Câu 1: Phân tích các cấp độ trong quản lý chất lượng và xác định xem trong điều kiện cụ thể của giáo dục Việt Nam hiện nay thì cấp độ nào trong quản lý chất lượng là phù hợp? Hãy giải thích tại sao? TRẢ LỜI 1. Kiểm soát chất lượng (Quality Control) Trên thực tế, tư tưởng về quản lí chất lượng xuất hiện rất sớm, nhưng mang tính tự phát. Từ trước cách mạng công nghiệp, những người thợ thủ công đã làm việc vừa với tư cách là người sản xuất vừa là người kiểm tra, tìm cách khắc phục những khiếm khuyết trong thao tác để tạo ra sản phẩm mà họ cho là có chất lượng tốt. Nhận thức về tiêu chuẩn chất lượng đượcghi nhận vào thế kỉ XVIII, khi Honore Le Blannc, một nhà sản xuất người Pháp đã phát triển một hệ thống sản xuất đúng tiêu chuẩn với các chi tiết có khả năng lặp lại nhiều lần. Nhưng trào lưu chất lượng chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỉ XX, khi Frederick Winslow Taylor (18561915) đưa ra thuyết “Quản trị theo khoa học”. Bằng cách chia công việc thành từng phần chuyên biệt, mỗi công nhân chỉ tập trung vào phần việc của mình, bảo đảm chất lượng được giao cho nhân viên kiểm soát. Để đảm bảo cho sản phẩm được sản xuất một cách chính xác, người ta dựa vào bộ phận “kiểm soát chất lượng”. “Kiểm soát chất lượng” là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử của khoa học quản lí. Nó bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó. Đây là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong, có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi. Thanh tra nội bộ và thử nghiệm sản phẩm là những phương pháp phổ biến nhất. Hệ thống chất lượng dựa chủ yếu trên giấy tờ, sổ sách ghi nhận kết quả từng ca sản xuất. Các tiêu chí chất lượng hạn chế, chỉ căn cứ vào số lượng sản phẩm được chấp thuận. Vì thế, cách làm này kéo theo sự lãng phí nhiều khi khá lớn do phải loại bỏ hoặc làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu. Trong nhà trường phổ thông việc kiểm soát chất lượng được thực hiện thông qua các kỳ kiểm trathi khi kết thúc môn học, năm học hay tốt nghiệp. Mục đích của các kỳ thikiểm tra này là xác định mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình học tập 2. Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) Với sự phát triển, mở rộng sản xuất, “kiểm soát chất lượng” thực chất là loại bỏ các sản phẩm không đạt yêu cầu – đã không làm thoả mãn các nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ và cả khách hàng của họ. Thuật ngữ “đảm bảo chất lượng” ra đời vào thập niên 20 của thế kỉ XX, khi nhân viên bộ phận kiểm soát chất lượng của Công ty Western Electric (Mỹ) được giao nhiệm vụ phát triển lí thuyết mới và phương pháp mới để kiểm soát việc cải tiến và duy trì chất lượng dịch vụ. Những người tham gianhóm cùng Walter Shewhart, Harold Dodge, George Edwards, W.Edwards Deming và một số người khác đã không chỉ thiết lập ra hệ thống đảm bảo chất lượng mà họ còn phát triển nhiều kĩ thuật hữu ích để cải tiến chất lượng và giải quyết những vấn đề liên quan đến chất lượng. “Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lí đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng” (TCVN 5814). Khác với kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện. Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm xảy ra ngay từ bước đầu tiên. Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình xản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào. Đảm bảo chất lượng là thoả mãn các tiêu chuẩn kĩ thuật một cách ổn định. Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đảm bảo bằng một hệ thống tại chỗ. Hệ thống đảm bảo chất lượng chỉ rõ việc sản xuất phải được thực hiện như thế nào, theo tiêu chuẩn nào. Trong hệ thống đảm bảo chất lượng, sự tham gia được uỷ quyền. Đảm bảo chất lượng phần lớn là trách nhiệm của người lao động thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thể đóng vai trò nhất định trong đảm bảo chất lượng. Các tiêu chuẩn chất lượng được duy trì bằng cách tuân thủ qui trình vạch ra trong hệ thống đảm bảo chất lượng. Đảm bảo chất lượng quan tâm đến kiểm soát hệ thống chất lượng, Kiểm soát quá trình bằng thống kê (Statistical Quality Control – SQC), phân tích nhân quả để có biện pháp khắc phục và ngăn ngừa sai phạm hoặc sự không trùng hợp.Để đánh giá và duy trì hệ thống đảm bảo chất lượng, sự can thiệp của bên ngoài được chú trọng thông qua các hình thức phổ biến như Thanh tra chất lượng (Quality Inspection) và Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation). Trong giáo dục phổ thông đảm bảo chất lượng được thực hiện bởi một hệ thống các biện pháp bao gồm: thi tuyển đầu vào (lớp 10), các hình thức kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ trong suốt năm học. Trong giáo dục đại học, cao đẳng các hình thức đảm bảo chất lượng diễn ra đa dạng và phong phú hơn. Ngoài hình thức thi tuyển đầu vào khá chặt chẽ, nghiêm túc, cạnh tranh cao, các hình thức kiểm tra đanh giá diễn ra trong suốt quá trình đào tạo là chính là các biện pháp “phòng ngừa” giúp sinh viên tự hoàn thiện để cuối cùng đạt chất lượng. Ngoài ra các điều kiện đảm bảo chất lượng khác, như chương trình, học liệu, các phòng. thí nghiệm, xưởng thực hành… cũng góp phần đảm bảo và nâng cao chấtlượng đào tạo. 3. Quản lí chất lượng tổng thể (Total Quality Management) Thuật ngữ “Quản lí chất lượng tổng thể” (Total Quality Management TQM) được A.V.Feigenbaum sử dụng từ đầu những năm 50 của thế kỉ XX. TQM đã bén rễ trên thực tế từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi hai chuyên gia người Mỹ về chất lượng Dr. Joseph Juran vàDr.W.Edwards Deming đã giới thiệu kĩ thuật kiểm soát quá trình bằng thống kê cho người Nhật. Và kết quả là cải tiến chất lượng tại Nhật đã diễn ra một cách vững chắc. Đến đầu thập niên 70 của thế kỉ XX “chất lượng Nhật Bản” đã không có đối thủ nào sánh kịp. Đến thập niên 80 “cuộc cách mạng chất lượng” đã được hưởng ứng ở Mỹ, dần lan rộng trên khắp thế giới. Chất lượng toàn diện được bàn đến ngày càng nhiều trong các cuốn sách, giáo trình và công trình khoa học. TQM đồng nghĩa với đảm bảo chất lượng, nhưng mở rộng và phát triển thêm. quản lí chất lượng tổng thể tạo ra văn hoá chất lượng, mà ở đó, mục tiêu của từng nhân viên, của toàn bộ nhân viên là làm hài lòng khách hàng của họ, nơi mà cơ cấu tổ chức của cơ sở cho phép họ làm điều này. Trong quan niệm về chất lượng toàn diện, khách hàng là thượng đẳng. Điều này có nghĩa là công việc của mỗi thành viên trong tổ chức phải hướng đến phục vụ khách hàng ở mức độ tốt nhất có thể. Đó là cung ứng cho khách hàng những thứ họ cần, đúng lúc họ cần và theo cách thức họ cần, thoả mãn và vượt cả những mong đợi của họ. sản theo quy định; quy chế chi tiêu nội bộ được bổ sung, cập nhật phù hợp với điều kiện thực tế và các quy định hiện hành 2.6. Hệ thống thông tin Trường có kết nối internet và hệ thống Wifi phủ sóng toàn trường phục vụ tốt các hoạt động giáo dục, hành chính 2.7. Quan hệ với cộng đồng Nhà trường luôn tạo mối quan hệ tốt với CMHS, nhân dân địa phương, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể của xã Phước Đồng nhằm góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục trong nhà trường, thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng CSVC trường học và xây dựng môi trường xã hội giáo dục học sinh. Nhà trường phối hợp với Ban đại diện CMHS tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học và các hoạt động giáo dục đạt hiệu quả, III. Nhiệm vụ và giải pháp 1. Phát triển hoạt động giáo dục 1.1. Phát triển giáo dục Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường về vai trò, vị trí và sự cần thiết phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của tập thể sư phạm đối với sự nghiệp phát triển nhà trường. Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa chính quyền và Công đoàn trong nhà trường. Tăng cường kiểm tra các hoạt động chuyên môn trong nhà trường. Đẩy mạnh hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý và công khai hóa, minh bạch hoạt động giáo dục của nhà trường. Tiếp tục triển khai các chuyên đề về đổi mới phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục “Lấy học sinh làm trung tâm”, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, chú trọng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, thực hiện kiểm tra đánh giá nhằm khắc phục những hạn chế sớm tạo ra được sự chuyển biến cụ thể về chất lượng giáo dục, hiệu quả đào tạo của nhà trường; Nâng cao chất lượng các hoạt động khám phá, trải nghiệm, thí nghiệm, ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức các hoạt động giáo dục. 1.2. Đảm bảo chất lượng 1.2.1. Các điều kiện đảm bảo chất lượng 1.2.1.1 Thể chế và chính sách: Xây dựng cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính và quy chế chi tiêu nội bộ theo hướng phát huy nội lực, khuyến khích phát triển cá nhân và tăng cường hợp tác với bên ngoài. Hoàn thiện hệ thống các quy định, quy chế về mọi hoạt động trong trường học mang tính đặc thù của trường đảm bảo sự thống nhất. Duy trì xây dựng và cụ thể hóa Quy chế dân chủ và Quy tắc ứng xử trong trường học, tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả. 1.2.1.2 Tổ chức bộ máy: Kiện toàn cơ cấu tổ chức, phân công bố trí lao động hợp lý, phát huy năng lực, sở trường của từng CB, GV, NV phù hợp với yêu cầu giảng dạy, công tác. Tiếp tục thực hiện phân cấp quản lý theo hướng tăng quyền chủ động cho các tổ chuyên môn trong trường. 1.2.1.3. Đổi mới quản lý và dạy học: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đội ngũ về yêu cầu đổi mới, thay đổi tư duy kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội. Hàng năm, mỗi cán bộ quản lý, giáo viên tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của bản thân trong công tác để từ đó xây dựng và có biện pháp phấn đấu thực hiện nhằm tạo uy tín, xây dựng thương hiệu cho bản thân mình. Từ kết quả kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên trong năm học qua, ngay từ đầu năm học mới, mỗi giáo viên tiếp tục xây dựng kế hoạch cá nhân thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình trường tiểu học mới trong năm học. BGH và tổ chuyên môn có kế hoạch tổ chức kiểm tra, ghi nhận, đánh giá mức độ, hiệu quả đổi mới ở từng thời điểm trong năm học nhằm đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời, nâng cao chất lượng giáo dục. Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên phải phù hợp với đối tượng học sinh, đặc điểm tình hình thực tế trên lớp. Giáo viên vận dụng sáng tạo, hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có để thực hiện các hoạt động đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục. Thực hiện dạy học và đánh giá kết quả dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình, chú trọng phát triển năng lực học sinh. Thực hiện Ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy: sử dụng các phần mềm hỗ trợ cho soạn giảng, nâng cao hiệu quả giờ dạy. Sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học sẵn có và tăng cường làm thêm ĐDDH để nâng cao hiệu quả giảng dạy, chuẩn bị chu đáo phương tiện hỗ trợ các hoạt động trong tiết dạy. 1.2.2. Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng 1.2.2.1 Quản lý hoạt động chuyên môn: Dự giờ, kiểm tra chuyên môn đảm bảo đánh giá, phản ảnh đúng năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, việc thực hiện quy chế chuyên môn của từng giáo viên. Tổ chức theo dõi, đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học đúng quy trình, có đủ cơ sở đánh giá đúng thực chất (hồ sơ minh chứng). Chỉ đạo giảng dạy và đánh giá học sinh theo chương trình GDPT 2018. Tổ chức phổ biến, quán triệt đến giáo viên việc thực hiện dạy học, đánh giá kết quả dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình, đánh giá học theo Thông tư 302014TTBGDĐT Thông tư 222016TTBGDĐT; TT 272020TTBGDĐT và tổ chức theo dõi, kiểm tra, tư vấn, hỗ trợ thường xuyên thông qua các hình thức dự giờ, kiểm tra chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn, ... Tổ chức chuyên đề, hội thảo chia sẻ, học tập thực hiện đổi mới phương pháp dạy, phương pháp học, phương pháp đánh giá học sinh, đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện theo yêu cầu. Tăng cường trật tự kỉ cương, xây dựng và củng cố nề nếp, thực hiện tốt quy chế dân chủ, bố trí sử dụng hợp lí đội ngũ, kịp thời giải quyết khiếu nại tố cáo, tránh để vượt cấp. kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế họach dạy học, thực hiện quy chế chuyên môn, đánh giá xếp lọai học sinh, tránh chạy theo bệnh thành tích. Chú trọng việc tổ chức các hoạt động chuyên môn như hội thảo, chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, phong trào thi đua Hai tốt, … tập
Trang 1Kiểm tra giữa kỳ môn quản lý quá trình dạy trong trong nhà trường
Đề bài:
Câu 1: Phân tích bản chất của quá trình dạy học? Từ đó, nêu ý nghĩa đối với cán bộ quản lý và giáo viên để thúc đẩy quá trình dạy học phát triển trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Câu 2 Liệt kê những điểm mới của chương trình GDPT 2018? Từ đó, chỉ
ra những tác động của chương trình GDPT 2018 đến các thành tố của quá trình dạy học trong nhà trường?
Câu 3 Anh(chị), tâm đắc với sự thay đổi nào của QTDH mà anh(chị) đã chỉ ra ở trên? Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp với đơn vị/nhà trường anh(chị) đang công tác
TRẢ LỜI
1 Khái niệm
* Dạy học:
Về phương diện xã hội - lịch sử, DH là kết quả của sự tái sản xuất và phát triển những giá trị xã hội và kinh nghiệm xã hội cơ bản, có chọn lọc, ở từng cá nhân thuộc nhũng thế hệ người học nhất định để thực hiện chức năng phát triển
cá nhân và cộng đồng
Về phương diện này, DH được chế định bởi các thể chế như: hệ tư tưởng
xã hội – chính trị, pháp luật, chính sách, chế độ kinh tế, nhu cầu học tập của dân cư, DH phụ thuộc chặt chẽ vào học chế , có tính gián đoạn và bị kiểm soát chặt chẽ và can thiêp dễ dàng từ bên ngoài.(VD)
Mục đích lý tưởng của DH ở phương diện này là giáo dục con người phát triển hài hòa, toàn diện cả về mặt tâm trí, thể chất, năng lực hoạt động thực tiễn (năng lực kỹ thuật tổng hợp, kỹ năng sống, kỹ năng xã hội- UNESSCO)
Nội dung tổng quát của DH là huấn luyện, bồi dưỡng , phát triển có định hướng các thành phần thực thể của con người: các chức năng cơ bản, thiết yếu của mỗi người như nhận thức, biểu đạt xúc cảm Thái độ, vận động thể chất và tâm lý, kinh nghiệm hành vi và hoạt động thực tiễn cần thiết để con người sống
Trang 2an toàn, khỏe mạnh, hạnh phúc, những nội dung này phản ánh các môi trường
và nhiệm vụ đặc thù của quá trình phát triển con người ở một cộng đồng xác định
mà không có ở bất kỳ cộng đồng nào khác
Phương thức tổng quát của dạy học là QTDH, tức là quá trình xã hội hóa cá nhân bằng các công cụ vật chất và tinh thần cụ thể, được hoạch định chặt chẽ bởi nhiều mặt, được tiến hành có hệ thống , có quy trình, có nguyên tắc và phương pháp nhất định
QTDH diễn ra trên cơ sở bản thể luận của nó là nội dung DH ND dạy học được cấu trúc bởi nhiều thành tố Dựa theo vai trò và chức năng chung có thể chia thành 5 thành tố: 1 Nội dung học vấn; 2 Các hoạt động và chủ thể của hoạt động;
3 Các nhân tố và tình huống Tâm lý, đạo đức, xã hội đặc biệt là nhu cầu dạy và học, động cơ dạy và học, ý chí, tình cảm của thầy và trò, ; 4 Các nguồn lực vật chất của dạy và học như sách, dụng cụ học tập, giảng dạy, cảnh quan sư phạm, các điều kiện vật lý, địa lý, ; 5 Các sản phẩm của dạy họ Thành tố này có chức năng quản lý là chính
Về phương diện tâm sinh lý, DH gắn liền với sự phát triển con người và xã hội, là hình thức phổ biến của sự phát triển cá nhân và cộng đồng Mỗi cá nhân trong xã hội phát triển dưới 2 hình thức: hình thức cá biệt, đặc thù của riêng anh
ta và hình thức phổ biến, chung cho cả thế hệ hoặc vài thế hệ người của một cộng đồng nhất định Hình thức thứ 2 được thực hiện thông qua DH DH quy đồng các phương thức phát triển khác nhau của cá nhân khác nhau trên những chuẩn mực chung, những thang giá trị chung, những bổn phận và lợi ích chung nhưng
nó không quy nhất tiến trình và thành tựu phát triển của những cá nhân này
DH có chức năng phát triển người, nó tác động đến trí tuệ, tình cảm, hoạt động và giá trị ở cá nhân Chức năng đó có tính hình thức: định hướng, tạo điều kiện, làm bộc lộ các tiềm năng DH muốn trở thành nguyên nhân thực sự của sự phát triển
cá nhân thì phải giúp cá nhân chuyển học vấn của mình thành nhu cầu và khả năng học độc lập, thành giá trị bên trong, thành hoạt động và ý chí tự giáo dục DH bắt buộc phải thông qua học tập mới thực hiện được chức năng phát triển Quy luật
Trang 3phỏ biến của mối quan hệ giữa dạy học và phát triển là hoạt động, sự phát triển của cá nhân phải phụ thuộc vào hoạt động của cá nhân Hoạt động chính là bản chất tâm lý sinh học của dạy học Do đó, trong dạy học quan tâm đến các hoạt động chủ đạo và hoạt động cơ bản của từng lứa tuổi.(VD: hoạt động nhận thức, giao tiếp, học tập, sinh hoạt, vui chơi, lao động nghề nghiệp, hoạt động xã hội, )
Về mặt sư phạm, bản chất của DH chính là gây ảnh hưởng có chủ định đến hành vi học tập và quá trình học tập của người khác, tạo ra môi trường và những điều kiện để người học duy trì hoạt động học, cải thiện hiệu quả và chất lượng hoạt dộng học,kiểm soát quá trình học tập của bản thân DH chính là cơ cấu và quy trình tác động đến người học và quá trình học Chủ thể dạy học là thầy giáo, nhà giáo hay bất kỳ người nào bảo ban người khác học Vì thế, dạy học tức là dạy, bảo, chỉ dẫn người khác học Điều đó có nghĩa là: dạy người khác muốn học, biết học, học lành mạnh, học bền bỉ, học thành công, học chủ động và độc lập(có khát vọng và ý chí tự giác học tập) Hoạt động của người học phụ thuộc vào hoạt động dạy học, do đó hoạt động dạy học tạo môi trường hoạt động cho trẻ
* Quá trình dạy học là quá trình xã hội được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, trong đó, dưới vai trò chủ đạo của người dạy, người học tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức nhằm hình thành hệ thống tri thức, kĩ năng – kĩ xảo, năng lực hoạt động trí tuệ; những cơ sở của thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và các phẩm chất cần thiết của con người mới
Quá trình dạy học là quá trình bộ phận của quá trình giáo dục (theo nghĩa rộng)/quá trình sư phạm tổng thể, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển mặt năng lực trong nhân cách, qua đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho con người Quá trình dạy học là quá trình phức tạp bao gồm nhiều thành tố tương tác với nhau và có mối liên hệ chặt chẽ
Theo quan điểm của Lý luận dạy học hiện đại, qúa trình dạy học được xem
là một hệ thống những hành động liên tiếp và thâm nhập lẫn nhau của người dạy
và người học dưới sự hướng dẫn, điều khiển của người dạy nhằm đạt được mục đích dạy học và qua đó phát triển nhân cách của người học
Trang 4“Dạy học là quá trình hoạt động hai mặt do thầy giáo (dạy) và học sinh (học) thực hiện nhằm đạt được mục đích dạy học Nhiệm vụ dạy học trong nhà trường không chỉ đảm bảo một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần hình thành nhân cách con người của xã hội cộng sản chủ nghĩa”.(Bách khoa Giáo dục học – Maxcơva)
Trong quá trình họat động chung đó, người dạy đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh giúp họ tự khám phá ra tri thức Ngoài ra, giáo viên còn có chức năng cung cấp cho người học tri thức khi cần thiết Chức năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộ quá trình dạy Giáoviên với vai trò chính của mình giúp học sinh sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm mà họ thu thập được qua các kênh khác nhau, kết hợp với tri thức giáo viên cung cấp để tạo nên sự hiểu biết của bản thân mình (kiến tạo-constructivisme)
2 Bản chất của quá trình dạy học
* Cơ sở nhận diện:
- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức của loài người (đặc trưng là hoạt động nhận thức của nhà khoa học) và hoạt động dạy học (đặc trưng là nhận thức của học sinh)
- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS
Theo lý luận dạy-học hiện đại hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ, thể hiện ở sự tương tác giữa các thành tố: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PP (Dạy và học) Mối quan hệ dạy của thầy và học của trò thực chất là mối quan hệ điều khiển: thông qua sự tác động sư phạm của mình, người dạy tổ chức, điều khiển hoạt động của người học Nói cách khác:
Hoạt động dạy học là hoạt động mà trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người dạy làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức,
tự điều khiển hoạt động nhận thức-học tập của mình nhằm đạt mục tiêu đề ra
Theo Giáo dục học : “Hoạt động dạy học là một phần trong QT tổng thể giáo dục nhân cách toàn diện cho HS, là những tác động qua lại giữa GV và HS
Trang 5nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, kĩ năng và kĩ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phát triển các phẩm chất của nhân cách người học theo mục đích giáo dục
Theo góc độ Tâm lý học, dạy học được hiểu là sự biến đổi hợp lí hoạt động
và hành vi của người học trên cơ sở cộng tác hoạt động và hành vi của người dạy
và người học
Theo lý thuyết Điều khiển học, dạy học là QT cộng tác giữa thầy và trò nhằm điều khiển-truyền đạt và tự điều khiển-lĩnh hội tri thức nhân loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục
Quá trình dạy học về bản chất là quá trình lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học (là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên) Trong tổ chức, điều khiển hoạt động học của người học, một mặt giáo viên phải tuân theo các quy luật hoạt động nhận thức chung của của loài người, mặt khác phải quan tâm đến đặc điểm phát triển năng lực nhận thức của học sinh theo từng lứa tuổi để lãnh đạo, tổ chức điều khiển quá trình dạy học đạt hiệu quả
Để đạt hiệu quả cao trong quản lý hoạt động dạy học, tổ chức, chỉ đạo hoạt động dạy học trong nhà trường, cán bộ quản lý cần nắm vững bản chất của quá trình dạy học để phát huy vai trò người dạy và người học, định hướng và thúc đẩy
mối quan hệ giữa dạy và học nhằm đạt tới mục đích dạy học
* Ý nghĩa đối với cán bộ quản lý và giáo viên để thúc đẩy quá trình dạy học phát triển trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Thứ nhất: Qua việc nắm bắt được bản chất của quá trình dạy học, hiểu được vai trò, nguyên tắc trong quá trình dạy học, giúp cho cán bộ quản lý, giáo viên xác định rõ vị trí, vai trò, giáo dục cao nhất
Giáo viên không phải là người truyền đạt một chiều mà thiết kế các hoạt động sao cho để học sinh có thể trải nghiệm, tìm hiểu, tiếp nhận kiến thức, giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh
Trang 6giúp họ tự khám phá ra tri thức Ngoài ra, giáo viên còn có chức năng cung cấp cho người học tri thức khi cần thiết Chức năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộ quá trình dạy Giáo viên với vai trò chính của mình giúp học sinh sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm mà họ thu thập được qua các kênh khác nhau, kết hợp với tri thức giáo viên cung cấp để tạo nên sự hiểu biết của bản thân mình (kiến tạo-constructivisme)
- Giáo viên tổ chức hoạt động giữa thầy và trò – “Tương tác” nhà giáo và hoạt động dạy học của họ phải phát động được và tổ chức các dạng tương tác khác nhau giữa người học và nội dung dạy học, giữa người học với nhau và với thầy, giữa các hình thức học tập và giao tiếp Hạn chế tính 1 chiều trong trong quan hệ dạy học, phát huy tối đa các cơ hội hoạt động của người học
- Tạo được sự “Tham gia”- hoạt động dạy học phải có tác dụng động viên, khuyến khích người học chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, sao cho nỗ lực của mỗi người đều góp công vào mục tiêu và kết quả học tập chung Việc đạt được kết quả chung cũng chính là điều kiên để đảm bảo cho mỗi người thành công trong học tập Trí tuệ chung, ý chí chung, tình cảm chung được vun đắp trên
cơ sở tham gia của mỗi người sẽ trở thành chỗ dựa, thành sức mạnh gấp bội của mỗi người
- Tính có vấn đề của DH- tình huống có vấn đề của dạy học do nhà giáo tạo
ra phải có giá trị đối với người học, phải có liên hệ với kinh nghiệm và giá trị cá nhân của họ từ đó thúc đẩy họ hoạt động trí tuệ và thực hành Nếu không có tính vấn đề trong dạy học thì DH sẽ làm giảm tính tích cực của người học
Nội dung dạy học là điểm xuất phát của dạy và lại là điểm kết thúc của học Quá trình dạy học là hoạt động cộng đồng hợp tác giữa các chủ thể: thầy - cá thể trò, trò - trò trong nhóm, thầy - nhóm trò Sự tương tác theo kiểu cộng đồng hợp tác giữa dạy và học là yếu tố duy trì và phát triển sự thống nhất toàn vẹn của quá trình dạy học, nghĩa là của chất lượng dạy học Dạy tốt, học tốt chính là bảo đảm được ba phép biện chứng (ba sự thống nhất) nói trên trong hoạt động cộng tác Đó
là sự thống nhất của điều khiển, bị điều khiển và tự điểu khiển, có sự đảm bảo liên
Trang 7hệ nghịch thường xuyên bền vững Cái khác nhau của các quan niệm dạy học nằm
ở chỗ đã nhấn mạnh hơn yếu tố nào trong các chức năng của dạy và học
Ngược lại theo quan niệm về việc dạy học, người ta rất coi trọng yếu tố điều khiển sư phạm của giáo viên, ở đây vai trò của giáo viên đã có sự thay đổi, người giáo viên phải biết gợi mở, hướng dẫn, dạy cho người học cách tìm kiếm
và xử lí thông tin, từ đó vận dụng chúng Muốn được như vậy cần coi trọng môi trường cộng tác giữa việc dạy và việc học và người học phải biết tự điều khiển quá trình nhận thức của mình thông qua việc tích cực, chủ động, tự lực chiếm lĩnh lấy nội dung học với sự hỗ trợ của người dạy Trong hoạt động học, người ta đã thấy được tính thống nhất của hai chức năng vừa thu nhận kiến thức vừa kết hợp với sự tự điều khiển kiến thức của mình Để hoạt động học thu được kết quả tốt người học không chỉ thu nhận kiến thức mới mà còn phải tích cực, tự điều khiển nhận thức của mình, tức là người học phải tích cức, chủ động, sáng taọ tìm tòi kiến thức mới Có như vậy thì quá trình tự thu nhận kiến thức của người học mới thu được kết quả cao nhất Và hoạt động học sẽ diễn ra một cách tích cực
Thứ hai, qua việc truyền thụ kiến thức bằng việc xây dựng có mục đích, có
kế hoạch giúp học sinh giúp giáo viên khám phá, tái tạo lại trí thức của nhân loại, cũng cố, vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tạo thành tài sản tri thức của riêng mình
Thứ ba, người cán bộ quản lý biết tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp, hình thức nhằm đáp ứng yêu cầu phương pháp dạy học hiện nay
Thứ tư, CBQL quan tâm tạo điều kiện để giáo viên học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trang bị các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dyaj học, đáp ứng yêu cầu tổ chức hoạt động dạy học trong nhà trường./
Đề bài:
1 Liệt kê những điểm mới của chương trình GDPT 2018? Từ đó, chỉ ra những tác động của chương trình GDPT 2018 đến các thành tố của quá trình dạy học trong nhà trường?
Trang 82 Anh(chị), tâm đắc với sự thay đổi nào của QTDH mà anh(chị) đã chỉ ra
ở trên? Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp với đơn vị/nhà trường anh(chị) đang công tác
TRẢ LỜI
Câu 1: Những điểm mới của chương trình giáo dục phổ thông 2018 và tác động đến các thành tố của quá trình dạy học trong nhà trường
Một số điểm mới của chương trình có thể kể đến là:
- Chương trình được xây dựng theo tiếp cận năng lực
- Chương trình thể hiện giáo dục tích hợp
- Giáo dục phân hóa định hướng nghề nghiệp
- Chương trình GDPT được cấu trúc thành 2 giai đoạn: cơ bản và định hướng nghề nghiệp
- Chương trình mở
Với những điểm mới này, quá trình dạy học trong nhà trường cần được tổ chức theo định hướng phát triển năng lực người học Từ đó đặt ra những vấn đề là:
Về Mục tiêu dạy học
Theo định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học cần xác định được những yêu cầu năng lực và cụ thể hóa các năng lực cần hình thành cho học sinh trong chương trình giáo dục nhà trường và chương trình dạy học của từng môn học, bài học
Đối với chương trình xây dựng theo tiếp cận năng lực nhằm phát triển phẩm chất và năng lực người học Đó là là cách tiếp cận nêu rõ học sinh sẽ làm được gì
và làm như thế nào vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường
Cách tiếp cận này cũng đòi hỏi HS nắm vững những kiến thức, kĩ năng cơ bản nhưng còn chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành, giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống; tính chất và kết quả hoạt động cũng phụ thuộc rất nhiều vào hứng thú, niềm tin, đạo đức… của người học
Sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận này sẽ chi phối và bắt buộc tất cả các khâu của quá trình dạy học thay đổi: nội dung, phương pháp, phương tiện,
Trang 9hình thức tổ chức, cách kiểm tra, đánh giá, thi cử; cách thức quản lý và thực hiện… nhằm tạo ra sự thay đổi căn bản về chất lượng giáo dục
Năng lực bao gồm năng lực chung (NLC) và năng lực đặc thù môn học (NLĐT)
Năng lực chung được hình thành và phát triển thông qua tất cả các lĩnh vực học tập, hoạt động giáo dục; NLĐT môn học được hình thành và phát triển thông qua lĩnh vực học tập, môn học tương ứng Năng lực chung (trong CTGD của một số nước gọi là năng lực cốt lõi hay năng lực xuyên CT) là những năng lực cơ bản, thiết yếu mà ai cũng cần có để đảm bảo thành công trong cuộc sống, học tập và làm việc Nội dung dạy học
Theo định hướng phát triển năng lực, nội dung dạy học phải được phải đảm bảo tính tích hợp và phân hóa, xây dựng theo hướng phát triển năng lực học sinh Trong đó:
Dạy học tích hợp giúp học sinh nhận biết hoặc giải quyết vấn đề bằng cách huy động tổng hợp các kiến thức và kĩ năng từ nhiều lĩnh vực khác nhau Dạy học tích hợp giúp cho việc học tập của học sinh gắn liền với thực tiễn hơn, giúp học sinh phát triển các phẩm chất và năng lực cần thiết
Theo quan điểm tích hợp, các kiến thức liên quan với nhau sẽ được lồng ghép vào cùng một môn học nên tránh được sự trùng lặp không cần thiết về nội dung giữa các môn học và vì vậy số lượng môn học và thời lượng học tập sẽ giảm bớt… Tinh thần đổi mới giáo dục phổ thông nhấn mạnhtích hợp mạnh ở các lớp học dưới và phân hoá dần ở các lớp học trên; yêu cầu tích hợp được thể hiện cả trong mục tiêu, nội dung, phương pháp và thi, kiểm tra, đánh giá giáo dục
Khó khăn, thách thức đối với dạy học trong các nhà trường hiện nay là : hạn chế về kinh nghiệm xây dựng CT, biên soạn SGK và hướng dẫn dạy học theo hướng tích hợp (đặc biệt là phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo yêu cầu tích hợp); Cần có sự thay đổi nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý về ý nghĩa của dạy học tích hợp, vận dụng một số kỹ thuật và phương pháp dạy học để bảo đảm yêu cầu của dạy học tích hợp
Trang 10Dạy học phân hóa
Phân hóa trong dạy học (hay dạy học phân hóa) là định hướng dạy học bảo đảm sự phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau (về hoàn cảnh, đặc điểm tâm – sinh lý, khả năng, nhu cầu và hứng thú, sở thích cá nhân), nhằm phát triển tối đa điều kiện và tiềm năng của mỗi học sinh Phân hóa để đáp ứng yêu cầu phân công lao động trong xã hội, cung cấp nguồn nhân lực cho thị trường lao động, nguồn học sinh cho giáo dục đại học, cao đẳng cũng như các trường nghề đáp ứng được yêu cầu đào tạo chuyên sâu về một lĩnh vực khoa học hoặc ngành nghề chuyên biệt
Có các dạng dạy học phân hóa sau:
a) Phân hóa trong (còn gọi là phân hóa vi mô) là cách dạy học chú ý tới các đối tượng riêng biệt, cá nhân hóa người học trên lớp, phù hợp với từng đối tượng
để tăng hiệu quả dạy học,phân hóa trong được thực hiện chủ yếu thông qua phương pháp dạy học
b) Phân hóa ngoài (còn gọi là phân hóa vĩ mô) là cách dạy theo các CT khác nhau cho các nhóm người học khác nhau nhằm đáp ứng được nhu cầu, sở thích
và năng lực của từng nhóm người học
Phân hóa ngoài được thực hiện chủ yếu thông qua việc thiết kế nội dung khác nhau của các CT môn học Có thể thực hiện dạy học phân hóa theo hướng tổ chức các nhóm học tập cùng trình độ (khá – giỏi – trung bình – yếu), hoặc các câu lạc bộ học tập theo năng khiếu môn học… Ở quy mô quốc gia, việc tổ chức dạy học theo các ban “tự nhiên”, “xã hội” và “cơ bản” cũng là một hình thức phân hóa
Về Phương pháp dạy học
Đổi mới và vận dụng linh hoạt các phương pháp đảm bảo tích cực hóa hoạt động học sinh, tăng tính trải nghiệm, thực hành, vận dụng
4 Về hình thức tổ chức dạy học
5 Về vai trò của Giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học:
Giáo viên là người định hướng, tổ chức, điều khiển học sinh khám phá tri thức