca sản xuất. Các tiêu chí chất lượng hạn chế, chỉ căn cứ vào số lượng sản phẩm được chấp thuận. Vì thế, cách làm này kéo theo sự lãng phí nhiều khi khá lớn do phải loại bỏ hoặc làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu. Trong nhà trường phổ thông việc kiểm soát chất lượng được thực hiện thông qua các kỳ kiểm trathi khi kết thúc môn học, năm học hay tốt nghiệp. Mục đích của các kỳ thikiểm tra này là xác định mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình học tập 2. Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) Với sự phát triển, mở rộng sản xuất, “kiểm soát chất lượng” thực chất là loại bỏ các sản phẩm không đạt yêu cầu – đã không làm thoả mãn các nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ và cả khách hàng của họ. Thuật ngữ “đảm bảo chất lượng” ra đời vào thập niên 20 của thế kỉ XX, khi nhân viên bộ phận kiểm soát chất lượng của Công ty Western Electric (Mỹ) được giao nhiệm vụ phát triển lí thuyết mới và phương pháp mới để kiểm soát việc cải tiến và duy trì chất lượng dịch vụ. Những người tham gia nhóm cùng Walter Shewhart, Harold Dodge, George Edwards, W.Edwards Deming và một số người khác đã không chỉ thiết lập ra hệ thống đảm bảo chất lượng mà họ còn phát triển nhiều kĩ thuật hữu ích để cải tiến chất lượng và giải quyết những vấn đề liên quan đến chất lượng. “Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lí đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng” (TCVN 5814). Khác với kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện. Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm xảy ra ngay từ bước đầu tiên. Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình xản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào. Đảm bảo chất lượng là thoả mãn các tiêu chuẩn kĩ thuật một cách ổn định. Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đảm bảo bằng một hệ thống tại chỗ. Hệ thống đảm bảo chất lượng chỉ rõ việc sản xuất phải được thực hiện như thế nào, theo tiêu chuẩn nào. Trong hệ thống đảm bảo chất lượng, sự tham gia được uỷ quyền. Đảm bảo chất lượng phần lớn là trách nhiệm của người lao động thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thể đóng vai trò nhất định trong đảm bảo chất lượng. Các tiêu chuẩn chất + Các hoạt động tự đánh giá: Xem xét mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục đại học Đánh giá các giải pháp thực hiện mục tiêu Đánh giá kết quả, đầu ra của cơ sở giáo dục đại học + Các cấp độ tự đánh giá: Đánh giá cấp cá nhân Đánh giá cấp chương trình đào tạo Đánh giá cấp trường Bước 2. Đánh giá ngoài Quan niệm chung về đánh giá ngoài trong giáo dục đại hoc. Khái niệm Mục đích, ý nghĩa Quy trình tổ chức đánh giá ngoài Công tác chuẩn bị đánh giá Tiến hành đánh giá Bước 3. Công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định Mức độ công nhận đạt chuẩn kiểm định + Mức độ đạt chuẩn Kiểm định (80% tiêu chí đạt chuẩn) + Mức độ không đạt chuẩn kiểm định (dưưới 80% TC đạt) Kết quả kiểm định có giá trị 5 năm Công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định: Cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định 4. Cấu trúc, nội dung của kế hoạch chất lượng Cấu trúc, nội dung của KHCL gồm : a. Tuyên bố sứ mạng của nhà trường b. Vai trò, giá trị của trường, c. Bối cảnh, hoạt động của trường, d. Các mục tiêu trọng tâm của trường e. Các mục tiêu cụ thể của trường, f. Các chiến lược then chốt g. Các kết quả và các chỉ số thực hiện h. Các nguồn lực và chi phí. Tuyên bố sứ mạng của trường Sứ mạng là lời tuyên bố cam kết của nhà trường về những trọng trách mà nhà trường coi là chủ yếu nhất của mình đối với hệ thống giáo dục và xã hội, công bố chính thức của trường cho XH biết những việc mà trường đang phấn đấu thực hiện. Sứ mạng thường được viết ngắn gọn, xúc tích, phù hợp với quyết định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, về quy chế tổ chức và hoạt động của trường. Khi xác định sứ mạng, trường phải trả lời các câu hỏi sau đây: Chúng ta đang cố gắng phấn đấu vì những cái gì + Những đóng góp cơ bản của trường chúng ta là gì? + Chúng ta mong muốn sẽ đạt được vị thế nào trong tương lai? Vai trò và giá trị của trường. Vai trò của trường là sự đóng góp của trường cho xã hội thông qua các công việc mà trường phải làm để đạt được điều mà nhà trường khẳng định theo đuổi chính là Kiến thức, cụ thể là: cung cấp và truyền đạt những kiến thức, hiểu biết mới; gìn giữ bảo tồn những hiểu biết đã có; sáng tạo những kiến thức mới; ứng dụng kiến thức vào đời sống xã hội. Giá trị của trường ở chỗ: biểu hiện niềm tin, quan niệm về những phẩm chất cốt lõi (lý tưởng, tinh thần, đạo đức, nhân cách...) mà trường cam kết tôn trọng trong việc thực hiện sứ mạng và vai trò của nhà trường; giá trị tạo nên nét văn hoá của trường; vai trò của trường trong việc phục vụ cộng đồng và XH. Bối cảnh Môi trường hoạt động của trường + Một số yếu tố chủ yếu của môi trường bên ngoài Môi trường bên ngoài bao gồm những yếu tố xảy ra ở bên ngoài trường, tại cơ sở mà trường có liên quan như các cơ quan, các tổ chức chính trị, xã hội đoàn thể, các cơ sở đào tạo, các cơ sở không đào tạo. Môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố pháp lý, chính trị, xã hội, tài chính, dân số..., có tác dụng thúc đẩy hoặc cản trở các hoạt động các trường. + Yếu tố quốc tế những đặc điểm chung của thời đại và xu thế của GD. + Đường lối, chính sách của Chính phủ và các cơ quan của chính phủ + Một số tổ chức khác có thể có các mối quan hệ gián tiếp với trường: Các cơ sở GDĐT, NCKH khác ở trong và ngoài nước; Các trường TNCN, dạy nghề; Các trường THPT; Các yếu tố xã hội nghề nghiệp; Địa phương nơi trường đóng; Giới công nghiệp, kinh doanh Môi trường bên trong Môi trường bên trong chính là hiện trạng của trường: gồm cơ cấu hệ thống, cơ cấu quản lý, nguồn lực, chương trình, quy trình đào tạo, cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ cán bộ, ... của trường. Khi phân tích môi trường bên trong cần chú trọng yếu tố sau đây: Cấu trúc (sơ đồ tổ chức, quản lý) của trường; Phân cấp quản lý, phân công trách nhiệm; Hướng ưu tiên trong đào tạo, NCKH; Khả năng tài chính; Hệ thống thông tin và quản lý; Các mối liên kết với môi trường kinh tế xã hội; Quan hệ hợp tác quốc tế; Đời sống sinh viên (ký túc xá, nhà văn hoá, sân thể thao...) Các mục đích trọng tâm Mục đích trọng tâm là các mục đích lớn, dài hạn, bao trùm và chứa đựng nhiều mục tiêu cụ thể, được xác định trong các lĩnh vực hoạt động quan trọng nhất của nhà trường. Sau khi phân tích môi trường, căn cứ vào sứ mạng, vai trò của mình. Nhìn chung, những lĩnh vực chính của trường có liên quan đến các hoạt động sau đây: Giảng dạy và học tập; Nghiên cứu khoa học; Phục vụ cộng đồng; Quan hệ hợp tác; Tuyển sinh và công bằng xã hội trong đào tạo; Quản lý; Gắn kết đại học với sản xuất, đời sống, cộng đồng, xã hội. Các mục tiêu cụ thể Mục tiêu cụ thể là những vấn đề mà trường phải giải quyết nhằm đạt được từng mục đích trọng tâm đã đề ra. Có thể tóm tắt các bước tiến hành để đi đến các mục tiêu cụ thể như sau: + Nhiệm vụ được Nhà nước giao phó; + Năng lực hiện tại và tiềm năng của trường ; + Vị trí và vai trò của trường trong hệ thống GD ; + Vị trí địa lý của trường trên lãnh thổ; + Nhu cầu đòi hỏi của xã hội; Các chiến lược then chốt của trường Chiến lược then chốt là tập hợp những hoạt động cụ thể cùng những phương hướng hành động để đạt được các mục tiêu cụ thể đã đề ra. Các chiến lược hành động được chia ra làm 2 loại: Các chiến lược hành động mà trường đã và đang làm có hiệu quả; Các chiến lược hành động cần phải thay đổi hoặc chiến lược mới cần được triển khai ngay trong thời gian tới. Những câu hỏi cần trả lời đối với các chiến lược then chốt. Những hoạt động nào đã lỗi thời cần bỏ, hiệu chỉnh cho phù hợp với bối cảnh hiện tại và các dự báo trong tương lai? Những hoạt động mới nào cần được bổ sung?; Các nguồn lực để duy trì những hoạt động này?; Bộ phận nào trong trường chịu trách nhiệm thực hiện, giám sát? Các kết quả và các chỉ số thực hiện Đối với các kế hoạch mới trường có thể dự kiến các chỉ số thực hiện mà trường muốn đạt được khi thực thi kế hoạch. Các chỉ số thực hiện là những đại lượng đo hoạt động của nhà trường để biết được chất lượng và hiệu quả của các hoạt động, phải thoả mãn các yêu cầu sau: Phù hợp (tương thích): các chỉ số thực hiện phải đặc trưng và phản ánh đầy đủ được mức độ thực hiện các mục tiêu; Chính xác và tin cậy: phản ánh một cách định lượng được đối tượng cần đo, đảm bảo chính xác trong giới hạn cho phép; Chi phí thấp cho việc thu thập số liệu và hiệu quả trong việc sử dụng phục vụ cho công tác quản lý;. . .. Các nguồn lực và chi phí Khi xây dựng và thực hiện KHCL, bao giờ cũng phải dự kiến các nguồn lực và chi phí cần thiết để thực hiện kế hoạch. Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, trường cần phải quan tâm vấn đề sau đây: Năng lực của đội ngũ cán bộ; Thiết bị và phương tiện hiện đại, đồng bộ; Đầu tư tập trung; Khả năng tạo thêm nguồn lực từ đầu tư; KHCL cũng cần cung cấp các số liệu dự kiến về nguồn thu thông qua việc thực hiện kế hoạch chiến lược (học phí, NCKH, chuyển giao Công nghệ, dịch vụ xã hội,...). Xây dựng kế hoạch chất lượng cấp trường + Quá trình lập kế hoạch cấp trường Điều thiết yếu đối với một trường khi xây dựng KHCL là phải hiểu biết về công việc của chính mình, về thị trường và hoàn cảnh trong đó mình đang hoạt động. Biết huy động sự tham gia của các đơn vị và thành viên trong trường: Tổ chức hội thảo những ảnh hưởng của môi trường đến các hoạt động của nhà trường; Phổ biến nội dung và những vấn đề đúc kết từ hội thảo đến các đơn vị đào tạo, nghiên cứu và quản lý trong toàn trường để trao đổi và lấy ý kiến góp ý; Các kế hoạch phát triển chiến lược của các đơn vị lại được trình lên trên để xem xét, phê duyệt và tổng hợp lại thành bản kế hoạch phát triển chiến lược của trường. Kế hoạch chất lượng và nhiệm vụ báo cáo Bản KHCL của trường, trước hết là để cho trường, sau đó là để cho các tổ chức bên ngoài nhà trường như Chính phủ, những nhà tài trợ, những người sử dụng sản phẩm đào tạo, các đối tác... Do vậy, cần có một số hình thức báo cáo sau đây: Báo cáo của các đơn vị, các bộ phận cho lãnh đạo trường Hàng năm các trường, các bộ phận trong trường đối chiếu những việc mình đã làm được với mục tiêu cụ thể cần đạt nhằm đánh giá các chiến lược hành động của mình để kịp thời điều chỉnh, sửa đổi nếu cần thiếtvà báo cáo lãnh đạoh cấp trên. Báo cáo của lãnh đạo trường với các cơ quan và tổ chức ngoài nhà trường: Chính phủ và các cơ quan của chính phủ; các tổ chức GD; cộng đồng XH, các đối tác, nhà tài trợ...
Trang 1Đề bài Đề bài Đề bài Đề bài Đề bài Đề bài Đề bài Đề bài Đề bài Đề bài
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÀI KIỂM TRA CUỐI KÌ
MÔN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC
Giảng viên phụ trách: TS
Học viên:…
Hà Nội - 2021
Trang 3BÀI KIỂM TRA CUỐI KỲ
Hạn nộp bài theo quy định: ngày……tháng 3 năm 2021 Thời gian nộp bài: ngày … tháng 3 năm 2021
Nhận xét của giảng viên chấm bài:
Điểm:………Giảng viên (kí tên)………
Trang 4Câu 1: Phân tích các cấp độ trong quản lý chất lượng và xác định xem trong điều kiện cụ thể của giáo dục Việt Nam hiện nay thì cấp độ nào trong quản
lý chất lượng là phù hợp? Hãy giải thích tại sao?
BÀI LÀM
Các cấp độ trong quản lí chất lượng
1 Kiểm soát chất lượng (Quality Control)
Trên thực tế, tư tưởng về quản lí chất lượng xuất hiện rất sớm, nhưng mang tính tự phát Từ trước cách mạng công nghiệp, những người thợ thủ công
đã làm việc vừa với tư cách là người sản xuất vừa là người kiểm tra, tìm cách khắc phục những khiếm khuyết trong thao tác để tạo ra sản phẩm mà họ cho là
có chất lượng tốt Nhận thức về tiêu chuẩn chất lượng được ghi nhận vào thế kỉ XVIII, khi Honore Le Blannc, một nhà sản xuất người Pháp đã phát triển một hệ thống sản xuất đúng tiêu chuẩn với các chi tiết có khả năng lặp lại nhiều lần
Nhưng trào lưu chất lượng chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỉ XX, khi Frederick Winslow Taylor (1856-1915) đưa ra thuyết “Quản trị theo khoa học” Bằng cách chia công việc thành từng phần chuyên biệt, mỗi công nhân chỉ tập trung vào phần việc của mình, bảo đảm chất lượng được giao cho nhân viên kiểm soát Để đảm bảo cho sản phẩm được sản xuất một cách chính xác, người
ta dựa vào bộ phận “kiểm soát chất lượng”
“Kiểm soát chất lượng” là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử của khoa học quản lí Nó bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó Đây là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong, có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi Thanh tra nội bộ và thử nghiệm sản phẩm là những phương pháp phổ biến nhất Hệ thống chất lượng dựa chủ yếu trên giấy tờ, sổ sách ghi nhận kết quả từng ca sản xuất Các tiêu chí chất lượng hạn chế, chỉ căn cứ vào số lượng sản phẩm được chấp thuận Vì thế, cách làm này kéo theo sự lãng phí nhiều khi khá lớn do phải loại bỏ hoặc làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu
Trang 5Trong nhà trường phổ thông việc kiểm soát chất lượng được thực hiện thông qua các kỳ kiểm tra/thi khi kết thúc môn học, năm học hay tốt nghiệp
Mục đích của các kỳ thi/kiểm tra này là xác định mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình học tập
2 Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance)
Với sự phát triển, mở rộng sản xuất, “kiểm soát chất lượng” - thực chất là loại bỏ các sản phẩm không đạt yêu cầu – đã không làm thoả mãn các nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ và cả khách hàng của họ Thuật ngữ “đảm bảo chất lượng” ra đời vào thập niên 20 của thế kỉ XX, khi nhân viên bộ phận kiểm soát chất lượng của Công ty Western Electric (Mỹ) được giao nhiệm vụ phát triển lí thuyết mới và phương pháp mới để kiểm soát việc cải tiến và duy trì chất lượng dịch vụ Những người tham gia nhóm cùng Walter Shewhart, Harold Dodge, George Edwards, W.Edwards Deming và một số người khác đã không chỉ thiết lập ra hệ thống đảm bảo chất lượng mà họ còn phát triển nhiều kĩ thuật hữu ích
để cải tiến chất lượng và giải quyết những vấn đề liên quan đến chất lượng
“Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lí đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo
sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng” (TCVN 5814)
Khác với kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm xảy ra ngay từ bước đầu tiên Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình xản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào Đảm bảo chất lượng là thoả mãn các tiêu chuẩn kĩ thuật một cách ổn định Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đảm bảo bằng một hệ thống tại chỗ Hệ thống đảm bảo chất lượng chỉ rõ việc sản xuất phải được thực hiện như thế nào, theo tiêu chuẩn nào Trong hệ thống đảm bảo chất lượng, sự tham gia được uỷ quyền Đảm bảo chất lượng phần lớn là trách nhiệm của người lao động thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng
Trang 6có thể đóng vai trò nhất định trong đảm bảo chất lượng Các tiêu chuẩn chất lượng được duy trì bằng cách tuân thủ qui trình vạch ra trong hệ thống đảm bảo chất lượng Đảm bảo chất lượng quan tâm đến kiểm soát hệ thống chất lượng, Kiểm soát quá trình bằng thống kê (Statistical Quality Control – SQC), phân tích nhân quả
để có biện pháp khắc phục và ngăn ngừa sai phạm hoặc sự không trùng hợp
Để đánh giá và duy trì hệ thống đảm bảo chất lượng, sự can thiệp của bên ngoài được chú trọng thông qua các hình thức phổ biến như Thanh tra chất lượng (Quality Inspection) và Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation) Trong giáo dục phổ thông đảm bảo chất lượng được thực hiện bởi một hệ thống các biện pháp bao gồm: thi tuyển đầu vào (lớp 10), các hình thức kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ trong suốt năm học
Trong giáo dục đại học, cao đẳng các hình thức đảm bảo chất lượng diễn
ra đa dạng và phong phú hơn Ngoài hình thức thi tuyển đầu vào khá chặt chẽ, nghiêm túc, cạnh tranh cao, các hình thức kiểm tra đanh giá diễn ra trong suốt quá trình đào tạo là chính là các biện pháp “ phòng ngừa” giúp sinh viên tự hoàn thiện để cuối cùng đạt chất lượng Ngoài ra các điều kiện đảm bảo chất lượng khác, như chương trình, học liệu, các phòng thí nghiệm, xưởng thực hành… cũng góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo
3 Quản lí chất lượng tổng thể (Total Quality Management)
Thuật ngữ “Quản lí chất lượng tổng thể” (Total Quality Management - TQM) được A.V.Feigenbaum sử dụng từ đầu những năm 50 của thế kỉ XX
TQM đã bén rễ trên thực tế từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi hai chuyên gia người Mỹ về chất lượng Dr Joseph Juran và Dr.W.Edwards Deming
đã giới thiệu kĩ thuật kiểm soát quá trình bằng thống kê cho người Nhật Và kết quả
là cải tiến chất lượng tại Nhật đã diễn ra một cách vững chắc Đến đầu thập niên
70 của thế kỉ XX “chất lượng Nhật Bản” đã không có đối thủ nào sánh kịp
Đến thập niên 80 “cuộc cách mạng chất lượng” đã được hưởng ứng ở Mỹ, dần lan rộng trên khắp thế giới Chất lượng toàn diện được bàn đến ngày càng nhiều trong các cuốn sách, giáo trình và công trình khoa học
Trang 7TQM đồng nghĩa với đảm bảo chất lượng, nhưng mở rộng và phát triển thêm quản lí chất lượng tổng thể tạo ra văn hoá chất lượng, mà ở đó, mục tiêu của từng nhân viên, của toàn bộ nhân viên là làm hài lòng khách hàng của họ, nơi mà cơ cấu tổ chức của cơ sở cho phép họ làm điều này Trong quan niệm
về chất lượng toàn diện, khách hàng là thượng đẳng Điều này có nghĩa là công việc của mỗi thành viên trong tổ chức phải hướng đến phục vụ khách hàng ở mức độ tốt nhất có thể Đó là cung ứng cho khách hàng những thứ họ cần, đúng lúc họ cần và theo cách thức họ cần, thoả mãn và vượt cả những mong đợi của họ
TQM là tầng bậc cao nhất nếu so sánh với các cấp độ khác trong quản lí chất lượng Tính thứ bậc của quan hệ chất lượng trong quản lí có thể khái quát trong sơ đồ về tầng bậc của khái niệm chất lượng (Phỏng theo sơ đồ của Sallis E.) sau đây:
Sự tiến triển theo tầng bậc của phương thức quản lí chất lượng đã cho thấy ưu điểm nổi trội của TQM
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và TQM là rất mềm dẻo Trong thực tế các cấp độ chất lượng đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong một tổ chức, quản lí chất lượng tổng thể là sự tiếp tục của đảm bảo chất lượng theo chiều sâu, với sự hiện diện của văn hóa chất lượng, đảm bảo chất lượng là sự mở rộng phạm vi quản lí chất lượng tới mọi thành viên của tổ chức Còn ở nhiều khâu, kiểm soát chất lượng vẫn cần thiết trong hệ thống đảm bảo chất lượng Thông thường kiểm soát chất lượng được chuyển giao cho cấp điều hành hay tốt hơn là do những người sản xuất trực tiếp đảm nhiệm
Trong điều kiện cụ thể của giáo dục Việt Nam hiện nay thì cấp độ “Đảm bảo chất lượng” là phù hợp bởi “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” Đây
là một định nghĩa phù hợp nhất đối với giáo dục nước ta Mục tiêu trong định nghĩa này được hiểu theo nghĩa rộng và do từng nhà trường xác định
Năm học 2020-2021, ngành Giáo dục tập trung triển khai Kế hoạch thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện
Trang 8giáo dục và đào tạo; Kế hoạch thực hiện Kết luận số 49-KL/TW ngày 10/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị khóa
X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; tiếp tục tập trung nguồn lực thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Nghị quyết số 51/2017/QH14 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông bảo đảm chất lượng, hiệu quả, đúng lộ trình
Toàn ngành tiếp tục tập trung thực hiện 9 nhóm nhiệm vụ chủ yếu Mục tiêu xuyên suốt trong 9 nhóm nhiệm vụ chủ yếu năm học 2020-2021 là tiếp tục đổi mới và đảm bảo chất lượng giáo dục
Để đảm bảo chất lượng giáo dục, Chỉ thị đặt ra nhiệm vụ quan trọng là thúc đẩy chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo Trong đó, tập trung hoàn thiện chính sách phát triển phương thức giáo dục đào tạo trực tuyến, quản lý giáo dục trên môi trường mạng Phát triển kho học liệu số toàn ngành; triển khai hiệu quả hệ thống quản lý học tập qua mạng
để bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý theo phương thức thường xuyên, liên tục ngay tại nhà trường
Do vậy, “Đảm bảo chất lượng” là mô hình quản lý chất lượng giáo dục phù hợp với điều kiện của nước ta hiện nay Đảm bảo chất lượng là những quan điểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, quy trình và thủ tục, mà thông qua sự hiện diện và sử dụng chúng có thể đảm bảo rằng các mục tiêu đã đề ra đang được thực hiện, các chuẩn mực học thuật phù hợp đang được duy trì và không ngừng nâng cao ở cấp trường và ở chương trình đào tạo của nhà trường./
Trang 9Câu 2: Đánh giá chất lượng giáo dục, quản lý chất lượng giáo dục nói chung và của bậc học mà anh/chị đang công tác nói riêng Liên hệ thực tế tại cơ
sở giáo dục của anh/chị
BÀI LÀM
Ở Việt Nam, để có thể bắt nhịp với sự phát triển chung của toàn cầu, trong những năm gần đây Đảng, Chính phủ và ngành giáo dục-đào tạo đã đưa ra nhiều kế sách, đề cập đến nhiều vấn đề cùng một lúc nhằm "Mở rộng hợp lý quy
mô giáo dục đại học, làm chuyển biến rõ nét về chất lượng và hiệu quả đào tạo Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học, sau đại học Để thực hiện chủ chương đó, đòi hỏi phải có một quan điểm phù hợp về chất lượng và đánh giá chất lượng đào tạo đại học Việt Nam trong giai đoạn mới, thực sự đi trước, đón đầu sự phát triển Nhiều nhà lãnh đạo, nhà khoa học tâm huyết đã phát biểu những ý kiến trăn chở về chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học Tuy nhiên, phần lớn các ý kiến đó mới dừng lại ở mức độ như những bài báo, bài tham luận trong các diễn đàn khoa học, có tính chất giới thiệu các quan niệm, các bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và đảm bảo chất lượng của các nước khác trên thế giới, hoặc nêu vấn đề, khêu gợi cho việc nghiên cứu tiếp theo Thực tế trong những năm qua ở nước ta chưa có công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về hệ thống tiêu chí hoặc một bộ công cụ hoàn chỉnh được xây dựng trên cơ sở khoa học có thể dùng để kiểm tra và thẩm định công nhận chất lượng và đảm bảo chất lượng đào tạo đại học Việc đánh giá chất lượng và đảm bảo chất lượng đào tạo chủ yếu do các cơ sở đào tạo tự xác định bằng hệ thống mục tiêu trên cơ sở định tính nhiều hơn định lượng
Hiện nay, Trung tâm đánh giá chất lượng trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo để tiến hành kiểm định chất lượng và cung cấp sự đánh giá khách quan về chất lượng giáo dục đại học Nhiệm vụ của Trung tâm là xây dựng khung đảm bảo chất lượng và cơ chế đảm bảo chất lượng cấp hệ thống, và dựa vào đó các
cơ sở đào tạo sẽ tự xây dựng mô hình chất lượng cho chính mình
Trang 10Năm 2018, Bộ GDĐT ban hành 03 Thông tư số 17, 18, 19 Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm non, tiểu học, THCS-THPT, Cao đẳng và Đại học
Mục tiêu của kiểm định chất lượng giáo dục là nhằm xác định các trường đạt mức đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn; lập kế hoạch cải tiến chất lượng, duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường; thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của trường tiểu học; để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá, công nhận hoặc không công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục
Ðánh giá chất lượng giáo dục Việt Nam hiện nay đang ở tình trạng như vậy Nguyên nhân của hiện tượng này là những người ở các vị trí khác nhau, đánh giá chất lượng giáo dục nhằm các mục tiêu khác nhau với bộ thước đo khác nhau và hệ quả là các kết luận cũng khác nhau Vậy chúng ta nên xác định chất lượng là gì? Một định nghĩa về chất lượng giáo dục được phần lớn các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách, quản lý giáo dục trên thế giới chấp thuận là
"sự tuân thủ tiêu chuẩn" hay "sự trùng khớp với mục tiêu" Theo định nghĩa này, một nền giáo dục (phổ thông, đại học ) có chất lượng nếu nó tuân thủ các tiêu chuẩn xác định hoặc đạt được các mục tiêu của nó
Nếu xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông chủ yếu là cung cấp nguồn nhân lực có trình độ kiến thức phổ thông toàn diện để có thể tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đồng thời vẫn có khả năng học tập suốt đời để nâng cao chất lượng công việc cũng như chất lượng cuộc sống Một bộ phận của học sinh phổ thông có đủ năng lực có thể học tiếp ở các bậc cao hơn Nếu xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông như vậy chúng ta sẽ có cách đánh giá khác về chất lượng và có nhận định khác về chất lượng giáo dục Nếu 80% số học sinh phổ thông không có cơ hội học cao hơn, nhưng lại thành đạt trong cuộc sống, trở thành các chủ trang trại, doanh nghiệp tư nhân, những người lao động sản xuất giỏi thì chất lượng giáo dục phổ thông sẽ được đánh giá cao
Trang 11Bước tiếp theo của hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục là xác định hệ thống tiêu chuẩn hay hệ mục tiêu của giáo dục Nói cách khác, xây dựng bộ công cụ đo lường - đánh giá chất lượng giáo dục Phần lớn các nước phát triển ở Bắc Mỹ, Cộng đồng châu Âu hay các nước đang phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương và ngay cả các nước Ðông - Nam Á đều có hệ thống kiểm định, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông cũng như đại học
Căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, tùy theo truyền thống văn hóa - giáo dục và các điều kiện khác, các nước có hệ thống tổ chức đánh giá, kiểm định và bộ công cụ đo lường chất lượng giáo dục khác nhau
Tuy nhiên, điểm chung của tất cả các hệ thống đánh giá đó đều nhằm xác định các lĩnh vực liên quan quy trình đào tạo có đạt tiêu chuẩn hay không Và nếu các lĩnh vực này đạt chuẩn, nó sẽ tác động chất lượng của quy trình đào tạo Như
đã nói ở trên, chất lượng giáo dục là một khái niệm động, nhiều chiều, khó định nghĩa một cách xác định Do vậy, chỉ có thể tác động vào các yếu tố có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp nó để các yếu tố này đến lượt mình tác động tới chất lượng
Vậy những yếu tố nào có thể tác động chất lượng giáo dục Thông thường những lĩnh vực (yếu tố) sau đây được xem là có vai trò nâng cao chất lượng của một cơ sở giáo dục: Tổ chức và quản lý; Ðội ngũ cán bộ (giảng viên và phục vụ); Sinh viên, học sinh; Quá trình giảng dạy - học tập; Nghiên cứu khoa học (nếu là trường đại học, cao đẳng); Cơ sở vật chất; Tài chính; Các lĩnh vực khác (Hợp tác quốc tế, dịch vụ sinh viên) Ðây được xem là tám lĩnh vực (tiêu chuẩn) quan trọng nhất, tác động trực tiếp chất lượng giáo dục Những lĩnh vực này có thể tác động với mức độ khác nhau
Và nếu có những biện pháp tác động tới tám lĩnh vực này, hoàn thiện nó theo những chuẩn mực phù hợp thực tiễn chắc chắn sẽ có một nền giáo dục có chất lượng cao Các lĩnh vực này được cụ thể hóa bằng các tiêu chí, và các tiêu chí lại được cụ thể hóa hơn nữa bằng các chỉ số (định tính hoặc định lượng) Một bộ công cụ bao gồm các lĩnh vực (tiêu chuẩn) - tiêu chí - chỉ số đồng thời vừa là tiêu chuẩn để các cơ sở giáo dục có kế hoạch phấn đấu vươn tới, vừa là
Trang 12thước đo để các trường tự đánh giá, và để các cơ quan hữu trách kiểm định công nhận và ra các quyết định phù hợp với mục tiêu của đợt đánh giá
Các cơ sở giáo dục có thể sử dụng bộ tiêu chí này đánh giá các điều kiện bảo đảm chất lượng của trường, khoa hoặc trong từng lĩnh vực (từng tiêu chuẩn)
để có kế hoạch từng bước phấn đấu đạt tiêu chuẩn Trong trường hợp cần đánh giá toàn diện một cơ sở giáo dục (một trường), trường đó cần xây dựng một báo cáo tự đánh giá phân tích toàn diện hoạt động của nhà trường Trong báo cáo tự đánh giá cần đánh giá từng chỉ số, sau đó tổng hợp đánh giá các chỉ số trong từng tiêu chí, rồi tổng hợp đánh giá từng tiêu chí để đánh giá từng lĩnh vực
Cuối cùng tổng hợp đánh giá các lĩnh vực để có thể kết luận tổng thể về các điều kiện bảo đảm chất lượng của trường đó Báo cáo tự đánh giá được nộp lên cơ quan hữu trách với đơn xin được kiểm định Một đoàn đánh giá ngoài bao gồm các chuyên gia phù hợp được cử xem xét báo cáo tự đánh giá, thực hiện khảo sát tại cơ sở đăng ký kiểm định và có báo cáo thẩm định giá trị, độ xác thực của báo cáo tự đánh giá
Ðể nâng cao độ giá trị, tính khách quan của báo cáo thẩm định, có thể mời các chuyên gia đánh giá nước ngoài cùng tham gia Bằng cách này giáo dục Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận chuẩn của giáo dục thế giới và nhanh chóng hơn trong quá trình hội nhập Bên cạnh đó, việc quản lý chất lượng giáo dục ở nước ta hiện nay cũng nhiều bất cập
Thứ nhất, quan niệm về chất lượng giáo dục ở ta chưa đầy đủ và đồng bộ
Có một cách hiểu phổ biến và đáng tiếc lại đang được coi là chuẩn mực trong đánh giá giáo dục Cách hiểu đó cho rằng, chất lượng giáo dục đồng nghĩa với kết quả thi cử Một biểu hiện rất rõ: sự quan tâm chủ yếu của các nhà quản lý giáo dục, từ các cấp quản lý hệ thống tới các cấp quản lý nhà trường, tập trung cao nhất vào các kỳ thi để rồi lấy kết quả thi làm thước đo quan trọng nhất đối với chất lượng một học sinh, một nhà trường và một địa phương Đã quan niệm như thế thì thật dễ hiểu khi mà các yếu tố khác trong tổng thể các yếu tố trực tiếp cấu thành chất lượng giáo dục đã bị coi nhẹ, thậm chí bị bỏ qua Bởi vậy,
Trang 13trong thực tế, những nơi có nhiều mặt yếu kém nhưng tỷ lệ thi đỗ cao vẫn được xem là có chất lượng tốt Từ đây, đã nảy sinh một hiện tượng phổ biến là từ giáo viên đến học sinh, từ những người quản lý cấp cơ sở đến những người quản lý cấp trên đua nhau chạy theo tỷ lệ thi đỗ Số trường tỷ lệ thi đỗ tới 95-100% không còn là hiện tượng cá biệt Và theo lôgic của cách hiểu trên, chất lượng giáo dục như thế là tốt lắm rồi Chỉ đến khi học sinh vào đời hoặc thi vào đại học, thực trạng yếu kém mới bộc lộ ra thì đã vô phương cứu chữa
Thứ hai, về phương pháp tiếp cận, ta QLCL chủ yếu nhằm vào mục tiêu (trong khi “mục tiêu” là tỷ lệ thi đỗ) mà coi nhẹ quá trình Ai cũng biết trong mọi sự việc, quá trình diễn ra thế nào thì kết quả nhận được thế ấy Quy luật này càng đúng trong giáo dục nhân cách Bởi hình thành nhân cách là cả một quá trình với sự hội tụ của vô vàn yếu tố, biểu hiện của nhân cách ở mỗi con người cũng là cả một quá trình với vô vàn khía cạnh và cấp độ khác nhau Ở đây quyết không có đất cho cách làm mang tính thực dụng: bất chấp quá trình, bất chấp phương pháp, bất chấp động cơ và thái độ, “miễn tốt là được”!
Thứ ba, về chuẩn mực, chúng ta chưa đưa ra được hay là chưa dám đưa ra một hệ tiêu chí và phương pháp đánh giá quá trình QLCL, kể cả chất lượng giáo dục nhân cách trong nhà trường Hiện nay không phải chúng ta hoàn toàn chưa
có các tiêu chí và phương pháp đánh giá Với thái độ đãi cát lấy vàng, phải nói ở từng nơi, từng lúc đã có những đề xuất mang tính tích cực và sáng tạo Song nhìn chung, phải thẳng thắn thừa nhận các tiêu chí và phương pháp ấy còn rời rạc, chưa đồng bộ, thiếu tính hệ thống, thiếu luận cứ khoa học và chưa được chuẩn hoá Do đó, việc đánh giá chất lượng giáo dục vẫn nặng về thanh tra, kiểm tra do cấp trên hay do các đoàn từ bên ngoài nhà trường tiến hành là chính Thiếu hẳn việc tự kiểm tra, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh, cải tiến như một hoạt động thường xuyên, có nề nếp và có tính chủ động để thực sự trở thành nhân tố nội sinh thúc đẩy phát triển bền vững
Thứ tư, về chủ thể thực hiện, cho đến nay QLCL hầu như vẫn được coi là đặc quyền và trách nhiệm của một vài cấp như ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn Có thể coi là sai lầm lớn khi xem nhẹ giáo viên, những người giữ vai trò
Trang 14then chốt và trực tiếp tạo nên chất lượng Tư tưởng “QLCL toàn diện”, “mỗi người lao động là một mắt xích quyết định trong cả hệ thống QLCL” mà các cơ
sở sản xuất kinh doanh đang cố thực hiện để nhanh chóng nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm mang nhãn hiệu Việt Nam, không hiểu sao lại chậm được ngành giáo dục vận dụng đến thế
Cũng cần nhấn mạnh một điều, trong QLCL giáo dục, đặc biệt trong QLCL giáo dục nhân cách, học sinh cũng có vai trò cực kỳ quan trọng bởi các
em không phải là những sản phẩm thụ động của nhà trường Việc hướng dẫn học sinh về động cơ học tập, thái độ, phương pháp học tập, điều rất được quan tâm ở nhiều quốc gia đang phát triển và ở nước ta trước đây, không hiểu sao lại bị lãng quên một cách đáng buồn đến như vậy
Thứ năm, về tổ chức, ta chưa hình thành được các cơ quan hay bộ phận chuyên trách về QLCL để nghiên cứu, tư vấn, giúp triển khai ứng dụng các phương thức QLCL tiên tiến vào trường học Cũng chưa có cơ quan, bộ phận và
cơ chế kiểm định, đánh giá chất lượng khách quan từ bên ngoài
Thứ sáu, về cơ chế quản lý, nét nổi bật là quản lý giáo dục phổ thông vẫn theo mô hình quản lý tập trung Cơ quan quản lý tuyến trên (Bộ, Sở, Phòng GD) vừa hoạch định mục tiêu chất lượng, ban hành hệ thống quy chế và các văn bản chỉ đạo, ban hành nội dung, kế hoạch dạy học, vừa tổ chức thanh tra, kiểm tra, thi cử, đánh giá nghĩa là dấu ấn bao cấp vẫn rất nặng Nói “xã hội hoá giáo dục đào tạo” thực chất là “xã hội” huy động tiền còn mọi sự vẫn là Bộ, Sở, Phòng Trong khi đó, việc QLCL cần và hoàn toàn có thể giao phần lớn cho từng nhà trường để nâng cao tính tích cực, chủ động thực hiện quyền tự quản lý quá trình tạo ra chất lượng trong điều kiện cụ thể của mình
Trên cơ sở tham khảo các quan điểm khác nhau và nghiên cứu đặc điểm giáo dục-đào tạo trong quân đội, chúng tôi quan niệm rằng, chất lượng đào tạo đại học quân sự là giá trị của mức độ đạt được các mục tiêu đào tạo đã xác định Tuy nhiên, mục tiêu đào tạo phải được thiết kế chuẩn xác, đáp ứng nhu cầu của
xã hội và quân đội Chất lượng đào tạo đại học quân sự là vấn đề tổng hợp được
Trang 15taọ nên từ chất lượng của tất cả các yếu tố và điều kiện liên quan đến đối tượng giáo dục Chất lượng đào tạo đại học quân sự được xem xét trên bốn hướng cơ bản như sau:
Một là, chất lượng đầu vào của quá trình đào tạo Bao gồm chất lượng của cơ sở vật chất, trang thiết bị, chương trình, dịch vụ, nguồn tài chính phong phú, đội ngũ cán bộ giảg dạy có uy tín, và tuyển được học viên giỏi Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến trình độ quản lý và tổ chức của cơ sở đào tạo phù hợp với quy mô đào tạo, khả năng sẵn sàng đối vói nguồn lực và cơ chế huy động nguồn lực cho đào tạo
Hai là, chất lượng quá trình đào tạo Bao gồm sự phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và diễn biến của tiến tình dạy học Trong đó nhấn mạnh cách dạy, cách học và tổ chức có hiệu quả các quá trình đó
Ba là, chất lượng của kết quả đào tạo Kết quả đạt được của quá trình đào tạo chính là sự biến đổi về chất của đối tượng đào tạo, là giá trị gia tăng trong giáo dục, là mức độ đạt được chỉ tiêu so với mục tiêu đặt ra của nhà trường Bao gồm cả kết quả nhận thức và những kết quả phi nhận thức
Bốn là, chất lượng của sản phẩm đào tạo Đó là sự phù hợp của sản phẩm đào tạo với nhu cầu của xã hội và quân đội Biểu hiện của sự phù hợp đó là mức
độ phát huy tác dụng của các học viên sau khi ra trường Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu chất lượng giáo dục đại học phương Tây thì đó chính là sự thoả mãn nhu cầu của "khách hàng" Các đơn vị sử dụng sản phẩm đào tạo là người đánh giá chính xác nhất về chất lượng đào tạo
Khái niệm đảm bảo chất lượng đào tạo
Để nhận thức đúng khái niệm đảm bảo chất lượng đào tạo, trước hết cần phải hiểu rõ khái niệm quản lý chất lượng Quản lý chất lượng là thuật ngữ được
sử dụng để miêu tả các thủ pháp hoặc các quy trình được tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá xem các sản phẩm có bảo đảm được các thông số chất lượng theo mục đích, yêu cầu đã được định sẵn hay không Quản lý chất lượng là quá trình