Chúng tôi mong rằng đề tài nghiên cứu của luận văn sẽ làm được công việc phân loại truyện cổ Ê đê một cách hoàn chỉnh và sẽ là bước mở đầu cho nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
TS HỒ QUỐC HÙNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, phòng Khoa học Công nghệ - Sau đại học, thầy cô Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin dành phần trang trọng để cảm ơn TS Hồ Quốc Hùng – thầy đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn tôi sự cẩn trọng, nghiêm túc trong công việc khoa học, động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn
Tp Hồ Chí Minh ngày 30 tháng 3 năm
2012
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC Ê ĐÊ VÀ VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI TRUYỆN
CỔ Ê ĐÊ 7
1.1 Vài nét về dân tộc Ê đê 7
1.1.1 Địa bàn cư trú và tổ chức xã hội 7
1.1.2 Những biểu hiện về sắc thái văn hóa 9
1.2 Vấn đề phân loại truyện cổ dân gian Ê đê 13
1.2.1 Tình hình sưu tầm và phân loại 13
1.2.2 Đề xuất tiêu chí phân loại 21
Chương 2 :THẦN THOẠI VÀ TRUYỀN THUYẾT 45 2.1 Thần thoại 45
2.1.1 Về đề tài 45
2.1.1.1 Thần thoại giải thích sự tạo lập thế giới 45
2.1.1.2 Thần thoại giải thích các hiện tượng tự nhiên 52
2.1.1.3 Thần thoại giải thích nguồn gốc tộc người 53
2.1.2 Các mô típ trong thần thoại Ê đê 56
2.1.2.1 Mô típ người khổng lồ kiến tạo 56
2.1.2.2 Mô típ hồng thủy 57
2.1.2.3 Mô típ quả bầu 59
2.1.2.4 Mô típ cây nối trời và đất 62
2.2Truyền thuyết 64
2.2.1 Về đề tài – cốt truyện 64
2.2.1 1 Truyền thuyết lịch sử 64
2.2.1.2 Truyền thuyết địa danh 71
2.2.2 Các môtíp trong truyền thuyết 74
2.2.2.1 Môtíp gươm thần 74
2.2.2.2 Môtíp thực hiện sứ mệnh 76
Chương 3 :TRUYỆN CỔ TÍCH 78 3.1Truyện cổ tích thần kì 78
Trang 53.1.1 Về đề tài – Cốt truyện 78
3 1.1.1 Cổ tích về nhân vật mồ côi 78
3.1.1.2 Cổ tích về nhân vật dũng sĩ 88
3.1.1.3 Cổ tích về nhân vật mang lốt 96
3.1.2 Các mô típ chính 98
3.1.2.1 Môtíp sự ra đời kì lạ 98
3.1.2.2 Mô t íp bà Đuôn Sun 99
3.1.2.3 Mô típ thần Rồng 100
3.1.2.4 Mô típ về sự xuất hiện con số 7 100
3.2 Truyện cổ tích thế sự 102
3.2.1 Về đề tài – cốt truyện 102
3.2.1.1 Nhóm truyện kể địa danh 102
3.2.2.2 Nhóm truyện kể khác 104
3.2.2 Các mô típ chính 107
3.2.2.1 Mô típ sụt đất 107
3.2.2.2 Mô tip hóa thân 109
3.2.2.3 Mô típ đá thiêng 109
3.1.2.4 Mô típ hồn lúa 111
3.3 Truyện cổ tích loài vật 113
3.3.1 Về đề tài 113
3.3.2 Những mô típ chính 115
3.3.2.1 Mô típ xử kiện 115
3.3.2.2 Mô tip mẹo lừa 115
KẾT LUẬN 117 TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC 130
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dân tộc Ê đê là dân tộc có bề dày văn hóa lịch sử, sinh sống lâu đời ở Đăk Lăk, chiếm tỉ lệ đông nhất trong số các dân tộc thiểu số ở Đăk Lăk Người Ê đê từ xa xưa đã có một nền văn học dân gian phong phú Trong đó
có một bộ phận truyện cổ đặc sắc chiếm một vị trí đáng kể trong đời sống văn hóa Người Ê đê gọi kho tàng truyện kể của mình là klei đưm (klei có nghĩa là lời, bài, chuyện; đưm là những câu chuyện xưa) Truyện cổ nảy sinh từ chính
cuộc sống lao động của đồng bào Ê đê Trong sinh hoạt văn hóa truyền thống,
ngoài kể khan (sử thi), các già làng và nghệ nhân còn kể clay đưm cho con
cháu nghe dưới ánh lửa bập bùng trong những ngôi nhà sàn Mỗi một câu chuyện thấm đẫm trong đó biết bao triết lí nhân sinh, cách cảm cách nghĩ của
cả một cộng đồng dân cư có bản sắc văn hóa riêng, tập tục riêng trên một địa bàn cư trú gắn liền với núi rừng Tây Nguyên Đọc truyện cổ Ê đê, người ta thấy được bức tranh đời sống tinh thần có nhiều nét độc đáo của người Ê đê trên dải đất Tây Nguyên Nghiên cứu truyện cổ Ê đê sẽ là một công việc khoa học hứa hẹn nhiều khám phá thú vị Tuy nhiên, truyện cổ là một khái niệm bao quát gồm nhiều thể loại Tiếp cận truyện cổ dân gian Ê đê không thể bỏ qua vấn đề nghiên cứu về loại hình của nó Hiện nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu truyện cổ Ê đê một cách hoàn chỉnh về mặt thể loại
Việc xác định truyện cổ Ê đê dưới góc độ thể loại là một việc cần thiết Vì vậy, đề tài của luận văn tập trung xác định vấn đề thể loại của truyện cổ dân gian Ê đê từ hệ thống đến cấu tạo cốt truyện Chúng tôi thực hiện đề tài
nghiên cứu này trong một bối cảnh cấp thiết Hiện nay, ngoài một số lượng ít
ỏi truyện cổ Ê đê đã được sưu tầm và xuất bản, truyện cổ Ê đê vẫn tồn tại trong đời sống cộng đồng người Ê đê nhưng đang phải đối diện với nguy cơ
Trang 7sẽ mất đi vĩnh viễn khi chịu sự tác động của nếp sống hiện đại Chỉ còn những bậc cao niên nhớ được truyện cổ và khi lớp người già lần lượt ra đi, những truyện kể kì diệu cũng sẽ theo họ đi vào quên lãng
Chúng tôi mong rằng đề tài nghiên cứu của luận văn sẽ làm được công việc phân loại truyện cổ Ê đê một cách hoàn chỉnh và sẽ là bước mở đầu cho nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn về truyện cổ dân gian Ê đê sau này
Hiện tại, chúng tôi tìm được và khảo sát những tài liệu liên quan đến
đề tài của luận văn như sau:
Công trình Văn hóa dân gian Ê đê của tác giả Ngô Đức Thịnh (Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1992), bài viết Một vài đặc điểm của thần thoại Ê
đê của tác giả Ngọc Anh (Tạp chí Văn học số 3 năm 1996), Văn học dân gian
Ê đê, Mơ nông của tác giả Trương Bi (Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2007),
bài viết Clay đưm của người Ê đê của tác giả Đỗ Hồng Kì (Tạp chí Dân tộc
học số 2 năm 2011)
Trước hết là tài liệu Văn hóa dân gian Ê đê Đây là công trình nghiên cứu
về tổng thể văn hóa của dân tộc Ê đê Trong đó tác giả khảo sát về kiến trúc nghệ thuật, luật tục cũng như các lễ thức trong đời sống cộng đồng Ê đê Tài liệu này có dành vài trang điểm qua vài nét về sử thi và truyện cổ Ở đây
truyện cổ Ê đê được xem xét như một bộ phận cấu thành của văn hóa dân gian
Ê đê và được phân loại thành ba bộ phận: truyền thuyết, truyện cổ tích và
Trang 8truyện ngụ ngôn Thể loại thần thoại không thấy được nói đến Điều này đặt
ra cho chúng tôi một nghi vấn về vấn đề phân loại Bởi lẽ thần thoại là hình thức nghệ thuật ra đời đầu tiên của loài người Một dân tộc có bề dày văn hóa,
có một đời sống tinh thần gắn chặt với tín ngưỡng vạn vật hữu linh như dân tộc Ê đê chắc hẳn phải tồn tại những câu chuyện thần thoại ở một số lượng nào đó
Thứ hai là công trình Văn học dân gian Ê đê, Mơ nông, tác giả Trương
Bi đã khai thác những vấn đề cơ bản của văn học dân gian Ê đê Bên cạnh sử thi, lời nói vần, truyện cổ Ê đê được dành khá nhiều trang viết và được trình bày theo sự phân loại của tác giả Theo Trương Bi, truyện cổ Ê đê chỉ có hai tiểu loại là thần thoại và truyện cổ tích Như vậy, theo tác giả này, truyện cổ Ê
đê không xuất hiện thể loại truyền thuyết
Thứ ba là bài viết Một vài đặc điểm của thần thoại Ê đê của tác giả
Ngọc Anh Tác giả chỉ đề cập đến nhóm truyện thần thoại trong truyện cổ Ê
đê Theo tác giả, người Ê đê có một mảng truyện thần thoại rất phong phú và
đã tiến hành phân chia tiểu loại trong thần thoại thành các nhánh nhỏ trên cơ
sở nội dung phản ánh của thần thoại: thần thoại giải thích các hiện tượng tự nhiên, thần thoại phản ánh tinh thần đấu tranh chinh phục thiên nhiên, thần thoại phản ánh đời sống xã hội
Thứ tư là bài viết Clay đưm của người Ê đê, tác giả Đỗ Hồng Kì đã khẳng
định giá trị của truyện cổ dân gian Ê đê nói chung qua việc đánh giá vắn tắt về nội dung và nghệ thuật của truyện Tác giả dẫn ra ba thể loại trong truyện cổ
Ê đê để minh họa cho những luận điểm của mình Đó là thể loại truyền thuyết, truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn Ngoài ra, bài viết này không đề cập đến vấn đề phân loại
Từ những công trình trên có thể thấy, truyện cổ Ê đê còn nhiều điểm thuộc về vấn đề phân loại chưa có sự nhất quán, đã được quan tâm đánh giá
Trang 9nhưng chưa được nghiên cứu sâu Điều đó cho thấy vấn đề phân loại truyện
cổ Ê đê cũng có nhiều sự khác biệt với nhiều quan điểm phân loại khác nhau Đây chính là lí do để chúng tôi tiến hành khảo sát trong đề tài luận văn này
Theo đó, chúng tôi tiến hành thống kê và phân loại, chỉ ra những đặc điểm của truyện cổ Ê đê ở từng thể loại Việc thống kê mô tip cũng chỉ giới hạn ở những thể loại mà chúng tôi thấy ổn định về phong cách thể loại Những thể loại nào mờ nhạt, chúng tôi chỉ dừng ở việc đánh giá về đề tài và nêu một số suy nghĩ về hiện tượng của nó
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê, miêu tả
Sau khi tập hợp văn bản truyện, chúng tôi thống kê các tác phẩm theo
số liệu cụ thể, miêu tả đề tài, kết cấu và phân chia các mô tip
5.2 Phương pháp phân tích, so sánh
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích
để tìm hiểu đề tài, cấu tạo cốt truyện Trong chừng mực chúng tôi có tiến hành đối chiếu giữa truyện cổ Ê đê với truyện của dân tộc Kinh và một số dân
tộc cùng cư trú trên địa bàn Tây Nguyên
5.3 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Trang 10Chúng tôi có kết hợp tìm hiểu thể loại trên góc độ dân tộc học để hỗ trợ cho việc khảo sát truyện cổ
5.4 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa
Chúng tôi tiến hành phân loại những tác phẩm đã tập hợp được, lựa chọn tác phẩm theo tiêu chí đã đặt ra và sắp xếp chúng vào từng mảng truyện, nhóm truyện, nhóm mô típ để nhận diện được bản chất và đặc điểm thể loại của chúng
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thực hiện đề tài này, luận văn sẽ xác lập được một hệ thống truyện cổ dân gian đã được sưu tầm từ trước đến nay Hệ thống tư liệu này được xác lập theo quan niệm của người viết, mong rằng có thể trở thành tư liệu tham khảo
cho những người có nhu cầu nghiên cứu sâu hơn
Kế thừa có chọn lọc công trình của người đi trước, chúng tôi mong rằng luận văn sẽ xây dựng được diện mạo đầy đủ và góp một cách nhìn mới
mẻ, khoa học về vấn đề phân loại truyện cổ Ê đê Từ công trình này, chúng tôi
hi vọng tạo thêm một điểm nhấn trong bức tranh tổng thể về văn hóa tộc người Ê đê
7 Kết cấu của luận văn
Theo nhiệm vụ đặt ra, ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có ba chương tập trung vào các vấn
đề sau:
- Chương 1 : Tổng quan về dân tộc Ê đê và vấn đề phân loại truyện cổ Ê đê
- Chương 2 : Thần thoại và truyền thuyết
- Chương 3 : Truyện cổ tích
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC Ê ĐÊ VÀ VẤN ĐỀ
PHÂN LOẠI TRUYỆN CỔ Ê ĐÊ
1.1 Vài nét về dân tộc Ê đê
1.1.1 Địa bàn cư trú và tổ chức xã hội
Người Ê Đê hay Đêgar, còn có các tên gọi khác là Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), Êgar, là tộc người có ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo, ngữ hệ có dân số khá đông trong khu vực Đông Nam Á Tùy theo vùng cư trú, người Ê đê vẫn có những nét khác biệt ít nhiều về phương ngữ, sinh hoạt văn hóa, tạo nên các nhóm địa phương khác nhau như nhóm Kpă, Atham, Mdthur, Ktul, Bih
Tỉnh Đăk Lăk là địa bàn sinh sống của 40 dân tộc thiểu số khác nhau Theo số liệu điều tra của Ban dân tộc tỉnh Đăk Lăk, người Ê đê ở Đăk Lăk vào tháng 12/2003 là 271.111 người Đồng bào Ê đê sống tập trung ở vùng trung tâm Đăk Lăk – thành phố Buôn Mê Thuột và các huyện Krông Pach, Krông Buk, Easup, Mdrah Ngoài ra còn ở một vài tỉnh lân cận như phía Nam tỉnh Gia Lai, phía Tây Khánh Hoà, Phú Yên Người Ê đê có quan hệ gần gũi với các dân tộc láng giềng cùng chung một nguồn gốc Mã lai – Đa đảo như Chăm, Gia rai, Churu, Raglai và dân tộc Mnông cùng sinh sống trên cao nguyên Đăk Lăk Trong đó mối quan hệ với đồng bào Giarai, Mnông có thể xem là gần gũi hơn cả, nhất là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Một số trường ca, truyện cổ phổ biến của người Ê đê cũng thấy ở người Giarai, Mnông do quá trình cộng cư tương tác văn hóa
Tổ chức xã hội của người Ê đê theo chế độ mẫu hệ Người phụ nữ là người làm chủ trong gia đình, con cái mang họ mẹ, con trai không có quyền được hưởng thừa kế Đàn ông cư trú bên nhà vợ Nếu vợ chết và bên nhà vợ
Trang 12không còn ai thay thế theo tục nối dây thì người chồng phải về với chị em gái mình và khi chết thì được mang về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ
đẻ
Người Ê đê lấy buôn làm đơn vị tổ chức xã hội cơ bản tương đương với khái niệm làng của người Việt Kết cấu buôn truyền thống là các gia đình lớn mẫu hệ và một số gia đình nhỏ, các gia đình trong buôn đều có quan hệ hữu
cơ với nhau hoặc cùng thân tộc hoặc cùng huyết thống trong quan hệ hôn nhân
Buôn là không gian tụ cư của nhiều ngôi nhà dài, quy mô lớn nhỏ của buôn phụ thuộc vào số gia đình mẫu hệ sống trong buôn Buôn nhỏ có ít nhất
từ 20 đến 40 ngôi nhà, buôn lớn khoảng từ 50 đến 100 ngôi nhà Mỗi buôn có một người đứng đầu gọi là khua buôn Khua buôn là người được quyền tổ chức cúng bến nước (pô tuh pin êa) hằng năm Trước đây, khi có dịch bệnh hoặc một tai họa nào đó xảy ra cho buôn làng, người Ê đê lại chọn một địa thế mới để dựng buôn mới Số lượng các gia đình mẫu hệ này phải có giới hạn để thuận tiện cho những lần di chuyển Hầu hết các buôn ngày nay đều trải qua nhiều lần xây dựng lại do nhiều nguyên nhân nên hình thức tổ chức và qui mô của buôn của buôn có những đổi thay tùy theo từng thời kì Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế xã hội, cơ cấu tổ chức buôn của người Ê đê có những đổi thay Nhiều buôn Ê đê có khuynh hướng định canh định cư nên số gia đình nhỏ mẫu hệ trong buôn có thể nhiều hơn Buôn của người Ê đê thường được xây dựng gần các trục lộ chính theo hướng Bắc Nam trên những địa thế tương đối bằng phẳng cao ráo, gần nguồn nước, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Bộ máy điều hành buôn gồm có khua buôn (chủ bến nước), pô phat kđi (xử kiện), pô iêô yang (cúng thần) Các thành viên này hỗ trợ khua buôn điều hành tổ chức xã hội theo từng trọng trách của mình Quan hệ giữa khua buôn và các thành viên trong buôn là quan hệ hai chiều, khua buôn phải là
Trang 13người công minh, chính trực, bình đẳng và dân chủ Khi quy định một việc hệ trọng liên quan đến quyền lợi của cộng đồng, khua buôn đều phải thông qua ý kiến dân chủ của buôn theo luật tục Vai trò của khua buôn trong xã hội Ê đê
sẽ càng được nâng lên thông qua uy tín của gia đình phía vợ Có thể nói chức
vụ khua buôn thuộc về dòng nữ, tức là thuộc về gia đình vợ, còn khua buôn chỉ là người đại diện gia đình điều hành công việc của buôn Thông qua vai trò và quyền lực của khua buôn, có thể nói rằng đằng sau người khua buôn chính là sự điều hành của người phụ nữ của buôn làng Người phụ nữ Ê đê là người có vai trò trực tiếp đối với gia đình mẫu hệ đồng thời họ có vai trò gián tiếp đối với thiết chế tổ chức xã hội
1.1.2 Những biểu hiện về sắc thái văn hóa
Như đã nói, trong số những dân tộc định cư lâu đời ở Đăk Lăk, dân tộc
Ê đê có số dân đông nhất, có nền văn hóa giàu bản sắc truyền thống Đời sống của người Ê đê gắn bó mật thiết với núi rừng Buôn làng của họ nằm giữa núi rừng, tồn tại giữa thiên nhiên hùng vĩ Trong xã hội truyền thống của họ, từ nhà cửa đến chuyện ăn mặc, vui chơi, lễ hội cho đến khi trở về cát bụi cũng không tách khỏi núi rừng Rừng vì vậy là mẫu số chung của văn hóa Ê đê
Nói về bản sắc văn hóa của dân tộc Ê đê, có thể nhận định đó là nền văn hóa mang đậm tính chất mẫu hệ Bước vào các buôn làng của người Ê đê sinh sống, người ta sẽ ấn tượng ngay về những ngôi nhà dài có khi phải đến
cả trăm mét Đặc biệt nhà dài của họ có hình dáng giống chiếc thuyền mang đậm hình ảnh ông bà tổ tiên ở vùng hải đảo khi xưa đã lênh đênh trên biển cả
để tìm đất sống Ngôi nhà dài đã được các sử thi ca ngợi: dài như tiếng chiêng ngân, dài bằng một hơi ngựa chạy, dài đến nỗi con chim bay mỏi cánh cũng không hết… Trong những ngôi nhà dài đó là cả đời sống của một gia đình
mẫu hệ Những thành viên sống trong nhà dài gồm có hai vợ chồng cùng với con cháu ruột và con của chị em gái trong nhà, cùng với những người đàn ông
Trang 14(anh hoặc em trai) chưa vợ hoặc li dị vợ, và cả những người là con nuôi Người làm chủ căn nhà này là người phụ nữ, không phải người đàn ông Bà chủ nhà được xem như bà tổ của dòng họ (còn gọi là “nồi cơm cái” hay “nồi cơm mẹ”) Ngôi nhà dài sẽ là nơi ở của tất cả các thành viên vốn là hậu duệ của bà tổ Bà chủ nhà cũng như bao người phụ nữ bình thường khác, làm công việc nội trợ, trông coi con cháu… nhưng lại có trách nhiệm và uy quyền khá lớn Bà cùng với người chồng có bổn phận giảng giải và dạy bảo cho con cháu về phong tục tập quán của dân tộc mình Bà điều hành công việc trong gia đình như quản lí của cải, phân chia tài sản Trong gia đình hoặc dòng họ, nếu cần quyết định một việc trọng đại nào đó như mua bán, cưới hỏi, nếu không thông qua ý kiến của nữ chủ nhà thì không được phép thực hiện Giả sử người con trai của nữ chủ nhà muốn kết hôn, nếu chỉ có những người anh em trai trong gia đình đồng ý mà không có sự chấp thuận của bà và các chị em gái trong nhà, đám cưới sẽ không được tổ chức Khi làm lễ cúng trong gia đình, bà chủ nhà là người đầu tiên cầm cần rượu rồi đến những người phụ nữ trong dòng họ rồi sau cùng mới đến lượt những người anh em trai của bà Và trong các nghi lễ nông nghiệp, người phụ nữ làm chủ dòng họ cũng là người thực hiện các thao tác như cầm cần rót rượu, mặc dù người đàn ông là người
tổ chức các nghi lễ đó Khi bà chủ nhà đã già yếu hoặc qua đời, vai trò “nồi cơm cái” lại được truyền cho người chị gái cả trong gia đình Và người chị gái
cả này cũng đóng vai trò như một người mẹ trong gia đình Và nếu người chị gái cả này là một bà góa đã già thì người con gái cả của bà sẽ thay mặt bà giữ quyền người mẹ Cách tổ chức sinh hoạt cũng như cấu trúc của gia đình Ê đê trong ngôi nhà sàn đã nói lên một cách tổng thể về sự chi phối của dòng nữ trong gia đình cũng như trong cộng đồng
Trong lĩnh vực hôn nhân, người phụ nữ cũng là người chủ động Sau đám cưới, người đàn ông sẽ về cư trú bên gia đình nhà vợ Người Ê đê ngày trước
Trang 15có một tập tục khá độc đáo là tục nối dây (chuê nuê) Tập tục hôn nhân này nhằm gìn giữ sự liên minh giữa các dòng họ và để bảo vệ tài sản phía dòng họ
nữ Cụ thể là khi vợ chết, chồng có thể lấy em vợ hay chị vợ Còn khi người chồng chết, người vợ sẽ lấy anh trai hoặc em trai chồng… Ngày nay thì tập tục này không còn nữa
Về tín ngưỡng, người Ê đê theo tín ngưỡng đa thần Họ quan niệm mọi vật đều có yang (hồn) Thờ cúng là một hoạt động chi phối sâu sắc đời sống của người Ê đê Họ có hai hệ thống nghi lễ chính: nghi lễ vòng đời người và nghi lễ nông nghiệp Nghi lễ vòng đời người gồm có lễ cầu sinh nở dễ dàng, đặt tên, cầu chúc sức khỏe…Nghi lễ nông nghiệp gồm có lễ tìm đất, cúng thần gió, cúng cào cỏ, trỉa lúa, cầu mưa, mừng lúa mới… Các nghi lễ nông nghiệp xuất hiện đa dạng không chỉ để thỏa mãn đời sống tinh thần của cộng đồng mà còn là sự thể hiện ý thức trân trọng của người Ê đê đối với tài nguyên đất, nước và rừng Lễ hội là hoạt động văn hóa thường thấy ở dân tộc
Ê đê Họ có nhiều lễ hội trong đó lễ bỏ mả có thể xem là lễ hội độc đáo nhất
Hầu hết các lễ hội của người Ê đê không thể thiếu một nhạc cụ quan trọng chính là cồng chiêng Cồng chiêng không chỉ là một nhạc cụ truyền thống của người Ê đê Trong quan niệm của họ, cồng chiêng chính là một phương tiện thiêng liêng để con người giao tiếp với thần linh Âm thanh cồng chiêng gắn
bó với mỗi người Ê đê từ lúc chào đời cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay Ngoài
ra người Ê đê còn có một loạt các nhạc cụ phục vụ cho các nghi lễ trong tang
ma như kèn đing năm, đing buôt, đing tuut… Các loại nhạc cụ này cũng phản ánh đời sống tinh thần của dân tộc Ê đê
Trong quan niệm cổ truyền, người Ê đê cho rằng vạn vật xung quanh con người đều có hồn vía (yang) như núi, sông, cây cỏ, chiêng, ché… Thậm chí giọt sương, hòn sỏi cũng có yang Riêng đối với con người, yang được gọi
là Mngăt, thường quen gọi là hồn Hồn quyết định sự tồn tại của thân xác Khi
Trang 16hồn đau thì thân thể cũng bị đau Các yang của đồ vậy cũng như con người,
có yang tốt yang xấu, có yang hữu ích mà cũng có yang phá hại Nó có thể vui
mà cũng có thể buồn, có thể mạnh mà cũng có thể yếu Con người có thể nghe tiếng nói của vật, nhất là vật thiêng để hỏi ý kiến của chúng qua những giấc
mơ Khi chạm đến các vật, để cho chúng đồng tình, người ta thường hỏi han,
vỗ về các vật Chẳng hạn trước khi chặt cây thì khấn Và trước khi đào ché
rượu lên để uống thì bảo với ché : “Tôi lấy bà lên không phải là để làm việc này việc nọ mà để tiếp khách quý, để cúng thần” Quan niệm các vật có
“yang” dẫn đến việc đặt tên riêng cho các vật quý như chiêng, ché Cũng từ quan niệm đó mà người ta có sự chăm chút, tô điểm cho các vật Trong các lễ
cúng quan trọng, người ta đeo các chuỗi hạt cho các ché quý Các đồ vật vừa được chế tạo cũng được phong cho một “yang” Khi đồ vật đó ra đời cũng có nghĩa là nó đã có hồn vía.Vì vậy cho dù là sử dụng bất kì đề vật gì, con người cũng phải biết quý trọng và sử dụng một cách đúng đắn Chẳng hạn như ngôi nhà dài của người Ê đê, khi mới làm xong nó đã có yang vì bản thân nó được làm bằng gỗ, mà gỗ dưới dạng cây cối trong rừng là nơi trú ngụ của các thần… Quan niệm mọi vật đều có linh hồn đã khiến cho cuộc sống của người
Ê đê có một sự giao hòa rất tinh tế với vạn vật xung quanh
Tóm lại, nói về bản sắc văn hóa của dân tộc Ê đê, chúng tôi tập trung chú ý mấy đặc điểm: Thứ nhất, nguyên tắc mẫu hệ chi phối sâu sắc cách tổ chức buôn làng, gia đình cũng như quan hệ hôn nhân của người Ê đê Thứ hai,
tổ chức buôn làng và các hoạt động lễ hội, tín ngưỡng cho thấy tính cộng đồng biểu hiện rất rõ trong đời sống văn hóa của họ Và thứ ba, tín ngưỡng vạn vật hữu linh luôn thường trực trong tâm thức của cộng đồng Ê đê và đã
trở thành một niềm tin sâu sắc trong nhận thức và ứng xử của họ
Tìm hiểu sơ lược những đặc điểm về tổ chức xã hội, về văn hóa của người
Ê đê, chúng tôi muốn tìm hiểu sự xuyên thấm của đời sống văn hóa trong các
Trang 17thể loại của của truyện cổ Ê đê Những ảnh hưởng của văn hóa mẫu hệ, tính cộng đồng và tín ngưỡng vạn vật hữu linh được biểu hiện khá rõ nét trong hệ thống các thể loại truyện cổ của người Ê đê mà chúng tôi sẽ khảo sát ở chương sau
1.2 Vấn đề phân loại truyện cổ dân gian Ê đê
1.2.1 Tình hìn h sưu tầm và phân loại
* Tình hình sưu tầm
Truyện cổ Ê đê đã sớm được sưu tầm từ năm 1985, được tuyển chọn và
in trong các tuyển tập sau đây:
- Truyện cổ các dân tộc Trường Sơn Tây Nguyên do Đặng Nghiêm Vạn
sưu tầm, xuất bản năm 1985, tập 1, gồm có 31 truyện: Sự tích sông Krông Buk, Truyền thuyết Krông Pa, Sự tích Biển Hồ, Sự tích hang A Đrênh, Vì sao
có hồ Lăk, Nấm Hồng và Nấm Đỏ, Sự tích con voi, Vì sao heo ăn cám chó ăn cơm, Chỉ có ông thợ rèn phạt được tội khỉ, Tổ chim tồ rộc, Vượn trắng, Y Đăm tai to, Rum Dú với gái nhà trời, H bia Ngo, Y Tơ Lông giết trăn tinh, Pơ nan giết cọp, Anh em Pơrôngpha, Đăm Thí, Chàng Gơrăn Dơhông, Hơ Điêu
và Y Nhớt, Hơ Kung và Y Du, Nung Kuang và bác cháu chàng Rít, Anh em chàng Rit, Đăm Ktỉa Truôi, Anh em chim cút, Cô gái đẹp và hạt gạo, Hồn lúa
và lão Mtao, Y Luăc, Gà và Chó, Khỉ và Rùa, Nhóm truyện về con thỏ tinh ranh
- Truyện cổ Ê đê do Y Điêng và Hoàng Thao tuyển chọn, xuất bản năm
1988, gồm có 16 truyện: Sự tích người Ê đê lên sống trên mặt đất, Hơ Kung
và Y Du, nàng Ngo và chàng Rit, Chàng Gơ răn Dơhông, Anh em chàng Rit, Chàng Bun Lô và nàng Tac Ty, Đăm Kơtỉa Truôi, Bảy anh em trai và nàng A
Rế, Nung Kuang và bác cháu chàng Rit, Y Tăn và Y Măn, Chàng Cóc, Anh
Trang 18em Kun Koi, Chàng rể Khỉ, Hồn lúa và lão chủ nô, Nhóm truyện về con thỏ tinh ranh, Rùa và Khỉ
- Truyện cổ Ê đê, tập 2, xuất bản năm 1997 do Trương Bi, Y Wơn tuyển
chọn, có 23 truyện: Sự tích các dân tộc, Sự tích hang A Đrênh, Sự tích bốn mùa xuân hạ thu đông, Sự tích Hồ Lăk, Hai anh em Đăm Thí và Đăm Di, Chàng Y Siêm, Chàng Y Rit và Khỉ bảy đầu, Lấy chồng heo, Sự tích cồng chiêng, Sự tích kèn Đing Năm, Sự tích điệu múa tung khắc, Sự tích Drai Hling, Sự tích Drai Sáp, Sự tích Krông Buk, Sự tích dòng Krông Hnăng, Sự tích tượng nhà mồ, Sự tích Ea Hleo, Sự tích cây Knia, Sự tích con voi, Chuột nâu và Y Rit, Cọp vật nhau với cái cối, Chàng Y Rit và con thỏ nâu, Sự tích
đảo Sing Gar Pour
- Truyện cổ Tây Nguyên xuất bản năm 1999, do Đỗ Thiện và Ngọc Anh
tuyển chọn, có 3 truyện: Nạn hồng thủy, Hơ Kung và Y Du, H Bia Ngo và Y
Rit
- Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập 1, xuất bản năm 1999, tuyển tập
này có trích in 1 truyện cổ Ê đê : Thế giới thần linh
- Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, xuất bản năm 2000:
+ Ở tập 3 có tuyển chọn 2 truyện: Quả bầu vàng, Thế giới các thần
+ Ở tập 14 có 5 truyện: Bác thợ săn lạc trong rừng, Con mèo khôn ngoan, Bác Blông Bluê, Bác thợ săn và cô gái đười ươi, Cô gái đẹp và hạt gạo
+ Ở tập 15 có 6 truyện : H Bia Yăk Yơng, Cả nhà Mtao biến thành khỉ, Sự
gái H Long
+ Ở tập 16 có tuyển chọn 5 truyện: Truyền thuyết về nữ tù trưởng A Duôn H
Du, Sự tích kèn Đing buốt và kèn đinh năm, Thần Rồng và anh em nhà Y Rắc,
Y Rin, Cây kiếm của Thần Rồng, Sự tích đảo Singapor
Trang 19- Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, xuất bản năm 2002, tập 2
có tuyển chọn 19 truyện: Sự tích hang A Đrênh, Sự tích Biển Hồ, Sự tích dòng sông Krông Buk, Vì sao có hồ Lăk, Sự tích con voi, Tổ chim tồ rộc, Chỉ
tinh, Pơ nan giết cọp, Hơ Kung và Y Du, Nung Kuang và bác cháu chàng Rit, Anh em chim cút, cô gái đẹp và hạt gạo, Hồn lúa và lão Mtao, Y Luăc, Gà và chó, Khỉ và Rùa, Nhóm truyện về con thỏ tinh ranh
- Trong công trình nghiên cứu dân tộc học Người Ê đê – Một xã hội mẫu quyền, xuất bản năm 2004, tác giả Anne De Hautecloque – Howe có dẫn 4
truyện cổ Ê đê sưu tầm được: A Ma Mang, Y Kum, A Ma Sat, Chim xử kiện
Ở Đăk Lăk, Sở văn hóa thông tin đã tổ chức sưu tầm truyện cổ trong các
buôn làng của người Ê đê, cho in rải rác trên tạp chí Văn hóa Đăk Lăk và cho
xuất bản thành các tập truyện được lưu giữ ở Bảo tàng Đăk Lăk Chúng tôi
liệt kê các tác phẩm cụ thể như sau:
- Tạp chí văn hóa Đăk Lăk Số 1 năm 2003 có in 2 truyện: Truyện Mẹ con
- Tạp chí văn hóa Đăk Lăk Số 3 năm 2004 có in 3 truyện: Tục đặt tên, Quả
bầu vàng, Hồ Chư Lăm
- Tạp chí văn hóa Đăk Lăk Số 1 năm 2005 có in 2 truyện: Gà đẻ trứng
- Tập truyện Quả bầu vàng, xuất bản năm 2002 do Trương Bi, Y Wơn sưu
tầm gồm có 14 truyện: Quả bầu vàng, Dũng sĩ diệt cọp, Cả nhà Mtao biến thành khỉ, Sự tích điệu múa tung khắc, Y Do chữa bệnh cho Mtao, H Bia Plêô
và anh trai thủy thần, Y Kluch chém trăn thần, H Liu và H La, , Tháp Yang
- Tập truyện Sự tích hạt gạo, xuất bản năm 2003, do Trương Bi, Y Wơn sưu
tầm gồm có 7 truyện: Sự tích hạt gạo, Sự tích dòng sông Krông Hmlai, Sự
Trang 20tích núi Mẹ bồng con, Sự tích núi Cư Mta, Đàn trâu nhà trời, Sự tích núi Mẹ
và con, Đá đẻ con, Thanh gươm thần
- Tập truyện Bác thợ săn lạc trong rừng, xuất bản năm 2005 do Trương Bi,
Y Wơn sưu tầm gồm có 5 truyện : Ánh sáng và bóng tối, Hai chị em và con quỷ Yăk Yơng, Bác thợ săn lạc trong rừng, Hbia Đung và Dăm Bhu, Bác Blông Bluê
chọn gồm 13 truyện: Hạt dẻ thần kì, Sự tích các dân tộc, Con ếch Ea Đuk,
lửa của trời, Con dê và loài người, Sự tích loài ong, Con voi bảy ngà, Sự tích chiêng tre, Sự tích Cư Mta, Cây tông lông, Sự tích sông Sêrêpôk, Cây si trên sông Sêrêpôk
- Tập truyện Nữ tù trưởng A Duôn H Du, do Trương Bi, Y Wơn tuyển chọn
xuất bản năm 2007, gồm có 10 truyện: Y Luăc, Chàng cơm cháy, Y Yu, Y Ya,
Y Din lên mặt trăng, H wan lên mặt trời, Con kiến và con voi, Chàng Y Niăk, chàng Yang Mda, Y Nan nuôi cá lóc, Anh chàng mắc nợ, Chàng nghèo tát biển, Chàng Rit và voi bay, Lấy chồng trăn, Đàn trâu nhà trời, Chàng Y Ban, Dòng họ Niê Mla, Rắn thần và Hơ Rit, Thằng bé lọ nồi, Y Tô cháu của trời,
cọp nuôi Y Rit
- Tập truyện Sự tích con voi trắng do Trương Bi, Y Wơn sưu tầm năm 2008
gồm có 6 truyện: Sự tích con voi trắng, Sự tích đảo Sing Gar Pour, Sự tích
chiếc vòng ngày cưới, Chàng cá sấu, Truyện H Bia Yăk Yơng, Đá đẻ con
Thống kê những truyện đã được sưu tầm, số truyện cổ dân gian Ê đê mà chúng tôi thu thập được là 135 truyện Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi cũng tiến hành công việc sưu tầm tại buôn Ea Khit (huyện Krông Ana), buôn Niêng (huyện Buôn Đôn), buôn Ki (phường Thành Nhất ở Buôn
Mê Thuột) và buôn Bua (xã Hòa Xuân ở Buôn Mê Thuột) Số lượng văn bản
Trang 21thu thập được là 10 bản kể, : Hơ Kung và Y Du, Nàng Plêô và anh trai thủy thần, Lươn thần và cậu cháu chàng Rit, Lươn thần và Y Rit, Chàng Đăm Thí, lấy chồng Trăn, Y But Sin, Hang A Đrênh, Chàng Y Tô, Nạn hồng thủy
Những bản kể này chủ yếu là những dị bản của tài liệu công bố như đã nêu Nhưng chính những dị bản này đã giúp ích cho chúng tôi rất nhiều trong việc giải mã những vấn đề về đời sống thực tế và vấn đề phân loại truyện cổ Ê đê Chúng tôi nhận thấy hiện nay và cả về sau, công việc sưu tầm sẽ gặp phải nhiều khó khăn vì thế hệ những người còn ghi nhớ được truyện cổ đang dần dần vắng bóng Họ là những già làng, những bậc cao niên trong buôn làng Thời gian và tuổi tác làm mờ nhòa dần những kí ức của họ về truyện cổ và có một thực tế là đời sống của đồng bào Ê đê đã chuyển biến mạnh mẽ, cuộc sống hiện đại đã chi phối đến từng gia đình trong buôn Họ không còn lưu giữ được nguyên vẹn nếp sinh hoạt truyền thống Truyện cổ không có không gian văn hóa để lưu truyền, phổ biến Dần dần người ta quên đi di sản truyện cổ quí giá của dân tộc mình Qua quá trình thực tế điền dã, chúng tôi nhận thấy công việc sưu tầm truyện cổ Ê đê hiện nay chưa được quan tâm đúng mức Những tích truyện xưa của người Ê đê vẫn còn lưu giữ trong dân gian, đặc biệt trong những buôn làng ở vùng sâu vùng xa Nhưng không còn mấy ai lưu tâm đến việc tìm kiếm và bảo tồn truyện cổ Chúng tôi mong rằng trong thời gian sắp tới có thể thực hiện được những chuyến sưu tầm tại những buôn làng
mà chúng tôi chưa có điều kiện đến thăm
* Tình hình phân loại
Xem xét vốn truyện cổ đã tập hợp được cũng như những tài liệu phân tích, đánh giá và phân loại truyện cổ Ê đê, chúng tôi nhận thấy tình hình phân loại như sau:
Trong Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số (xuất bản năm 2000),
người sưu tầm tiến hành tuyển chọn 13 truyện cổ dân gian Ê đê vào tuyển tập
Trang 22này và phân chia các truyện theo từng thể loại thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích Chúng tôi liệt kê các truyện đã được xếp đặt theo từng tập:
- Thần thoại: Quả bầu vàng, Thế giới các thần (Tập 3)
- Truyện cổ tích loài vật : Bác thợ săn lạc trong rừng, Con mèo khôn ngoan
(Tập 14)
- Truyện cổ tích sinh hoạt : Bác Blông Bluê, Bác thợ săn và cô gái đười ươi,
Cô gái đẹp và hạt gạo (Tập 14)
- Truyện cổ tích thần kì: H Bia Yăk Yơng, Cả nhà Mtao biến thành khỉ, Sự
tích chiếc vòng ngày cưới, Chàng cá sấu, Chàng cơm cháy, Thần Rắn và cô
Ở công trình Văn hóa dân gian Ê đê, khi bàn về văn học dân gian Ê đê,
tác giả Ngô Đức Thịnh có dành vài trang đánh giá về truyện cổ Ê đê Tác giả
đã đưa ra một cách xác định truyện cổ Ê đê với các thể loại cơ bản là truyền thuyết, truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn Tác giả chưa đưa ra một tiêu chí nào làm cơ sở cho sự phân loại mà chỉ đơn thuần liệt kê các nhóm truyện, nêu nội dung và lấy ví dụ một số truyện làm dẫn chứng Theo tác giả:
Thứ nhất, truyền thuyết về tên núi tên sông có thể kể đến các truyện sau:
Hang A Đrênh, Sự tích dòng sông Krông Buk
Ktỉa Truôi, Chàng Cóc, Sự tích kèn đing năm, Nàng H Bia Ngo, Chàng nghèo tát biển
Thứ ba, truyện ngụ ngôn có thể kể đến các truyện: Thỏ và Hổ, Thỏ và Ốc, Thỏ bán bà già cho Mtao làm vợ
Như vậy, theo cách phân loại này, truyện cổ Ê đê không tồn tại thể loại thần thoại Chúng tôi không đồng ý với quan điểm này bởi lẽ qua khảo sát, chúng tôi tìm được ít nhất hai văn bản truyện mang đậm màu sắc thần thoại, truyện được tóm tắt như sau:
Trang 23- Truyện Hạt dẻ thần kì kể về vị thần sáng tạo vũ trụ:
Thuở xưa, vũ trụ là một hạt dẻ to lớn vô cùng, có một vị thần khổng lồ
từ trong hạt dẻ đứng dậy, đội nửa hạt dẻ lên cao thành bầu trời, nửa còn lại thần đạp xuống chân thành trái đất Vị thần này dùng hai bàn tay đào đất đá nặn ra loài người, cỏ cây muôn vật Chỗ thần đào biến thành sông, dấu chân thần biến thành đầm lầy Thần vo tròn hai tảng đá ném lên trời thành mặt trăng và mặt trời, xong việc thần biến đi đâu mất
- Truyện Quả bầu vàng kể về nguồn gốc các dân tộc:
biển nước, chỉ còn lại hai anh em Khốt và Kho sống sót, hai người ngồi trong một trái bầu để lánh nạn Trái bầu đưa họ đến một vùng đất lạ, họ tìm một cái hang gần đó để trú ngụ Hai anh em tìm được hạt bầu trong quả bầu, họ đem
thủng quả bầu và từ lỗ thủng đó có sáu mươi đôi nam nữ chui ra Sáu mươi đôi nam nữ chia nhau đi khắp mọi nơi sinh cơ lập nghiệp đó cũng chính là nguồn gốc của các dân tộc ngày nay
Trong bài viết Một vài đặc điểm của thần thoại Ê đê, tác giả Ngọc Anh
đã khẳng định về một bộ phận thần thoại rất phong phú của người Ê đê Ngọc
Anh đã tiến hành phân chia các tiểu loại trong thần thoại thành các nhánh nhỏ dựa trên nội dung phản ánh: thần thoại giải thích các hiện tượng tự nhiên, thần thoại phản ánh tinh thần đấu tranh chinh phục thiên nhiên, thần thoại phản ánh đời sống xã hội Trong quá trình mô tả thần thoại Ê đê, tác giả Ngọc Anh
có dẫn một số thần thoại để minh họa: Chuyện về Aê Diê, Kho Y Rit, Hơ Kung
và Y Du, Thế giới thần linh, Sự tích về đất trời, Hang A Đrênh
Chúng tôi nhận thấy cách phân loại của tác giả Ngô Đức Thịnh xem ra chưa hợp lí Số lượng 11 văn bản truyện đưa ra ở các thể loại truyền thuyết,
Trang 24truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn chưa thể làm toát lên cái nhìn tổng thể về bức
tranh truyện cổ dân gian của người Ê đê
truyện cổ Ê đê chỉ với hai thể loại là thần thoại và truyện cổ tích Chúng tôi cũng không thấy tác giả đưa ra một tiêu chí cụ thể nào để phân loại Như vậy,
theo Trương Bi, truyện cổ Ê đê không tồn tại thể loại truyền thuyết Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với tác giả Ngô Đức Thịnh Trong khi đó, ở
bài viết Clay đưm của người Ê đê, tác giả Đỗ Hồng Kì cũng khẳng định bên
cạnh truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn, truyền thuyết là một bộ phận khá quan trọng của truyện cổ dân gian Ê đê và dẫn ra 2 truyện làm dẫn chứng:
Hang A Đrênh, Chàng Đăm Thí
Trong số các tài liệu có đề cập đến vấn đề phân loại, tài liệu Văn học dân gian Ê đê, Mnông có thể xem là qui mô hơn cả Tác giả Trương Bi tập hợp
48 truyện cổ dân gian Ê đê và phân loại thành các tiểu loại
Thứ nhất, thể loại thần thoại với các tiểu loại:
- Thần thoại giải thích nguồn gốc của vũ trụ (1 truyện): Hạt dẻ thần kì
- Thần thoại giải thích các địa danh (8 truyện): Vì sao có hồ Lăk, Truyền thuyết về dòng sông Krông Pa, Sự tích Drai Hling, Sự tích Drai Sáp, Truyền thuyết về dòng sông Krông Buk, Sự tích suối Ea Hleo, Sự tích dòng sông Krông Hnăng, Hang A Đrênh
- Thần thoại giải thích các hiện tượng tự nhiên (5 truyện): Truyện ánh sáng và bóng tối, Hơ Kung và Y Du, Sự tích bốn mùa xuân hạ thu đông, Nấm Hồng Nấm Đỏ, Những người đầu tiên
- Thần thoại giải thích về nguồn gốc muôn loài (4 truyện): Người hóa voi, Sự tích cây kơ nia, Gà và Chó, Hồn lúa và lão chủ nô
- Thần thoại giải thích về nguồn gốc tộc người (4 truyện): Quả bầu vàng, Hang A đrênh, Sự tích người Ê đê lên mặt đất, Những người đầu tiên
Trang 25- Thần thoại giải thích các hiện tượng khác (7 truyện): Sự tích tượng nhà mồ,
Sự tích kèn đing năm, Hai anh em Đăm Thí và Đăm Di, Tục để cơm nguội, Sự tích điệu múa tung khắc, Đá đẻ con, Thanh gươm thần
Thứ hai, thể loại truyện cổ tích với các tiểu loại:
- Truyện về nhân vật dũng sĩ (3 truyện): Chàng Gơ răn Dơ hông, Bảy anh em trai và nàng A Rế, Y Kluch chém trăn thần
- Truyện về các nhân vật có địa vị thấp kém trong xã hội (8 truyện): Đăm Ktỉa Truôi, Anh em chàng Rit, Y Nan và voi bay, Nung Kuang và bác cháu chàng
Chàng nghèo tát biển
- Truyện về nhân vật xấu xí mà có tài (3 truyện): Chàng rể khỉ, Thằng bé lọ nồi, Y Đăm tai to
- Truyện về loài vật (5 truyện) : Thỏ và hổ, Thỏ và ốc, Thỏ và lão Mtao bụng
to, Thỏ chọn bạn đổi công, Thỏ cọp và cái cối
Như vậy, việc phân loại truyện cổ dân gian Ê đê cho đến nay vẫn chưa đi đến một sự thống nhất và thiếu một tiêu chí rõ ràng để khu biệt thể loại Trước
di sản văn học dân gian có giá trị của đồng bào Ê đê, trước tình hình nhận diện truyện cổ Ê đê còn nhiều nan giải, chúng tôi mạnh dạn vận dụng những tiêu chí khoa học của các nhà nghiên cứu để tiến hành phân chia thể loại truyện cổ Ê đê một cách thật đầy đủ và chính xác
1.2.2 Đề xuất tiêu chí phân loại
Việc phân loại truyện cổ dân gian sẽ gặp rất nhiều trở ngại nếu chỉ phân loại một cách cảm tính mà không dựa trên những tiêu chí mang tính khoa học Và đôi khi phải kết hợp vận dụng nhiều tiêu chí để soi chiếu, xác định loại thể của một đối tượng, nhận ra sự giao thoa thể loại giữa chúng
Prop có ý kiến cho rằng “Đặc trưng của thể loại thể hiện ở chỗ thực tại được phản ánh là thực tại nào Thực tại ấy được miêu tả bằng những biện pháp
Trang 26nào, đánh giá thực tại ấy ra sao” [35, 28] Tiến hành phân loại truyện cổ Ê
đê, chúng tôi dựa vào hai tiêu chí : chức năng thể loại và đặc trưng thi pháp
của từng thể loại Thực ra cách phân loại dựa trên hai tiêu chí lớn này không phải là mới Nhưng cách xử lí trong từng trường hợp cụ thể của những người
đi trước có thể chưa ổn thỏa, chúng tôi thấy cần phải làm rõ hơn
* Về thể loại thần thoại
Để tiện khảo sát, chúng tôi nêu tóm lược vài nét về bản chất của thần thoại: Theo quan điểm của Mác thì thần thoại gắn liền với thời kỳ ấu thơ của
nhân loại “trong những điều kiện xã hội vĩnh viễn không bao giờ trở lại nữa”,
nó là thứ “nghệ thuật vô ý thức” Cũng theo Mác thì “Thần thoại nào cũng chinh phục, chi phối và nhào nặn những sức mạnh tự nhiên ở trong trí tưởng
tượng và bằng trí tưởng tượng” Theo E.M Mêlêtinxki (Từ điển thần thoại,
1991, Nxb Bách khoa Xôviết): thần thoại được hiểu là “những truyện về các
vị thần, các nhân vật được sùng bái hoặc có quan hệ nguồn gốc với các vị thần, về các thế hệ xuất hiện trong thời gian ban đầu tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tạo lập thế giới cũng như vào việc tạo lập nên những nhân
tố của nó – thiên nhiên và văn hoá” Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên cũng đưa ra ý kiến: “Nói một cách đơn giản thần thoại là một loại truyện nói về
thần, mang yếu tố thiên nhiên và xuất hiện vào thời kì khuyết sử” (Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam, 1978, Nxb Đại học
Sư phạm)
Như vậy, dựa trên các quan niệm này, có thể rút ra mấy nhận xét: Thứ nhất,
thời điểm ra đời của thần thoại và thời điểm được phản ánh trong thần thoại chính là “quá khứ khởi nguyên” Thứ hai, thần thoại gắn liền với nhu cầu lý giải và chinh phục tự nhiên của con người thời cổ đại Vì sao nói như vậy?
Trong khi tiếp xúc với thiên nhiên và các hiện tượng vũ trụ kỳ bí, người nguyên thủy khao khát tìm hiểu bản chất của nó để bớt nỗi kinh hoàng và thắc
Trang 27mắc Nhưng với một trình độ tư duy chưa cho phép, họ đã nỗ lực hết mình nhận thức thế giới bằng một tư duy hoang đường và ấu trĩ Họ đặt niềm tin vào sự tưởng tượng ấy và cho rằng thế giới này do các vị thần tạo ra Họ gán vai trò của thần thánh cho tất cả các hiện tượng tự nhiên xảy ra quanh mình Trong quan niệm của họ, hết thảy cõi tự nhiên đều chịu sự chi phối của các thần Trong tâm lí lo sợ những tai họa mà thế giới tự nhiên giáng xuống cuộc sống của họ, họ sùng bái các vị thần mà họ đã tạo ra trong trí tưởng tượng Và những truyện kể thần thoại đầu tiên ra đời bao giờ cũng có các nhân vật là các
vị thần với quyền năng và tầm vóc khổng lồ Thần lúc ban sơ trong óc sáng tạo của con người khi đó thường mang những hình dạng có phần cổ quái, kì
lạ, (khổng lồ, mình Rồng, có cánh, v.v …) Nhân vật các thần trong thần thoại
có tính cách đơn giản một chiều (Thần Mưa, Thần Sấm, Thần Gió v.v ) mỗi thần chỉ thực hiện một chức năng, một hành động Về mặt kết cấu, đa phần thần thoại có cốt truyện đơn giản, chưa có nhiều chi tiết, thể hiện cách lý giải còn thô sơ rời rạc trong nhận thức về thế giới của con người thời cổ Căn cứ vào lí thuyết về thể loại, chúng tôi rút ra ba tiêu chí quan trọng để nhận diện thần thoại như sau:
Tiêu chí 1: Nhận thức và lí giải các hiện tượng tự nhiên (nguồn gốc vũ trụ, muôn loài…), thể hiện ước mơ chinh phục tự nhiên
Tiêu chí 2: Thời gian nghệ thuật được phản ánh trong thần thoại là thời
kì hỗn mang của lịch sử loài người (quá khứ khởi nguyên)
Tiêu chí 3: Nhân vật chính là thần mang trong mình sức mạnh của tự nhiên với tầm vóc và kích thước khổng lồ, ra đời trên cơ sở thủ pháp nhân hóa tự nhiên
Trong đó, tiêu chí 1 thuộc về chức năng thể loại, tiêu chí 2, 3 thuộc về đặc trưng thi pháp
Trang 28Dựa vào những tiêu chí này, chúng tôi tán thành việc xếp hai truyện
Quả bầu vàng và Thế giới các thần vào mục thần thoại ở Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số (tập 3, xuất bản năm 2000)
Xem xét việc xác định thể loại thần thoại trong tài liệu Văn học dân gian Ê đê, Mơ nông của tác giả Trương Bi, chúng tôi thống kê có 26 truyện
được xếp vào thể loại thần thoại Căn cứ vào tiêu chí nhận diện thể loại,
chúng tôi chỉ nhất trí 8 truyện mang đặc điểm của thần thoại : Hạt dẻ thần kì,
xuân hạ thu đông, Những người đầu tiên, Sự tích người Ê đê lên sống trên mặt đất Trong đó truyện Những người đầu tiên và Sự tích người Ê đê lên sống trên mặt đất thực chất là dị bản của truyện Hang A Đrênh Còn lại 18
truyện không thuộc phạm vi của thần thoại Những trường hợp tác giả Trương
Bi phân loại chưa chính xác, chúng tôi dẫn ra cụ thể: Sự tích hồ Lăk (1), Truyện Krông Pa (2), Sự tích thác Drai Hling (3), Sự tích thác Drai Sáp (4),
Sự tích dòng sông Krông Buk (5), Sự tích suối Ea Hleo (6), Sự tích sông
Kèn đing năm (14), Anh em Đăm Thí Đăm Di (15), Tục để cơm nguội (16), Sự tích điệu múa tung khắc (17), Đá đẻ con (18)
- Nhóm truyện giải thích địa danh:
tìm nước, bắt được một con lươn đem về nuôi Lươn lớn nhanh, đào hố rộng mãi tạo nên hồ nước Buôn làng không phải chịu khát nữa Có một con rồng đến đánh nhau với lươn Lươn thắng nhưng kiệt sức chìm xuống hồ Hai anh
em ngồi bên hồ gọi lươn mãi, đến sáng hôm sau thì cả hai hóa đá bên hồ Từ
đó hồ có tên là hồ Lăk
Trang 29Truyện Krông Pa (2): Chàng mồ côi Y Pa đói khát cùng với ba con chó vào rừng đi săn nhưng chẳng kiếm được gì, lại không có nước uống Y Pa nói một câu trách thần Sông thần Núi Chàng bị phạt, lập tức nước ở đâu dâng lên đuổi chàng chạy mãi đến khi kiệt sức Ba con chó của chàng hoảng sợ chạy vào rừng từ đó chúng trở thành chó sói Dòng nước đuổi theo Y Pa trở thành dòng sông, người ta gọi là sông Krông Pa
Hai người đem lòng yêu nhau Cha Hling ngăn cấm, gả Hling cho nhà giàu, nàng gieo mình xuống sông tự vẫn Y Rit lặn tìm và chàng cũng chết Từ đó dòng sông biến thành một dòng thác dữ Buôn làng đặt tên thác là Drai Hling
xinh đẹp là H Mí Y Rit cứu H Mí khỏi dòng nước dữ H Mí đem lòng yêu chàng Y Rit mồ côi, trao vòng bạc Mtao không đồng ý gả H Mí cho Y Rit Quái vật xuất hiện bắt H Mí đi mất Y Rit hóa thành cây cổ thụ Dòng thác nơi hai người chia tay gọi là Drai Sap
xinh đẹp nhất buôn làng vào rừng chơi, họ lạc đến một bờ sông lạ Ở đó hai chị em gặp chàng Y Krông vốn là thần Sông Họ kết bạn gặp gỡ nhiều lần, hai chị em đem lòng yêu Y Krông Y Krông cũng yêu mến hai chị em Nhưng
Y Krông không thể sống trên cạn Hai chị em thì không thể sống dưới nước Hai nàng quyết định chia tay Y Krông Y Krông giữ lại không được, chàng cắt nắm tóc của hai chị em Từ đó dòng sông được đặt tên Krông Buk (con sông tóc)
Hleo đem lòng yêu chàng Y Rit mồ côi Buôn làng của Mtao Pui bị đàn cọp
Trang 30dữ tấn công Mtao Pui hứa ai diệt được cọp sẽ gả con gái cho Y Rit giết được cọp nhưng chàng cũng chết, xác chàng bị nước cuốn đi Nàng Hleo khóc thương Y Rit suốt ngày đêm, nàng tan biến thành dòng suối Buôn làng gọi tên dòng suối là Ea Hleo
bỗng một hôm từ trên đỉnh núi phun ra lửa, hủy hoại tất cả nguồn nước, nương rẫy Dòng họ Mlô làm chủ đất H Năng là con gái đầu lòng của chủ đất Y Kheo Cha mất truyền trọng trách chủ đất lại cho hai vợ chồng Y Jút, HNăng Y Jút đi tìm đất lập buôn nhưng không thấy trở về HNăng quyết ra đi một mình tìm vùng đất mới nơi có nguồn nước dồi dào Đi mãi, đến khi kiệt sức, nàng khấn Giàng xin cho mưa xuống rồi chết Lập tức trời mưa làm sống dậy muôn loài cây cối, thú vật Dân làng đi tìm H Năng đến nơi thấy nàng đã chết, nhớ công ơn của nàng mà đặt tên dòng sông nơi nàng HNăng gục xuống là Krông HNăng
Khi khuôn xếp 7 truyện này vào tiểu loại thần thoại giải thích địa danh, có
lẽ tác giả Trương Bi đã dựa vào chức năng nhận thức và lí giải tự nhiên – cũng chính là tiêu chí thứ nhất mà chúng tôi đưa ra để nhận diện thần thoại Tuy nhiên, sự xác định này chưa được thấu đáo Những truyện vừa nêu đúng
là có yếu tố lí giải vì sao có tên gọi của dòng sông ngọn thác nhưng cái nội dung mà truyện hướng tới để nhận thức không phải là thế giới tự nhiên mà chính là mối quan hệ và số phận của con người trong cuộc sống đời thường – các truyện (1), (2), (3), (4), (5), (6) và vị trí của con người trong một cộng đồng, bộ lạc - truyện (7) Xét ở góc độ thi pháp, các truyện này cũng không phản ánh thời kì hỗn mang sơ khai của loài người Và điểm đáng lưu ý ở đây
là các nhân vật không phải là thần, không mang dáng dấp thần linh mà chỉ là những con người hết sức bình thường (anh em Y Lăk mồ côi, chàng Y Pa mồ côi, nàng Hling, chàng Y Rit…)
Trang 31- Khi xác định thần thoại giải thích về hiện tượng tự nhiên, Trương Bi đưa ra
truyện Hơ Kung và Y Du làm dẫn chứng: Ở buôn nọ có một bà góa sống với con gái xinh đẹp tên là Hơ Kung và con trai là Y Dang Bà góa nhặt được Y
Du ngoài rừng đem về nuôi Lớn lên Hơ Kung và Y Du đem lòng yêu nhau Vì
họ là anh em bú cùng một vú mẹ nên không được phép lấy nhau Hai người dắt nhau bỏ trốn nhưng chưa dám thành vợ thành chồng vì sợ thần linh trừng phạt Họ nghĩ ra cách mỗi người chọn một việc để làm, nếu cả hai người xong cùng một lúc thì sẽ sống với nhau, nếu không xong cùng một lúc thì phải chia tay Hơ Kung chọn việc dệt vải, Y Du chọn việc ngăn thác bắt cá Cuối cùng việc của Y Du lại xong trước Chàng không nói cho Hơ Kung biết mà có ý đợi
Hơ Kung xong việc để được ở bên nhau Trong lúc Y Du ngắm Hơ Kung thì cũng vừa lúc nàng quay lại nhìn chàng Hiểu được sự tình, Hơ Kung bỏ chạy
Y Du đuổi theo, đuổi theo mãi để giữ Hơ Kung ở lại Hơ Kung chạy đến buôn Mặt trời, nàng mệt quá nghỉ ở đó Y Du chạy đến buôn Mặt trăng Chàng mệt quá cũng nghỉ ở đó Không ngờ Mặt trời, Mặt trăng lại đi theo hai ngả khác nhau Từ đó Hơ Kung và Y Du không thể gặp lại nữa Chỉ đến khi có nguyệt thực họ mới được gặp nhau Nguyệt thực xảy ra là để cho đôi trai gái đoàn
tụ
Khi soi chiếu những tiêu chí của thể loại thần thoại vào truyện Hơ Kung
và Y Du, chúng tôi thấy rằng truyện có chức năng nhận thức, lí giải về tự nhiên (hiện tượng nguyệt thực) nhưng đây không phải là chức năng chính Chức năng trội ở truyện này chính là sự phản ánh quan hệ xã hội – mối tình loạn luân của đôi trai gái với những rào cản của tập tục xã hội Truyện Hơ Kung và Y Du cũng không thỏa mãn tiêu chí 2 và 3 của thể loại thần thoại Trường hợp này có thể khẳng định không phải là một truyện kể thần thoại
- Nhóm thần thoại giải thích nguồn gốc muôn loài:
Trang 32Người hóa voi (9): Người thợ săn bắn con dọc bạch rồi ném xuống suối Suối hóa ra rất nhiều cá Dân làng rủ nhau đi bắt cá, nướng ăn Cả nhà Mtao cũng đi bắt cá Họ biến thành voi, chỉ có nàng H Bia con gái Mtao và Y Rit không ăn cá nên không bị biến thành voi Đàn voi đi vào rừng ở Từ đó người
sẽ không giết mà đem về thuần dưỡng
nô lệ của Mtao Mtao ra điều kiện nếu chàng K Đăm làm được tất cả những việc hắn giao thì sẽ cho phép hai người lấy nhau : đi hạ cây đại thụ trong rừng, đi bắt con thuồng luồng, đi phát rẫy Khi phát rẫy, H Nia mang nước cho K Đăm nhưng vì quá đói khát, H Nia gục ngã, K Đăm chạy lại đỡ người yêu Vì kiệt sức, K Đăm cũng chết bên cạnh H Nia Hai người hóa thành cây
kơ nia
Hồn lúa và lão chủ nô (11): Mtao chỉ lo ăn năm uống tháng, để cỏ dại lấn hết lúa, không chăm sóc nương lúa Hồn lúa bị khinh rẻ bèn rủ nhau đến ở với bà lão nghèo Đến khi thu hoạch, lúa tự bò về chòi của bà lão Cả nhà Mtao thì chết đói
Gà và Chó (12): Ngày xưa, Gà và Chó không giống như bây giờ Chó ngày xưa lông vũ, gà thì lông mao Do bộ lông gây khó khăn cho việc kiếm ăn
còn làm cao lưỡng lự Cuối cùng hai con đổi lông cho nhau Chó tức vì câu
Ba truyện (9), (10), (11) cho thấy truyện nảy sinh trong thời kì xã hội đã có
sự phân chia giai cấp, xuất hiện Mtao là người có vai trò thủ lĩnh của cộng đồng Rõ ràng hai truyện này không phải thuộc về thời kì nguyên thủy của thần thoại Có lẽ ở ba truyện này, tác giả đã có sự nhầm lẫn khi nhìn nhận mô típ hóa thân trong truyện cổ tích và cho rằng đây là bộ phận thần thoại giải
Trang 33thích nguồn gốc muôn loài Ở truyện Gà và Chó, tác giả đã không phân biệt
đuợc sự khác nhau giữa chức năng lí giải nguồn gốc muôn loài của thần thoại với chức năng suy nguyên đặc điểm loài vật của truyện cổ tích loài vật
- Nhóm thần thoại giải thích các hiện tượng khác:
cúng trong buôn muốn H Ren làm vợ con trai hắn Thầy cúng vu oan Y Thih
có lòng độc ác, bắn thú rừng nhiều, bắt Y Thih chịu tội, vu oan H Ren là ma lai Cuối cùng H Ren chết, Y Thih hóa thành tượng gỗ
Sự tích kèn đing năm (14): Hai vợ chồng già không có con Người vợ uống nước hốc đá sinh được 6 người con (3 trai 3 gái) giống nhau như đúc Người cha làm 6 ống nứa khác nhau cho 6 người con để phân biệt Người em
út lấy 6 ống nứa cắm vào quả bầu khô làm kèn thổi Âm thanh gợi sự buồn thương Sau này để thổi trong đám tang, gọi là kèn Đing Năm
được hai thanh sắt sáng chói dài bằng gang tay Về nhà nàng có mang sinh được hai người con trai khôi ngô, đặt tên con là Đăm Di và Đăm Thí Lớn lên
Pơ Lang trao hai thanh sắt cho hai con rèn gươm, gươm rèn xong nóng không chịu nguội, bay vào rừng Hai anh em đi tìm thấy gươm nằm dưới suối Hai anh em lội xuống suối thì trở nên cao lớn mạnh khỏe thần kì, rồi lên đường đi giết giặc cứu dân làng Dẹp giặc xong hai thanh gươm được thờ ở buôn làng
có nhà Mtao giàu có là ăn uống linh đình Trời cùng với cháu xuống giả làm người khố rách đi xin ăn Họ đến nhà Mtao thì bị đuổi, đến nhà nghèo thì được cho cơm nguội Trời tức giận hóa phép khiến của cải của Mtao ra đi hết Mtao đói khát phải đi xin ăn nhà nghèo Từ đó có tục ăn cơm xong phải
để dành cơm nguội vì đó chính là hồn cơm hồn lúa
Trang 34Sự tích điệu múa tung khắc (17) : Hai vợ chồng sinh con trai đặt tên là Y Rit Y Rit lớn lên khỏe mạnh lớn như thổi, vào rừng mải săn thú bị lạc Ông Gỗn chỉ cho cách làm trống và dạy cách múa trống Chàng mang theo trống tìm đường về nhà Nghe tiếng trống các loài thú dữ không hại chàng Muôn loài chim thú tụ họp về dẫn đường cho Y Rit về nhà Điệu múa trống gọi là điệu múa tung khắc
về nuôi đặt tên là Yang Mya Chàng lấy vợ rồi đi làm ăn xa Khi trở về biết vợ ngoại tình Chàng hỏi người đi đường ai cũng giấu Tức giận chàng giết và hóa đá họ Chàng giết kẻ gian phu và về nhà hóa đá người vợ đang sinh con Chàng thách ông trời vật lộn rồi hóa đá tất cả những người đến xem Cuối cùng ông trời biến chàng thành con lợn lòi Chàng bị dân làng giết rồi cũng hóa thành đá
quý giá Pôthê kết bạn với người bạn có viên đá hóa phép ra ngàn quân và roi mây thần Pôthê gặp vua của các dân tộc Chăm, Giarai, Kinh, Lào, Ê đê đang mò gươm thần Gươm từ trên trời rơi xuống, ánh sáng rực cả đáy sông Vua Chăm mò được lưỡi gươm nhưng vừa lên đến bờ thì bị Pôthê cướp mất Chàng trao cho vua Giarai Vua Khmer mò được vỏ gươm Tức giận vì mất gươm, Người Chăm gây cuộc chiến tranh lớn với người Khơme Pôthê giúp người Giarai đánh giặc nhưng không phân thắng bại Chàng làm lễ cúng thần và cầm gươm xông ra trận mạc Cuối cùng người Chăm phải thua Pô thê trao gươm thần cho Vua Lửa của người Giarai và dặn dò người Giarai kết hiếu với người Khmer Từ đó có tục thờ gươm
Theo chúng tôi, tất cả các truyện trong nhóm này đều không đáp ứng những tiêu chí của thể loại thần thoại Các hiện tượng như sự hóa thân thành tượng nhà mồ, sự ra đời của kèn đing năm, tục để cơm nguội, điệu múa tung
Trang 35khắc, tục thờ gươm người hóa đá được kể ở các truyện trên không phải là những vấn đề mang tầm vóc vũ trụ, nhân loại vào thuở sơ khai của loài người Đây là những truyện phản ánh phong tục và những bi kịch trong gia đình và
xã hội ở thời kì xã hội đã có sự phân chia giai cấp Bên cạnh đó, hai truyện
Hai anh em Đăm Thi, Đăm Di và Thanh gươm thần lại kể về người anh hùng
có công đánh giặc của lịch sử cộng đồng Nội dung phản ánh này cũng không nằm trong khung tiêu chí của thể loại thần thoại
* Về thể loại truyền thuyết
Từ trước đến nay có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về truyền thuyết, chúng tôi điểm qua một số ý kiến:
- Theo Nguyễn Xuân Kính, truyền thuyết “là những điều truyền tụng trong dân gian (Bằng văn bản hay truyền miệng) về các nhân vật, các sự vật, địa danh, các sự kiện liên quan đến sự phát triển của cộng đồng và đồng thời cũng là đại diện, là tiêu biểu hay là thể hiện những giá trị văn hóa (vật chất,
tinh thần) của cộng đồng đó” (Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp văn họa dân gian, Tạp chí văn hóa dân gian số 3 năm
1982)
- Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: “truyền thuyết thường có cái lõi
là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tưởng hóa, đã gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian, làm nên những tác phẩm văn hóa
mà đời đời con người ưa thích” (Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường, 1998, NXB Giáo dục)
- Theo Lã Duy Lan “Tru yền thuyết là những truyện dân gian về lịch sử Nó không phải chính sử mà là một thứ dã sử, là lịch sử dân gian Nó là văn học chứ không phải là lịch sử Nhưng chính cái nội dung lịch sử lại là đặc điểm
Trang 36nổi bật của thể loại văn học dân gian này” (Lã Duy Lan (1997), Truyền thuyết Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội)
- Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Truyền thuyết là một cảm quan của cộng đồng
về những sự kiện và nhân vật lịch sử, là cách đánh giá, phản ánh lịch sử một cách không chính thống của mọi thời đại, cách phản ánh dân dã nhất, vì thế
mà hồn nhiên và đầy chất thơ nhất” (Vũ Ngọc Khánh (1998), Truyền thuyết Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội)
- Theo Hồ Quốc Hùng, “truyền thuyết là kí ức cộng đồng về quá khứ, chủ yếu
nó phản ánh niềm tin, sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với các nhân vật và sự kiện lịch sử của dân tộc ít nhiều bằng hư cấu, tưởng tượng Lịch sử đọng lại trong truyền thuyết như những tia hồi quang phủ lên cảnh vật, phong thổ của
đất nước làm say đắm biết bao thế hệ” (Hồ Quốc Hùng, 2003, Truyền thuyết Việt Nam và vấn đề thể loại, NXB Trẻ - Hội nghiên cứu và giảng dạy văn
học TP HCM)
Mỗi định nghĩa trên có một đóng góp riêng, nhìn chung các nhà nghiên cứu đều quan tâm đến truyền thuyết ở các phương diện: Dạng thức tác phẩm, thời gian phản ánh, quan hệ cộng đồng, đặc điểm nội dung và nghệ thuật Căn
cứ vào những điểm chung trong quan niệm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi rút ra hai dấu hiệu nhận dạng cũng chính là tiêu chí quan trọng để xác định thể loại truyền thuyết:
Tiêu chí 1: Phản ánh những sự việc và nhân vật liên quan đến lịch sử cộng đồng, được nhân dân gửi gắm niềm tin và lòng ngưỡng mộ
Tiêu chí 2: Nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử được nhân dân lí tưởng hóa, có yếu tố hư cấu
Trong đó, tiêu chí 1 thuộc về chức năng thể loại, tiêu chí 2 thuộc về đặc trưng thi pháp
Trang 37Về vấn đề phân loại các tiểu loại trong truyền thuyết, hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi nhà nghiên cứu Chúng tôi dựa vào tiêu chí phân loại khá đầy đủ về truyền thuyết của tác giả Hồ
Quốc Hùng (trong công trình Truyền thuyết Việt Nam và vấn đề thể loại):
Truyền thuyết có hai loại lớn là truyền thuyết địa danh và truyền thuyết lịch sử
con người, sự kiện lịch sử xác thực Và truyền thuyết địa danh được gán với con người và sự kiện lịch sử không xác thực
- T ruyền thuyết lịch sử : cũng có hai tiểu loại truyền thuyết anh hùng và
truyền thuyết danh nhân
+ Truyền thuyết anh hùng: có hai tiểu loại là truyền thuyết anh hùng dân tộc
và truyền thuyết anh hùng địa phương
+ Truyền thuyết danh nhân: có ba tiểu loại là danh nhân tổ nghề; người lập làng, tổ dòng họ; danh nhân văn hóa
Khi đã xác định được những tiêu chí quan trọng của thể loại truyền thuyết, chúng tôi đưa ba truyện mà tác giả Trương Bi đã xếp đặt nhầm chỗ về đúng
với vị trí thể loại truyền thuyết của nó: Sự tích dòng sông Krông HNăng (ca ngợi người thủ lĩnh của cộng đồng cư dân đi tìm đất lập buôn), Hai anh em Đăm Thí, Đăm Di và Thanh gươm thần (ca ngợi người anh hùng đánh giặc
của cộng đồng)
Trong tài liệu Văn hóa dân gian Ê đê, khi xác định kho tàng truyện cổ dân
gian Ê đê có tồn tại bộ phận truyền thuyết, tác giả Ngô Đức Thịnh có dẫn ra
hai truyện: Hang A Đrênh, Sự tích dòng sông Krông Buk Ở bài viết Clay đưm của người Ê đê, tác giả Đỗ Hồng Kì cũng nhắc tới hai truyện để minh
họa cho thể loại truyền thuyết: Hang A đrênh và Đăm Thí
Trang 38Trong ba truyện đã được các tác giả xác định là truyền thuyết, chúng tôi chỉ
nhất trí trường hợp truyện Đăm Thí là một truyền thuyết đúng với đặc điểm loại hình của nó Truyện được tóm tắt như sau:
Chàng Đăm Thí đau lòng trước cảnh các cô gái của buôn làng bị hãm hại Chàng căm phẫn giậm chân bảy lần trên phiến đá trắng, đá nứt ra nước tuôn trào thành cái hồ Dưới lòng hồ là một thỏi thép quý Đăm Thí mang về rèn thanh gươm lại ra chiếc liềm, rèn lưỡi liềm lại thành lưỡi rựa, rèn lưỡi rựa lại thành lưỡi dao, đập lưỡi dao lại thành lưỡi giáo, cuối cùng rèn được thanh kiếm sắc Nhưng kiếm không chịu nguội, nhúng xuống suối suối cạn, mài trên đá đá tan thành bụi, bỏ trên cỏ cỏ cháy Thần chỉ cách đâm kiếm vào
cô gái đẹp Kiếm nguội Đăm Thí đem giết bọn Mtao Kiếm của Đăm Thí tương truyền người Kinh giữ vỏ gươm, người Lào giữ cán gươm, người Ê đê giữ lưỡi kiếm, người Giarai có nhiệm vụ bảo vệ gươm thần Đăm Thí ra đi Trong truyện này, nhân vật chính là chàng Đăm Thí với tư cách là người anh hùng của cả cộng đồng, có công giết giặc bảo vệ sự bình yên cho buôn làng Đăm Thí được cộng đồng ngưỡng mộ và ca ngợi Truyện cũng phản ánh một giai đoạn trong lịch sử cộng đồng người Ê đê Đó là thời kì các tù trưởng giàu mạnh thường xuyên đi cướp bóc của cải và cướp đoạt phụ nữ để củng cố cho địa vị của mình Tất cả nội dung phản ánh này đã thỏa mãn những tiêu chí quan trọng của thể loại truyền thuyết
Khi xác định truyện Hang A Đrênh và Sự tích dòng sông Krông Buk là một
truyền thuyết, có lẽ các tác giả đã căn cứ vào đặc điểm về không gian nghệ thưật của truyền thuyết Thông thường, không gian được xác định một cách
cụ thể (truyện xảy ra ở đâu, liên quan đến địa danh nào? ) và trong truyền thuyết cũng có một bộ phận được gọi là truyền thuyết địa danh
Trang 39Tuy nhiên, không phải bất cứ truyện nào gắn với một địa danh cũng được
xem là truyền thuyết Vì ngay cả trong thể loại truyện cổ tích cũng có rất
nhiều truyện lí giải về nguồn gốc địa danh Chẳng hạn Sự tích núi Vọng Phu,
Sự tích Đầm Nhất Dạ Chúng tôi có sự cân nhắc khi xác định thể loại của
những truyện có liên quan đến địa danh và cho rằng yếu tố địa danh không phải là yếu tố nổi bật, đặc trưng để nhận diện thể loại truyền thuyết Căn cứ
vào chức năng của thể loại, xét trường hợp truyện Sự tích dòng sông Krông
người liên quan đến lịch sử cộng đồng Nội dung phản ánh ở đây là tình yêu không thành do những cách trở về địa vị trong xã hội
Truyện Hang A Đrênh được tóm tắt như sau: Thuở người và muông thú còn hiểu tiếng nói của nhau, loài người sống ở hang sâu trong lòng đất, chưa biết nấu cơm nấu rượu, chưa biết dệt chăn dệt khố Pôlăn (thần Đất) bảo con trai Pô Êpik xuống trần dạy cho loài người nấu cơm nấu rượu Khi biết làm
ra rượu, họ quên hết mọi thứ, không đi kiếm ăn không có cái ăn Họ oán Pô Êpik, đánh đuổi thần, đuổi theo mãi thì gặp cái hang, chui lên là mặt đất màu mỡ họ chưa từng biết Đoàn người kéo nhau lên mặt đất sinh sống, trâu của Y Rit ngáng đường nên Y Rit phải giết trâu Đoàn người lần lượt kéo ra: người Thái, người Mèo, người Tày, người Kinh, người Ê đê… Cái hang nơi
họ chui ra gọi là hang A Đrênh Các tộc người chia nhau đi tìm nơi sinh sống
Ở truyện này, khi đối chiếu với khung tiêu chí của thể loại truyền thuyết, chúng tôi thấy rằng màu sắc truyền thuyết rất mờ nhạt nếu chỉ căn cứ vào tính
chất địa danh của nó Thử đối chiếu với thể loại thần thoại, chúng tôi thấy được những biểu hiện của thể loại thần thoại trong truyện này khá rõ: lí giải nguồn gốc tộc người, phản ánh thời kì nguyên thủy sống theo bầy đàn, cư trú trong hang hốc của loài người, tư duy đậm chất thần thoại khi phản ánh mối
Trang 40quan hệ giữa người và thần linh Theo chúng tôi, đây là một truyện kể thần thoại
* Về thể loại truyện cổ tích
Về thể loại truyện cổ tích, sự ra đời của truyện cổ tích gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, hình thành sự phân hóa giai cấp trong xã hội Nó hướng vào những vấn đề cơ bản, những hiện tượng có tính phổ biến trong đời sống nhân dân, đặc biệt là những xung đột có tính chất riêng tư giữa người và người trong phạm vi gia đình và xã hội
Trong Từ điển văn học, nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã nêu ra những
nội dung ít nhiều được thống nhất về truyện cổ tích như sau:
tố phản ánh quan niệm thần thoại của nhân dân về các hiện tượng tự nhiên
và xã hội có ý nghĩa ma thuật Song truyện cổ tích phát triển chủ yếu trong
xã hội có giai cấp nên chủ đề chủ yếu của nó là chủ đề xã hội”
tại, đồng thời nói lên những quan điểm đạo đức, những quan niệm về công lí
xã hội và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại.”
và ở một bộ phận chủ yếu, yếu tố tưởng tượng thần kì tạo nên một đặc trưng nổi bật trong phương thức phản ánh hiện thực và ước mơ”
Căn cứ vào những kiến giải sẵn có về truyện cổ tích, chúng tôi rút ra ba tiêu chí cơ bản để xác định thể loại truyện cổ tích trong quá trình phân loại truyện cổ dân gian:
Tiêu chí 1: Phản ánh xung đột và các mối quan hệ trong gia đình, xã hội
Tiêu chí 2: Nhân vật chính là những con người lao động trong cuộc sống đời thường