1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái đẹp, cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian dân tộc chăm

122 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn học dân gian của người Chăm hiện nay chưa được nghiên cứu nhiều như văn học dân gian các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam như H’Mông, Thái, Khmer, Ê Đê, Ra Glai, Xtiêng… Một số các c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS TS HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lưu Tấn Thành

Trang 4

Trước hết, tôi xem luận văn này như một nén nhang thành kính dâng đến Ppo Yang (vị thần Chăm) đã chở che cuộc sống người Chăm

Để có được bước đi như ngày hôm nay, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân đã bảo trợ, động viên cho tôi trên con đường học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn GS TS Huỳnh Như Phương, người thầy không chỉ giúp đỡ tận tình mà còn hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Tôi xin cảm ơn quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy lớp Lý luận văn học khóa 01 -

2015, trường Đại học KHXH & NV Thành phố Hồ Chí Minh và cho tôi tri thức, phương pháp học tập cần thiết để hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn Quý thầy cô trong hội đồng đã dành thời gian đọc luận văn và cho tôi những ý kiến quý báu trên con đường học tập lâu dài

Xin chân thành cảm ơn

Tp Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 07 năm 2018

Học viên

Lưu Tấn Thành

Trang 5

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của luận văn 8

6 Cấu trúc của luận văn 8

NỘI DUNG Chương 1: Khái quát về văn học dân gian Chăm 10

1 1 Khái quát về dân tộc Chăm 10

1 2 Văn học dân gian Chăm 12

Chương 2: Cái đẹp trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm 20

2 1 Cái đẹp tự nhiên, xã hội, con người trong truyện kể dân gian Chăm 21

2 2 Cái đẹp - sự hình thành vũ trụ, nhân sinh quan của người Chăm 28

2 3 Cái đẹp - văn hóa trong truyện kể dân gian Chăm 32

2.4 Những diễn hóa mô típ của cái đẹp trong truyện kể dân gian Chăm 41

Chương 3: Cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm 47

3 1 Cái bi trong truyện kể dân gian người Chăm 47

3 1 1 Cái bi là một hiện tượng xã hội 48

3 1 2 Cái bi là một hiện tượng thẩm mỹ khách quan 55

3 1 3 Cái bi - sự kết hợp cảm xúc và tư tưởng 59

3 1 4 Cái bi - sự xung đột giữa môi trường, xã hội và con người Chăm 61

3 2 Cái hài trong truyện kể dân gian người Chăm 64

3 2 1 Cái hài là một hình thái phê phán có cảm xúc 66

3 2 2 Cái hài phồn thực 70

Trang 6

KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC 91

Trang 7

Văn học dân gian của người Chăm hiện nay chưa được nghiên cứu nhiều như văn học dân gian các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam như H’Mông, Thái, Khmer, Ê Đê,

Ra Glai, Xtiêng… Một số các công trình liên quan đến văn học Chăm đã được xuất bản

là các sưu tập văn bản truyện kể, câu đố, tục ngữ, ca dao và số ít dân ca… Mảng nghiên cứu văn học dân gian Chăm còn rất mỏng ở các dạng bài viết khái quát diện mạo, đặc điểm của thể loại dân gian nổi bật nào đó, phần lớn trong số các bài viết đó thường đặt văn học dân gian Chăm trong nghiên cứu so sánh với các thể loại tương ứng của văn học dân tộc Kinh Một vài công trình nghiên cứu công phu và dày dặn nhất, có thể kể đến luận văn thạc sỹ về tục ngữ của Trần Thị Mỹ Dung và luận án tiến sỹ về truyện kể dân gian Chăm của Nguyễn Thị Thu Vân, tuy nhiên hai công trình này chưa được xuất bản Các nghiên cứu có giá trị còn lại đa số là của các tác giả của người Chăm như Inrasara, Trương Văn Món (Sakaya), Sử Văn Ngọc, Quảng Văn Đại, Sử Gia Trang, Bá Minh Truyền…

Giá trị văn học làm nên bộ mặt của một nền văn hóa trong chiều sâu hun hút của lịch sử dân tộc Truyện kể dân gian dân tộc Chăm là lịch sử, là văn hóa, là bản sắc dân tộc Chúng tôi thấy phải tiến hành nghiên cứu ý nghĩa cái đẹp huyền thoại, khảo sát, sưu tầm truyện cổ Chăm theo quy hoạch, có dự án cụ thể để bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa hòa chung với 54 dân tộc anh em trong đất nước Việt Nam Đề tài

Trang 8

Cái đẹp, cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm được chúng tôi đặt ra

trên cơ sở nhận thức trên Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tìm hiểu cái đẹp, cái

bi và cái hài trong truyện kể dân tộc Chăm để tìm ra những điểm độc đáo, mới lạ trong văn hóa người Chăm

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Quá trình sưu tầm và nghiên cứu truyện kể dân gian Chăm bắt đầu từ cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, khởi đầu bằng việc ghi chép của một số nhà truyền đạo người Tây phương về phong tục tập quán, nghi lễ và văn hóa truyền khẩu của tộc người Chăm Người đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu Champa là G Maspero, ông dựa vào cứ liệu Trung Quốc và bia kí Phạn ngữ Champa để nghiên cứu lịch sử Champa từ thế kỉ II sau Công nguyên đến năm 1471 Tiếp thu kết quả nghiên cứu của Maspero, các nhà nghiên cứu người Pháp như G Coedes, L Finot, M Durand, A Cabaton và E Aymonier… cho rằng sau năm 1471 khi Vijaya - Champa bị thất thủ trước sự tấn công của Đại Việt đã không tồn tại như một quốc gia nữa Về sau, nhiều bài viết có đề cập nhưng chỉ vài trang, chưa thể hiện hết nội hàm của nó

Việc sưu tầm truyện kể dân gian Chăm trước đây chỉ vỏn vẹn khoảng 100 đơn vị truyện, gần đây người viết có sưu tập hơn 100 truyện chia thành nhiều thể loại cụ thể nhằm tìm hiểu về cái đẹp, cái bi và cái hài trong tín ngưỡng, văn hóa Chăm

Trong thế kỉ XX việc sưu tầm, giới thiệu truyện kể dân gian Chăm gia tăng rõ rệt Ở miền Nam trước 1975, Trung tâm Văn hóa Chăm do linh mục Moussay phụ trách có

sưu tầm ba truyện cổ tích Chăm, in trong tập Khảo lục nguyên cảo Chàm Trên các tạp chí Bách Khoa, Văn hóa Nguyệt San, Văn đàn, Phương Đông, Phổ Thông đăng các

truyện kể dân gian Chăm bởi các học giả quan tâm đến vấn đề này như Bố Thuận, Nguyễn Khắc Ngữ, Dã Tường Vy, Mãn Khánh Dương, Jaya Panrang, Pari Chàm, Vũ Lang… Ở miền Bắc, có Nguyễn Đổng Chi đưa 20 truyện cổ tích người Chăm vào phần

khảo dị trong bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Cho đến nay, việc sưu tầm,

chỉnh lý, biên soạn tuyển chọn, giới thiệu và nghiên cứu truyện cổ Chăm được tiến hành một cách thấu đáo hơn Ở Ninh Thuận đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Văn

Trang 9

hóa Chăm, bước đầu xây dựng nhiều công trình có giá trị khoa học cao, tạo bước chuyển trong công cuộc khôi phục diện mạo văn hóa dân gian Chăm Chúng tôi giới

thiệu một số tuyển tập về truyện cổ Chăm như Truyện cổ Chàm (Phạm Xuân Thông,

Thiên Sanh cảnh, Nông Quốc Thắng, Lục Ngư sưu tầm và biên soạn, Nxb Văn hóa dân

tộc, Hà Nội, 1978); Truyện cổ các dân tộc Thuận Hải (Đỗ Kim Ngư, Phạm Xuân

Thông, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Bạch Cúc sưu tầm và biên soạn, Ty Văn hóa

thông tin Thuận Hải, 1982); Trái tim nàng Pali (Đỗ Kim Ngư, Nguyễn Hữu Dũng sưu tầm và biên soạn, Hội Văn Nghệ Thuận Hải xuất bản, 1986); Truyện cổ Chăm (Phạm Xuân Thông sưu tầm và biên soạn, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1986); Truyện cổ

Chăm (Trịnh Hồng Lan, Nguyễn Thị Tư, Anh Đức sưu tầm, Sở Văn hóa Thông tin

Nghĩa Bình xuất bản, 1986); Nàng bàn tay (Hồ Phú Diên, Đỗ Kim Ngư sưu tầm và biên soạn, Hội Văn nghệ Thuận Hải xuất bản, 9187); Bò thần Kapin (Đỗ Kim Ngư sưu tầm và biên soạn, Hội Văn nghệ Thuận Hải xuất bản, 1988); Hoa Bơ Nga Chơ Re (Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1987); Nữ thần Pô Nugar (Trần Việt Kỉnh sưu tầm và biên soạn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1989); Chàng Rắn (Đỗ Kim Ngư biên soạn, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 1993); Truyện cổ dân gian Chăm (Trương Hiến Mai, Nguyễn

Thị Bạch Cúc, Sử Văn Ngọc, Trương Tốn dịch, Nxb Văn hóa dân tộc phối hợp với Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm, 2000)” [68, 7] Gần đây nhất có công trình

Truyện dân gian của người Chăm (Sakaya, Sử Văn Ngọc, Gia Trang, Phước Thuyết

tuyển chọn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2017); Huyền thoại và truyền thuyết Chăm (Sakaya (chủ biên), Nxb Tri Thức, 2018)

Trên đây là các công trình về truyện kể dân gian Chăm có giá trị khoa học, các tác giả đã có công sưu tầm và tuyển dịch những truyện có giá trị trong đời sống văn hóa Chăm, có bản in song ngữ Chăm - Việt thuận tiện cho độc giả lựa chọn cách đọc theo văn bản khác nhau

Về các bài báo khoa học, Nguyễn Tấn Đắc: “Năm 1887, A Landes cho xuất bản tại Sài Gòn sưu tập Contes Tjames (Truyện kể Chăm), giới thiệu 16 truyện và một số đồng dao, trong đó truyện số 10 có tên là Kajong và Halek Chỉ hơn 10 năm sau, năm 1898,

Trang 10

Leclère cho in trọn Revue des Traditions populaires (tạp chí về những truyền thống dân

gian) ở Paris, số Juin - Septembre truyện Chiếc giày vàng cũng của người Chăm Truyện này đã được Đinh Gia Khánh kể lại trong cuốn Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề

của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám (NXB Văn học, Hà Nội, 1968) Có thể nói hai

truyện Kajong và Halek và Chiếc giày vàng chỉ là một và đều thuộc típ truyện Tấm

Cám rất phổ biến trên thế giới Xét về những tình tiết chính và những mô típ tiêu biểu, hai truyện này rất gần với truyện Tấm Cám Việt Nam” [52, 125] Giáo sư đã tìm lại các

mô típ cổ xưa của kiểu truyện, hệ thống mô típ đặc trưng những mối quan hệ của nó với cùng kiểu truyện ở khu vực Đông Nam Á Qua các truyện kể trên, chúng ta có cơ

sở để tìm hiểu về giá trị mỹ học của truyện kể dân gian Chăm Lê Văn Hảo trong cuốn

Tìm hiểu quan hệ giao lưu văn hóa Việt - Chàm (Tạp chí Dân tộc học số 1 - 1979),

cũng chọn ra 5 truyện cổ tiêu biểu để chứng minh cho sự giao lưu văn hóa Việt - Chăm

như Sọ Dừa, Ramayana, Sự tích núi Trắng, Truyện nàng Cadiêng, Sự tích Po Nưgar Đáng chú ý hơn là các bài viết của giáo sư Nguyễn Tấn Đắc về kiểu truyện Tấm

Cám của người Chăm: “Từ truyện Kajong và Halek của người Chăm đến type truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á” (Tạp chí Văn hóa dân gian số 3, 1994); “Đọc lại truyện Tấm Cám” (Tập san khoa học trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, số 2,

1995); “Mối giao lưu và tương tác văn hóa giữa các dân tộc ở Đông Nam Á qua kiểu

truyện kể Tấm Cám” (Tạp chí Văn học số 6, 1996)

Trần Việt Kỉnh qua bài báo Dân tộc Chăm và việc tìm hiểu truyện cổ Chăm (Tạp

chí Văn học 1997, số 6, tr 57 – 62) đã đề cập đến truyện cổ Chăm một phần qua việc

tìm hiểu sơ lược về truyện cổ Chăm, ông nhận định rằng: “Chủ đề chống áp bức trong truyện cổ Chăm cũng đã nói lên phần nào ý nghĩa ấy Mâu thuẫn giữa kẻ giàu và người nghèo là mâu thuẫn đối kháng lật đỗ lẫn nhau Khi trong nhân dân có một người anh hùng nổi dậy chống trả áp bức quyết liệt thì hệ thống phong kiến lại một phen lung lay,

có khi phải chia thế lực, có khi phải sụp đổ để thay thế bằng một triều vua mới Lẽ tất yếu của lịch sử đã cho chúng ta thấy chế độ phong kiến đã luẩn quẩn hàng nghìn năm trong những cuộc tranh giành lật đổ ấy mà không thoát ra được trên một hình thái xã

Trang 11

hội Truyện cổ đã được nuôi dưỡng trong bầu không khí xã hội như vậy Vì thế, những chiến thắng của nhân dân, của những người anh hùng hay những người tốt trong truyện

cổ đều là những ước mơ của dân tộc Chăm” [37, 59]

Ngoài ra, Trần Việt Kỉnh còn đề cập một cách khái quát đến các tác giả đã có trong công trình nghiên cứu, sưu tầm truyện kể dân gian Chăm Qua đó, ông khẳng định ý nghĩa của một xã hội dân chủ sơ khai phản ánh trong nội dung của nhiều lễ nghi tôn giáo của dân tộc Chăm Bên cạnh đó, ông còn nêu lên mối quan hệ giao lưu văn hóa của người Chăm với các dân tộc khác

Hồ Quốc Hùng qua bài báo “Thử nhận diện dấu vết tín ngưỡng Chăm qua nhóm

truyện cổ người Việt ở Thuận Hóa” (Tạp chí Văn học, 1999, số 6, tr 67 – 72) đã nêu

nhận định của Phan Đăng Nhật và một số nhà nghiên cứu khác về vai trò tín ngưỡng của người Chăm, qua đó tìm hiểu một phần về mối quan hệ tín ngưỡng, tục thờ đá liên quan đến văn hóa Việt - Chăm, nêu ra được một số truyện tiêu biểu về sự giao thoa văn

hóa giữa hai dân tộc như Sọ Dừa, Dạ Thoa Vương, Thạch Sanh, Bánh Chưng Bánh

Dày, Thiên Yana Ảnh hưởng văn hóa Chăm qua tín ngưỡng trong lĩnh vực tự sự dân

gian diễn ra ở nhiều cấp độ, đi sâu vào những lớp văn hóa bồi tụ trong các truyện cổ người Chăm, được Hồ Quốc Hùng nêu bật ra một cách chân thật nhất

Ngô Văn Doanh qua bài báo Thần Sóng Po Riyak - Từ kinh Coran đến Thần

Điện dân gian của người Chăm (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á - 2003, số 4, tr 54-

58) Ông nêu quan niệm vị thần Po Riyak trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm, sự ảnh hưởng từ kinh Coran, ông khẳng định rằng “Từ trong kinh Coran,

al - Hadir - “kẻ nô lệ của allah” đã trở thành vị thần sóng Po Riyak được người Chăm thờ phụng Tất nhiên, người Chăm đã bản địa hóa một vị thần có mặt trong kinh Coran thành một nhân vật gần gũi với mình Đây là điều tất yếu sẽ phải xảy ra trong đời sống văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới Trường hợp này đã xảy ra đối với một số vị thần khác trong thần điện của người Chăm, như đối với thần Chằn tinh ở núi đá trắng” [8, 57]

Trang 12

Trước đây, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về truyện kể dân gian Chăm một cách cụ thể và toàn diện, gần đây có công trình luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu

Vân Khảo sát truyện cổ dân tộc Chăm, nhưng chỉ khảo sát ba thể loại trong truyện cổ

Chăm như thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích thần kì, tác giả đưa ra các mô hình như mô típ, cốt truyện và đề tài, chưa đi sâu khai thác vấn đề truyện dân gian và

mỹ học dân gian dân tộc Chăm Mới hơn có luận văn thạc sĩ Trần Thị Mỹ Dung về

Đặc điểm tục ngữ Chăm có một phần khái quát về văn học dân gian Chăm nhưng chỉ

thoáng qua

Đặc biệt, trong công trình của Inrasara về Văn học Chăm khái luận [31] nghiên cứu

khái quát và chỉ ra nhiều mô típ, hướng tiếp cận vấn đề rõ ràng, dễ hiểu hơn, nhưng chưa nghiên cứu vấn đề thẩm mỹ trong truyện kể dân gian Chăm, và còn nhiều bài viết

lẻ tẻ khác Trong các công trình nghiên cứu về truyện kể dân gian Chăm, Vũ Lang viết

“Truyện cổ Chiêm Thành không bị gò bó trong một lối lý luận nào, không bị đóng

khung trong một khuôn đạo đức nào nên mang nhiều sắc thái văn nghệ”[68, 78]

Sự giao lưu ảnh hưởng văn hóa giữa Việt - Chăm được nhà nghiên cứu Phan Đăng

Nhật khẳng định với bài viết “Sự gắn bó Việt - Chăm qua một số truyện dân gian”, Lê

Văn Hảo với “Tìm hiểu quan hệ giao lưu văn hóa Việt Nam - Chàm qua kho tàng văn

nghệ dân gian của người Việt và người Chăm” Chúng ta phải có ý thức sưu tầm, biên

soạn, xuất bản, lưu trữ và nghiên cứu truyện kể dân gian dân tộc Chăm một cách có hệ thống, phải có dự án của quốc gia để bảo tồn di sản văn hóa của tộc người thiểu số, qua

đó nâng cao giá trị tinh thần đoàn kết và hội nhập quốc tế một cách mạnh mẽ và phát triển hơn

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi có thu thập thêm tư liệu, khảo sát ở Ninh Thuận - Bình Thuận, Bình Định, An Giang để minh định rõ ràng về giá trị thẩm mỹ của truyện cổ Chăm Xây dựng công trình này, chúng tôi xem là thành tựu định hướng cho việc tiếp cận làm tư liệu tham khảo cho thế hệ sau, mở rộng vấn đề thêm nhằm tái hiện truyện kể dân gian dân tộc Chăm hoàn chỉnh hơn, giúp cho nhà nghiên cứu và độc giả hiểu được vấn đề về mỹ học dân gian dân tộc Chăm

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cái đẹp, cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm

Phạm vi nghiên cứu: Để nghiên cứu “Cái đẹp, cái bi và cái hài trong truyện kể dân

gian dân tộc Chăm” chúng tôi khảo sát các truyện đăng rải rác trên các báo, tập san và

các tuyển tập truyện kể dân gian Chăm

Trong quá trình thực hiện, do thiếu tư liệu chắc chắn đề tài chúng tôi nghiên cứu không thể tránh khỏi sai sót, khuyết điểm Chúng tôi hy vọng rằng trong tương lai sẽ có những tài liệu có giá trị khoa học về mỹ học trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm tương đối đầy đủ hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, người viết tiến hành các phương pháp sau:

Phương pháp lịch sử - xã hội: đặt truyện kể dân gian dân tộc Chăm trong bối cảnh - lịch sử để có điểm nhìn về tiến trình truyện kể dân gian Chăm từ giai đoạn phôi thai trong xã hội Chăm ngày xưa rồi tiếp cận đến ngày nay

Phương pháp hệ thống: xem truyện kể dân gian dân tộc Chăm như một hệ thống nghệ thuật để thấy được nét đẹp về văn hóa - xã hội Chăm

Phương pháp so sánh: so sánh truyện kể dân gian Chăm về phương diện thẩm mỹ với các tác phẩm dân gian khác như Việt, Ê Đê, Mơ nông, Ra Glai Sau đó nhận định bản sắc cái đẹp rực rỡ, hoa mỹ trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm

Phương pháp điều tra, sưu tầm, điền dã: để có cái nhìn tổng thể về truyện kể dân gian dân tộc Chăm, người viết tiến hành điều tra, sưu tập để thu thập số lượng đơn vị truyện cổ Chăm hiện nay Trên cơ sở những dữ liệu có được, người viết sẽ làm rõ quan niệm cái đẹp của truyện kể dân gian người Chăm

Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại các đơn vị truyện kể dân gian người Chăm theo quan niệm nội dung và hình thức thẩm mỹ, để thuận lợi hơn trong việc nắm bắt các đặc trưng thẩm mỹ của truyện kể dân gian dân tộc Chăm

Trang 14

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Đây là phương pháp cần thiết khi nghiên cứu truyện kể dân gian dân tộc Chăm Đề tài sử dụng kiến thức đa ngành, những thành tựu của phân tâm học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học, nhân học… để tìm hiểu truyện

kể dân gian dân tộc Chăm

5 Đóng góp của luận văn

Đề tài này là công trình nghiên cứu đầu tiên về “Cái đẹp, cái bi và cái hài trong

truyện kể dân gian dân tộc Chăm” Thực hiện đề tài này, trước hết người viết đóng góp

cái nhìn về giá trị thẩm mỹ trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm Đề tài này khẳng định vai trò và vị trí các truyện kể dân gian người Chăm, phong phú về cái đẹp của dân tộc và sự đóng góp to lớn trong văn học dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Đề tài còn có thể được sử dụng như là tư liệu hữu ích cho việc tham khảo nghiên cứu nói riêng và văn học dân gian thiểu số nói chung ở Việt Nam

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn

gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về Văn học dân gian Chăm

Chương này giới thiệu khái quát về dân tộc và đặc điểm truyện kể dân gian người Chăm Qua đó, tìm hiểu sơ lược về quá trình hình thành và phát triển văn học dân gian Chăm, để nêu bật được những nét cơ bản của truyện kể dân gian người Chăm; nêu mối quan hệ truyện kể dân gian Chăm với các truyện cổ dân tộc khác, chủ yếu về thể loại trong truyện kể dân gian người Chăm

Chương 2: Cái đẹp trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm

Chương này sẽ trình bày một phần những lý thuyết mỹ học, văn hóa và cách nhìn về truyện kể dân gian dân tộc Chăm; những công trình nghiên cứu trước đó về văn học dân gian Chăm Trên cơ sở lý thuyết này, chúng tôi tiếp cận vấn đề cái đẹp trong truyện kể dân gian Chăm qua thi pháp và mỹ học dân gian để nắm được những điều cốt

Trang 15

lõi nhất về thể loại dân gian Đây là một trong những chương trọng tâm của luận văn góp phần làm tư liệu để xác định nguồn gốc thể loại văn học dân gian Chăm

Chương 3: Cái bi, cái hài trong truyện cổ dân gian người Chăm

Chương này sẽ trình bày một số vấn đề về đặc điểm thẩm mỹ như các loại mô típ nghệ thuật trong truyện kể dân gian người Chăm về cái bi, cái hài Từ đó rút ra những đặc điểm cơ bản về các quan niệm cái bi, cái hài của truyện kể dân gian để so sánh, làm nổi bật vấn đề mà luận văn đề cập đến

Trang 16

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN CHĂM

1 1 Khái quát về dân tộc Chăm

Người Chăm xuất hiện trong lịch sử với nhiều tên gọi khác nhau như Cam, Chàm, Chiêm, Hời… Ngoài ra, họ còn được biết đến các tên gọi khác do các phiên âm của các học giả nước ngoài: học giả Pháp gọi là tộc Cam, Tchames, Chams; người Anh lại dùng từ Chàm để chỉ tộc người Chăm Vào cuối thế kỉ thứ II sau Công nguyên vương quốc Champa, lúc ấy gọi là Lâm Ấp (Lingi) được thành lập, trải dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận ngày nay Đi qua các bước thăng trầm của lịch sử, biên giới của đất nước bị thu hẹp dần về phía Nam để sau đó biến mất hẳn vào đầu thế kỉ XIX (1832) Người Chăm được xếp vào nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynésien cùng với các tộc người Chu Ru, Ra Glai, Gia Rai, Ê Đê Như vậy, cư dân Chăm có nguồn gốc từ thế giới Đa đảo mà giống người chiếm đa số và ưu thế là người Indonesien

Việt Nam có 54 dân tộc, không chỉ có tộc người Kinh sinh sống mà còn nhiều dân tộc khác luôn sống hòa đồng với nhau, trong đó có người Chăm Người Chăm luôn

có trình độ văn hóa văn minh rực rỡ, kết tinh lâu đời và phong phú, đa dạng về phong tục, tập quán, sinh hoạt cộng đồng Nền văn hóa văn minh của dân tộc Chăm được xem như một trong những di sản lớn của nền văn hóa chung của Việt Nam Những năm gần đây các đền tháp, khu du tích Mĩ Sơn, tháp Ppo Klaung Girai, tháp Ppo Rome… đã được trùng tu, phát triển về du lịch Người Chăm sinh sống chủ yếu ở Việt Nam và một

số quốc gia trên thế giới như Lào, Thái Lan, Campuchia, Inđônexia, Mĩ, Pháp, Mã Lai… Dân số người Chăm ở Việt Nam theo thống kê năm 1999 là 132.837 người Địa bàn cư trú của người Chăm phân tán mỏng cộng với những khó khăn về mặt kinh tế đã

có ảnh hưởng không ít đến mối giao lưu qua lại giữa các cộng đồng với nhau.Với dân

số như vậy, một nửa là người Chàm Đông sống tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.Và một bộ phận còn lại là người Chàm Giữa và người Chàm Tây gồm thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Tây Ninh

Về văn hóa

Trang 17

Văn hóa là một khái niệm rộng Mỗi một quốc gia dù lớn hay nhỏ cũng đều có bản sắc văn hóa của riêng mình Hiện thực cuộc sống và nền văn hóa của mỗi dân tộc

là cội nguồn, là mảnh đất màu mỡ làm nẩy nở và nuôi dưỡng văn học nghệ thuật Văn học nghệ thuật lại bảo tồn và làm phong phú bản sắc văn hóa của dân tộc ấy Văn hóa văn minh Champa là một nền văn hóa văn minh sớm hình thành và phát triển trên dải đất miền Trung Việt Nam Nó là một thành phần trong nền văn hóa đa dân tộc ở Việt Nam Người Chăm có những nếp sống gia đình, lễ nghi tôn giáo khá độc đáo Họ giữ

nề nếp riêng, lối sống riêng của cộng đồng mình do những lễ nghi tôn giáo và phong

tục tập quán qui định làm nên đậm đà bản sắc dân tộc

Về ngôn ngữ

Người Chăm sử dụng chữ Chăm Akhar Thrah (chữ viết truyền thống), các dữ kiện khảo cổ đã chứng minh họ thuộc nhóm tộc người Mã Lai - Đa Đảo du nhập vào Việt Nam Tiếng Chăm có mặt vào thế kỉ thứ IV Tiếng Chăm là ngôn ngữ được lưu hành từ Hoành Sơn đến Biên Hòa (Đồng Nai) ngày nay Trải qua bước ngoặt của lịch

sử đến hôm nay, ngôn ngữ Chăm chỉ lưu hành ở các làng quê người Chăm, nhiều nhất

là hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận Hiện nay, ngôn ngữ Chăm ở Việt Nam có nét khác biệt, hiện tượng đó là người Chăm giao tiếp với nhau có pha trộn tiếng Việt chiếm

tỉ lệ nhiều

Về tôn giáo - tín ngưỡng

Người Chăm chịu sự chi phối của tôn giáo, tín ngưỡng sâu sắc Người Chăm có hai tôn giáo chính: Bàlamôn giáo và Hồi giáo Bàlamôn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ,

du nhập vào Champa cuối thế kỷ thứ IV Đặc điểm của Bàlamôn giáo là thờ thần Shiva

và thờ cả thánh Allah Hồi giáo có nguồn gốc từ Ả Rập, truyền qua Mã Lai, du nhập vào Champa từ thế kỷ thứ X Mỗi một tôn giáo có cái kiêng kỵ khác nhau: Người Chăm Hồi giáo (tức Bàni) kiêng thịt heo và thịt dông, người Chăm Bàlamôn kiêng thịt

bò Người Chăm khi qua đời bị ràng buộc chặt chẽ vào lễ nghi tôn giáo và phong tục tập quán của mình Đối với người Chăm Bàlamôn, người chết phải được đem đi chôn,một hoặc hai năm, sau đó được lấy lên rồi đem đi thiêu đốt, lấy chín miếng xương

Trang 18

sọ, đựng trong hộp, chờ dòng họ có đủ một trăm miếng xương, rồi đưa vào Kut (dòng họ) một lần, vòng đời con người Chăm luôn tuân theo quy luật như vậy Còn người Chăm Awal (Bàni) có những lễ nghi rất cụ thể khi lọt lòng đến lúc mất, con trai khi lên

14-15 tuổi, phải qua lễ “Katat” (lễ nhập đạo), đến trưởng thành, cưới gả thì phải qua lễ

“likhah” (đám cưới) Con trai có qua lễ Katat, sau này mới tiến hành đám likhah được

Khi cha mẹ mất con trai mới được dự lễ “tẩy thể” (tắm gội thể xác trước khi chôn cất)

và lễ “âuwa” (lễ trả hiếu cho cha mẹ)

Ngoài lễ nghi tôn giáo ra, sinh hoạt thông thường của người Chăm cũng có những ngày kiêng kỵ như: Ngày Chủ nhật và ngày thứ Năm người Chăm kiêng xuất của cải Ngoài ra, một bộ phận người Chăm theo Islam thì vấn đề sinh hoạt hàng ngày càng bị tôn giáo chi phối nặng nề hơn vì phải tuân theo đúng lễ nghi và tập quán của Islam quốc tế Trên đây, là vấn đề sơ lược về người Chăm để người viết thâm nhập vào cái đẹp, cái bi và cái hài trong truyện kể dân gian dân tộc Chăm Qua đó, tìm hiểu những giá trị thẩm mỹ trong các thể loại tự sự dân gian dân tộc Chăm

1 2 Văn học dân gian Chăm

Văn học dân gian Chăm là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kì hình thành nhà nước Champa, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong chế độ mẫu hệ, và tiếp tục tồn tại đến ngày nay Trong quá trình sáng tạo, văn học dân gian đã tích lũy được vô số kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật, phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của đông đảo quần chúng lao động Thời gian gần đây, từ thế kỉ XIX, nhiều người quan tâm đến truyện kể dân gian Chăm Bắt đầu từ những truyện kể đầu

tiên của A Landes được ghi nhận trong Contes Tjames in năm 1887 đến cuốn chuyên

luận văn học Chăm của Inrasara, đóng góp một phần tư liệu quý giá trong văn chương Chăm

Qua ngôn ngữ Chăm, người ta tìm thấy trong các văn bản chép tay có các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, sử thi, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn… Trong kho tàng văn bản ấy, văn học Chăm có thể là bản tụng ca các vị thần trong cõi hư vô, hay chỉ nói về sinh hoạt thường nhật của cộng đồng tộc người Chăm

Trang 19

Nghiên cứu văn học Chăm từ trước đến nay chưa có tác giả nào phân chia giai đoạn văn học Chăm rạch ròi, rõ ràng, mà chỉ đưa ra ý kiến chủ quan, phỏng đoán để xác định lịch sử văn học Chăm Nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Inrasara phân chia văn học Chăm thành ba bộ phận: văn học dân gian, văn học viết và văn học bia kí Ông trình bày một số quan niệm để làm sáng tỏ các bộ phận văn học Chăm qua các tác phẩm của nhiều thể loại, khái quát sơ lược từng thể loại văn học và nêu các đặc trưng văn học Chăm qua các giai đoạn văn học khác nhau Nhà nghiên cứu Sakaya thì phân loại văn học Chăm gồm các loại sau: văn chương cổ, văn chương cận đại và văn học hiện đại Cách phân chia của Sakaya mang tính võ đoán, mặc dù ông trình bày minh xác từng thể loại cụ thể trong văn học cổ Chăm Theo chúng tôi, văn học Chăm chia thành hai

bộ phận: văn học dân gian và văn học viết

Văn học dân gian Chăm là bức tranh chân thực, sinh động về bản tính, phẩm cách của con người lao động từ quá khứ đến nay Trước hết, có thể kể đến là văn bia ký: “Văn bia ký được sáng tác từ thế kỷ III đến thế kỷ XV bằng cả hai ngôn ngữ là văn

tự Chăm cổ và Sanskrit, có mặt khắp miền duyên hải Trung Bộ Đến nay các học giả Pháp đã phát hiện, công bố và dịch gần 200 minh văn, trong đó Lương Ninh đã dịch sang tiếng Việt 25 minh văn Đây là các sáng tác vừa có giá trị sử học, vừa có giá trị văn học” [76, 20] Người Chăm có một kho tàng văn học dân gian phong phú, đa dạng

“Truyện kể dân gian Chăm gồm hơn 100 truyện thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích… được A Landes, E Aymonier, Thiên Sanh Cảnh, G Moussay, Inrasara, Sakaya… sưu tầm, tuyển chọn bên cạnh các bài viết của Lê Văn Hảo, Phan Đăng Nhật, Nguyễn Tấn Đắc, Trương Sĩ Hùng, Hồ Quốc Hùng, Phan Xuân Viện, Bá Minh Truyền…” [76, 20], qua đó giúp cho độc giả hiểu kĩ hơn về truyện kể dân gian Chăm

Ngoài ra hai công trình của Lưu Văn Đảo và Inrasara về “Tục ngữ - Câu đố Chăm” và

“Tục ngữ - Thành ngữ - Câu đố Chăm” gồm hơn 1000 câu tục ngữ, câu đố, 30 bài ca

dao, đồng dao được sưu tầm và dịch ra tiếng Việt” [76, 21] Một số khác là loại bài hát

dân gian như: Damnưy, Dauh, Mưdwơ Dauh Kadhar… Những thể loại này có giá trị

nhân văn cao, giáo dục tri thức cho con người, góp phần làm phát triển văn học đa dân tộc Việt Nam Về văn xuôi (thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn),

Trang 20

chúng tôi giới thiệu khái quát sơ lược về hệ thống truyện kể dân gian dân tộc Chăm, qua đó nêu các đặc điểm của từng thể loại truyện kể dân gian người Chăm:

+ Về thần thoại Chăm, gồm các nhóm truyện kể về các vị thần linh, các nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa, phản ánh quan niệm của người nguyên thủy

về nguồn gốc của thế giới và của đời sống người Chăm Theo tác giả Inrasara trong

Văn học Chăm khái luận viết: “Chúng ta nhận thấy, mặc dù chất liệu để xây dựng thần

thoại Chăm vẫn luôn luôn là thần thánh và công việc của chư thần; và mặc dù lối tư duy thần thoại, nhưng vì thần thoại là sáng tác của con người nên biểu hiện tâm lý hay nếp sinh hoạt của chư thần vẫn là biểu hiện của người trần mắt thịt rất thực Thần thánh cũng bị cơn buồn ngủ dằn vật, cũng mang tật chè chén say sưa (như trong truyện Atmuhekat), cũng biết giận hờn và cưới vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái (như trong truyện Ppo Inư Nưgar), như chúng ta vậy” [31, 30] Thần thoại dân tộc Chăm giải thích

sự hình thành vũ trụ, có khi nói về tôn giáo Đây là thể loại rất phức tạp, kể về các nhân vật thần thoại tiêu biểu như Pô Inư Nưgar, Pô Kuk, At Mahekait, Pô AuLaoh, Kei Gloang, Kei Bien, Kei Du, Kei Dai Morasih, Yang Sri, Mala Uri, Limow Kapil (bò Kapil), Tamrak, Gai Maiong, Po Ali…

Trong thần thoại, con người là bộ phận của tự nhiên, nhân vật chính là thần Thần thoại người Chăm đã bị tách khỏi môi trường sống cổ xưa, tồn tại như một thể loại văn học dân gian được ghi chép thành văn của dân tộc Hiện nay, chỉ có sáu dị bản của ba

đơn vị truyện: Chỉ cần một gác nước trời (2 dị bản), Sự tích gà gáy sáng (2 dị bản),

Truyện nữ thần Po Nưgar (2 dị bản) Thần thoại Chăm lưu giữ rất ít cho đến ngày nay,

do sự thất truyền trong lịch sử chiến tranh, nguyên nhân chủ yếu là người Chăm khó bảo tồn văn hóa

Mặt khác, thần thoại Chăm không được ghi chép cẩn thận, một phần không được bảo lưu trong lời kể bằng văn vần của hình thức sử thi cổ đại, phần khác do việc kể lại,

và ghi chép bị pha tạp, chắp nối, lắp ghép trong cộng đồng người Chăm Thần thoại Chăm tuy đơn giản về mặt nội dung nhưng vẫn mang đặc trưng nổi bật của thể loại với những típ và mô típ khá phổ biến trong thần thoại thế giới và ở khu vực Đông Nam Á

Trang 21

Ngoài nội dung suy nguyên sự xuất hiện thế giới, nguồn gốc loài người, nguồn gốc dân tộc, nguồn gốc một số loài vật, cùng những truyện về các anh hùng văn hóa, thần thoại Chăm còn thể hiện lòng tin, niềm tin tôn giáo nguyên thủy của người xưa qua các huyền thoại về mặt trăng, mặt trời, biển, núi non…

+ Về truyền thuyết, nhất là truyền thuyết lịch sử chiếm một vị trí quan trọng Để chỉ loại truyện này người Chăm có tên gọi là Damnây Damnây là những câu chuyện mang tính lịch sử, nói về những nhân vật anh hùng có công với nhân dân trong lịch sử dân tộc Chăm Sau này, các Damnây dùng để hát trong các lễ nghi tín ngưỡng của người Chăm Chẳng hạn như “Damnây Ppadauk Tanưh Riya kể rằng: Thuở sơ khai, lúc vũ trụ còn chìm trong hỗn mang, Ppo Inư Nưgar là một sinh thể tự sinh đầu tiên và duy nhất Rồi người hóa sinh tạo thành hai thực thể khác: khoảng không bao la và cái cân vĩ đại Từ cái cân vĩ đại (padaung) này, lần lượt xuất hiện Ppo Yang Amư (hóa sinh từ quả cân); Ppo Debita Swơr (từ đòn cây) và Ppo Alwah (từ dây đòn cân) Sau đó, Ppo Inư Nưgar đằng hắng, phẩy tay, liếc mắt… để từ mỗi cử động của Người, xuất hiện tinh tú, trời đất, sấm sét… Còn Ppo Yang Amư, bằng một hồi tù và dài, Ngài đã khiến cho tất cả muông thú có mặt trên mặt đất” [31, 45] Từ đó, vũ trụ được hình thành từ các vị thần, giúp dân giúp nước phát triển kinh tế, xã hội, truyền dạy giáo lí, phong tục tập quán, nếp văn hóa cộng đồng, bước đầu hình thành một dân tộc bản địa thực thụ Truyền thuyết là một sáng tạo của quần chúng đã có từ thời xa xưa, là sáng tác truyền khẩu tái tạo tùy theo quan niệm sống của con người qua các thời đại khác nhau Hầu hết, truyền thuyết Chăm luôn gắn liền với tôn giáo, mục đích giải thích tôn giáo, tín ngưỡng và nghi lễ của dân gian Chăm

Truyền thuyết người Chăm chủ yếu hướng vào những sự kiện, những biến cố lịch

sử có ý nghĩa trọng đại và những nhân vật lịch sử nổi lên trong những biến cố xảy ra trong đời sống cộng đồng “Truyền thuyết hướng về quan hệ cộng đồng về nguồn gốc dân tộc, qua đó giáo dục con người về trách nhiệm với nhân dân Có thể chia truyền thuyết thành hai loại: truyền thuyết thần thoại và truyền thuyết lịch sử Truyền thuyết thần thoại là những truyện kể dân gian nhằm lí giải sự hình thành của vương quốc, của

Trang 22

một phong tục tín ngưỡng nào đó Chúng được nhào nặn từ cảm hứng của thủa khai sinh lập địa, những truyền thuyết này mang đậm màu sắc thần thoại, có nguồn gốc từ thần thoại, có khi là nhân vật đã xuất hiện từ trong thần thoại như Po Inư Nưgar, rắn thần Nagar… Tiêu biểu có thể kể đến là Truyền thuyết về Po Inư Nưgar, Truyền thuyết Kaudynia, Sự tích núi đá trắng Truyền thuyết lịch sử bao gồm những truyện kể về công lao ơn đức của các nhân vật lịch sử ở mọi thời đại” [39, 11] Các tác phẩm tiêu

biểu là Sự tích tháp Po Klaong Girai, sự tích tháp Po Rome, Po Sah Inư (Bà Tranh)

Nếu thần thoại và truyền thuyết phản ánh nhận thức của người Chăm về vũ trụ và

sự hình thành vương quốc Champa trong buổi đầu giai đoạn lịch sử thì truyện cổ tích biểu hiện nhãn quan hiện thực của con người Chăm với thực tại, thể hiện quan điểm đạo đức, niềm tin, ước mơ và hy vọng của nhân dân; thể hiện sự tương giao giữa các yếu tố tưởng tượng thần kì, hoặc một số nhân vật thần thoại xuất hiện trong một vài truyện cổ tích Chăm

Tác giả Sakaya chia truyện cổ tích (dalikal) thành ba loại: truyện ngụ ngôn (dalikal

Ar Katé), truyện cười (dalikal Kalak), truyện tự sự (dalikal empan) Một số truyện tiêu

biểu như Cei Tapai (cậu Thỏ), Baoh gaong (trái sung), Ja Klaoh (nói láo có bài)… Gần

đây truyện cười và truyện ngụ ngôn người Chăm được giới khoa học sưu tầm và tuyển chọn in thành xuất bản phẩm, nhằm nêu được đặc điểm về tư duy trừu tượng nổi trội có giá trị về tinh thần của quần chúng nhân dân Tác giả Inrahani có công trong việc sưu

tầm và tuyển chọn tập Truyện cười dân gian Chăm, ngoài ra còn một số truyện cười

khác in lẻ tẻ ở một số sách, báo trong và ngoài nước

Năm 1995 và 2005 Nguyễn Thị Thu Vân đệ trình luận văn thạc sỹ và luận án tiến

sĩ: Bước đầu khảo sát truyện cổ Chăm và Khảo sát truyện cổ dân tộc Chămtại trường

Đại học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, được xem là hai công trình hệ thống hóa các típ và mô típ truyện kể dân gian Chăm Gần đây, năm 2015, tác giả Trần Thị Mỹ

Dung bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ về Đặc điểm tục ngữ Chăm đã nêu ra những

điểm nổi bật trong văn chương Chăm

Trang 23

Truyện kể dân gian Chăm là thể loại sáng tác dân gian được nhiều người mến mộ, bởi vẻ đẹp đa dạng, phong phú của nó Vẻ đẹp ấy bộc lộ ra qua tri giác nghệ thuật của người nghe và người đọc từ xưa đến nay Chúng lưu giữ, nhiều dấu ấn về cuộc sống tinh thần và vật chất của người Chăm với nhiều màu sắc đa dạng, sắc sảo, hài hòa sống động và phong phú Truyện kể dân gian Chăm gồm nhiều thể loại khác nhau, chủ yếu được lưu truyền trong nhân dân, trong các thư tịch cổ của các dòng họ Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Vân, người sưu tầm truyện cổ Chăm có thể ghi lại từ ba nguồn:

+ Truyện do các ông bà già kể lại theo trí nhớ, những bản kể này có thể ghi nhận được những hình thức nguyên sơ nhất của các cốt truyện

+ Truyện do người kể đọc một văn bản đã được ghi chép lại, thuộc ý rồi kể lại theo cách kể và trí nhớ của mình

+ Truyện đã được một số văn bản cổ ghi chép lại

Trong di sản văn hóa của Việt Nam, truyện kể dân gian Chăm đóng góp một vị trí độc đáo, tinh tế, và là loại hình nghệ thuật ngôn từ ít nhiều được giới khoa học và bình dân biết đến Mỗi dân tộc đều có gia tài truyện kể dân gian của mình, từ những dân tộc

đã đạt tới nền văn minh rực rỡ Chẳng hạn, truyện cổ Grimm của nước Đức, kho truyện

cổ tích đồ sộ của Ả Rập Nghìn lẻ một đêm… Riêng truyện kể dân gian Chăm có thể nêu

lên từng thể loại, khái quát hóa các vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán trong từng thể loại riêng biệt

Truyện kể dân gian Chăm phản ánh mọi mặt trong cuộc sống sinh hoạt, lao động, sản xuất và chiến đấu Truyện cười dân gian thì nhiều nước châu Âu gọi là giai thoại (anecdote) và nhiều nhà folklore xếp thành một dạng riêng của truyện cổ tích sinh hoạt Với dân tộc Chăm, truyện cười được xem là một thể loại riêng

Đặc trưng của truyện kể dân gian Chăm nói lên những điều suy nghĩ, trăn trở của người dân lao động một nắng hai sương trên mảnh đất bản địa từ thời cổ chí kim, khơi gợi trí tò mò của nhân dân, quần chúng trong xã hội từ nguyên thủy đến ngày nay Đặc biệt, truyện ngụ ngôn luôn nói lên những điều hay lễ phải của các cụ già trong làng, nhằm truyền dạy cho bao thế hệ tiếp nối Văn học Chăm là một bộ phận quan trọng

Trang 24

trong văn học Việt Nam, góp phần phát huy những tinh hoa văn học phong phú trong tương lai Ngoài văn học dân gian Chăm, còn có văn học viết của dân tộc Chăm, điển hình là văn chương đương đại của người Chăm đa dạng với nhiều tác giả có các tác phẩm xuất sắc như Inrasara, Trà Vigia, Đồng Chuông Tử, Tuệ Nguyên, Kiều Maily…

Trang 25

Sáng tác văn học Chăm cả dân gian và hiện đại,đều có những tiếp biến văn hóa của mọi nền văn hóa dân tộc các nước Ảnh hưởng, tác động trong nền văn học dân tộc, nó thúc đẩy mối quan hệ giữa các nền văn học trong và ngoài nước Bên cạnh đó truyện kể dân gian Chăm còn nêu lên những tín ngưỡng, phong tục, tập quán, những hình ảnh sinh hoạt văn hóa dân tộc, cho đến những nền văn học đương đại nêu lên nếp sống văn hóa tinh thần giữa thế giới toàn cầu

Trang 26

CHƯƠNG 2 CÁI ĐẸP TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN DÂN TỘC CHĂM

“Cái gọi là đẹp, cái đẹp của văn học cũng như cái đẹp của tất thảy sự vật, đại khái

do biến đổi đều lấy sinh hoạt làm cơ sở Hễ có sinh hoạt là có biến đổi, có hoạt động,

mà phàm là một vật có biến đổi, có hoạt động, đều tự nhiên có cái đẹp Khi xem những núi cao, hang sâu, dòng suối, chúng ta thấy mặc dù không hề có các nhà kiến trúc tính toán xây dựng, những công trình tự nhiên đó vẫn đẹp hơn các công trình nhân tạo rất nhiều Thử hỏi làm sao chúng ta còn có thể lập định những qui lệ văn học và tạo tác? Trăng sao là văn của trời, danh sơn đại xuyên là văn của đất, gió thổi mây biến hình, từ

đó nảy ra cho chúng ta những hoa văn trên gấm vóc, sương sa là rụng từ đó chúng ta có cảnh sắc của trời thu, trên vòm trời, chuyển vần theo quỹ đạo của chúng, những vì tinh

tú kia có bao giờ nghĩ rằng trên mặt đất lại có những người đang thích ngắm chúng” [27, 176] Chẳng hạn, cái đẹp trong thần thoại Chăm là cái đẹp bởi trí tưởng tượng phong phú và ước mơ tràn đầy tình yêu cuộc sống Chúng ta gọi một cái gì đó là đẹp khi nó làm cho chúng ta vui thích hay hài lòng ở một phương diện nào đó Cái gì làm vui lòng một số người này lại không làm vui lòng những người khác, có thể người ta cho rằng cái đẹp chỉ hiện hữu trong mắt người nhìn ngắm

Trong định nghĩa về cái đẹp, trước hết chúng ta xét đến hai lý thuyết nổi bật về cái đẹp được hình thành trong trước tác của nhà thần học Cơ Đốc giáo Thomas Aquinas và trong tác phẩm của một triết gia Đức hiện đại, Immanuel Kant Hai ông cho rằng cái đẹp có phương diện chủ quan và phương diện khách quan Cái đẹp phương diện chủ quan của Aquinas là cái làm vui lòng chúng ta khi nó được nhìn, đó là cái nhìn bằng tâm trí Theo Aquinas những sự vật đẹp đều có ba điểm chính là tính nguyên vẹn, tính cân xứng và tính trong sáng Cái đẹp theo Kant là cái mang lại cho người quan sát một kiểu vui thích không vụ lợi nào đó Theo Tsécnưsepxki, cái đẹp là “một thực thể đẹp là thực thể trong đó ta nhìn thấy cuộc sống đúng như quan niệm của chúng ta, một đối tượng đẹp là đối tượng trong đó cuộc sống được thể hiện hay nó nhắc ta nghĩ tới cuộc sống” [42, 277] Nhưng cái đẹp của Democritus là sự kết hợp của các nguyên tử, do đó

Trang 27

cái đẹp có nguồn gốc từ vật chất Một sự vật được coi là đẹp khi nó nằm trong trật tự,

có mức độ phù hợp nhất định

2 1 Cái đẹp tự nhiên, xã hội, con người trong truyện kể dân gian Chăm

“Trong đời sống thẩm mỹ của con người, cái đẹp trong tự nhiên có một vai trò vô cùng quan trọng Nếu mỹ học duy tâm phủ nhận cái đẹp trong tự nhiên thì trái lại, mỹ học duy vật không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của cái đẹp trong tự nhiên mà còn coi đây là nguồn gốc, là nơi bắt đầu của mọi cái đẹp” [6, 84] Tự nhiên là nơi bắt đầu của một cái đẹp, vẻ đẹp của mây gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông là nguồn cảm hứng và đồng thời là đối tượng miêu tả của nghệ thuật Giải thích sự hình thành trời đất, núi sông, biển cả theo quan niệm của người nguyên thủy Người nguyên thủy hiểu biết hiện tượng tự nhiên thô sơ, chất phác và trí tưởng tượng phong phú ngây thơ của mình Là sự ca ngợi con người và lao động sáng tạo vĩ đại của họ Po Yang là vị thần người Chăm có vóc dáng khổng lồ, làm các việc phi thường sáng tạo ra trời đất nhưng

đó chỉ là hình bóng của con người, hóa thân từ quần chúng, trở thành một vị thần tối cao

Người Chăm tìm hiểu cái đẹp qua nhận thức tự nhiên, đồng thời cũng để biểu hiện ước vọng chinh phục tự nhiên của con người Cái đẹp nảy sinh từ sự sáng tạo vì sự vận động của muôn vật, từ cõi hỗn mang, trời đất mới dần dần xuất hiện và đem lại ánh sáng cho cái đẹp Đẹp là hình dáng của những vị thần linh người Chăm và những con người cụ thể với thân hình cân đối và vẻ mặt trác tuyệt như điệu múa của cung nữ Apsara Qua thần thoại, người Chăm quan niệm nét đẹp của cơ thể con người là đặc trưng cần chú ý đến nhiều Cái đẹp của người Chăm thường gắn liền với những biểu tượng về biển, nước non, sóng,… chẳng hạn như Po Riyak trở về quê hương bằng đường biển, vượt qua sóng gió đại dương, Pô Klong Girai trôi trên dòng sông Cái đẹp còn là hành động có phẩm giá, đó là hành động của các vị thần tốt bụng đã có công giúp đỡ nhân dân

Khi chúng ta nói đến cái đẹp trong tự nhiên, tức là cái đẹp do tạo hóa sinh ra, tồn tại một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, như cái

Trang 28

đẹp về sông, núi, biển, trời, trăng sao… cũng là cái đẹp của thế giới hữu sinh như cỏ cây, hoa lá, chim muông, cầm thú… được thể hiện đầy đủ, phong phú đa dạng trong văn học dân gian người Chăm

Nhưng đẹp hơn là cái đẹp tự nhiên của hình thể con người mà tạo hóa đã ban tặng cho con người Thế giới tự nhiên trong từng truyện dân gian Chăm luôn hiện hữu đời sống thẩm mỹ thuộc tính vật chất của các sự vật, hiện tượng, màu sắc, âm thanh, hài hòa, tác động lên những nhãn quan của con người Cái đẹp của mê cung ma thuật bằng việc xét hai kiểu con người thần thánh của tôn giáo và con người thần thánh của ma thuật Con người thần thánh của tôn giáo như linh hồn một con người ngự trị nhập vào thể xác con người, thể hiện sức mạnh bằng những điều thần kì và những lời tiên tri Chẳng hạn, mô típ đan phên tre, phết giấy xây thành là sáng tạo đặc trưng của dân tộc

Chăm Truyện thành Lồi kể lại sự tranh chấp đất đai Truyền thuyết này rất gần với sự

tích người anh hùng Po Tằm trong cuộc tranh giành quyền lực với vua Po Klong Girai

Họ đã đưa ra lời thách đố xây tháp, kết quả cuối cùng phần thắng thuộc về người thách

đố do biết dùng mưu mẹo xây tháp bằng phên tre, phết giấy Po Tằm thua cuộc đành bỏ

về Ma Lâm (nay là thị trấn Ma Lâm - Bình Thuận) dạy dân cách làm ăn

Thần thoại Chăm đặt ra nhu cầu muốn biết tự nhiên là gì? Đó là nhu cầu khám phá

vẻ đẹp của thế giới tự nhiên con người trong xã hội nguyên thủy Truyền thuyết Chăm thì hướng về lịch sử; lịch sử là đối tượng được quan tâm nhất, như con người (nhân

vật) lịch sử, sự kiện lịch sử Một số truyền thuyết cơ bản về Po Riyak, Po Klong Girai,

Po Dam… Có sức tác động, ám ảnh từ đời này sang đời khác Đối tượng phản ánh là

sự sống còn của một dân tộc, lưu truyền qua mọi thời đại của một đất nước

Truyền thuyết bị chi phối bởi khuynh hướng làm đẹp quá khứ, tôn thờ, ngưỡng mộ, thường gắn chặt với tín ngưỡng Trong truyền thuyết vẫn có bóng dáng của thần thoại Bởi vì trong truyền thuyết khi muốn tôn vinh cái gì đó người ta thường thần thánh hóa

nó lên Người nguyên thủy lấy sự hiểu biết của mình để suy ra thế giới Muốn thay đổi thế giới họ phải truyền đạt ý tưởng và ước mơ của mình qua ngôn ngữ văn chương, đề cao và tôn vinh lao động

Trang 29

Truyền thuyết Chăm là vẻ đẹp của sự sàng lọc vô lượng mang tính ám ảnh Nó biểu tượng cho một thời đại, có mô hình, cốt truyện mang tính nhân loại Chẳng hạn, như

Truyền thuyết Chăm Ahiér và Chăm Awal: “Ngày xưa khi Trái đất và loài người sinh

ra, Po Nabi tạo ra một con trai, một con gái Hai người được Nabi ban phép dắt nhau đi tìm học thần chú thiêng trên tận vùng mây trắng (sak tik) Con trai Chăm Ahier thuộc bên Basaih thờ thần Po Debita Suer Awal con gái thuộc bên Acar thờ Po Uwluah Đến một ngày, hai bên đàng trai và gái gặp nhau tìm thầy học thần chú” [104, 152]

Truyện cổ tích Chăm được hình thành trên cơ sở xoay quanh chuyện hạnh phúc, vợ chồng trên vấn đề phân hóa gia đình Các nhân vật bất hạnh sản sinh ra từ quá trình phân hóa xã hội Các tình tiết cổ tích thường lý giải sự bất hạnh, khát vọng vươn lên hạnh phúc, tìm nguồn cảm xúc mới Vì vậy lí tưởng cổ tích là hạnh phúc gia đình, đó là nhân vật chuyển tải nguyện vọng của một thời đại Cái hiện thực trong cổ tích là hiện thực diễn ra trong phạm vi gia đình Đa phần đều xung đột trong mối quan hệ gia đình

Sự hình thành giai cấp xã hội xuất phát từ mâu thuẫn trên phương diện kinh tế, đẳng cấp Xung đột trong truyện cổ tích thực chất là giữa kẻ yếu thế với kẻ mạnh hơn

Cổ tích lý giải về số phận con người Để lý giải điều này cái bất hạnh ngày càng phát triển thì kèm theo thói tật lừa đảo, độc ác, làm cho nhân dân quần chúng thống khổ Công xã nguyên thủy tan rã làm các giá trị bình đẵng, bác ái, dân chủ tan rã dẫn đến giá trị cái đẹp mất đi, trong khi đó sự tư hữu cá nhân, độc lập phát triển

Xã hội phát triển bao nhiêu thì vấn đề tha hóa đạo đức càng phát triển bấy nhiêu Vậy câu hỏi đặt ra là làm sao để giải thoát một cách đẹp đẽ nhất? Câu hỏi làm chúng ta liên tưởng đến vấn đề cái đẹp của xã hội nguyên thủy của người Champa cổ Vấn đề đó chỉ giải quyết bằng cách đấu tranh trong sự xung đột tồn tại trong xã hội Trong đời sống, con người ta thấy khổ, vậy nên giải bế tắc trong cổ tích là muốn khôi phục lại xã hội cũ Bởi vậy, trong ý tưởng người xưa, người ta lấy đạo đức so sánh với thực tại Mục đích của cổ tích người Chăm là tìm giải pháp và giấc mơ đổi đời của những con người bất hạnh trong xã hội

Trang 30

Trong truyện cổ tích còn kèm theo mô típ lực lượng trợ thủ thần kỳ giúp nhân vật chính làm nhiệm vụ Đó là tư duy tưởng tượng (tư duy thần thoại) liên quan tới vũ trụ luận Đại đồng tư duy tưởng tượng cho rằng: thế giới tồn tại dưới ba hình thức: trên cao (thần); thực tại (con người - sự nhận thức vật chất); dưới mặt đất (ma quỉ) Thí dụ: sự

tích về Po Tanuh, Po Atuw, Po Lingik, Po Tathik… Điều đó liên quan đến vấn đề nhân

sinh và kiếp sống của con người theo tư duy tưởng tượng Con người muốn sống lâu, muốn trường sinh bất tử nhưng vẫn chết cho dù dùng mọi hình thức để níu kéo cuộc sống Vì vậy người ta mơ tới một thế giới tưởng tượng khác với thế giới thực tại

Chẳng hạn, trong truyện Jayoa và cây thuốc thần: “Tạm lấy lá thuốc trong túi ra cho

vào miệng nhai xem nó có vị thế nào Sau đó chàng nhổ nước bọt xuống đám cỏ Nước bọt văng trúng đám xương cá khô Thì lạ quá! Xương cá bỗng nhiên động đậy rồi từ đám xương kia miếng thịt cá nở lên, rồi nguyên con cá khô bỗng sống trở lại… Công chúa được cho uống thuốc, ngay lập tức hồi tỉnh lại, ngồi dậy xinh đẹp càng xinh đẹp hơn Vợ chồng Jayoa được vua ban cho vàng bạc châu báu cùng đoàn tùy tùng trở về quê nhà” [110, 23]

Vì hiện thực đau khổ cho nên con người muốn tìm đến thế giới đẹp đẽ khác, không gian của cổ tích là không gian ba chiều (tức là không đáp ứng được ở thế giới này khi người ta ước mơ được đáp ứng ở một cõi khác) Phần kết của cổ tích thần kỳ thường kết thúc có hậu Mẫu số chung cũng là ở hiền gặp lành, hạnh phúc lứa đôi Cái cốt lõi

là xung đột gia đình

Cổ tích liên quan tới đạo đức và chính trị Đạo đức là gam màu chủ đạo, nó tô đậm tính nhân văn của con người: “Gia đình gặp nhau, mừng rỡ cùng nhau về lại xứ sở, đoàn tụ Cei Dalim Bal Lak gặp lại mẹ, kể hết câu chuyện đi tìm vợ cơ cực khó khăn như thế nào Cei Dalim Bal Lak cầu xin mẹ chàng đưa vợ con trở lại xứ sở vợ sinh sống, dựng lại lâu đài như xưa Cô Cả và cô Thứ hổ thẹn trong lòng vì làm việc xấu nên bỏ xứ sở ra đi, sống một cuộc đời nghèo khó, cơ cực.” [103, 55] Cái đẹp được tỏ

ra từ trong lòng chàng Dalim Bal Lak, chàng luôn nghĩ về hạnh phúc vợ con, đoàn tụ gia đình, nên chàng đã đi tìm nguồn hạnh phúc, qua đó chúng ta thấy được người

Trang 31

Chăm cổ đã cố dàng dựng những chi tiết đẹp đẽ ấy cho thế hệ sau nhận thức được nét đẹp dân tộc thời xưa

Cái đẹp tự nhiên, xã hội con người Chăm cổ thường được phản ánh khá đầy đủ trong thần thoại và truyền thuyết dân tộc Chăm Các mô típ về thần mặt trời, thần mặt

trăng trong truyện Nữ thần Po Nagar và Sự tích gà gáy sáng: “Ngày xưa trên trời có

nhiều mặt trời và mặt trăng cùng xuất hiện Người và vật đều chết héo vì sức nóng của

nó Bấy giờ có một anh hùng (đều nam tính) dùng cung tên bắn rơi nhiều mặt trời mặt trăng, diệt trừ tai họa cho mọi người, chỉ còn lại duy nhất một mặt trời và một mặt trăng Từ đó trật tự của vũ trụ được lập lại như hiện nay” [69, 29]

Người Chăm xem mặt trời là quan trọng, họ sùng bái mặt trời và biển cả Mặt trời

là chí cao vô thượng, là mẹ, là thủy tổ Đó là hiện tượng sinh ra đầu tiên ánh sáng, là ban ngày, là khởi đầu cho toàn bộ hoạt động của con người Ngoài ra, người Chăm

quan niệm trời biển là thứ duy nhất, mọi vạn vật đều sinh ra từ nó, là quan trọng trong tâm thức, sinh hoạt đời sống của họ “Trong Sự tích gà gáy sáng, gà gáy sáng là một

hiện tượng tự nhiên, có sự liên tưởng đến tư duy thần thoại và tâm lý tôn giáo, hầu hết người Chăm cổ đều theo tôn giáo Bà La Môn, các dân tộc mẫu hệ nguyên thủy, xem thần mặt trời đều ở dạng nữ thần thuộc âm, thuộc đêm tối trở về với ban ngày thuộc dương Vì vậy, gà trống trở thành vật linh thiêng trong tâm thức dân gian của người Chăm trong mỗi lễ cúng tế, sinh hoạt xã hội Trong đó có lễ cúng đạp lúa, lễ cúng Rija Nagar (thần Mẹ xứ sở), lễ palao pasah (lễ cầu đảo thần sông biển), lễ Yôr yang (lễ cầu mưa), lễ hội Katê, lễ cúng nhà cửa” [68, 49]

Cũng như dân tộc Chăm, vẻ đẹp sáng rõ của loài vật (con gà) trong việc cúng, chẳng hạn, dân tộc Ra Glai là anh em với Chăm (saai Cam adei Raglai) với dân tộc

Chăm dùng chân gà để xem bói trong truyện Ông bà Pô Xêba dri và con cháu Raglai

Từ khi Hồi giáo du nhập vào Champa bằng đường biển, thông qua các thương nhân buôn bán, sầm uất ngày xưa, người Chăm đã tiếp nhận và dung hòa với đạo mới, một

số gia đình, dòng tộc theo đạo Hồi (Bà Ni) là một hiện tượng phát sinh của đạo Bà La

Môn Qua đó, truyện Sự tích gà gáy sáng còn có tên gọi khác là Truyện Atmuhekat có

Trang 32

thể được tín đồ Hồi giáo Chăm sáng tác dựa trên Sự tích gà gáy sáng để có một dị bản

riêng cho Chăm Hồi giáo, để từ đó có tên của các vị thần có xuất xứ Hồi giáo: Nư bi,

Pô Kuk, Parahimuk, Iparahamuk… đến các sự kiện địa danh liên quan cũng là của Hồi giáo: Thánh đường (sang mugik), Mutinah (La Mecque) và cả đến việc giải thích các nghi lễ cúng tế cũng mang tính chất Hồi giáo” [28, 35]

Thiên nhiên ban tặng cho người Chăm cổ sơ những loại cây linh thiêng, được dùng trong sinh hoạt và tôn giáo Tục thờ thần cây của người Chăm là sản phẩm của thời kì mẫu hệ nguyên thủy Chẳng hạn cây Kraik trong truyện kể dân gian bao giờ cũng có vị

thần trong đó Cái đẹp trong truyện Nữ thần Po Nagar, Po Nagar đầu thai xuống trần

gian từ gốc cây cổ thụ Môsi Khi hoàn thành sứ mạng ở trần gian bà lại nhập thân vào cây trầm hương, vào một thế giới nào đó trong vũ trụ

Cái đẹp còn thể hiện qua mô típ đá thiêng, tín ngưỡng thờ đá của người Chăm “Là chất liệu đầu tiên gắn với bước chân chập chững của con người từ xã hội nguyên thủy sang xã hội văn minh, đá từng là nơi cư trú của con người, hang đá, vừa là công cụ sản xuất thô sơ nhưng thiết yếu vừa là công cụ làm ra lửa của người nguyên thủy Thờ đá chỉ là một trong những tín ngưỡng phản ánh sự nhận thức “mọi vật đều được kết hợp bởi hai phần: vật chất (phần xác, phần vỏ) và phần hồn của người xưa Xuất phát từ nhận thức cảm giác về đá là một vật thể cứng, rắn chắc, có thể dùng để đập nát nhiều vật khác, mà người xưa đã phú cho đá những sức mạnh linh hồn vô biên” [69, 46] Đồng bào Chăm xem đá là vật thiêng liêng của mình; cư trú ở vùng ven biển miền

Trung, song họ vẫn sống gần những vùng đồi núi ven biển Chẳng hạn nơi thần linh Po

Nai ngự trị ở gần biển Cà Ná - Ninh Thuận Cho nên, đá có thể là phương tiện để

truyền đạt mong muốn của con người với thế lực siêu nhiên khác

Trong truyện Tìm loài vật của Hán Văn Phát kể: “mỗi khi loài vật trên rừng bị lạc,

người ta xếp đá chồng chất lên nhau, khoảng tầm ba gang tay, trên đỉnh cắm một cành cây khô, khoảng bốn năm giờ chiều thì loài vật sẽ quay về chuồng trại” Cũng như trong truyện cổ tích Núi cười/ Cadop va Cadoec: “Nhờ thần núi há miệng cười ra vàng

mà người em trở nên giàu có, người anh bắt chước bị thần núi ngậm tay, sau thoát

Trang 33

được về chửi em So sánh với dân tộc Ra Glai, chúng ta có thể kể ra kiểu hóa thân đặc biệt như: ở vùng người Ra Glai, trên núi Boya, có một tảng đá thiêng, đây chính là hóa thân của thần heo rừng, vị thần đã tạo ra núi Lang Biang, khi thần bị chết” [67, 48] Người Chăm thờ thần đá trong dạng biểu tượng về thần Siva - những sinh thực khí như Mukhalinga (thần - vua Po Klaong Girai có nhiều công tích với thần dân Champa)

Ngoài ra, mô típ đá thiêng cũng có trong các truyền thuyết về Sự tích núi Đá

Trắng, Truyền thuyết về tháp Gay Prong, Sự tích núi Bà Chằng Ở một khía cạnh khác,

mối quan hệ có sáng tạo đặc biệt về người phụ nữ với sự cảm thông sâu sắc qua truyện

cổ tích Sự tích trầu cau, Sự tích hôm sao mai, Sự tích ba ông đầu râu (Việt) và Thần

Lửa, Sự tích táo quân, Vua bếp (Chăm) Qua tình tiết kể về người vợ đứng ngóng trông

chồng về với hy vọng người chồng sau năm tháng đi xa sẽ trở về đoàn tụ gia đình, người chồng không về và người vợ đã hóa thành đá vì chờ đợi Đá là sự biểu tượng về

sự bền vững, nên cái đẹp đó mang lại cho tộc người nhiều giá trị nhân văn sâu sắc, đa dạng về thời gian trong dân gian

Trong một truyền thuyết xa xưa, tô tem chim Hơng của người Chăm có vai trò quan trọng trong quá trình tiếp biến, giao thoa văn hóa với Ấn Độ Chim Hơng là linh vật để dẫn dắt linh hồn người Chăm về với cội nguồn Với văn hóa Ấn Độ, bò thần Nandin sẽ chở linh hồn người chết vượt sông về bến bờ mới, người Chăm có bò thần Kapil, bởi

nó luôn phủ phục trước lối vào cửa tháp thiêng Mỗi đám tang người Chăm luôn có một Danaok (nhà nhỏ) dành riêng cho ông Hơng Ông Hơng được chọn phải có phẩm chất đạo đức tốt, khéo tay, kĩ lượng về cách thức làm việc Hơng là một linh vật có đầu chim mình rắn được cách điệu đơn giản, chim là hình tượng của chim thần Garuda, là vật tổ của thị tộc Cau làm chủ khu vực rừng núi và cao nguyên Rắn là hình tượng của rắn thần Naga, là vật tổ của thị tộc Dừa làm chủ khu vực đồng bằng và biển Hai thị tộc này kết hợp với nhau hình thành nên vương quốc Champa để sống hòa hợp và xây dựng cuộc sống hòa bình hạnh phúc cùng nhau Qua đó, mỗi sinh linh Chăm ra đời, là một phép nhiệm màu

Trang 34

Tóm lại, truyện kể dân gian dân tộc Chăm đã tạo một giá trị đặc sắc của văn hóa Chăm trong văn hóa các dân tộc Việt Nam Nhiều truyện kể dân gian Chăm mô tả những khía cạnh khác nhau, góp phần làm đẹp văn học dân gian Chăm

2 2 Cái đẹp - sự hình thành vũ trụ, nhân sinh quan của người Chăm

Người Chăm quan niệm trời biển là thế giới quan sát của mình, thể hiện trong văn

học dân gian được quần chúng nhân dân hóa thành những gì thiêng liêng Trong

khoảng không vũ trụ, thần thoại Ppadauk Tanuh Riya kể rằng: “Thuở sơ khai, lúc vũ

trụ còn chìm trong hỗn mang, Ppo Inư Nưgar là một sinh thể tự sinh (engkat) đầu tiên

và duy nhất Rồi người hóa sinh tạo thành hai thực thể khác: khoảng không bao la và cái cân vĩ đại Từ cái cân vĩ đại (padaung) này, lần lượt xuất hiện: Ppo Yang Amư (hóa sinh từ quả cân) Sau đó, Ppo Inư Nưgar đằng hắng, phẩy tay, liếc mắt… để từ mỗi cử động của người, xuất hiện tinh tú, trời, đất, sấm sét… Còn Ppo Yang Amư, bằng một hồi tù và dài, Ngài đã khiến cho tất cả muông thú có mặt trên mặt đất Để lập trật tự trên mặt đất, Ppo Inư Nưgar triệu tập ba Po lại và phân công: Ppo Aluah dùng chính phần châu thân mình (muk rupngap) hóa thánh đường (sang mugik) truyền dạy giáo lí cùng phong tục tập quán cho người Chăm Bà Ni (Awal), Ppo Debita Swơr hóa mâm thờ (baginrac) và lo cho bên Chăm Bà La Môn (Ahier) Ppo Alwah được tôn vương trị

vì đất nước, còn Ppo Yang Amư lập nên sử sách cho muôn đời sau” [31, 45]

Vẻ đẹp của các vị thần giữ chức năng Đấng tạo hóa là Ppo Inư Nưgar, hóa sinh để tạo sự thăng bằng trong vũ trụ và sự cân đối đất nước là Ppo Alwah và Ppo Debita Swơr Đây là mô típ người kiến tạo vũ trụ là đôi thần nam nữ, hầu hết các nước Đông Nam Á cũng có mô típ này Người Chăm quan niệm trời biển là do thần trời - thần cha

và thần sóng biển (Po Riyak) sáng tạo ra, dân tộc Ra Glai có ông bà thần tối cao Kây Misiri và ông bà Pô Xêbadiếc sáng tạo ra vạn vật: trời biển, đất đai, con người và muông thú Vì vậy, chúng ta nhìn nhận cái đẹp qua truyện kể dân gian Chăm

Sự sáng tạo ra con người được người nguyên thủy gán ghép vào trong đời sống của thiên nhiên Người Chăm luôn thần thánh hóa các vị thần của mình để thờ phụng, chất

Trang 35

liệu xây dựng là thần thoại Chăm Đó là lối tư duy thần thoại, là sáng tạo của con người nguyên thủy nên biểu hiện tâm lý là các thần thánh hóa

Truyện Hằng Nga của người Chăm giải thích các hiện tượng nhật thực, nguyệt

thực bằng cuộc tranh giành quyền tạo hóa giữa thần mặt trời Pôjata và thần mặt trăng Hằng Nga Qua tìm hiểu tư liệu Chăm cổ, theo tư liệu của cụ (Maduen) Hán Phải (70 tuổi), thôn Chung Mỹ, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận: có ghi

lại rằng, vũ trụ ban đầu là một cõi hư vô elak, tối tăm mù mịt gồm có hai phần: phần trên là cõi hư vô thuộc về trời akal và phần dưới thuộc về đất tanâh riya Sau đó vũ trụ sinh ra thần trời Pô lingik - thần đất Pô tanâh riya, thần mẹ Pô Inâ - thần cha Yang

Amâ Từ đó thần trời kết hợp với thần đất; thần mẹ kết hợp với thần cha mà sinh ra

muôn loài vạn vật

Người Chăm cổ quan niệm vũ trụ được hình thành như thế, hướng tầm nhìn của mình, họ tiếp thu những nền văn minh tiên tiến của thế giới từ Ai Cập, Hy Lạp - La Mã thời cổ đại, có một số truyền thuyết cũng nói tới, nhưng bị thất truyền trong các làng Chăm

Quan điểm nhân sinh quan người Chăm nguyên thủy luôn nhìn tôn giáo dưới gốc

độ các vị thần trong thần thoại Hình tượng con rồng khá quen thuộc trong truyện cổ Đông Nam Á Trong thần thoại Việt, con rồng gắn với thần mưa, thần mưa có thân hình rồng là hiện thân của rồng có tài ẩn hiện, lên trời xuống nước, biến hóa khôn

lường Biểu tượng con rồng cũng được người Chăm cổ thần thánh hóa trong Sự tích

tháp Po Klong Girai: Khi còn nhỏ trong một lần đi chăn bò, khi bò bị lạc bầy, Pô Ong

(Po Klong Girai) trèo lên một cái cây để tìm con bò Khi ông tụt xuống thì cái cây bỗng trở nên đỏ chói rồi biến thành một con rồng Lần khác đi buôn cùng bạn, trong khi nằm ngủ chờ bạn bè về nhà lấy cơm, có một con rồng đã liếm sạch khắp thân mình ghẻ lở của Pô Ông, biến Pô thành một chàng trai đẹp lạ thường

Sự tích tháp Pô Rome cũng kể rằng: Khi còn là mục đồng, lúc cúi xuống để nhổ bã

trầu, vua Pô Rôme nhận ra có hai con mắt đỏ đòng đọc ở trên thân cây Thì ra, thân ấy

là con rồng đang nằm Người Chăm cổ tưởng tượng ra con rồng để mô tả những tầng ý

Trang 36

nghĩa, chức năng khác nhau của dân tộc mình Ở các nước Đông Nam Á, con rồng được lấy nguyên mẫu từ loài rắn và loài cá sấu hợp lại Với người Chăm cổ sơ, rắn là biểu tượng thần linh của sông nước, là thần chủ của nước, là biểu hiện của âm tính Trong thần thoại Chăm vua rắn Nưgar là loài rắn khổng lồ rất linh thiêng, được sùng bái, đây là con vật tổ đáng tôn kính, biểu trưng cho vương quốc Champa xưa, nhưng trong các văn bản thần thoại đã thất truyền, hay bởi chiến tranh tàn phá, hiện nay một

số kinh sách dùng làm lễ của các Acar có ghi lại một số đoạn nói về con vật tổ này Đời sống sinh hoạt và phẩm chất đức tính của các vị thần sáng tạo vũ trụ có những mặt tốt, xấu khác nhau như người Chăm cổ Các thần thánh của người Chăm được Pô

Kuk cử xuống cai quản trần gian, say xỉn và ngủ quên trong Sự tích gà gáy sáng, thần Mặt trời ganh tỵ quyền tạo hóa với thần mặt trăng trong Hằng Nga Trong quan niệm

vạn vật nhất thể, hình tượng các vị thần nam nữ phối hợp lại để sáng tạo ra trời đất, biểu hiện của sự thống nhất về nguồn gốc của các vị thần sáng tạo

Người Chăm có truyện Trái sung kể rằng có hai ông được bà tiên mang xuống một

buồng trái sung ban cho ăn để rồi sau đó họ biết được tính dục mà sản sinh ra giống nòi ngày càng đông đúc Ngoài ra, trong làng người Chăm ở Ninh Thuận cũng có truyện

Dưa hấu kể rằng, một người phụ nữ lấy chồng nhiều năm không có con, một buổi

chiều lên rừng đốn củi, khát nước, bỗng ăn một quả dưa, về nhà mang thai Theo chúng tôi, tôn giáo đã truyền vào Champa, lí giải truyền đạo bằng văn học truyền khẩu, sau đó cải biên thành nét đặc sắc văn hóa của dân tộc Chăm Cho đến hiện nay chưa có tư liệu gốc nào để lại chứng minh, với nhãn quan khách quan, chúng tôi tạm khẳng định rằng, người Chăm cổ muốn giải thích tôn giáo bằng tác phẩm văn học dân gian, đặc biệt là

về mặt truyện kể dân gian dân tộc Chăm

Nhưng đặc biệt, ở truyền thuyết dân tộc Chăm, nhân vật nam thường là vua, khi chết được thờ phụng linh thiêng, nhân vật nữ thường trở thành nữ thần Những vị thần

có công truyền dạy cho người Chăm Họ tin vào điều đó qua các truyện: Nữ thần Pô

Nưgar, Truyền thuyết về Thiên Y A Na, Truyện nàng Mujuk Người Chăm tôn thờ vẻ

đẹp thiêng liêng của bà mẹ đầu tiên của tộc người Chăm Xưa kia, tộc người Chăm cổ

Trang 37

được hình thành từ hai tộc thị Cau và Dừa, bà chính là thị tộc Cau Ngày nay ở Nha Trang có tháp Bà Nagar, thờ phượng vị thần linh này Trong các lễ hội của người Chăm, lễ hội Rija là lớn nhất, bao quát các hệ quan niệm tôn giáo của người Chăm, nó

đã từng có mặt trong tất cả sinh hoạt tôn giáo của mình

Do đó lễ hội Rija là một tấm gương phản chiếu về một loại hình văn hóa Chăm ảnh hưởng văn hóa Nam Dương và có một vị trí quan trọng trong tín ngưỡng, trong lễ hội người Chăm, đã góp phần quan trọng tạo thành phần hồn cho lễ hội Chăm Truyền thuyết Chăm tái hiện những hình ảnh con thuyền cứu thế và sự tái lập thế giới trong

sạch hơn mà các câu chuyện về Po Kuk (hay Nut trong Hồi giáo) muốn nói tới, đó là

minh chứng cho tính chất chuyển giao từ năm cũ sang năm mới, cho ước muốn tống khứ mọi sự ô uế của năm cũ để bước sang năm mới tốt đẹp hơn trong lễ hội Rija Nagar của người Chăm

Người Chăm Hồi giáo lại phủ lên lớp văn hóa bản địa cổ sơ lễ tống ôn đầu năm - một phong tục phổ biến của nhiều cư dân Đông Nam Á Ở văn hóa người Chăm, họ quan niệm hai vị thần là Po Kuk và Po Yang Ama mà các hình nhân Salih phải đến gặp đều là những vị thần sáng thế cả Po Yang Ama là vị thần Cha nguyên thủy trong cặp đôi vị thần sáng thế là Po Ina Nagar- Nữ thần Mẹ xứ sở và thần Cha Po Yang Ama

Còn Po Kuk trong Truyện Atmuhekát hoàn toàn là một vị thánh Hồi giáo được thay vào

vị trí là vị thần sáng thế vốn của nữ Thần Mẹ xứ sở Po Ina Nagar Như vậy, hai vị thần sáng thế là đàn ông, một người Chăm và một của Hồi giáo đều cùng song song tồn tại trong lễ hội thả các hình nhân Salih của người Chăm

Người Chăm cổ, trên thông thiên văn, dưới thông địa lí, có lịch (sakawi) riêng, từng soạn ra những sách răn dạy cho đời sau Hiện nay, trong dân gian Chăm còn lưu giữ

250 minh văn, ở mỗi gia đình người Chăm đều có sách quý, phải chọn ngày lành tháng tốt mới lấy Ciét sách xuống phơi, làm sạch bụi bẩn rồi treo lên xà nhà, bảo quản đồ vật

của tổ tiên Chẳng hạn, Sự tích Po Likhuy kể rằng Pô có hai dòng máu Chăm và Ra

Glai, khi có biến cố xảy ra, Pô là người chỉ đường, dạy dân cách làm ăn Quanh khu rừng thiêng Pô đi qua, có bạt ngàn của ngon vật lạ, đồi núi này do Pô cai quản, người

Trang 38

dân Hamu Tanran (Hữu Đức) chịu ơn Pô đã lập đền miếu để thờ phượng, mỗi khi ai gặp tai họa, Pô có thể dẫn đường chỉ lối

Mặt khác, người Chăm tôn thờ đá (Atuw-li), đây là miếng đá lớn, bằng phẳng, dùng để các ông vua khi đi ngang qua nằm nghỉ, tựa lưng cho bớt đau, hoặc nghỉ ngơi khi đánh giặc, nó rất linh thiêng Thế giới quan người Chăm cổ luôn nhìn thấu đáo mọi

sự việc, xem trời biển là vạn vật linh thiêng

Về nguồn nước tưới tiêu cho trồng trọt xưa kia còn rất hạn chế, Sự tích đập Cây

Khế, Sự tích đập ông Ngâu kể rằng ở địa phận Chăm các làng cử người trong coi việc

phân phối nước cho các gia đình cùng lúc trông nom hệ thống thủy lợi Mỗi dân tộc đều có hình tượng nhân vật anh hùng bộ lạc có chiếng công khác nhau, ví như trong

các truyện Anh hùng Barake (Chu Ru), Trái tim nàng Pali (Ra Glai), Sankah và

Tamrac (Chăm)… nhân vật Tam Rắc được tác giả dân gian Chăm khắc họa biến hình

phân thân khi bị bắt và chích nhựa cây độc vào mình để tự vẫn nhằm thiêng hóa và tôn vinh nhân vật anh hùng có công bảo vệ dân làng, và trở thành thần thánh Đó là tiếng nói sâu sắc của quần chúng nhân dân Chăm trong suốt quá trình của dân tộc được cô đúc lại, là vốn phong phú kinh nghiệm lao động và chiến đấu, là phần quan trọng trong việc làm trong sáng lí trí của nhân dân Chăm

Nói tóm lại, vũ trụ quan, nhân sinh quan của người Chăm luôn nhìn nhận nhiều phía trong tôn giáo và tín ngưỡng Tìm hiểu cái đẹp của truyện kể dân gian dân tộc Chăm qua các nhãn quan mỹ cảm của người Chăm, chúng ta liên tưởng đến nền văn minh độc đáo, sâu sắc của dân tộc Chăm

2 3 Cái đẹp - văn hóa trong truyện kể dân gian Chăm

Tsecnưshevski đã khái quát Cái đẹp là cuộc sống Cái đẹp được chúng tôi dùng

trong văn học dân gian Chăm là cái đẹp được minh định trong cái đẹp tự nhiên, như cái đẹp của phong tục tập quán, tín ngưỡng, cái đẹp văn hóa của người Chăm cổ Cái đẹp trong truyện cổ Chăm chỉ đẹp trong trường hợp sự thụ cảm thẩm mỹ mà chúng ta đã gửi gắm vào nó, bởi con người không được trời phú cho một hình thức đẹp đẽ bên

Trang 39

ngoài nhưng tâm hồn lại cao thượng; vị nhân hậu đó là hiện thân của cái đẹp Quan niệm về cái đẹp trong truyện cổ của mỗi dân tộc khác nhau

Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh tồn khác nhau, tín ngưỡng, phong tục tập quán, tâm lí xã hội cũng mang tính đặc trưng nên dẫn đến quan niệm cái đẹp khác

nhau Thí dụ, trong truyện cổ Chăm với tên gọi Kajong - Halek, cái đẹp biểu hiện

riêng, từng mặt cụ thể của cuộc sống nhân dân Chăm lúc đó Dân tộc này có thể không hiểu được vẻ đẹp của dân tộc khác, song trong giai đoạn thời thực tại, việc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc là cơ hội để các dân tộc xích lại gần nhau hơn, khám phá được vẻ đẹp của nhau

Văn hóa làm con người khác biệt với tất cả tạo vật khác, là tiềm năng tinh thần không thể tách rời của con người Đó là mối quan hệ phổ quát của con người đối với thế giới Văn hóa Chăm là một vũ trụ độc đáo được tạo ra bởi mối quan hệ nhất định của các dân tộc Ấn Độ và Mã Lai Mỗi nền văn hóa là phương thức tự thể hiện sức sáng tạo của con người Chăm Mối quan hệ phổ quát của con người Chăm cổ với thế giới là sự cố định trong kinh nghiệm của con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Chẳng hạn, như ý niệm của con người Chăm cổ về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán trong đời sống văn hóa Chăm, không chỉ hướng tới lý trí, mà còn hướng tới chốn sâu thẳm của tâm hồn và chạm một cách trực tiếp đến những tình cảm và ý chí, tâm thức của người Chăm cổ bao giờ cũng nhận thức được vai trò của mình

Đó là ý niệm ẩn giấu trong chốn vô thức sâu thẳm của tâm hồn, ngay cả bầu trời đầy sao hoặc biển cả mênh mông xa tít cũng thuộc về văn hóa Chăm Bởi vì, chúng được ý niệm của con người, được trao cho một phần nhỏ tâm hồn con người Chẳng hạn như quan niệm của người Chăm cho rằng sẽ có đấng tạo hóa giúp họ vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống: “Lời cầu xin của nàng Candieng thấu đến tai đấng Alla, đấng ban xuống cho một cái đàn Caping linh nghiệm, có đầy đủ bùa thiêng đựng trong

đó Đấng Alla căn dặn nàng Candieng rằng: Đàn Caping này đừng dùng để khảy chơi

mà hãy cất giữ cẩn thận, đợi khi giặc đưa nhau đến gần hoàng cung thì hãy lấy ra khảy cho chúng nghe thôi Đừng có mà giết người nhé” [103, 65]

Trang 40

Trong các truyện kể dân gian người Chăm, đôi khi người ta tượng trưng linh hồn hoặc sức mạnh của một con người được coi như gắn liền với mái tóc người đó Thầy cả

sư, Paseh hay các thầy cúng đều để tóc, không cắt Nếu như người ta cắt mái tóc của họ thì họ sẽ chết hoặc bị suy nhược cơ thể, đó là quan niệm từ xa xưa.Cái đẹp văn hóa tình thần, trong tín ngưỡng thờ mặt trời của người Chăm nguyên thủy, được hòa quyện giữa các tôn giáo trong truyện cổ Chăm Trong truyện “Bà Nưgar kể rằng: thuở sơ khai vũ trụ có 12 mặt trời, vì quá nhiều mặt trời nên khí hậu quá nóng, vạn vật không thể sinh sôi nảy nở được Thánh Nữ - Ma - So - Bai - Ca - Dong có tài thiện xạ giương cung bắn tan các mặt trời” [68, 65] Mặt trời được coi như một vị thần, và là biểu tượng của thần linh Mặt trời được người Chăm nguyên thủy xem là vai trò quan trọng trong cuộc sống, trong sản xuất nông nghiệp của họ

Cũng như các tộc người ở Đông Nam Á cổ đại đều có tục thờ mặt trời Hầu hết, các tộc người ở châu Úc, xem mặt trời là con trai của đấng sáng tạo và là gương mặt của thần thánh khoan ái loài người Ước mơ, lí tưởng những hình dung tốt đẹp của mặt trời được tộc người Chăm tôn thờ trong các nghi lễ dân gian Trong thực tế, lí tưởng thẩm mỹ của người Chăm cổ phản ánh đầy đủ các ý niệm mà mình gắn vào trong đời sống văn hóa xã hội xưa

Trong thần thoại Pô Nưgar, ông Adam và bà Hauva sau khi sinh con đẻ cái tạo dựng loài người, chết đi thì tất cả tiêu tan hết chỉ còn lại một cây Moshi vòi vọi cao lớn Rồi sau đó ngày thứ 3, mồng 6 tháng 2 năm con trâu ông Cú lại từ trong cây Moshi ra đời, ông lại làm lại từ đầu công việc khai quang nhật nguyệt và tái tạo vạn vật Đó là quan niệm về vũ trụ lớn lao của người Chăm, là quy luật cuộc đời, sinh ra, chết đi và sống lại, là biểu trưng của Adam và Hauva, ông Cú Hình hài ông Cú ra đời, thay Adam va Hauva thực hiện chức năng khai quang nhật nguyệt và tái tạo lại vạn vật trong đời sống Cái chết của Adam và Hauva là sự cắt ngang, sự gắp lại để mở sang một trang mới, một giai đoạn mới để người Chăm có tinh thần trách nhiệm hơn

Ở đây, được hiểu là có liên quan đến tín ngưỡng phồn thực của người Chăm cổ Ông Cú ra đời từ cây Moshi, cây là do trời đất sinh ra, chứa đựng sự hòa hợp của hai

Ngày đăng: 14/04/2021, 18:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w