1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát truyện cổ dân tộc chăm

284 252 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 284
Dung lượng 11,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, mục đích chính của đề tài là tập hợp, phân loại, hệ thống, đưa ra những nhận xét bước đầu về diện mạo các thể loại tự sự dân gian Chăm và phần nào cắt nghĩa hệ thống ấy về mặt l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH

NGUYỄN THỊ THU VÂN

KHẢO SÁT TRUYỆN CỔ

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 5.04.33

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS CHU XUÂN DIÊN

THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH – 2005

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

9T

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

9TTác giả luận án

9T

Ngu yễn Thị Thu Vân

Trang 3

1.2.2 Thần thoại99T 3899T

1.2.3 Truyền thuyết99T 4099T

1.2.4 Truyện cổ tích99T 4299T

CHƯƠNG 2: ĐỀ TÀI - CỐT TRUYỆN VÀ MOTIF TRONG THẦN THOẠI

2.1.2 Các motif tiêu biểu99T 4899T

2.2 Truyền thuyết99T 62

99T

2.2.1 Đề tài - cốt truyện99T 6299T

2.2.2 Các motif tiêu biểu99T 7299T

CHƯƠNG 3: ĐỀ TÀI - CỐT TRUYỆN VÀ MOTIF TRONG CỔ TÍCH THẦN

Trang 5

là nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhiều thế hệ mai sau Vương quốc Champa không còn tồn tại, song vẫn còn đó tộc người Chăm và nền văn hóa Chăm thấm đẫm một bản sắc độc đáo đang còn chìm khuất dưới rất nhiều lớp trầm tích Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ Chăm nhưng những công trình dành cho văn học Chăm nói chung và văn học dân gian Chăm nói riêng hãy còn ít Văn học dân gian Chăm là một bộ phận của văn hóa dân gian Chăm, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của truyện cổ dân gian Trong một chừng mực nào đó, truyện cổ dân gian là lịch sử, là văn hóa,

là bản sắc của từng dân tộc Tình hình nghiên cứu hiện nay đối với loại tài liệu lịch sử - văn hóa Chăm này chưa tương xứng với giá trị của nó, có lẽ một phần do cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu chưa thích đáng

6T

Vấn đề đặt ra là công tác nghiên cứu truyện cổ dân gian Chăm phải được quy hoạch một cách khoa học Ngay từ đầu kho tàng truyện cổ dân gian Chăm phải được tập hợp, hệ thống hóa, phân loại, đánh giá; trên cơ sở đó, đi đến một cái nhìn tổng quát để điều chỉnh,

bổ sung và tiến tới đi sâu vào các mặt Đề tài này được chúng tôi đặt ra trên cơ sở nhận thức trên Theo đó, mục đích chính của đề tài là tập hợp, phân loại, hệ thống, đưa ra những nhận xét bước đầu về diện mạo các thể loại tự sự dân gian Chăm và phần nào cắt nghĩa hệ thống

ấy về mặt lịch sử - văn hóa - xã hội, nhằm tìm ra một số nét tương đồng và dị biệt giữa truyện cổ Chăm với truyện cổ của các nước trong khu vực Đông Nam Á và truyện cổ Ấn

Độ

2 Ý nghĩa khoa học của đề tài

6T

Để thực hiện đề tài, chứng tôi chọn cách tiếp cận truyện cổ dân gian Chăm dưới góc

độ đề tài - cốt truyện - motif Đối với truyện cổ Chăm nói riêng cũng như truyện cổ của mỗi một dân tộc ở Việt Nam nói chung, việc nghiên cứu theo góc độ trên là cần thiết Hướng đi

Trang 6

này sẽ tạo được một góc nhìn tổng hợp để từ đó có thể đối chiếu, so sánh, rút ra được những sắc thái riêng của truyện cổ dân gian Chăm so với truyện cổ của các dân tộc anh em khác Cách nghiên cứu này sẽ có thể mở rộng sự so sánh tới nhiều nền văn hóa liên quan, đề xuất những giả thiết khoa học về các vấn đề nguồn gốc và diễn biến lịch sử của các motif hay các

đề tài - cốt truyện Việc nghiên cứu như vậy còn giúp chúng ta có cơ sở để so sánh truyện kể dân gian theo nhiều cấp độ: giữa các dân tộc trong một nước, giữa nước này với nước khác, giữa các nước trong cùng một khu vực văn hóa và rộng hơn là cả thế giới Khi nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian, việc mở rộng tư liệu ra nhiều dân tộc cho ta cơ sở để hiểu rõ hơn những tư liệu mà ta đang có về một tộc người, từ đó mới có thể đi đến những kết luận xác đáng và thuyết phục

6T

Trong luận án này, chúng tôi chưa có tham vọng đạt tới những mục đích nghiên cứu như vậy, mà chỉ mới thử đóng góp một cơ sở cho việc nghiên cứu theo những hướng trên Chứng tôi thử đưa ra một bảng tóm tắt chưa đầy đủ các cốt truyện và các motif chính trong truyện cổ Chăm

3 L ịch sử nghiên cứu truyện cổ Chăm

3.1 V ề tình hình sưu tầm truyện cổ dân gian Chăm

6T

So 6T7Tvới các thể 6T7Tloại 6T7Tvăn học dân gian khác, lịch sử sưu 6T7Ttầm 6T7Ttruyện cổ 6T7Tdân gian Chăm có

bề dày hơn cả Từ thế kỷ XIV, Trần Thế Pháp đã sưu tầm và đưa vào 6T18TLĩnh Nam chích quái

Trang 7

tại Pháp, Leclère cũng cho công bố văn bản truyện 6T16TChiếc giày vàng 6T16Tmà ông gọi là "Truyện

Lọ Lem của người Chăm"

6T

Sang thế kỉ XX việc sưu tầm, biên soạn và giới thiệu truyện cổ Chăm gia tăng rõ rệt Ở miền Nam trước 1975, Trung tâm Văn hóa Chăm do linh mục Moussay phụ trách có sưu tầm ba truyện cổ tích Chăm, in trong tập 6T18TKhảo lục nguyên cảo Chàm 6T18TRải rác trên các tạp chí 6T18TBách khoa, Văn hóa nguyệt san, Văn đàn, Phương Đông, Phổ thông 6T18Tcó đăng các truyện cổ Chăm do các học giả quan tâm đến vấn đề này như Bố Thuận, Nguyễn Khắc Ngữ,

Dã Tường Vy, Mãn Khánh Dương Kỵ, Jaya Panrang, PariChàm, Vũ Lang sưu tầm, chép lại Tuy vậy, số lượng đơn vị truyện sưu6T7T 6T7Ttầm chưa nhiều Loại truyện có tần số xuất hiện nhiều hơn cả là dạng truyện Tấm Cám của người Chăm (6T16TChiếc giày vàng, Hai nàng Hu-lé

và Dong, Kajong và Halek.,.), 6T16Ttruyền thuyết về các vị thần được người Chăm thờ cúng 6T16T(Po Nưgar, Po Klaong Girai, Po Romé16T25T, ) Ở 6T25Tmiền Bắc, trong bộ 6T18TKho tàng truyện cổ tích Việt Nam, 6T18TNguyễn Đổng Chi có đưa vào phần khảo dị 20 truyện cổ tích của dân tộc Chăm

6T

Từ năm 1975 đến nay, việc sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu văn học dân gian Chăm mới có điều kiện tiến hành một cách thấu đáo hơn Ở Phan Rang - Ninh Thuận đã thành lập lại Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm trên nền đất cũ Công việc bước đầu đã được tiến hành theo một quy trình 6T7Tkhoa học: điều tra, 6T7Tsưu6T7Ttầm, biên soạn, xuất bản, nghiên cứu, bảo

quản 6T7TĐấy là những dấu hiệu tích cực, tạo một bước chuyển trong công việc khôi phục lại điện mạo văn hóa dân gian Chăm

Ty Văn hóa Thông tin Thuận Hải, 1982), 6T18TTrái tim nàng Palí 6T18T(Đỗ Kim Ngư, Nguyễn Hữu Dũng sưu tầm và biên soạn, Hội Văn nghệ Thuận Hải xuất bản, 1986), 6T18TTruyện cổ Chăm

6T18T

(Phạm Xuân Thông sưu tầm và biên soạn, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1986), 6T18TTruyện

cổ Chăm 6T18T(Trịnh Hồng Lan, Nguyễn Thị Tư, Anh Đức sưu6T7T 6T7Ttầm, Sở Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1986), 6T18TNàng bàn tay 6T18T(Hồ Phú Diên, Đỗ Kim Ngư sưu6T7T 6T7Ttầm và biên soạn, Hội Văn nghệ Thuận Hải xuất bản 1987), 6T18TBò thần Kapin 6T18T(Đỗ Kim Ngư sưu6T7T 6T7Ttầm và biên soạn, Hội Văn nghệ Thuận Hải xuất bản, 1988), 6T18THoa Bơ-nga chơ-re 6T18T(Nxb Kim Đồng, 1987), 6T18TNữ thần Pô Nagar 6T18T(Trần Việt Kỉnh sưu6T7T 6T7Ttầm và biên soạn, Nxb Văn hóa dân tộc,

Trang 8

1989), 6T18TChàng Rắn 6T18T(Đỗ Kim Ngư biên soạn, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1993) Gần đây nhất có cuốn 6T18TTruyện cổ dân gian Chăm 6T18T(Trương Hiến Mai - Nguyễn Thị Bạch Cúc -

Sử Văn Ngọc - Trương Tốn dịch, biên soạn, tuyển chọn) do Nxb Văn hóa dân tộc phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm - Ninh Thuận xuất bản năm 2000

3.2 V ề tình hình nghiên cứu

6T

Cho đến nay số lượng truyện sưu tầm được, kể cả những dị bản, có khoảng trên 100 đơn vị truyện với đầy đủ các thể loại Điều đó cho phép ta bước đầu hình dung bộ mặt phong phú, đa dạng của truyện cổ Chăm Thế nhưng, cho đến nay, hầu như chưa có một công trình nghiến cứu nào đề cập đến truyện cổ Chăm nói chung một cách cụ thể và toàn diện, nhìn đối tượng trong trường khảo sát có tính hệ thống và bao quát Truyện cổ Chăm tới giờ chỉ được nghiên cứu từng vấn đề riêng lẻ ở các bài đăng rải rác trên một số tờ báo chuyên ngành Nhìn chung, các tác giả đã khảo sát truyện cổ Chăm theo một số hướng chính sau đây:

- 6TNhận định chung giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện cổ Chăm

- 6TNghiên cứu so sánh truyện cổ Chăm và truyện cổ Việt

- 6TNghiên cứu một kiểu truyện, một motif hay một nhóm truyện

6T

Trong các công trình nghiên cứu về truyện cổ Chăm, ta luôn nhận thấy lòng ngưỡng

mộ 6T16T"một dân tộc tài ba đã từng có một nền văn minh khá cao trong bao nhiêu thế kỉ trên dải đất Đông Dương này" 6T16T[81, tr.748] Nhiều học giả đánh giá cao hình thức và nội dung truyện

cổ Chăm, cho rằng nó có tính nghệ thuật, "có 6T16Tcốt truyện cầu kỳ, có những gút thắt kép"

16T6T

và thể hiện rõ rệt 6T16T"tính chất đặc biệt của dân tộc" 6T16T[86, tr 50] Vũ Lang cho rằng: 6T16T"truyện cổ

khuôn đạo đức nào nên mang nhiều mầu sắc văn nghệ" 6T16T[86, tr.52] Việc nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa nền văn hóa Việt và văn hóa Chăm thông qua mảng truyện cổ dân gian cũng đã được đặt ra từ lâu So sánh truyện 6T16TVua bếp (Chăm) 6T16Tvới 6T16Tông táo ( Việt), 6T16Ttruyện 6T16TNai krao Chao Phò 6T16T(Chăm) với 6T16THòn Vọng phu 6T16T(Việt), Vũ Lang [86] đã đưa ra những kiến giải

về ảnh hưởng qua lại của hai nền văn hóa Nguyễn Khắc Ngữ trong bài viết 6T16TMột giả thiết về truyện Tấm Cám 6T16Tđăng trên tạp chí 6T18TVăn hóa nguyệt san 6T18Tnăm 1959, khi trình bày về sự giao lưu của văn hóa Chiêm Thành với văn hóa Việt, đã dừng lại phân tích khá kỹ lưỡng truyện 6T16T

Hai nàng Hu-lé và Dong 6T16T(Chăm) với truyện 6T16TTấm Cám 6T16T(Việt) Nêu ra những chi tiết giống

Trang 9

nhau căn bản của hai truyện, nhà nghiên cứu cho rằng: 6T16T"Không thể bảo là hai nước này cùng nảy ra cổ tích đó và không nước nào mượn của nước nào" 6T16T[119, tr 1103] Xuất phát

từ các đặc tính của truyện Chiêm Thành và đặc tính của truyện cổ Việt có liên quan về mặt đạo đức, triết lý sống khác nhau của hai dân tộc, Nguyễn Khắc Ngữ đưa ra giả thuyết là truyện 6T16TTấm Cám 6T16Tcó nguồn gốc từ Chiêm Thành, đã được người Việt 6T16T"thay đổi ít nhiều cho phù hợp với phong tục và tập quán của họ" 6T16T[119, tr 1103] Sự hội nhập của văn hóa Việt - Chăm được nhiều nhà nghiên cứu khác khẳng định như Phan Đăng Nhật (1976) với bài 6T16TSự gắn bó Việt - Chăm qua một số truyện dân gian, 6T16TLê Văn Hảo (1979) với bài 6T16TTì m hiểu quan

hệ giao lưu văn hóa Việt - Chàm qua kho tàng văn nghệ dân gian của người Việt và người Chàm 6T16TĐáng lưu ý hơn cả là bài viết của Phan Đăng Nhật, ông đã so sánh một số truyện cổ Chăm và truyện cổ Việt tiêu biểu như 6T16TSọ Dừa, Dạ thoa vương, Thạch Sanh, Bánh chưng

rằng, ở đây 6T16T"không chỉ có sự gặp gỡ về cấu trúc truyện mà còn có sự đồng dạng ở thành

ph ần cụ thể có tính chất cơ bản cấu tạo đặc trưng của truyện.6T16T" [125, tr 52] Hơn thế, ông còn đưa ra nhận xét rằng các truyện cổ được khảo sát trên còn chứng tỏ sự giống nhau ở phạm vi ngoài văn học Đó là sự giống nhau về phong tục, về thế giới quan cổ, về tín ngưỡng thờ cúng, quan niệm triết lý sống: 6T16T"Như vậy là hai dân tộc Việt - Chàm đều ca ngợi

và tôn vinh một nhân vật huyền thoại anh hùng khai sáng văn hóa, cùng sử dụng chung một motif quen thuộc bắt nguồn từ một quan niệm cổ xưa về quan hệ cây - người.6T16T" [125, tr 53] Cuối cùng, ông đi đến kết luận rằng thông qua một số truyện tiêu biểu của hai dân tộc, có thể thấy 6T16T"những 8T16Tmối dây liên hệ không chỉ ở cấu trúc đại cương khái quát, mà cả ở những chất liệu chi tiết cụ thể, đặc thù, và thuộc về những lớp lịch sử văn hóa ở những thời gian xa xưa." 8T9TTheo ông, đó là 8T9T"những dấu hiệu chứng tỏ trong nền văn hóa dân tộc, từ xa xưa đã

có những mối giao lưu gắn bó mật thiết, bền chặt, sâu xa." 8T9T[125, tr 53] Tạp chí 9T16TVăn học

9T16T

số 6-1979 có đăng một bài viết khá lý thú tiếp tục vấn đề đã được gợi mở này, đó là bài 8T9TQuá trình chuyển hóa từ Pô I-nư Nư-ga (Chàm) đến Thiên y a na (Việt) 8T9Tcủa Văn Đình

tác giả bài viết đi đến những kết luận có tính chất khẳng định quan điểm của Phan Đăng Nhật Tuy nhiên cũng cần lưu ý: thông qua hai bài viết này, ta thấy trong thực

tế có nhiều truyện cổ dân gian Việt - Chăm qua quá trình giao lưu, đã hòa trộn vào nhau đôi khi rất khó phân biệt Đề tài này còn được một số tác giả khác tiếp tục nghiên cứu, ví dụ như Nguyễn Đức Toàn (1998) với 8T9TTục thờ Po Nưgar của người

Trang 10

Chăm tương quan tín ngưỡng với thờ nữ thần tại Việt Nam, 8T9Thay như Hồ 8T9TQuốc 8T9THùng (1999) với 8T9TThử nhận diện dấu vết tín ngưỡng Chăm qua nhóm truyện cổ người Việt ở Thuận Hóa

Việc nghiên cứu truyện cổ Chăm còn tìm thấy những kiến giải mới mẻ, lý thú

và đầy sức thuyết phục trong việc tiếp cận đối tượng bằng hệ thống type - motif Hướng tiếp cận này giúp ta dễ dàng hơn trong việc mở rộng tìm hiểu đặc điểm

truyện cổ Chăm xét chung trong mối tương quan 6T9Tvới văn hóa cả khu vực Đông Nam Á

6T

Đáng chú ý hơn cả là những bài viết của giáo sư Nguyễn Tấn Đắc về kiểu truyện Tấm Cám của người Chăm Đó là các bài:

Nam Á 6T16T(Tạp chí 6T18TVăn hóa dân gian 6T18Tsố 3, 1994)

- 16TĐọc lại truyện Tấm Cám (16T18TTập san Khoa học 6T18Ttrường Đại học Tổng hợp thành phố

Hồ Chí Minh, số 2, 1995)

- 16TMối giao lưu và tương tác văn hóa giữa các dân tộc ở Đông Nam Á qua kiểu truyện kể Tấm Cám 6T16T(Tạp chí 6T18TVăn học 6T18Tsố 6, 1996)

Trang 11

mối ảnh hưởng qua lại của các dân tộc khác nhau nhưng cùng chung sống trong một khu vực, một cơ tầng văn hóa Bác bỏ một số cách giải thích ý nghĩa xã hội của một

số hiện tượng, giáo sư cho rằng việc nghiên cứu truyện cổ theo xu hướng này đã 8T9T

"gợi cho thấy rằng việc tìm hiểu kết cấu nội tại, những motif cơ bản của truyện kể là quan trọng hơn những giải thích vội vàng về ý nghĩa xã hội của nó 8T9T" [22, tr 33]

9T

Trên đây là một số nét sơ lược tình hình sưu tầm và nghiên cứu truyện cổ Chăm từ trước đến nay Còn 9T10Trất 9T10Tnhiều việc cần phải làm ở mảng truyện cổ này để có một cái nhìn tổng quan và thấu đáo hơn về đối tượng Cần phải tiếp tục sưu9T11T 9T11Ttầm, biên soạn, xuất bản, lưu trữ và nghiên cứu truyện cổ Chăm Trong quá trình làm luận án, chúng tôi có thu thập thêm tài liệu ở vùng Ninh Thuận, Bình Thuận là nơi người Chăm sống tập trung đông và đã tìm thêm được một số truyện cổ Chăm chưa được dịch ra tiếng Việt cùng với một số dị bản các truyện đã được dịch

9T

Xây dựng công trình của mình, chúng tôi luôn xem những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước là cơ sở mang tính định hướng Tiếp thu những thành tựu đó, chúng tôi sẽ đi sâu và mở rộng thêm vấn đề nhằm tái hiện bộ mặt truyện cổ Chăm một cách hoàn chỉnh hơn Trước đây, chúng tôi cũng đã thực hiện luận văn cao học với đề tài "Bước đầu khảo sát truyện cổ Chăm" do PGS Chu Xuân Diên hướng dẫn, đó cũng là những cơ sở giúp chúng tôi thực hiện đề tài này

4 Phạm vi đề tài

6T

Truyện dân gian bao gồm các thể loại sau: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn Nhưng trong luận án, do điều kiện chưa cho phép, chúng tôi chỉ khảo sát ba thể loại: thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích thần kì

6T

Theo tác giả Sakaya (Văn Món, Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm Ninh Thuận) [98, tr 50-51], các tác phẩm nổi tiếng của người Chăm có 4 thể loại:

Trang 12

- 6TThể loại Dulikal thường là truyện kể bằng văn xuôi

- 6TThể loại Damnưi thường là những truyền thuyết, những bài ca lịch sử của các nhân vật anh hùng được viết bằng văn xuôi hoặc bằng thơ (ariya)

- 6TThể loại Ariya thường ngâm bằng thơ

- 6TThể loại Akayet thường kể bằng thơ (ariya) hoặc bằng văn xuôi

6T

Đối chiếu với cách phân loại trên thì đối tượng khảo sát của luận án là các văn bản truyện cổ Chăm đã được 6T9Tsưu6T9Ttầm, tuyển chọn, dịch và giới thiệu tương ứng với hai thể loại

3 đơn vị truyện thần thoại, 6 đơn vị truyện truyền thuyết và 72 đơn vị truyện cổ tích thần kì Những đơn vị truyện dân gian này chúng tôi thu thập từ các nguồn sau:

- 6TMười một tuyển tập truyện cổ Chăm mà chúng tôi đã nhắc đến trong phần lịch sử vấn đề (thống kê ở6T16T 6T16TPhụ lục 1)

- 6TCác truyện đăng rải rác trên các báo, tập san, và các tuyển tập 6T9Ttruyện cổ khác (thống kê ở phục lục 1)

Như đã trình bày, do tình hình thiếu tư liệu và tính thiếu chính xác của một số

tư liệu, chắc chắn rằng luận án của chúng tôi khó tránh khỏi thiếu sót Chúng tôi hy vọng rằng trong tương lai sẽ có những tài liệu về truyện cổ Chăm tương đối đầy đủ

và khoa học hơn

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 V ề mốt số khái niệm công cụ

5.1.1 Đề tài

8T

''Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của hiện thực được miêu tả Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống thì có bấy nhiêu đề tài Đề tài mang dấu ấn rõ rệt của đời sống

Trang 13

khách quan nhưng nó cũng ghi nhận dấu ấn chủ quan của người sáng tác.8T9T" 9T16T[ Lí luận văn học, 9T16THà Minh Đức chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr.116]

9T

Như vậy, với tác phẩm văn học, đề tài là phạm vi hiện thực được đề cập đến trong tác phẩm nhằm để thể hiện thế giới nghệ thuật của tác phẩm Cũng vì thế, xác định đề tài của tác phẩm chính là trả lời câu hỏi: tác phẩm viết về cái gì, về phạm vi hiện thực nào trong cuộc sống?

5.1.2 Cốt truyện

9T

Đối với tác phẩm văn học thuộc loại hình tự sự, hệ thống sự kiện là một phương diện hết sức đặc trưng Nếu các tác phẩm trữ tình thường khai thác cảm xúc, suy nghĩ của con người trước các sự kiện của cuộc sống 6T9T(không nhất thiết phải tái hiện trọn vẹn một hệ thống sự việc) thì hình thức tổ chức cơ bản của một tác phẩm tự sự là liên kết các sự kiện lại thành truyện Trong loại hình tự sự, hệ thống sự kiện là phát triển nhất Thuật ngữ nghiên cứu văn học gọi cái tổ chức sự kiện này là cốt truyện

6T

Cốt truyện là một bộ phận có tính chất đặc trưng và là bộ phận quan trọng hàng đầu trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự Đó là một thể tổng hợp các hành động, sự kiện, phát triển một cách cụ thể trong quá trình diễn tiến của truyện kể [105, tr 58]

6T

Trong truyện kể truyền miệng dân gian, cốt truyện đóng vai trò cực kì quan trọng Sự hấp dẫn của cốt truyện đảm bảo cho sự tồn tại của tác phẩm trong không gian và thời gian Chức năng của cốt truyện là phản ánh hiện thực đời sống xã hội bằng hình tượng nghệ thuật nhưng theo đặc trưng riêng của folklore

Trang 14

5.1.3 Motif

6T

Type và motif là những phần tử đơn vị vừa mang tính đặc trưng vừa mang tính bền vững của truyện kể dân gian [26, tr 11] Các type truyện như một tòa nhà hoàn chỉnh, còn các motif là những thanh dầm và gạch xây nên tòa nhà đó [48, tr.15]

6T

Trong luận án, chúng tôi chỉ nghiên cứu truyện cổ Chăm theo đề tài - cốt truyện và motif như đã trình bày ở phần trước Chúng tôi chưa tiến hành tiếp cận truyện cổ Chăm theo type vì tình hình tư liệu chưa cho phép

Chu Xuân Diên ương cuốn 6T18TTừ điển văn học 6T18Ttập 1, Nxb Khoa học xã hội, 1983, tr

465, có giới thiệu như sau: đây là 6T16T"thuật ngữ phiên âm từ tiếng Pháp (motif) đôi khi được dịch sang tiếng Việt là mẫu đề, dùng để chỉ những yếu tố đơn giản nhất có ý nghĩa trong cấu tạo đề tài, cốt truyện của tác phẩm nghệ thuật"

6T

Theo Nguyễn Tấn Đắc, thuật ngữ motif được dùng trong văn học, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, trang trí, hoa văn nhưng được dùng đến nhiều hơn cả là trong lĩnh vực nghiên cứu văn học dân gian, chủ yếu là đối với các thể loại tự sự, nó chỉ một phần nhỏ ở trong truyện, một thành tố tạo nên mẫu truyện Thông thường, người ta xem motif là những thành phần nhỏ có thể tách rời được, có thể lắp ghép được, hay lặp đi, lặp lại và phải ít nhiều khác lạ, bất thường, đặc biệt [25, tr.1]

6T

Trong lĩnh vực truyện cổ dân gian, khái niệm motif từng được một nhà khoa học Nga

A N Vexelopxki nêu lên và định nghĩa từ những năm cuối thế kỉ 19 Ông đưa ra những định nghĩa có tính chất kinh điển như sau: 6T16T"Tô i hiểu motif như một công thức, vào thủa ban đầu của xã hội loài người, trả lời cho câu hỏi mà giới tự nhiên ở mọi nơi đặt ra với con người, hoặc ghi nhận những ấn tượng về thực tại đặc biệt mạnh mẽ, quan trọng và lặp lại nhiều lần"; "Tôi hiểu motif như một đơn vị trần thuật đơn giản nhất, bằng hình tượng, giải đáp những vấn đề khác nhau mà tâm trí nguyên thủy hoặc những sự quan sát trong đời sống nguyên thảy đặt ra" 6T16T[17, tr 12-13] 6T22Tvề 6T22Tmặt thời gian, rất nhiều motif văn học dân gian hình thành từ thời công xã nguyên thủy Ví dụ như motif "Sự thụ thai thần kì", motif "Người biến

Trang 15

thành vật hoặc vật biến thành người" là những hiện tượng mà người nguyên thủy không hiểu hoặc hiểu một cách mơ hồ Motif đã ra đời để giải đáp các vấn đề đó bằng tư duy nguyên thủy thần bí và giàu liên tưởng - điều đó đã tạo nên tính chất khác thường của các motif V6T22Tề 6T22Tmặt không gian, có rất nhiều motif giống nhau xuất hiện ở các dân tộc khác nhau

Sự giống nhau ấy có thể được giải thích bởi quá trình giao lưu văn hóa, hoặc bởi sự giống nhau của các quá trình tâm lý phản ánh sự giống nhau của các điều kiện sống Vì vậy, motif

có thể khác nhau tùy theo loại truyện, dân tộc, quốc gia, khu vực Nhưng motif cũng thường được lan truyền khá rộng, có khi cùng một motif có thể tìm 6T16Tthấy ở 6T16Thai vùng rất xa nhau về mặt không gian địa lí Motif có sức sản sinh đặc biệt lớn và có khả năng phát triển bên trong, khả năng gia tăng, biến thái, khả năng vận dụng đa dạng, khả năng nhào nặn lại V6T22Tề 6T22T

điều này, trong luận án khi khảo sát một số motif cơ bản trong truyện cổ Chăm, chúng tôi sẽ

có điều kiện trình bày kĩ hơn

22T

Về 6T22Tquan hệ giữa motif và đề tài - cốt truyện, Vexelopxki nêu lên hai cấp độ Ở cáp độ thứ nhất, motif thường được hiểu theo nghĩa là 6T16T"hạt nhân của cốt truyện", 6T16Tlà cái 6T16T“công thức” 6T16Ttừ đó cốt truyện được triển khai Một motif trải qua quá trình gia tăng, nối dài, phát triển, nó sẽ trở thành cốt truyện Hay nói cách khác, cốt truyện là sự tiến triển tự nhiên của motif V6T22Tề 6T22Tmặt này, có thể coi motif là một sự khái quát hóa sơ đẳng, theo thời gian nó có thể nảy sinh ra những khái quát hóa phức tạp hơn Thí dụ, motif "Dũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp" là hạt nhân của cốt truyện Thạch Sanh Với cách hiểu này nhiều khi khó vạch được ranh giới rõ rẹt giữa hai khái niệm motif và cốt truyện trong những trường hợp cụ thể

6T

Ở cấp độ thứ hai, motif được hiểu theo nghĩa là 6T16T"yếu tố hợp thành" 6T16Tcủa cốt truyện Thí

dụ các motif "Sự thụ thai thần kỳ", "Người đội lốt vật", "Thử thách" trong cốt truyện 6T16TSọ Dừa 6T16TỞ đây, đề tài - cốt truyện có thể được coi là sự kết hợp giữa các motif 6T22TCốt 6T22Ttruyện với tính cách là một sơ đồ phức tạp được hình thành từ một loạt motif, sự kết hợp có thể là khá phức tạp và không chỉ quy thành sự tiến triển của một hai công thức xuất phát

6T

Motif nào cũng có mối quan hệ nhất định với chỉnh thể (6T16Tcốt truyện) 6T16Tvà với những motif khác Do đó có tồn tại trên một mức độ nhất định mối quan hệ giữa các motif bên trong một đề tài - cốt truyện và cần phải chú ý tới từng mối quan hệ đó

6T

Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của motif là tính loại hình Mọi motif hoặc hầu như mọi motif đều tồn tại không chỉ như một đơn vị trần thuật của một cốt truyện tự sự

Trang 16

nào đó mà là của thể loại tự sự nói chung Ví dụ, một motif của truyện 6T16TSọ Dừa 6T16Tkhi đem phân tích phải coi nó là một motif của loại hình truyện cổ tích thần kì nói chung chứ không thể chỉ coi nó là motif của cốt truyện 6T16TSọ Dừa 6T16Tnói riêng Chính vì vậy mà khi nghiên cứu motif, phải nghiên cứu liên văn bản, liên thể loại và cũng bởi vì nó không chỉ xuất hiện một lần nên phải áp dụng phương pháp so sánh

6T

Việc sử dụng khái niệm motif trong nghiên cứu văn học dân gian có ý nghĩa quan trọng vì nó giúp ta hình dung được bộ mặt của truyện kể dân gian một dân tộc hay nói cách khác là nó giúp cho ta hệ thống được truyện cổ dân gian của cả một nước, một tộc người trên cơ sở thống kê và coi nó như một cái "kho", cái vốn đặc biệt của văn hóa dân tộc Mặt khác, hướng nghiên cứu này còn giúp cho ta nhận thức được cái bản chất, cái đặc trưng của truyện cổ dân gian, phát hiện và giải thích được những quy luật di chuyển cốt truyện, những quy luật của sự hình thành và lịch sử phát triển trong nội bộ tác phẩm và thể loại văn học dân gian

6T

- Phương pháp phân tích và so sánh tư liệu theo đề tài - cốt truyện, motif để tìm hiểu những điểm tương đồng và dị biệt của truyện cổ Chăm so với truyện cổ của các tộc anh em Trong phương pháp này chúng tôi tiến hành hai bước:

Trang 17

- Ngoài ra để hỗ trợ cho các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp liên ngành văn học - dân tộc học trong việc phân tích các yếu tố về văn hóa tộc người để thực hiện đề tài

6 Những đóng góp mới của luận án

- 6TXác định hệ thống các đề tài - cốt truyện và motif tiêu biểu của truyện cổ Chăm

- 6TKhảo sát truyện cổ Chăm trong mối tương quan với cơ tầng văn hóa Đông Nam Á,

từ đó, so sánh đối chiếu mối quan hệ giữa truyện cổ Chăm với tín ngưỡng, phong tục, tôn giáo Chăm

- 6TKhảo sát truyện cổ Chăm trong mối tương quan với truyện cổ và 6T9Tvăn hóa Ấn Độ - một nền văn hóa có ảnh hưởng khá lớn đến nền văn hóa Chăm

- 9TTìm hiểu những điểm tương đồng và dị biệt của truyện cổ Chăm so9T11T với truyện 9T11Tcổ của 9T11Tcác tộc 9T11Tngười Đông Nam Á 9T11Tvà Ấ9T11Tn Độ

- 9TSưu tầm thêm một số tư liệu và dịch một số truyện cổ Chăm sang tiếng Việt

7 Kết cấu của luận án

chương 19T13T (40 trang) 8T9TTổng quan về người Chăm và truyện cổ Chăm 8T9Tđể đưa ra một cái nhìn khái quát về lịch sử - văn hóa - xã hội của tộc người Chăm, làm cơ sở đối chiếu, so sánh cho việc khảo sát các thể loại truyện cổ Chăm ở các chương sau Mặt khác, chương này cố gắng nêu những phác thảo chung nhất về diện mạo truyện cổ Chăm và trình bày tình hình văn bản hiện có ở từng thể loại tự sự dân gian Chăm

13T

Chương 6T13T2 6T9T(68 trang), dành cho hai thể loại: 9T16Tthần thoại và truyền thuyết 9T16TTheo định hướng từ đầu, ở chương này, người viết thao tác triệt để theo một lộ trình: miêu tả các kiểu đề tài - cốt truyện và hệ thống các dạng motif Trong chừng mực nhất định,

Trang 18

ở mỗi cốt truyện, đều có những nhận xét và đánh giá riêng Phần thống kê - miêu tả motif tuân thủ nguyên tắc: miêu tả khách quan các motif tiêu biểu trong các bản kể

hiện 6T9Tcó, sau đó, đối chiếu, so sánh với đặc điểm lịch sử - văn hóa - xã hội Chăm đã được trình bày ở chương trước Từ đó, người viết rút ra những điểm tương đồng và dị biệt của thần thoại và truyền thuyết Chăm so với truyện cổ của các nước trong khu vực cũng như Ấn

Độ Về một phương diện nào đó, luận án có cố gắng lí giải nguồn gốc và diễn tiến của một

số motif tiêu biểu

1T

Chương 3 1T6T(65 trang) dành cho 6T18Ttruyện cổ tích thần kỳ 6T18TLuận án đã tiến hành thống kê, phân loại, khảo sát trên 6 loại đề tài - cốt truyện và 13 motif tiêu biểu Có thể tiêu chí chọn đưa khảo sát các loại đề tài - cốt truyện chưa hẳn đã phù hợp với tất cả Nhưng ngay từ đầu, hướng khảo sát của luận án đã xác định là đề tài - cốt truyện - motif Do đó có khi phải chấp nhận sự dung hòa nào đó về ranh giới để xác lập các loại đề tài cốt truyện Cách cấu tạo của chương 3 có khác so với chương 2: luận án nêu những nhận xét chung về đặc điểm cấu tạo của từng loại đề tài - cốt truyện, sau đó mới đi vào những motif tiêu biểu thường xuất hiện trong từng kiểu đề tài - cốt truyện Các thao tác còn lại được tiến hành theo trình tự đã làm ở chương 2

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI CHĂM VÀ TRUYỆN CỔ

CHĂM 1.1 Vài nét về tộc người Chăm và văn hóa Chăm

6T

Để tìm hiểu các motif, đề tài - cốt truyện của truyện cổ Chăm, không thể không có những hiểu biết nhất định về lịch sử - xã hội - văn hóa Chăm Việc nghiên cứu những cội nguồn lịch sử văn hóa này giúp lí giải những lớp lịch sử văn hóa đã tạo nên, kết tinh, lắng đọng ở trong mỗi motif, đề tài - cốt truyện như thế nào Lịch sử - xã hội - văn hóa Chăm không phải chỉ là một mặt phẳng thuần nhất, mà bao gồm nhiều lớp Các lớp lịch sử văn hóa

ấy có thể xen kẽ vào nhau, dung hợp lẫn nhau, thẩm thấu trong nhau, không dễ tách biệt

1.1.1 Lịch sử hình thành và tồn vong của vương quốc Champa

6T

Theo những cứ liệu lịch sử của các học giả Pháp vào cuối thế kỉ 19 đến giữa thế kỉ 20 như: Aymonier (1881, 1889), Aurousseau (1914), Parmentier (1918), Maspéro (1929), Claeys (1927, 1928) và Stein (1947) thì nhà nước Champa là một trong những nhà nước ra đời sớm ở Đông Nam 6T9TÁ 6T9Tvà đã từng có một nền văn minh lớn trong buổi đầu của lịch sử Đông Nam Á [35, tr.46]

6T

Vương quốc cổ Champa ra đời từ sự hợp nhất hai thị tộc: thị tộc Cau (tiếng Phạn trong

bi kí ghi là: Kramuka Vams' a, tiếng Chăm gọi là pinang) cư trú trên vùng Phú Khánh, Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay và thị tộc Dừa (tiếng Phạn là Narikela Vams'a, tiếng Chăm là li-u) cư trú trên vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay

6T

Không phải ngay đầu tiên đã xuất hiện một vương quốc chung cho cả hai thị tộc, mà thị tộc Cau vốn là một tiểu quốc riêng ở phía nam đèo Cù Mông vào khoảng đầu công nguyên Trên địa bàn của tiểu quốc này, người ta tìm thấy một tấm bia ở làng Võ Cạnh (Nha Trang) Bia viết bằng chữ Phạn, căn cứ vào kiểu chữ người ta xác định thời điểm xuất hiện của nó là khoảng vào thế kỉ thứ II Theo các nhà khoa học, đây là tấm bia có niên đại sớm nhất ở vùng Đông Nam Á Bia đã cho biết về một triều vua đầu của quốc gia này mà người sáng lập có tôn hiệu là Sri Mara

Trang 20

Cuối thế kỉ thứ II, nhiều tài liệu xác định là vào năm 192 sau công nguyên, một số bộ tộc sống trong vùng Je-nan (thuộc khu vực Huế bây giờ) vùng lên chống lại sự đô hộ của nhà Hán và xây dựng một vương quốc độc lập, các thư tịch cổ Trung Hoa gọi tên vương quốc ấy là Lâm Ấp (có một giai đoạn sử Trung Hoa lại gọi tên Lâm Áp là Hoàng Vương) Phát triển khá hùng mạnh, Lâm Áp mở rộng đất đai phía bắc ra đến Hoành Sơn (Quảng Bình) Lãnh thổ của Lâm Áp chính là địa bàn cư trú của thị tộc Dừa đã nói đến ở trên Có 4 bia tìm được ở vùng đất đai Lâm Ấp cổ thuộc về một ông vua ở thời kì này tên là Pehadravácman I1T6T, 1T6Ttrong 4 bia này có một tâm gọi là bia Đông Yên Châu nói về việc thờ thần Rắn, được viết bằng chữ Chăm cổ; đây là bia được viết bằng ngôn ngữ và văn tự cổ nhất Đông Nam Á

6T

Kinh đô đầu tiên của vương quốc Champa là Simhapura nghĩa là thành phố Sư Tử, kinh đô ấy nay thuộc vùng Trà Kiệu (Duy Xuyên, Quảng Nam) Sử liệu Trung Quốc cũng cho biết, từ thế kỉ thứ 4, Trà Kiệu đã trở thành một trung tâm truyền bá Bà La Môn giáo lẫn trung tâm phát triển ngôn ngữ Chăm và văn tự Chăm Ở đây, người ta còn tìm thấy một văn

Trang 21

bia của đời vua thứ tám nói về việc dựng đền thờ một nhà thơ Ấn Độ Valmiki - tác giả bộ sử thi 6T18TRamayana 6T18TĐây là một bộ sử thi nói về sự tích hoàng tử 6T9TRama đánh nhau với vua quỉ Ravana Người Chăm đã phóng tác lại sử thi này để nói về kỳ tích lập quốc của mình Có lẽ vì thế mà các sách sử của nước ta thuở xưa mới nói biên giới phía nam Đại Việt giáp "nước Hồ Tôn Tinh" (tức nước Khỉ thần)

9T

Khoảng giữa thế kỉ thứ VIII, vương quốc Champa đặt kinh đô ở Kauthara (Nha Trang), vốn là kinh đô cũ từ đầu công nguyên Trung tâm kinh đô có một ngôi đền - tháp lớn được gọi là Po Nưgar Tháp Po Nưgar không phải là cung vua mà là nơi thờ thần Thần 8T9T8T9Tđây là bà Nưgar được tạc tượng trong hình dạng của bà Ưma - vợ của thần Siva - được coi như là tượng trưng cho quyền lực của nhà vua

9T

Giữa thế kỉ thứ IX, một kinh đô mới lại được xây dựng và phát triển trong khi

Po Nưgar mờ nhạt đi đó là kinh đô Indrapura (có nghĩa là thành phố mang tên Indra

Đồng Dương, trên một nhánh của sông Thu Bồn, cách Trà Kiệu khoảng 15 km về phía đông nam

9T

Trong suốt hai thế kỉ này, vương quốc Champa đã vay mượn từ Bà La Môn giáo toàn diện những nguyên tắc tổ chức xã hội, hệ thống tổ chức chính quyền nhà nước, lễ nghi và Phạn ngữ Vì vậy có thể nói, Champa lúc này đã trở thành một vương quốc Bà La Môn hóa

9T

Quãng thời gian từ thế kỉ thứ 6T9Tl 0 6T9Tđến thế kỉ thứ 14, vương quốc Champa, một mặt luôn quan hệ ngoại giao hữu hảo với các nước láng giềng như Trung Quốc, Đại Việt, Mã Lai, Cămpuchia nhưng một mặt cũng luôn thực hiện ý đồ mở rộng bờ cõi Có thể lí do là để mở rộng không gian sinh tồn vì vùng đất của vương quốc Champa chỉ có những đồng bằng nhỏ hẹp, những thung lũng bị giới hạn bởi dãy Trường Sơn và biển Đông, khô cằn vì khí hậu ít mưa, luôn bị đe dọa bởi những luồng gió Lào khô nóng và nạn cát biển bị gió thổi tràn vào đồng ruộng Chính những cuộc mở mang bờ cõi không thành đã khiến nhà nước Champa ngày càng suy yếu và nền văn minh Champa cũng không còn giữ nguyên trạng thái nguyên thủy của nó nữa Sự biến dạng này xuất phát từ sự phai tàn của nền văn hóa Phạn ngữ, của triết lí Bà La Môn giáo và Phật giáo Đại thừa Năm 1471, sau sự thất thủ của

Trang 22

thành Đồ Bàn, lãnh thổ Champa còn lại hai tiểu vương quốc Panduranga (Phan Rang, Phan Rí) và Kauthara (Nha Trang, Phú Yên) nằm dưới quyền cai quản của một nhân vật tên là Bố Trì Trì do Lê Thánh Tông phong vương Champa trở thành một phiên quốc của Đại Việt Vương quốc Champa "mới" này bắt đầu xa lánh dần với truyền thống của Champa theo Ấn Độ giáo ở miền bắc Mọi cơ cấu tổ chức hành chính, chính trị và xã hội của vương quốc này đều dựa trên nền tảng của tập tục và tín ngưỡng của địa phương mình [194, tr 16-17] Qua sử liệu để lại, nền văn minh của Vương quốc Champa "mới" này là một sự tổng hợp của ba truyền thống tín ngưỡng khác biệt, đó là di sản văn hóa cổ truyền địa phương của Panduranga và Kauthara, một số ảnh hưởng còn dư lại của tín ngưỡng Bà La Môn, một số ảnh hưởng của tín ngưỡng Islam vừa mới du nhập ở các hải cảng vùng Panduranga và Kauthara [197, tr 22] Kể từ năm 1653, vương quốc Champa tự thu hẹp lại trong lãnh địa của tiểu vương quốc Paduranga Vào năm 1692, nhà Nguyễn đổi danh xưng Chiêm Thành (Campapura) thành trấn Thuận Thành Một năm sau, nhà Nguyễn lại xóa bỏ trấn Thuận Thành để thành lập phủ Bình Thuận và giao quyền quản trị phủ này cho em của vua Po Saot Vào khoảng năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng, vương quốc Champa chính thức sáp nhập vào Việt Nam [197, tr 26]

1.1.2 M ột vài đặc điểm về kinh tế - chính trị - văn hóa Chăm

6T

Lãnh thổ của vương quốc Champa xưa vốn nổi tiếng là có nhiều sản vật Trong đó nổi tiếng nhất là gỗ trầm, thứ nữa là cau và dừa Ngoài những sản vật kể trên, sử sách còn nói tới một Champa có rất nhiều vàng

6T

Đời sống vật chất của người dân Chăm cổ rất giản dị Họ ở nhà sàn làm bằng gỗ, tre, lá; thậm chí 6T16T"thành vua nước đó dùng gõ làm rào" 6T16TMặc cũng rất đơn giản: 6T16T"tục nước đó đều đi chân đất, lấy tấm vải quấn mình”P P16T18T(Tù y thư, 6T18Tq.78,2a) [89, 308]

Trang 23

trắng Ngoài vải trắng người Chăm còn nhuộm và dệt vải màu với những hoa văn, màu sắc đạt đến độ tinh xảo

xã hội còn có tầng lớp nô lệ có thân phận rất thấp Tuy nhiên, việc phân biệt đẳng cấp trong

xã hội Champa cổ không nặng nề như ở Ấn Độ

6T

Người Chăm theo chế độ mẫu hệ, con gái Chăm hỏi và cưới chồng về nhà mình ở Đàn ông Chăm cư trú theo vợ, lao động làm ra của cải vật chất nhưng không quản lí tài sản và không có mấy quyền hành trong gia đình vợ 6T22TVề 6T22Tthực chất, người đàn ông Chăm đi lấy vợ vẫn là thành viên trong dòng họ mẹ, có vai trò quan trọng trong dòng họ mẹ và lúc chết được đem về nghĩa địa dòng mẹ chôn Chính vì vậy mà ca dao Chăm có câu:

Trang 24

và thị tộc Dừa - một dấu vết của tín ngưỡng tô tem cổ xưa nhất của người Chăm?

- 6TTín ngưỡng phồn thực gắn liền với cây nõ làm bằng gỗ trầm thường xuất hiện trong các nghi lễ dân gian người Chăm Cùng đi với tín ngưỡng này là tục thờ thần tình yêu Po Yang Jri Tục thờ sinh thực khí của đàn ông, sau được gắn liền với hình tượng thần Siva được thể hiện dưới hình thức ngẫu tượng linga Chưa ở đâu trong các quốc gia Đông Nam Á

có ngẫu tượng linga nhiều, có kích thước lớn và đẹp như những linga ở Champa Cũng có cả những ngẫu tượng yoni, ngẫu tượng linga-yoni thường được tạc bằng đá cứng, nét gọn, chính xác giữ được vẻ trang nghiêm thần thánh mà không thô kệch

- 6TNgười Chăm cho rằng có thể luyện các loại bùa ngải để chữa bệnh, trừ ma quỉ, giúp con người thêm sức mạnh hoặc làm cho con người mất trí không nhận thức được phải trái Muốn chữa bệnh cho người bị người 6T9Tkhác ám hại bằng bùa ngải hoặc bị một bệnh gì đó do ma quỉ thì phải nhờ đến thầy pháp Thầy pháp sẽ dùng chính bùa ngải để đánh đuổi tà ma Người bình thường có thể tự luyện được bùa ngải để sử dụng cho những mục đích riêng của mình nhưng không thể giải bùa ngải được

- 9TTrong tín ngưỡng dân gian cổ xưa, người Chăm còn tôn thờ rất nhiều các vị thần như: thần Cây, thần Đá, thần Nước, thần Lúa, thần Lửa, thần Rắn

9T

Cũng như một số tộc người khác ở Đông Nam Á, tín ngưỡng thật sự bền vững

và sâu sắc của người Chăm là tình cảm gắn bó với tổ tiên Đó là những người sáng lập ra đất nước, bộ tộc, dòng họ Họ sùng kính và lập đền thờ cúng những người có công lập quốc, bảo vệ và duy trì vương quốc Champa như vua Po Klaong Girai, vua

Po Romé, Po Bin Thuer Ở mỗi dòng họ có một cíet8T9T atuw 8T9Tcủa dòng họ 8T9TCíet atuw 8T9Tlà một cái giỏ đan bằng tre, có quai xách dùng để đựng y phục và các loại đồ lễ khác của ông bà tổ tiên đã khuất

Trang 25

Người Chăm còn có rất nhiều hội lễ dân gian gắn liền với các hoạt động của đời sống nông nghiệp Đó là các lễ: 8T9TRij a Nưgar 8T9T(lễ cầu xin thần mẹ xứ sở và các vị thần linh phù hộ), lễ 8T9TPeh Mbeng Yang 8T9T(lễ khai mương đắp đập), lễ 8T9TPlao Pasah 8T9T(lễ cầu đảo thần Sóng biển), lễ 8T9TYer Yang 8T9T(lễ cầu mưa), lễ 8T9TKaté 8T9T(một trong những lễ lớn nhất

tổ chức để tưởng nhớ ông bà tổ tiên và các vị anh hùng dân tộc) Họ còn có hàng loạt các buổi lễ tiến hành theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa như: lễ chặn đầu nguồn, lễ dựng chòi cày, cúng thần ruộng lúc lúa đẻ, cúng lúa làm đòng, lễ mừng lúa về nhà

22T

Về 6T22Tngôn ngữ, tiếng nói của họ rất gần với các dân tộc Jarai, Êđê, Churu, Raglai thuộc

hệ ngôn ngữ Austronesian (nhóm ngôn ngữ Malayo -Polynesian)

1.1.3 Về những lớp lịch sử văn hóa Chăm

6T

Khi xem xét đến vấn đề giao lưu văn hóa trong truyện cổ Chăm nói riêng và văn hóa dân gian Chăm nói chung, người ta thấy rõ ràng ngoài việc phản ánh cơ tầng văn hóa bản địa Chăm, văn hóa dân gian Chăm còn có một mối quan hệ sâu sắc, từ rất lâu đời với văn hóa dân gian của các nước có chung một cơ tầng văn hóa Đông Nam Á nguyên thủy, trong

đó có ảnh hưởng hết sức sâu đậm của văn hóa Ấn Độ Đó là những lớp văn hóa chính đan xen, thấm vào nhau trong lịch sử văn hóa Chăm và cũng được thể hiện trong truyện cổ Chăm Trong phần này, luận án tiến hành tìm hiểu các lớp lịch sử văn hóa nói trên

1.1.3.1 Cơ tầng văn hóa Đông Nam Á nguyên thủy trong văn hóa Chăm

6T

Dựa vào các cứ liệu về nhân chủng học, dân tộc học, ngôn ngữ học giới khoa học quốc tế nói chung đã xác định vùng Đông Nam Á tiền sử bao gồm mười nước hiện nay: Thái Lan, Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Myanma, Malaysia, Indonesia, Phillipin, Brunei, Singapore, cộng thêm miền Hoa Nam của Trung Quốc và một phần Ấn Độ ngày nay 6T13TNhư 6T13T

vậy, phạm vi của Đông Nam Á tiền sử, phía bắc kéo đến tận bờ nam sông Dương Tử, phía

Trang 26

nam đến quần đảo Nam Dương (Indonesia), phía đông đến quần đảo Phillipin, và phía tây là một phần đất kéo dài đến tận biên giới bang Assam của Ấn Độ

6T

Đông Nam Á là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Với 6T13Ttư 6T13Tcách là một nền văn minh sánh ngang với các nền văn minh lớn ở châu Á, Đông Nam Á đã tạo ra được một bản sắc riêng biệt và đã có những đóng góp quan trọng vào di sản văn hóa thế giới

6T

Đặc điểm nổi bật nhất của khí hậu Đông Nam Á là tính chất gió mùa và nóng ẩm, hằng

số tự nhiên đó đã góp phần tạo nên đặc trưng văn hóa Đông Nam Á là nền văn minh thực vật hay nền văn minh lúa nước Bởi vì: 6T16T"môi trường tự nhiên của một khu vực chắc chắn có một ảnh hưởng nhất định đến đời sống văn hóa của những con người sống trong khu vực

6T

Đông Nam Á khá giàu về khoáng sản và có một vị trí đặc biệt trên đường giao lưu quốc tế Nằm giữa hai đại dương lớn (Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương), Đông Nam Á trở thành cửa ngõ trên tuyên đường hàng hải quốc tế nối liền Đông Á với Tây Âu và châu Phi Chính vì vậy, các cư dân Đông Nam Á biết đóng bè mảng và đi lại bằng thuyền từ r6T7Tất 6T7T

sớm, 6T16T"kĩ thuật hàng hải đạt đến đỉnh cao vào khoảng thế kỉ thứ V trước công nguyên khi những hình thuyền với cỡ dáng to lớn, kiểu cong mũi cong lái được khắc trên nhiều trống đồng Đông Sơn" 6T16T[89, tr.6]

22T

Về 6T22Tmặt sản xuất vật chất, các cư dân Đông Nam Á cổ xưa biết làm ruộng cấy lúa cạn

và lúa nước Ngoài chăn nuôi gia cầm, người ta nuôi trâu bò để làm phương tiện vận chuyển

và sản xuất Người ta biết dùng kim khí, chủ yếu là đồ đồng và đồ sắt Cư dân ven sông biển thì thạo nghề đi thuyền và đánh bắt hải sản

Trang 27

túc, gia súc đầy đàn, con đàn cháu đống Đó là tín ngưỡng bái vật giáo theo thuyết vạn vật hữu linh6TP0F

1

P6Tcho rằng mọi vật đều có linh hồn, cho nên nảy sinh tục thờ cây, thờ đá, thờ rắn, thờ cá sâu Đó là tục thờ cúng tổ tiên Đó là quan niệm về tính chất lưỡng phân, lưỡng hợp của thế giới như đối lập mặt trời với mặt trăng, trời với đất, núi với biển, cư dân miền thượng lưu với cư dân miền hạ lưu được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau trong thần thoại và truyền thuyết của các tộc người vùng Đông Nam Á tiền sử

1.1.3.2 Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ trong văn hóa Chăm

6T

Có một điều rất khác biệt giữa đế quốc Trung Hoa và Ấn Độ trong việc phát huy ảnh hưởng đối với Đông Nam Á Các hoàng đế Trung Quốc đem quân đánh chiếm đất đai của các cư dân bản địa rồi biến các vùng đất đai chiếm được thành quận, huyện của mình Ấn

Độ, trái lại, rất ít quan tâm đến việc thôn tính đất đai mà chủ yếu là giao lưu buôn bán, cho nên ảnh hưởng của Ấn Độ vào vùng này tuy rất sâu rộng về mọi phương diện nhưng chủ yếu là kết quả của sự thâm nhập hòa bình

6T

Nhiều nhà nước ở Đông Nam Á được hình thành theo mô hình chính trị - xã hội kiểu

Ấn Độ Nhà nước Champa, một trong những vương quốc cổ đại ra đời sớm nhất ở Đông Nam Á, là một ví dụ điển hình Có thể nói, mô hình của Ấn Độ về tổ chức chính trị và vương quyền đã được người Chăm áp dụng triệt để

6T

Xã hội Ấn Độ truyền thống đặc biệt coi trọng ngôi vua và môi vị vua thường được gắn

với một vị thần linh nào đó "Vua 6T16Tchính là hiện thân của thần trên mặt đất”, 6T16Tlà người bảo vệ thần dân và giữ gìn trật tự đất nước theo những 6T16T"luật thiêng" 6T16TTruyền thống này cũng đặc biệt được tôn 6T16Ttrọng ở 6T16Tvương quốc Champa Ngay những bia kí đầu tiên mà chúng ta tìm được, các vua Champa đã được đồng nhất với các vị thần như Siva, Indra, Visnu

6T

Triều đình Champa đã lấy các từ Sanscrit, thậm chí các địa danh Ấn Độ đặt tên cho nước, châu, tỉnh và kinh đô của mình như: Champa, Sinhapura, Indrapura Vua cũng đặt tên cho mình theo cách của người Ấn Ví dụ như, ông vua thứ ba của triều Đồng Dương có vương hiệu là: Indravacman II, tôn hiệu là Laksmin-dra-Bhumisvara-Gramasvamin và miếu

1Tức là quan niệm mỗi sự vật đều có linh hồn, đều là một sinh thể, và sự đồng nhất các hiện tượng

tự nhiên với các sinh vật

Trang 28

hiệu là Paramabuđhaloka Thực ra, các vị vua này đều có danh x6T17Tưng bằng tiếng 6T17TChăm 6T17T

nhưng ta ít biết mà chỉ biết vương hiệu gọi theo 6T17Tkiểu Sanscrit

6T

Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ sang khu vực Đông Nam Á nói chung và vương quốc Champa cổ nói riêng còn được thể hiện ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh, ảnh hưởng đó khá toàn diện và sâu sắc Trước hết, đó là sự phổ biến của chữ viết Pali/Sanscrit ở rất nhiều quốc gia Đông Nam Á Thứ chữ viết và nội dung của tấm bia tìm thấy 6T16T6T16Tlàng Võ Cạnh (Nha Trang) nói về ảnh hưởng của các tăng lữ Ấn Độ đối với tôn giáo và xã hội là một chứng cứ hùng hồn về ảnh hưởng của Ấn Độ ở vương quốc Champa Lúc đầu văn tự của người Chăm

là chữ Sanskrit, về sau họ xây dựng một hệ thống chữ viết riêng Hệ thống chữ viết đó được cải tiến qua nhiều giai đoạn nên ngày nay những bia kí cổ không có mấy người Chăm đọc được

6T

Ấn Độ vốn có một truyền thống văn học lâu đời, đồ sộ và đa dạng Đất nước Ấn được mệnh danh là xứ sở của thần thoại, và kho tàng thần thoại ấy ngày nay vẫn gợi lại tuổi ấu thơ của nhiều dân tộc gắn bó với nhau trên một lục địa khá rộng Cùng với tôn giáo và triết học, thần thoại Ấn đã in dấu khá đậm nét lên đời sống Ấn Độ Truyện cổ dân gian Ấn Độ nói chung đã phác họa một bức tranh toàn cảnh về vũ trụ và loài người cùng với một hệ thống thần phả phong phú về các vị thần linh và á thần ở cõi thiên giới, trần gian và địa ngục, tạo nên một nguồn chất liệu không bao giờ cạn cho tất cả các loại hình văn học nghệ thuật, không chỉ cho riêng Ấn Độ mà cho cả các dân tộc khác

6T

Nếu như ở một số nước, thần thoại xuất hiện trước triết học rồi suy tàn để cho triết học nảy sinh thì ở Ấn thần thoại và triết học cùng song song tồn tại, có khi hòa tan vào nhau và làm cho nhau thêm phong phú, sâu sắc Ở Ấn, thần thoại gắn liền với các tôn giáo, mỗi tôn giáo còn có thần thoại riêng của mình Truyền thống tôn giáo và tinh thần tôn giáo đã in dấu rất sâu đậm trên toàn bộ các tác phẩm văn học Có nhà nghiên cứu đã nói rằng, ở đây, tôn giáo "đọc" cho văn học chép [67, tr.125] Tôn giáo thấm đượm trong tâm hồn của mọi tầng lớp nhân dân, từng trái tim con người Ấn Độ Điều đó thể hiện hai mặt của cuộc sống tinh thần của người Ấn Độ Một mặt là khát vọng của con người mong được giải thoát bằng những suy tưởng sâu xa mang tính chất gần như thần bí, một mặt là niềm ham sống mãnh liệt đối với thế giới trần tục Đó cũng là một đặc tính lớn của nền văn hóa Ấn Độ truyền thống Cơ cấu văn hóa này cũng thấy xuất hiện nhiều ở các nước trong khu vực Đông Nam

Á, trong đó có Champa

Trang 29

Nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc Ấn Độ được mô phỏng rất rõ nét ở các đền tháp, chùa chiền được xây dựng ở khắp Đông Nam Á Dù kiến trúc theo motif nào thì các tháp Chăm đều được dựng trên đồi cao, phần nóc bằng phần thân, nhỏ dần và cao vút lên (từ chân đến đỉnh khoảng 15-25m) Theo quan niệm nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ thì đó là sự thể hiện hình núi Meru mà đỉnh núi là nơi ngự trị của thần thánh 6T16T"Tuy nhiên khô ng phải văn

được gia giảm và thể hiện theo kiểu Champa" 6T16T[89, tr.326]

6T

Là một vương quốc chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ, Champa không thể không biết đến hai bộ sử thi vĩ đại 6T18TRamayana 6T18Tvà 6T18TMahabharata 6T18THai thiên anh hùng ca này được coi là: 6T16T"nền tảng ý thức và tính khí của toàn thể nhân dân Ấn Độ6T16T", 6T16T"là một bức tranh toàn bích và hiện thực về nền văn minh Ấn Độ thời xưa, từ đời sống nội tâm đến sinh hoạt bên ngoài" 6T16T[79, tr.176], là sự kết đọng của lịch sử và văn hóa Ấn Độ

6T

Sử thi 6T18TRamayana 6T18Tcủa đất nước Ấn Độ kì vĩ, xa xôi đã rất sớm đi vào đời sống tinh thần của cộng đồng người Chăm, tìm thấy ở đó mảnh đất văn hóa bản địa phù hợp để cấy trồng những quan niệm triết lí nhân sinh đẹp đẽ, cao thượng về lẽ sống, sự tôn thờ chiến công, ước mơ về cái Thiện chiến thắng cái Ác Hai nhân vật Rama và Sita là hai mẫu người

lí tưởng trong quan niệm của toàn thể dân tộc Ấn

6T

Ramayana được phổ biến đến nhiều nước ở Đông Nam Á - nơi có quan hệ văn hóa lâu đời với Ấn Độ Có rất nhiều nước mượn cốt truyện này để sáng tác ra những truyện mang mầu sắc độc đáo của dân tộc mình, như 6T18TRamakiên 6T18T(Thái Lan), R6T18Tiêm kê 6T18T(Cămpuchia), 6T18T

Phalặc - Phalam 6T18T(Lào)

6T

Các bia kí, thư tịch cổ, các tác phẩm nghệ thuật ở các lĩnh vực khác cho chúng ta biết hầu như tất cả các tác phẩm văn học cổ của Ấn Độ đều có ở Champa Các bia kí thế kỉ 7-8 của hai vị vua Vikrantavarman I và II đều có nói tới việc dựng đền thờ cho đại thi hào

Trang 30

Valmiki - tác giả của bộ sử thi cổ đại nổi tiếng 6T18TRamayana 6T18Tcủa Ấn Độ Điều đó chứng tỏ, ngay từ thế kỉ thứ 7, 6T18TRamayana 6T18Tđã phải được biết đến nếu chưa nói là một sự kiện văn học

có ý nghĩa quan trọng của vương quốc cổ Champa Và ít nhất, tác phẩm này cũng phải được lưu truyền ở Champa cho đến thế kỉ 15 Vì đến thế kỉ 15, trong 6T18TLĩnh nam chích quái 6T18T- tập truyện cổ dân gian của người Việt do Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn - có 6T16Ttruyện Dạ Thoa

6T

Người Chăm hiện nay không theo đạo Phật, nhưng Phật giáo đã từng được du nhập và

để lại dấu ấn trong xã hội Chăm cũng như trong đời sống văn hóa Chăm Những dấu tích đầu tiên chứng tỏ có tôn giáo này ở6T16T 6T16Tngười Chăm là trong các ghi chép của người Trung Hoa đến Champa vào thê kỷ VII Năm 605, quân nhà Tùy đánh chiếm kinh thành của Lâm Ấp, mang chiến lợi phẩm về trong đó có 1.350 pho kinh Phật Coedès dựa theo một bản văn bằng chữ Sanscrit cùng thời với bia Võ Cạnh đã cho rằng vào thời đó (thế kỷ III), Phật giáo

là tôn giáo chủ đạo ở khu vực quanh Nha Trang [7, tr 277] Như vậy Phật giáo đã đến vương quốc này và phát huy ảnh hưởng của nó từ rất sớm Đến thế kỷ thứ IX, X với tu viện Đồng Dương, Champa đã là một trong những trung tâm Phật giáo của Đông Nam Á Không phải là nhiều nhưng hiện nay người ta cũng tìm được nhưng bi ký, những di tích, những bức tượng có liên quan đến Phật giáo, thể hiện vai trò và vị trí của tôn giáo này ở người Chăm

6T

Điều cần nói về ảnh hưởng của Phật giáo trong quá trình tồn tại ở Champa là Phật giáo

đã hòa nhập cùng với Ấn giáo, hai tôn giáo này đã dung hòa nhau chứ không hề loại trừ nhau Ngay trong tu viện Đồng Dương các thần Ấn giáo cũng được tôn thờ Nghệ thuật tạc tượng cũng thể hiện rõ xu hướng dung hòa đó qua tượng Bồ tát với con mắt thứ ba 6T16T6T16Tgiữa trán, đặc điểm của thần Siva Chính các vị vua Champa qua các bi kí cũng thể hiện xu hướng dung hòa đó, điều này có lẽ bắt nguồn từ một truyền thống tính cách của người dân Chăm, đó là truyền thống dung hòa các yếu tố văn hóa ngoại sinh Truyền thống này tạo ra đặc điểm dung hòa giữa các tôn giáo trong cộng đồng người Chăm nói chung

Trang 31

Các bi kí, các công trình kiến trúc, đặc biệt là các tác phẩm điêu khắc cho thấy người Chăm đã từng tôn thờ các vị thần của Bà La Môn giáo tạo thành Trimurti là Brahma (thần Sáng Tạo), Visnu (thần Bảo Tồn), Siva (thần Phá Hủy) Tuy nhiên, trong tín ngưỡng của người dân Ấn thì thần Sáng Tạo dường như không có một vai trò nào cả Tín đồ Ấn giáo ở

Ấn Độ chia làm hai trường phái thờ Siva và thờ Visnu, phái thờ Visnu có s6T24Tố 6T24Ttín đồ đông hơn Ở Champa thì phái thờ Siva lại có ưu thế hơn Trong điêu khắc Chăm, thần Siva được thể hiện dưới nhiều dạng, trong đó quan trọng nhất là dạng Linga (biểu hiện dương tính), Linga kết hợp với Yoni (biểu hiện âm tính), dạng Mukhalinga (Linga mang thần chủ), dạng đang múa, đang chìm đắm trong suy tưởng nữ căn của Siva ở người Chăm là Uma, có 6T16T

6T16T

tháp Po Nưgar (Nha Trang) Các hiện thân khác có Ganesa -cũng là con trai của Siva - mình người, đầu voi, Skanda - một người con khác của Siva - đứng trên lưng chim công tay cầm lưỡi tầm sét Liên quan đến thần Siva còn phải kể đến bò thần Nandin, Gajasimha (đầu voi mình sư tử) đều là những con vật của Siva cưỡi Hai vị thần còn lại của Bà La Môn giáo tuy

ít được thể hiện nhưng cũng được miêu tả với những "triết lý" chủ yếu mà họ tượng trưng Tượng Visnu với rắn thần nhiều đầu Nưgar, với chim thần Garuda và Shakti của Visnu là

nữ thần sắc đẹp Laskmi cũng có xuất hiện khá nhiều trong các đền tháp Chăm Thần Brahma được các nghệ sĩ Chăm miêu tả ban đầu với bốn đầu, có lẽ gắn với thần thoại mọc thêm đầu để nhìn con gái mình, về sau chủ yếu là ba đầu Shakti của Brahma là Sarasvati và vật cưỡi của thần là thiên nga cũng được miêu tả chung với thần Có thể nói, các lăng, tháp nơi thờ các vị thần dân tộc của người Chăm cũng chính là thần điện của đạo Bà La Môn Trong đền, tháp thờ ba vị thần chính được tôn thờ nhiều nhất ở6T16T 6T16Tngười Chăm là Po Nưgar, Po Klaong Garai và Po Romé đều có bóng dáng của các vị thần Bà La Môn giáo Nữ thần

Trang 32

Nưgar được đồng nhất với Uma, Shakti cửa Siva, bò thần Nandin đều có hiện diện ở tháp

Po Klaong Garai và tháp Po Romé Tượng vua Po Romé còn được tạc với tám cánh tay mà dấu ấn của thần Siva có thể nhận thấy qua cánh tay c6T20Tầm 6T20Tđinh ba Hiện tượng đồng nhất thần Ấn giáo với các vị thần và các vị vua trong thần thoại và truyền thuyết Chăm còn gắn

với truyền thống đặt tên tượng thần và gọi tôn hiệu vua gắn với vị thần mà nhà vua sùng kính Chẳng hạn như Mukhalinga ở tháp Po Klaong Garai được thể hiện như thần Siva và vẫn được người dân Chăm coi là tượng vua Po Klaong Garai (tương truyền là Vidyanandana Suryavarmadeva sống vào thế kỷ XII-XIII) [13, tr 179], rõ ràng, vị vua Chăm này là đối tượng được tôn thờ chính gắn với những quyền lực siêu phàm của thần Siva

6T

Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu và thực tế cũng đã chứng minh, nếu nhờ ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ mà Champa cũng như các nước khác ở Đông Nam Á có một quá khứ lịch sử văn hóa huy hoàng, thì chính Champa và các nước ở khu vực Đông Nam Á đã "trả ơn" xứng đáng cho Ấn Độ Thứ nhất, lịch sử Đông Nam Á đã giúp người Ấn hiểu rõ hơn giá trị ít nhiều mang tính "khai hóa" của chính nền văn minh của họ Thứ hai, chính Đông Nam Á (trong đó có Champa) đã cung cấp những tài liệu vô giá để hiểu Ấn Độ hơn, vì ở Đông Nam Á còn giữ lại nhiều truyền thuyết cổ mà từ lâu đã biến mất khỏi Ấn

Độ Hơn nữa có những kiệt tác kiến trúc kì diệu thể hiện sâu sắc ảnh hưởng của văn minh

Ấn Độ như Ăngco, Bôrôbuđu, Pagan, các đền tháp điêu khắc Champa nhưng 6T16T6T16TẤn Độ lại

không hề có công trình tương tự Ảnh hưởng của Ấn Độ đối với quá khứ của Champa cũng như các quốc gia Đông Nam Á cổ là hết sức lớn nhưng đương nhiên tộc người Chăm cổ cũng như các tộc người Đông Nam Á c6T17T6T17Tnói chung đã tiếp thu một cách chọn lọc, sáng tạo những ảnh hưởng của Ấn Độ chứ không sao chụp nguyên mẫu một cách thụ động, để tạo nên một nền văn hóa cổ mang đậm bản sắc riêng của mình

6T

Ngay từ ngày mới lập quốc, người Chăm đã chịu ảnh hưởng sâu sắc tôn giáo Bà La Môn có pha trộn một số ít Phật giáo ở giai đoạn đầu Dưới sự chi phối của tôn giáo này, xã hội Chăm cũng được chia làm bốn đẳng cấp: Bà La Môn, Kacatriva, Vaicya, Cidra Nhưng trong thực tế xã hội Chăm nguyên tắc phân chia và việc tuân thủ trật tự đẳng cấp không quá chặt chẽ Việc kết hôn giữa các đẳng cấp khác nhau vẫn thường xảy ra trong thực tế cuộc sống và được ghi nhận lại trong nhiều truyện cổ Sự duy trì chế độ mẫu hệ cho đến hôm nay cũng là một bằng chứng

Trang 33

Khi tiếp nhận những ảnh hưởng của Ấn Độ, cộng đồng người Chăm đã không còn là những người nguyên thủy nữa, mà đã là những cư dân của một nền văn hóa phát triển không thua kém gì nhiều dân tộc ở Ấn Độ Người Chăm đã có những tín ngưỡng bản địa riêng, tín ngưỡng đa thần giáo, vạn vật hữu linh và thờ cúng tổ tiên Có thua chăng, người Chăm chỉ thua người Ấn một cách tổ chức xã hội ở mức cao hơn - mức quốc gia -, thua sự thống nhất

vào một hệ tư tưởng, một tôn giáo với đầy đủ hệ thống giáo lí chặt chẽ và hấp dẫn, thua một

hệ thống văn tự hoàn chỉnh, tiện lợi Người Chăm đã tiếp thu những điều đó ở người Ấn trên cái nền văn hóa sẵn có của mình 6T22TVề 6T22Tthực chất, các cư dân cổ Champa đã tìm được ở văn hóa Ấn Độ những hình thức hay những cái vỏ để thể hiện phù hợp nhưng ở mức cao hơn nền văn hóa bản địa của mình Các tôn giáo ngoại lai muốn xâm nhập và tồn tại được ở Champa đều phải hòa nhập vào với tín ngưỡng dân gian Ngay ở6T16T 6T16Tthế kỉ 4-5, bia Đông Yên Châu cho chúng ta biết bên cạnh việc các vị thần Ấn Độ, các vua Chăm còn duy trì việc thờ thần Rắn Bên cạnh thần Rắn các vị thần bản địa khác cũng được đẩy lên ngang tầm với các

vị thần tối thượng của Ấn Độ và nhập vào cái vỏ của thần thoại Ấn Độ Ví dụ điển hình cho hiện tượng này là sự tôn vinh và sùng bái của dân chúng Champa đành cho Po Nưgar - bà

mẹ xứ sở của dân tộc - nhưng lại có cái tên là gốc chữ Sanscrit Hay như việc thần hóa một

số vị vua có công với đất nước, hiện tượng thờ thần vua ở Champa chỉ là một hình thức cao hơn của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên truyền thống của người Chăm Khi những tôn giáo Ấn ngự trị trên vương quốc Champa, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không những mất đi mà còn được đẩy lên tới tầm cỡ tôn giáo

6T

Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, từ sau cái mốc lịch sử 1471, Champa từ bỏ dần những

gì vay mượn của Ấn Độ để xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng dù vẫn còn những dấu vết ảnh hưởng của nền văn minh Ấn

6T

Những ảnh hưởng trên đây của nền văn hóa nói chung và truyện cổ Ấn Độ nói riêng đã

in dấu khá đậm nét trong truyện cổ Chăm

1.1.3.3 Ảnh hưởng của Hồi giáo trong văn hóa Chăm

6T

Hiện nay, cộng đồng hồi giáo Chăm chia làm hai bộ phận Bộ phận Bani (còn gọi là Chăm cũ) cư trú trong hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận; bộ phận Islam (còn gọi là Chăm mới, Chăm Biruw) gồm cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ và một số ít ở Ninh Thuận, Bình Thuận (trước đây họ thuộc nhóm Bani đã cải đạo từ những năm 50 của thế kỷ) Hai bộ phận

Trang 34

này thực hiện giáo luật Hồi giáo một cách rất khác nhau và sinh hoạt tôn giáo hoàn toàn độc lập với nhau

6T

Việc xác định thời điểm Hồi giáo du nhập vào Champa còn có nhiều điểm chưa được khẳng định G Maspéro trong cuốn 6T18TLe Royaume de Champa 6T18T(1928) có những cứ liệu để xác định được đường như Hồi giáo đã vào Champa từ thế kỷ thứ X Song có lẽ, phải đến thế

kỷ XII6T21T 6T21T- XVI, khi người Chăm có những hoạt động hàng hải khá phát triển, chính bằng con đường này họ đã tiếp xúc với Indonesia, Malaysia, (những nước mà Hồi giáo đã chiếm ưu thế từ thế kỷ XII), họ mới chính thức tiếp nhận Hồi giáo [7, tr.299] Thời điểm đó, tình hình

ở vương quốc Champa đang ở vào giai đoạn cực kỳ khó khăn, chiến tranh và thất bại, vương triều suy yếu, chính trị kinh tế rối ren, niềm tin vào Bà La Môn giáo ngày càng giảm sút cho nên một bộ phận dân chúng đã tin vào đức tin mà thiên sứ Muhammad đem đến Cũng có thể vì đến muộn như vậy, khi tín ngưỡng bản địa đã có những cơ tầng vững chắc và các tôn giáo khác cũng đã từng có những ảnh hưởng rất sâu rộng trong dân chúng, nên tuy từ thế kỷ XVII trở đi có thể gọi Champa là vương quốc đã được Hồi giáo hóa và đạo Hồi cùng với đạo Bà La Môn là một trong hai tôn giáo chính của họ, nhưng cũng chỉ có 1/3 dân số Chăm theo đạo này thôi

6T

Cũng như Phật giáo và Ấn giáo, Hồi giáo vào Champa không phải bằng con đường gươm giáo mà bằng con đường hòa bình Cho nên, ngay từ đầu nó đã dễ dàng được dân chúng tiếp nhận và trên thực tế càng ngày nó càng có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính tri, kinh tế và văn hóa ở vương quốc này Những giáo luật khắt khe của Hồi giáo khi vào Champa, đặc biệt là với cộng đồng Hồi giáo Bani ở Ninh Thuận, Bình Thuận đã phải thay đổi rất nhiều cho phù hợp với truyền thống văn hóa bản địa

6T

Có thể nói, đạo Bani là một biến thái địa phương của Hồi giáo ở người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận dưới ảnh hưởng của những yếu tố văn hóa bản địa, đặc biệt là của tín ngưỡng dân gian, các phong tục tập quán và của đạo Bà La Môn Việc duy trì một hệ thống tín ngưỡng dân gian với những lễ hội liên quan và chịu ảnh hưởng của Bà La Môn giáo đã cho phép người ta khẳng định rằng: các tín đồ Bani không phải chỉ tôn thờ duy nhất có một đấng Allah Người Chăm Bani vẫn tin tưởng có các thần Mưa, thần Biển, thần Núi điều này thể hiện trong các nghi lễ nông nghiệp mà họ vẫn thực hiện như hệ thống lễ Rija, lễ Plao Pasah, Kap Hlau do chính các thầy Char tham gia thực hiện và trong một số lễ còn có

sự phối hợp với các tu sĩ Bà La Môn nữa Đặc biệt là lễ Rija Nưgar là một lễ hội hết sức độc

Trang 35

đáo thể hiện sự kết hợp giữa các tín ngưỡng Hồi giáo, Bà La Môn giáo và tín ngưỡng bản địa trong đó Hồi giáo đóng vai trò chủ đạo

6T

Hình thành trong chiếc nôi của vùng Đông Nam Á, cùng tồn tại và phát triển song song với các tộc người khác nhau của khu vực, người Chăm cổ tất yếu tiếp thu nhiều luồng văn hóa, tạo nên tín ngưỡng đa nguyên và hỗn dung nhưng bên cạnh những nét chung của khu vực, tộc người Chăm vẫn có những nét riêng biệt của dân tộc mình và cùng với các tộc người khác tạo nên một vùng văn hóa đa dạng mà thống nhất

6T

Do quá trình biến động của lịch sử để đi đến sự sáp nhập, hình thành một quốc gia Việt Nam hiện đại, người Chăm ngày nay đã trở thành một thành viên của đại gia đình Việt Nam Người Chăm cùng với đất nước phát triển theo thời đại, đồng thời vẫn giữ nguyên những bản sắc vốn có của mình Người Chăm vẫn tồn tại một cách bền bỉ ở những vùng đất hầu như chỉ có nắng gió với những ngôi tháp Chàm uy nghi, sừng sững, mãi mãi là những điều bí ẩn, hấp dẫn sự tìm hiểu của những người quan tâm

1.2 T ruyện cổ dân gian Chăm

1.2.1 Tình hình chung về văn bản

6T

Truyện cổ dân gian Chăm chủ yếu được lưu truyền trong nhân dân, trong thư tịch cổ của các dòng họ Việc sưu tầm, ghi chép lại những câu chuyện cổ chỉ mới bắt đầu từ thế kỉ

Trang 36

19 và đương nhiên là gặp rất nhiều 6T17Tkhó 6T17Tkhăn Thông thường, người sưu6T17Ttầm có thể ghi lại truyện 6T17Ttừ ba nguồn:

- 6TTruyện do các ông bà già kể lại theo trí nhớ, những bản kể này có thể ghi nhận được những hình thức nguyên sơ nhất của các cốt truyện

- 6TTruyện do người kể đọc một văn bản đã được ghi chép lại, thuộc ý rồi kể lại theo cách kể và trí nhớ của mình

- 6TTruyện đã được một số văn bản cổ ghi chép lại

6T

Sau khi sưu6T17T 6T17Ttầm, vấn đề đặt ra là phải chuyển ngữ truyện Có những bản kể hiện nay là

do người Pháp 6T7Tsưu 6T7Ttầm và dịch ra tiếng Pháp, sau đó lại dịch ra tiếng Việt Có những bản kể

do người Chăm dịch ra tiếng Việt, hoặc chính người Việt dịch ra tiếng Việt Khi chuyển ngữ như vậy, một vấn đề nảy sinh là có rất nhiều khái niệm không tương đương giữa những nền văn hóa khác nhau buộc người dịch phải tìm cách chuyển nghĩa tương ứng dẫn đến việc diễn tả không chính xác khái niệm, thậm chí sai hẳn Đó là chưa tính đến những bản kể dịch sai do hiểu không đúng nghĩa Việc xác định chất lượng của các bản kể, bản dịch quả là một công việc hết sức phức tạp và khó khăn

tầm và biên soạn, Nxb Văn hóa dân tộc, 1978): có 26 bản kể, gồm 1 thần thoại và 25 truyện

cổ tích 6T18TTruyện cổ các dân tộc Thuận Hải 6T18T(Đỗ Kim Ngư, Phạm Xuân Thông, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Bạch Cúc sưu6T7T 6T7Ttầm và biên soạn, Ty Văn hóa Thông tin Thuận Hải, 1982): có 15 truyện cổ tích 6T18TTrái tìm nàng Palí 6T18T(Đỗ Kim Ngư, Nguyễn Hữu Dũng sưu6T17T 6T17Ttầm

và biên soạn, Hội Văn nghệ Thuận Hải xuất bản, 1986): 6T17T6T17T12 truyện 6T17Tcổ 6T17Ttích 6T18TTruyện cổ Chăm 6T18T(Phạm Xuân Thông sưu6T17Ttầm 6T17Tvà biên soạn, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1986):

có 14 truyện cổ tích 6T18TTruyện cổ Chăm 6T18T(Trịnh Hồng Lan, Nguyễn Thị Tư, Anh Đức sưu6T17T 6T17Ttầm,

Sở Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1986): có 15 truyện cổ tích 6T18TNàng bàn tay 6T18T(Hồ Phú Diên, Đỗ Kim Ngư sưu6T7T 6T7Ttầm và biên soạn, Hội Văn nghệ Thuận Hải xuất bản 1987): có

23 truyện cổ tích 6T18TBò thần Kapin 6T18T(Đỗ Kim Ngư sưu6T7T 6T7Ttầm và biên soạn, Hội Văn nghệ Thuận Hải xuất bản, 1988): có 16 bản kể, gồm 1 truyền thuyết và 15 truyện cổ tích 6T18THoa Bơ-nga chơ-re 6T18T(Nxb Kim Đồng, 1987): có 5 truyện cổ tích 6T18TNữ thần Pô Nagar 6T18T(Trần Việt Kỉnh sưu6T7T 6T7T

tầm và biên soạn, Nxb Văn hóa dân tộc, 1989): có 17 bản kể, gồm 1 thần thoại, 3 truyền

Trang 37

thuyết và 13 truyện cổ tích 6T18TChàng Rắn 6T18T(Đỗ Kim Ngư biên soạn, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1993): có 10 bản kể, gồm 1 truyền thuyết và 9 truyện cổ tích 6T18TTruyện cổ dân gian Chăm 6T18T(Trương Hiến Mai - Nguyễn 6T13TThị 6T13TBạch Cúc - S6T13Tử 6T13TVăn Ngọc - Trương Tốn dịch, biên soạn, tuyển chọn Nxb Văn hóa dân tộc, 2000): có 51 bản kể, gồm 2 thần thoại và 49 truyện cổ tích Tổng cộng là 165 bản kể, trong đó có: 5 bản kể là thần thoại, 5 bản kể là truyền thuyết, 155 bản kể là truyện cổ tích

6T

Tổng số bản kể đăng rải rác 6T16T6T16Tcác báo, tạp chí và các tuyển tập khác mà chúng tôi thu thập được là 62, trong đó có: 2 bản kể là thần thoại, 10 bản kể là truyền thuyết, 50 bản kể là truyện cổ tích

cổ tích thần kì, 19 truyện c6T17T6T17Ttích sinh hoạt và 18 truyện cổ tích loài vật Như vậy, chúng tôi

sử dụng 81 đơn vị truyện và 131 bản kể để phục vụ trực tiếp cho luận án

13T

Về 6T13Tchất lượng của các bản kể, theo chúng tôi còn rất nhiều điều phải được xem xét lại một cách khoa học hơn về nguồn sưu6T7T 6T7Ttầm, nguồn tài liệu cũng như cách chuyển ngữ Những tài liệu đã sưu6T7T 6T7Ttầm và công bố còn có nhiều tồn nghi do nhiều lý do Chẳng hạn, do người sưu6T7T 6T7Ttầm không sưu6T7T 6T7Ttầm được bản kể gốc mà chỉ là những bản kể đã sao đi chép lại, thiếu những đối chiếu dị bản cần thiết Hoặc, do người dịch có thể dịch không chính xác, do những thêm bớt chủ quan của người biên soạn Thỉnh thoảng, còn có trường hợp các truyện vốn là các tác phẩm thuộc các thể loại khác được kể lại thành truyện bằng văn xuôi chẳng hạn như truyện thơ 6T18TChuyện tình Chăm - Bà Ni (16T18Tariya Cam-Bini) 6T16T[113, tr 134 -138], 6T18T

Hoàn g tử Um Mưrup 16T18T16T18Tcô gái chăn dê 16T18T(ari ya Um Mưrup) 6T16T[152, tr 197-259], 6T18TCucai Marút 16T18T(ariya Sacucay - Marut), 6T16T[152, tr 40-48], tráng ca 6T18THoàng tử Tềva Mừnô 16T18T(akayet Dewa Mưno) 6T16T[152, tr 168-196] Bản thân chúng tôi khi dịch một số văn bản cổ, chúng tôi

-đã cố gắng dịch theo ba bước: phiên âm tiếng Chăm sang chữ La Tinh, sau đó dịch nghĩa của từng từ, cuối cùng dịch thoát ý từng câu Nguyên tắc của chúng tôi là cố gắng theo sát nghĩa của nguyên bản tiếng Chăm mà chúng tôi có, không giải nghĩa theo cách hiểu của

Trang 38

người Việt, bằng văn hóa Việt Chúng tôi nhận thấy các cốt truyện mà chúng tôi dịch so với các cốt truyện của cùng một đơn vị truyện đã dịch thường ngắn gọn hơn rất nhiều

1.2.2 Th ần thoại

6T

Việc phân loại một cách khoa học, rạch ròi, chính xác các thể loại văn học dân gian nói chung và các thể loại truyện dân gian nói riêng là một việc làm không đơn giản: Cho đến nay, trong ngành folklore học nước ta cũng còn nhiều ý kiến chưa thống nhất trong vấn

đề này Để làm cơ sở cho việc phân loại kho tàng truyện cổ dân gian Chăm, luận án này tiếp thu quan điểm phân loại của hai bộ giáo trình Đại học Sư phạm và Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng như có tham khảo thêm ý kiến của các nhà nghiên cứu khác

6T

Chức năng chủ yếu của thần thoại là nhận thức và lí giải các hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống của con người Thần thoại là ước mơ chinh phục sức mạnh của tự nhiên, nó quan tâm đến những vấn đề có tầm vóc vũ trụ, tầm vóc nhân loại như mưa, gió, lũ, lụt, nguồn gốc loài người Trong thần thoại, con người là bộ phận của tự nhiên, nhân vật chính là thần, nói chính xác là những sức mạnh tự nhiên được nhân hóa

6T

Mác gắn thần thoại với thời kỳ ấu thơ của nhân loại, nó là thứ 6T16T"Nghệ thuật vô ý thức",

trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng" 6T16T[166, tr.6] Nghĩa là không thể nào hiểu và lý giải đúng thần thoại nếu tách nó ra ngoài xã hội nguyên thủy, thế giới quan thần linh và nhu cầu

lý giải, chinh phục tự nhiên xã hội con người thời cổ đại

6T

Nếu dựa trên một kiến giải như vậy thì những truyện cổ Chăm có thể xếp vào thể loại thần thoại còn được lưu giữ rất ít Có thể nói, chúng chỉ là những mảnh vụn của một hệ thống đã bị thất truyền Sự thất truyền này có thể do rất nhiều nguyên nhân nhưng có lẽ nguyên nhân lớn nhất là do lịch sử tồn vong của tộc người Chăm Chiến tranh liên miên đã làm cho người Chăm khó bảo tồn được những vốn cổ văn hóa của mình Mặt khác, như thần thoại của nhiều dân tộc, thần thoại Chăm không được ghi chép lại ngay từ khi mới ra đời đã đành, mà cũng không được bảo lưu trong lời kể bằng văn vần của hình thức sử thi cổ đại; các câu chuyện chỉ được kể lại qua những truyền tụng của nhân dân, có khi được ghi chép lại trong những thư tịch cổ của các gia đình nhưng phần nhiều đã bị pha tạp, chắp nối

Trang 39

Thần thoại Chăm đã bị tách khỏi môi trường sống cổ xưa của nó, tồn tại như một thể loại của văn học dân gian, được ghi chép thành văn và có một cuộc sống tương đối độc lập chứ không còn sống ngay trong sinh hoạt cộng đồng, tồn tại với dạng là một tổng thể hỗn hợp các yếu tố văn hóa của dân tộc (bao gồm các loại tín ngưỡng, các loại nghi lễ thờ cúng, các hình thức diễn kể, các loại hình sinh hoạt ca hát, nhảy múa )

6T

Truyện 6T18TNữ thần Po Nưgar 6T18Tcó 4 bản kể Bản thứ nhất theo tài liệu tham khảo số 156

do Bố Thuận và Nguyễn Khắc Ngữ kể lại dựa theo 3 tài liệu viết bằng tiếng Chăm mà họ sưu tầm được: 6T16TSa-kha-rai Po Pìn-thoar 6T16T(Lịch sử ông Pìn-thoar), 6T16TSa-kha- rai Po Nưgar 6T16T(Lịch

sử bà Nưgar), 6T16TPo Mư-16T18Thăm-mách 6T18T(Sách nói về ông Mư-hăm-mách); và một số kinh kệ nói

về các tôn giáo Chăm Bản thứ hai theo tài liệu số 83 của Trần Việt Kỉnh sưu6T7T 6T7Ttầm dựa theo tài liệu của Nguyễn Đình Tư ghi lại trong 6T18TNon nước Ninh Thuận, 6T18TSống Mới xuất bản, Sài Gòn, 1974 Hai bản kể trên có nội dung khá giống nhau và cũng có một số nhầm lẫn khá quan trọng về cách lí giải một số hiện tượng sự vật cũng như cách chuyển ngữ các danh từ riêng về tên gọi của các nhân vật, tên địa danh Hai bản còn lại theo tài liệu số 67 do Văn Đình Hy kể lại trong một bài viết đăng trên tạp chí 6T18TVăn học

6T

Việc sưu6T7T 6T7Ttầm, khôi phục lại hệ thống thần thoại Chăm là một việc làm hết sức khó khăn và phức tạp Tuy nhiên, chỉ qua những phiến đoạn còn sót lại, chúng tôi thấy, những truyện này tuy đơn giản về mặt nội dung nhưng vẫn mang những đặc điểm tiêu biểu của thể loại thần thoại, những motif truyện khá phổ biến trong thần thoại thế giới và thần thoại ở khu vực Đông Nam Á, Đó là các truyện giải thích sự xuất hiện của thế giới, suy nguyên nguồn gốc loài người, nguồn gốc dân tộc, nguồn gốc của một số loài vật, những truyện về các anh hùng văn hóa Thần thoại Chăm thể hiện những quan niệm cổ xưa của người Chăm

về vũ trụ, mặt trời, mặt trăng, về các hiện tượng tự nhiên Đồng thời ở các truyện này, người

Trang 40

Chăm còn thể hiện niềm tin tôn giáo nguyên thủy của mình như tôn vinh thờ cúng các vị thần Mặt trời, Mặt trăng

1.2.3 Truyền thuyết

6T

Có nhiều cách hiểu về truyền thuyết Mỗi định nghĩa sẽ giới hạn khái niệm trong một

số tiêu chí nhất định Ở đây, xin dựa vào tiêu chí chung nhất cho mọi định nghĩa: chức năng làm sử của truyền thuyết 6T16T"Chức năng chủ yếu của truyền thuyết là phản ánh, nhận thức và

lý giải lịch sử (bao gồm lịch sử của các bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, quốc gia" 6T16T[166, tr 24] Nếu thần thoại chủ yếu hướng vào các hiện tượng tự nhiên thì truyền thuyết chủ yếu hướng vào những sự kiện, những biến cố lịch sử có ý nghĩa trọng đại và những nhân vật lịch sử nổi lên trong những sự kiện, những biến cố ấy Do đối tượng và chức năng văn hóa - thẩm mỹ như vậy nên đặc trưng nổi bật của thể loại này là tính chất cụ thể, xác định Trong truyền thuyết những danh từ riêng chỉ tên người, tên đất, tên sự việc, tên thời kỳ lịch sử cụ thể rất được coi trọng vì chúng góp phần vào việc dựng lại không khí lịch sử của truyện Truyện được kể phải có một thời đại lịch sử nào đó tương đối xác định (6T16Ttriều đại nào?), 6T16Tphải có một địa điểm cụ thể (6T16Tlàng xã nào? dòng sông nào? ngọn núi nào?), 6T16Tmột nhân vật có thật 6T16T(vị vua nào? nhâ n vật anh hùng nào?), 6T16Tmột sự kiện nhất định 6T16T(sự việc nào?) 6T16TĐó là những đặc tính hết sức quan trọng để phân biệt truyền thuyết với các thể loại truyện kể dân gian khác Tuy nhiên, 6T16T"Tính xác thực lịch sử trong thể tài này không phải hoàn toàn ở sự phản ánh về thời gian, không gian, nhân danh mà ch ủ yếu ở bản chất, ở cái cốt lõi của lịch sử" 6T16T[46, tr 174] Vì vậy, 6T16T"với truyền thuyết niềm tin được xem là phẩm chất hàng đầu của thể loại",

"nó là một thứ lịch sử tinh thần" 6T16T[64, tr 16-17]

6T

Truyền thuyết hướng về quan hệ cộng đồng, về nguồn gốc dân tộc, qua đó giáo dục con người về trách nhiệm với cộng đồng Người ta tin, tự hào và ca ngợi về nguồn gốc tổ tiên cũng như về các thế hệ anh hùng của tộc người Con người trong truyền thuyết là bộ phận của một cộng đồng cụ thể, đó là lí do khiến đề tài của truyền thuyết chỉ bó hẹp trong phạm vi một cộng đồng Truyền thuyết là một bộ phận của nghi lễ, tín ngưỡng nên hầu như truyền thuyết nào cũng gắn liền với một ngôi đền, tháp hay một phong tục tín ngưỡng nào

đó của tộc người

6T

Căn cứ vào 6T17Ttiêu chí 6T17Tnhư vậy, 6T17Ttrong hệ thống các truyện cổ 6T17TChăm sưu6T17T 6T17Ttầm được, có 6 đơn vị truyện có thể xếp vào thể loại truyền thuyết và phân đều thành hai tiểu loại Việc

Ngày đăng: 03/01/2021, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w