32TMười lăm năm qua, với chức năng là một trung tâm đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn của ngành, được sự chỉ đạo sát sao, sự đầu tư, sự hỗ trợ tích cực của Tổng cục và của các đơn vị trong
Trang 2NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 31.1.3 Vai trò của giáo dục - đào tạo đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.53T 1753T
1.2 Giáo viên và sự nghiệp “trồng người”53T 19
1.3.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên Trường Cao Đẳng Hải Quan53T 2653T
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG HẢI QUAN53T 28
53T
2.1 Tổng quan về trường Cao đẳng Hải Quan53T 28
53T
2.1.1 Quá trình thành lập53T 2853T
2.1.2 Tổ chức bộ máy của trường Cao Đẳng Hải Quan:53T 2953T
2.2 Hoạt động của trường Cao đẳng Hải quan trong thời gian qua53T 33
53T
2.2.1 Một số kết quả53T 3453T
2.2.2 Đánh giá chung **( 4 )53T 35
Trang 43.1 Những cơ sở xây dựng giải pháp53T 53
53T3.1.1 Cơ sở lí luận:53T 5353T
3.1.2 Cơ sở pháp lí:53T 5553T
3.1.3 Cơ sở thực tiễn:53T 5653T
3.2 Một số yêu cầu khi xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Hải Quan.53T 59
53T3.2.1 Những yêu cầu chung:53T 6053T
3.2.2 Một số yêu cầu riêng:53T 6353T
3.3 Giải pháp về xây dựng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Hải Quan53T 65
53T3.3.1 Tổ chức lại các khoa, tổ bộ môn và định biên đội ngũ giảng viên.53T 6653T
3.3.2 Cân đối lực lượng giảng viên cơ hữu, giảng viên kiêm nhiệm và giảng viên thỉnh giảng:53T 7453T
3.3.3 Đổi mới phương thức tuyển dụng giảng viên mđi53T 7753T
3.4 Giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên53T 79
53T3.4.1 Tính cấp thiết của chuẩn hóa, hiện đại hóa đội ngũ giảng viên53T 7953T
3.4.2 Nội dung chuẩn hóa, hiện đại hóa đội ngũ giảng viên trường CĐHQ:53T 8053T
3.4.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao Đẳng Hải Quan.53T 84
Trang 5MỞ ĐẦU
1 T ính cấp thiết của đề tài
4T
1.1 4T32TTrong công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, ngành Hải quan có vai trò
và vị trí vô cùng quan trọng: là lực lượng góp phần bảo vệ an ninh kinh tế, ngăn chặn mọi hoạt động của các thế lực trong và ngoài nước mưu mô phá hoại nền kinh tế của đất nước ta Nói một cách chung hơn: Hải quan là bộ đội biên phòng trên mặt trận kinh tế
4T
1.2 4T32TĐể đảm đương được trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Tổ quốc giao phó, ngành Hải quan cần phải có một lực lượng đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng; đội ngũ cán bộ công chức phải có trình độ chuyên môn sâu và hiện đại, phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng Đòi hỏi ấy có thể được giải quyết thông qua:
- 32TQuá trình tự rèn luyện, tự nâng cao của đội ngũ cán bộ công chức Hải quan trong hoạt động nghiệp vụ, trong thực tiễn
- 32TTiến hành đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn cho chính lực lượng Hải quan
hỗ trợ kỹ thuật cho Hải quan các nước thành viên." **(1)
Trang 61.3 4T32TTrường Cao Đẳng Hải quan (CĐHQ) được Tổng cục Hải quan giao trọng trách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức cho toàn ngành
32TMười lăm năm qua, với chức năng là một trung tâm đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn của ngành, được sự chỉ đạo sát sao, sự đầu tư, sự hỗ trợ tích cực của Tổng cục và của các đơn vị trong ngành, cộng với sự nỗ lực và quyết tâm của mình, trường CĐHQ đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, đã đào tạo và bồi dưỡng kiến thức Hải quan cho hàng ngàn cán bộ và công chức của ngành; bước đầu đã đáp ứng được một phần nhu cầu nhân lực có kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ cho ngành Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động đào tạo
và bồi dưỡng của trường CĐHQ còn nhiều hạn chế: số lượng cán bộ, công chức được đào tạo bồi dưỡng chưa nhiều, chưa đáp ứng nhu cầu nhân lực của ngành Chất lượng đào tạo chưa cao, chưa ngang tầm với yêu cầu của tình hình mới Có nhiều nguyên nhân, khách quan và chủ quan, đưa đến thực trạng ấy Một trong những nguyên nhân nổi lên: đó là đội ngũ giảng viên của trường còn quá mỏng cả về số lượng và chất lượng, chưa đủ năng lực đảm đương đầy đủ và có hiệu quả công tác đào tạo và bồi dưỡng mà Tổng cục giao cho Một đòi hỏi cấp bách đang đặt ra là cần phải nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện và nâng cao chất lượng chuyên môn đội ngũ giảng viên của trường CĐHQ
32TVấn đề là cần làm gì và làm như thế nào để đáp ứng được đòi hỏi ấy? Câu hỏi không
dễ trả lời Tổng cục và nhiều cán bộ quản lý, nhiều nhà nghiên cứu đã và đang tập trung giải quyết vấn đề nêu trên
32T
Với mong mỏi góp phần giải quyết vấn đề đang được nhiều người quan tâm, chúng tôi
đi vào tìm hiểu và đề xuất 32T42T"MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG HẢI QUAN" 32T42TĐấy là cơ sở của luận văn này
2 Tình hình nghiên cứu:
4T
2.1 4T32TĐể khắc phục những hạn chế, bất cập của hệ thống giáo dục quốc dân (GDQD) đặc biệt là hệ thống giáo dục bậc cao đẳng, đại học và trên đại học, một trong những chủ trương được Đảng và Nhà nước ta đang gấp rút triển khai là: quy hoạch lại mạng lưới các trường cao đẳng và đại học theo hướng"chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa" { TL 40,
Trang 7tr.109 }, xây dựng một đội ngũ giảng viên cao đẳng và đại học có trình độ cao ngang hàng với các nước trong khu vực và thế giới
32T
Nhiều nhà khóa học, nhiều nhà giáo tâm huyết đã và đang đầu tư nhiều tâm sức nhằm tìm ra một hướng đi đúng đắn cho nền giáo dục đại học nước nhà [TL.3,TL.4,TL.16,TL.24, ]
4T
2.2 4T32TTrường Cao Đẳng Hải Quan là một trong những trường thành viên của hệ thống giáo dục cao đẳng và đại học Song do tính đặc thù của mình _ một trường đào tạo duy nhất của ngành Hải quan _ nên theo chỗ chúng tôi được biết, hình như trường CĐHQ chưa được nhiều nhà nghiên cứu biết đến và quan tâm Hầu như những nhà nghiên cứu có quan tâm đến hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cho cán bộ, công chức Hải quan nói chung và của trường CĐHQ nói riêng đều là các quan chức, những người nghiên cứu của ngành Dù vậy, cũng có thể kể đến các công trình của Lê Thị Thúy [TL13], Nguyễn Quang Tín và cộng sự [TL16], Nguyễn Trọng Trình và Nguyễn Xuân 32T44Tcẩn 32T44T[TL.19], Nguyễn Vân Hà và cộng sự [TL.20], Trường CĐHQ [TL.36], Trần Đức Phiên [TL.30],
Trang 82.3 Tuy số các công trình nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường CĐHQ không nhiều, nhưng có khá nhiều các khía cạnh được các tác giả quan tâm Những khía cạnh sau đây tập trung hơn cả:
- 4TVấn đề xây dựng đội ngũ giảng viên phải cùng lúc tiến hành tăng cường về lượng và nâng cao về chất
4TMuốn tăng về lượng phải có kế hoạch tạo nguồn, muốn nâng cao về chất phải xây dựng chiến lược đào tạo, làm sao trong một thời gian có đủ số lượng giáo viên cơ hữu đảm nhiệm các giáo trình, các học phần, các giáo án của chương trình do trường đảm nhiệm, đồng thời đội ngũ giảng viên có trình độ trên đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) đạt được tỷ lệ như Bộ GD-ĐT đề ra [tr 13, TL.32, Mai Thế Huyên, Nguyễn Xuân Trung trong TL.30]
- 4TCần nhanh chóng trang bị cho đội ngũ giảng viên những tri thức chuyên môn nghiệp
vụ Hải quan và của các ngành hỗ trợ hoặc những môn học công cụ (ngoại ngữ tin học, ) [TL.21, TL.32, Cục Công nghệ Thông tin và Thống kê, TL.30]
- 4TMở rộng hệ thống giáo trình, giáo án, tăng cường hệ thống bài tập tình huống và các loại hình đào tạo [TL.13, Trần Đúc Phiên trong TL.30, TL.16]
32TNhững ý kiến trên đây đã gợi mở được một số hướng giải quyết đối với một số tồn tại hiện nay xung quanh vấn đề xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của trường CĐHQ Tuy nhiên, như một số tác giả đã nêu, những ý kiến ấy phần lớn dừng lại ở một số gợi mở, mang tính định hướng chung, còn thiếu những giải pháp cụ thể được xây dựng trên một cơ sở lý luận, khoa học
3 Mục đích nghiên cứu:
32TLuận văn này cố gắng đạt đến hai mục đích sau:
- 32TMột là: đánh giá một cách chính xác, khách quan và toàn diện thưc trạng đội ngũ giảng viên trường CĐHQ thời gian qua; chỉ rõ những nguyên nhân đưa đến thực trạng ấy
- 32THai là: đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên trường CĐHQ, tạo điều kiện cho trường hoàn thành trọng trách của mình trong giai đoạn mới (2001-2005)
Trang 9Trong hai mục đích trên, mục đích thứ hai là mục đích chủ yếu
4 Giới hạn của đề tài:
4.1 32TTừ những mục đích đã nêu, ở luận văn này, trên cơ sở khẳng định tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên của trường CĐHQ đối với vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cho toàn ngành, đối chiếu thực trạng của đội ngũ giảng viên của trường trong thời điểm hiện tại với mục tiêu và yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Hải quan giai đoạn 2001-2005, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu những nội dung liên quan
đến việc xây dựng đội ngũ giảng viên và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ này
4.2 32TXây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của trường CĐHQ là một vấn đề rộng, phức tạp và gắn với nhiều vấn đề tổ chức, vấn đề nội dung chương trình giảng dạy, vấn đề cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động đào tạo, Do thời gian hạn chế và trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ đi sâu giải pháp những nội dung chủ yếu sau
- 32TPhương thức quản lý đội ngũ giảng viên
5 Đối tượng nghiên cứu:
32T
Đối tượng tìm hiểu nghiên cứu được đề cập đến trong luận văn này là:
- 32TCán bộ, giảng viên, công nhân viên của trường CĐHQ (trong đó chủ yếu là giảng viên cơ hữu) trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ được giao trong 15 năm xây dựng và trưởng thành Đây là đối tượng chính
- 32TĐội ngũ giảng viên kiêm nhiệm và giảng viên thỉnh giảng
Trang 106 Cái m ới và đóng góp của luận văn:
6.1 32TUCái mới của luận vănU:
32TCái mới của luận văn chủ yếu nằm ở hướng tiếp cận nội dung do đề tài đặt ra Để giải quyết những nội dung do đề tài đặt ra, chúng tôi tiếp cận theo một số hướng sau đây:
- 32TBám sát vào chức năng, nhiệm vụ và phương hướng hoạt động của trường, của Tổng cục Hải quan mà phân tích, đánh giá thực trạng một cách chi tiết và đưa ra những giải pháp
có tính khả thi, sát với thực tiễn
- 32TNhững nội dung do đề tài đặt ra đều được xem xét trong tính hệ thống và dựa trên cơ
sở của những quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về phát triển sự nghiệp giáo dục và chiến lược phát triển ngành Hải quan
6.2 32T.UĐóng góp của luận vănU:
32TTheo thiển ý của chúng tôi, luận văn này có hai đóng góp:
32TU
Một làU: Nêu lên được một cách khách quan thực trạng đội ngũ giảng viên của trường CĐHQ qua 15 năm ra đời và trưởng thành Từ đây cho phép chúng ta có nhận thức một cách chính xác những đóng góp cũng như những tồn tại của đội ngũ giảng viên nói riêng, của trường CĐHQ nói chung Từ đó cung cấp cho trường và cho Tổng cục những cơ sở khách quan khi xây dựng chiến lược phát triển công tác đào tạo-bồi dưỡng cán bộ công chức của ngành nói chung và phát triển của trường CĐHQ nói riêng trong giai đoạn sắp tới
32TUHai làU: đưa ra một số biện pháp có tính khả thi góp phần vào việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của trường CĐHQ trong thời gian tới
7 N ội dung và phương pháp nghiên cứu:
7.1 32TUNội dung nghiên cứuU:
32T
Để triển khai đề tài ở luận văn này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu ba nội dung, mỗi nội dung làm thành một chương:
32TUMột làU: Nêu lên một số cơ sở lý luận và thực tiễn gắn với đề tài: vai trò của giáo dục-đào tạo đối với sự phát triển, vai trò vị trí của đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo
Trang 11viên Hải quan nói riêng, các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về phát triển giáo dục và xây dựng đội ngũ giáo viên,
32TU
Hai làU: Phân tích đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên của trường CĐHQ qua 15 năm trường ra đời và trưởng thành, những đóng góp và hạn chế của đội ngũ giảng viên trong mối quan hệ với hoạt động của trường, nguyên nhân đưa đến những hạn chế ấy
32TU
Ba làU: Dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn, luận văn nêu lên một số biện pháp
để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường CĐHQ trong thời gian tới 7.2 4TUPhương pháp và phương pháp luận nghiên cứuU:
đề định giải quyết trong luận văn
32TU
Phương pháp đối chiếu so sánhU: với phương pháp này, chúng ta có thể thấy được sự phát triển của trường CĐHQ qua hai thời kì và những vấn đề khác gắn với đội ngũ giảng viên
Trang 1232TUPhương pháp phát vấn:UĐể có những thông tin khách quan phục vụ cho việc xem xét, đánh giá của mình, chúng tôi sử dụng phương pháp phát vấn dưới hình thức phiếu thăm dò Đây là một phương pháp bổ trợ
32TTùy từng chương, từng phần, mà những phương pháp này được dùng riêng biệt hoặc kết hợp với nhau
32TNgoài ba phương pháp này, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp thông thường được nhiều người quen dùng như phương pháp phân tích, tổng hợp, 18T32TV V
8 Kết cấu luận văn:
32TNgoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được tổ chức thành ba chương, mỗi chương có nhiều phần khác nhau
4T
Chương 1 4T32TCơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
1.1 32TGiáo dục - đào tạo và sự phát triển
1.2 32TGiáo viên và sự nghiệp 'trồng người'
1.3 32TVai trò của đội ngũ giảng viên Hải quan
4T
Chương 2: 4T32TTình hình đội ngũ giảng viên trường Cao Đẳng Hải Quan
32T2.1 Tổng quan về trường Cao Đẳng Hải Quan
2.2.32THoạt động của trường Cao Đẳng Hải Quan trong thời gian qua
2.3.32TTình hình đội ngũ giảng viên trường Cao Đẳng Hải Quan
4T
Chương 3: 4T32TMột số giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao Đẳng Hải Quan thời gian tới (2001-2005)
3.1 32TNhững căn cứ để xây dựng giải pháp
3.2 32TMột số yêu cầu khi xây dựng đội ngũ giảng viên trường CĐHQ 3.3 32TMột số giải pháp xây dựng đội ngũ giảng viên
Trang 133.4 32TMột số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
3.5 32TMột số giải pháp quản lí và phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 G iáo dục – đào tạo và sự phát triển
1.1.1 Giáo dục đào tạo là động lực, là mục tiêu của sư phát triển
1.1.1.1 Các nguồn lực của sự phát triển
32T
Xã hội càng ngày càng phát triển, đất nước càng ngày càng thịnh vượng Sự phát triển của xã hội, sự thịnh vượng của đất nước chịu sự chi phối của nhiều nguồn lực, thông thường người ta nói đến ba nguồn lực cơ bản: tài lực, vật lực và nhân lực Vai trò của ba nguồn lực này có khác nhau Nhân lực là nguồn lực chủ yếu, quyết định cho mọi sự phát triển Vai trò
to lớn của nguồn nhân lực xuất phát từ hai cơ sở:
42TU
M ột làU: Từ thuộc tính của tài lực, vật lực Tài lực, vật lực luôn luôn chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng Tiềm năng của tài lực, vật lực chỉ trở thành sức mạnh, chuyển thành hiện thực khi nào có sự can thiệp của con người Con người can thiệp như thế nào? Cách can thiệp ra sao? Đúng hay sai? Đúng sai đến mức độ nào? Sẽ làm sao cho tài lực, vật lực trở nên hữu ích hay không? Hữu ích nhiều hay ít?
42TU
Hai làU: 32T42TVai trò của con người (nhân lực) trong xã hội Trong đời sống xã hội, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của xã hội Với tư cách là chủ thể, con người quyết định đường hướng sự phát triển của xã hội Nói khác đi với tư cách là chủ thể, con người là động lực thúc đẩy xã hội phát triển Với tư cách là khách thể, con người là mục tiêu mà mọi
sự phát triển hướng tới Con người nắm bắt, chinh phục, cải tạo tự nhiên là để phục vụ cho
sự phát triển của con người
1.1.1.2 Giáo dục - đào tạo trực tiếp tạo nên nguồn nhân lực có chất lượng cao
32TVai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển to lớn là vậy Song như thế không có nghĩa là chỉ cần có nhiều người, có nguồn nhân lực đông đảo là có thể phát triển xã hội Nhân lực đông đảo là cần thiết, là quan trọng nhưng chưa đủ Quan trọng hơn, có tính chất quyết định hơn đấy chính là chất lượng của nguồn nhân lực Thực tiễn của nhiều nước như Thụy Sĩ, Singapo, Nhật, cho thấy chỉ khi nào có được một nguồn nhân lực có chất lượng cao thì mới thật sự có điều kiện phát triển xã hội, đất nước bền vững
Trang 15Chất lượng cao của nguồn nhân lực được đánh giá qua bốn phẩm chất như Nghị quyết
4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 32T40TVII 32T40Tđã nêu:
1.1.2 Giáo dục - đào tạo là thước đo sự phát triển của một đất nước, của một địa phương
32T
Thông thường, một đất nước, một địa phương được đánh giá là phát triển hay không, thông qua:
- 32TSự giàu có về tài nguyên,…
- 32TSự phát triển của kinh tế - xã hội và của khoa học kỹ thuật (KHKT)
- 32TChất lượng nguồn nhân lực
Cần 32T44Tphải nhận thấy mối quan hệ biện chứng giữa xã hội, KHKT, nhân lực (con người)
và GD - ĐT trong quá trình phát triển Cụ thể: xã hội càng phát triển có nghĩa là KT - XH
và KHKT ở đất nước, địa phương ấy phát triển và nguồn nhân lực ở đấy có chất lượng cao Nguồn nhân lực chỉ đạt chất lượng cao khi nào GD-ĐT phát triển tương ứng Có thể hình dung chu trình như sau:
Trang 16Đã có nhiều nhà lãnh đạo, nhiều nhà khoa học khẳng định điều này Nhà bác học Lê Quí Đôn (1726-1778) khẳng định: "Phi công bất túc, phi nông bất ổn, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng" [dẫn theo TL 35, tr 6] Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu" Vì thế trong thư gửi học sinh Việt Nam nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1945, Bác đã viết: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính phần lớn nhờ vào công học tập của các cháu" [dẫn theo TL 35, tr 36]
Garry Becker, nhà kinh tế học Mỹ, trong lễ nhận giải thưởng Nobel năm 1992 đã phát biểu:" Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực, đặc biệt đầu tư cho giáo dục" [dẫn theo TL35, trang 7]
32TNhận thức được vai trò to lớn của GD-ĐT đối với sự phát triển xã hội nói chung, đối với việc phát triển nguồn nhân lực nói riêng, nhiều nước đã hướng đến mục tiêu "Phát triển
vì con người", đặt con người vào trung tâm của "Sự phát triển bền vững" Tuy cách diễn đạt
có khác nhau, nhấn mạnh vào khía cạnh này hay khía cạnh khác của GD-ĐT nhưng nhìn chung các nước, các tổ chức quốc tế như UNESCO khẳng định vai trò to lớn đối với việc phát triển con người, đặt biệt là vấn đề hình thành nhân cách con người - công dân Chẳng hạn UNESCO nhấn mạnh bốn mục tiêu của GD-ĐT:"Học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung sống" Đối với Trung Quốc,"Giáo dục phải nâng cao tố chất của con người" Nhật Bản chủ trương:"Phát triển một xã hội học tập suốt đời, toàn diện và thích hợp, trong đó mọi sự phát triển cá nhân và năng khiếu con người sẽ chịu ảnh hưởng bởi một quá trình giáo dục suốt đời không giới hạn, không định hình" Việt Nam: "Giáo dục hướng tới phát triển toàn diện, phát triển hài hòa cả 5 mặt: đức-trí-thể-mỹ-nghệ"
Trang 171.1.2.2 Về thực tiễn:
32T
Hàng loạt nước lạc hậu, chậm phát triển, nghèo đói không phải vì tài lực, vật lực thiếu thốn hay vì dân số ít, mà chỉ do trình độ dân trí thấp, nền giáo dục đào tạo lạc hậu, kém cỏi, KHKT lỗi thời Ngược lại nước nào đầu tư đúng hướng cho GD-ĐT biết dùng GD-ĐT làm đòn bẩy phát triển kinh tế xã hội thì KT-XH của nước ấy sẽ phát triển nhanh, vững bền Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo, Malaixia,… cho chúng ta những bài học quí báu, sinh động Ngay Liên
32T
hợp quốc (LHQ) cũng thay đổi cách nhìn khi phân loại mức độ phát triển của các nước Từ năm 1994 trở về trước, LHQ chỉ dùng một chỉ số duy nhất là GDP/người để phân loại các nước (phát triển, trung bình, chậm phát triển) Theo đó, Mỹ luôn được xếp đầu tiên trong các nước phát triển Nhưng từ năm 1995 trở đi, LHQ còn đưa thêm hai chỉ số: tuổi thọ
và trình độ học vấn (tỷ lệ người đi học và số năm đi học) Vì thế vị thứ của các nước có thay đổi: 1.Canada, 2.Thụy Điển, …và Mỹ tụt xuống thứ 8 [TL 34, phần phụ lục]
1.1.3 Vai trò của giáo dục - đào tạo đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
32T
Ngoài những điểm đã nêu trên đây, đối với công cuộc CNH- HĐH đất nước ta hiện nay, vai trò của Giáo dục - Đào tạo, có thể nói còn lớn hơn nhiều bởi bối cảnh lịch sử và xã hội Việt Nam hiện nay có những khía cạnh riêng
1.1.3.1 B ối cảnh lịch sử, xã hội tác động đến vai trò của giáo dục - đào tạo
từ một nền nông nghiệp đang trên con đường phát triển, đời sống của người dân còn nghèo nàn, khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, KHKT lạc hậu, yếu kém, thu nhập kinh tế quốc dân còn quá thấp
Trang 18b-Việt Nam tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp,
xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập đang diễn ra Một thực tế mà ai cũng có thể nhận ra: hố ngăn cách giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước lạc hậu đang trên con đường phát triển ngày càng lớn, sự chênh lệch giữa giàu-nghèo càng trở nên rõ ràng
32TTrong bối cảnh đó, Việt Nam cần có những bước đột phá, tạo ra sự chuyển biến, phát triển mạnh mẽ Những bước đột phá này có được dựa trên cơ sở:
7TU
Một là:U 7T32TBên cạnh việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, tài trợ của các nước, các tổ chức
xã hội trên thế giới, cần phải phát huy cao độ mọi nội lực của Việt Nam, trước hết là nội lực con người
7TU
Hai là:U 7T32TPhải bắt đầu từ việc đầu tư, phát triển mạnh mẽ GD-ĐT và KHKT, công nghệ; phải tạo ra sự chuyển biến một cách căn bản chất lượng của giáo dục, làm cho giáo dục - đào tạo đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của các lĩnh vực KT-XH cũng như tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định điều này:"Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển GD-ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản phát triển nhanh và bền vững" [TL39, tr 19]
1.1.3.2 Vai trò của giáo dục - đào tạo đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
4T
b Giáo dục - đào tạo thông qua các loại hình đào tạo, bồi dưỡng nhanh chóng trang bị
và nâng cao trình độ KHKT, công nghệ, cho lực lượng lao động phục vụ trực tiếp cho lao
Trang 19động sản xuất Chỉ cần khảo sát qua kết quả hoạt động của một số lĩnh vực KT-XH như nông nghiệp, y tế, có thể thấy rõ khía cạnh này trong vai trò của GD-ĐT đối với việc phát triển CNH, HĐH Như ngành nông nghiệp chẳng hạn, nhờ có GD-ĐT đã đào tạo nên một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, kỹ sư, THCN,… và nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản,
…nên chúng ta đã tạo ra được một bộ giống lúa mang thương hiệu Việt Nam và Việt Nam từ một nước nghèo đói thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế giới
4T
Hiến pháp 1992, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 4T40TVII, 4T40TVIII, IX, nghị quyết 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và nhiều văn kiện khác khẳng định "Giáo dục - đào tạo là quốc sách hành đầu" đã nhấn mạnh vai trò trên đây của GD-ĐT
1.2 G iáo viên và sự nghiệp “trồng người”
1.2.1 Giáo dục - đào tạo và giáo viên trong nhận thức của xã hội
32T
Khác với sự nghiệp "trồng cây", sự nghiệp "trồng người" không chỉ đáp ứng lợi ích trước mắt mà còn đáp ứng lợi ích lâu dài nhưng không thể tiến hành trong ngày một ngày hai, mà phải tiến hành liên tục trong một thời gian dài Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh
Trang 2032TPhương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng vốn có truyền thống "Tôn sư trọng đạo" Nghề dạy học và vị thế của người thầy được xã hội tôn vinh và đề cao Trong chế độ phong kiến, vị thế của người thầy được đặt lên hành thứ hai, sau vua (quân - sư - phụ ) Đã là thầy thì "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư" và "Không thầy đố mày làm nên" Ngày nay, trong sự biến đổi của xã hội, dưới tác động của nhiều nhân tố, có nơi có lúc, vị thế của người thầy bị hạ thấp Tuy nhiên, nhận thức chung của xã hội, người thầy chính là những "kỹ sư tâm hồn", là người mang ánh sáng văn minh, tri thức đến cho mọi người Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng đề cao và đặt niềm tin vào đội ngũ các nhà giáo; đồng thời bằng nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp tìm mọi cách nâng cao mọi mặt về đời sống tinh thần, vật chất cho giáo viên; và đưa giáo dục cũng như giáo viên về đúng vai trò và vị thế vốn có trong truyền thống dân tộc xã hội tôn vinh và đề cao người thầy bởi vai trò to lớn của họ
1.2.2 Vai trò của người giáo viên
1.2.2.1 Phương châm giáo dục
32TTrong chế độ phong kiến phương châm giáo dục là "Tiên học lễ, hậu học văn" phương châm này được duy trì và phát triển cho đến ngày nay Tuy nhiên, xuất phát từ tình hình mới, để GD-ĐT có thể đào tạo được một nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng kịp thời, đầy đủ những đòi hỏi của các lĩnh vực KT-XH trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước ta đưa ra phương châm mới trên cơ sở mở rộng phương châm vốn
có:"Dạy người, dạy chữ và dạy nghề"
32TQua phương châm này có thể nhận thức rõ qua:
- 32TNội dung nhiệm vụ của GD-ĐT
- 32TTrình tự và tầm quan trọng của mỗi nhiệm vụ
- 32TNhiệm vụ và vai trò của người thầy
1.2.2.2 Vai trò của người giáo viên
4T
a- 4T32TUGiáo viên là người góp phần tích cực, trực tiếp vào viêc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh sinh viên
Trang 21"Dạy người" hay "học lễ" là nhiệm vụ đầu tiên quan trọng nhất, có tính tiên quyết của GD-ĐT Việt Nam đối với học sinh sinh viên (HS-SV)- những chủ nhân tương lai của đất nước Dù HS-SV có học giỏi, có kiến thức chuyên môn KH-KT cao, sâu sắc mà nhân cách, đạo đức kém, động cơ học tập và lao động mơ hồ, không đúng đắn, thì khó trở thành những con người hữu ích cho xã hội Điều này phù hợp với một nét đẹp mang tính truyền thống của nhân dân ta: coi trọng đạo đức, nhân cách con người (cái nết đánh chết cái đẹp) Đảng và Nhà nước ta cũng đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức phải "vừa hồng vừa chuyên"
32T
Nhân cách, đạo đức của HS-SV hình thành và phát triển như thế nào, tốt hay xấu, chịu
sự chi phối, tác động của nhiều nhân tố, nhiều lực lượng, nhiều tổ chức xã hội: gia đình, làng xóm, đoàn thể, bạn bè, môi trường sống,… và nhà trường Từ khi sinh ra cho đến khi con người đi vào thế giới vĩnh hằng, con người chịu sự tác động chi phối của giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội Mỗi loại giáo dục này chủ yếu chi phối, tác động đến một phần của cuộc đời con người: giáo dục gia đình chi phối giai đoạn con người thơ ấu và đi học; giáo dục nhà trường gắn với giai đoạn con người đi học; giáo dục xã hội gắn với con người trưởng thành Vai trò của ba loại giáo dục này có vai trò khác nhau trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của người học Nếu như giáo dục gia đình đóng vai trò to lớn đối với người học ở giai đoạn tiền học đường (từ 1 đến 5 tuổi) và giai đoạn đầu của học đường (giai đoạn tiểu học và THCS), còn giáo dục xã hội chủ yếu củng cố hoàn thiện nhân cách đã hình thành và phát triển nhân cách ấy trong môi trường xã hội (lao động sản xuất), thì giáo dục học đường tác động suốt cả thời gian người học vừa bước vào tuổi mẫu giáo, mầm non đến hết THPT (>12 năm) và suốt thời gian học tập sau phổ thông (giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục cao đẳng và đại học) kéo dài 4 - 6 năm Với một khoảng thời gian dài như vậy, nhân cách của người học mới dần dần hình thành, hoàn thiện và phát triển
để chuẩn bị bước vào cuộc sống trở thành công dân hữu ích cho xã hội
32T
Trong suốt thời gian ấy, tri thức và nhân cách của người học gắn chặt với nhà trường với bạn bè và đặc biệt với thầy cô giáo Người thầy không chỉ là người trang bị kiến thức khóa học (tự nhiên và xã hội) mà còn là người xây dựng nền móng cho nhân cách của HS-
SV và nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, lý tưởng cho người học, hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức, đạo lý làm người, đạo lý xã hội cho người học Nếu như người thầy với tất cả lương tâm nghề nghiệp của mình, với tư cách là một "kỹ sư tâm hồn" xây dựng được, hình thành được và hoàn thiện được những nhân cách cao đẹp, trong sáng ở người học, thì có
Trang 22nghĩa là người thầy đã ươm được mật ngọt cho đời, đã "trồng" được những con người hữu ích cho xã hội tương lai
32T
Có nhiều cách thức, nhiều con đường khác nhau để người thầy hình thành, hoàn thiện
và phát triển nhân cách của người học 32T42TTrước hết 32T42Tlà thông qua việc "tự làm gương", "tự nêu gương" của chính người thầy Nếu như người thầy tự ý thức được rằng bản thân nhân cách, đạo đức của người thầy có tác dụng rất to lớn làm gương cho người học, thì người thầy cũng phải thường xuyên rèn luyện, giữ gìn đạo đức, nhân cách của người thầy Nhân dân ta có câu "cha nào con nấy" Vận dụng tinh thần của câu ấy vào trong giáo dục, có thể nói "thầy nào trò nấy" Người thầy có nhân cách có đạo đức, trọng nghề nghiệp, không coi nghề dạy
là nghề kiếm cơm nuôi thân, mà là sự nghiệp cao cả, sự nghiệp "trồng người" thì người thầy trở thành tấm gương sáng cho HS-SV noi theo Người thầy sẽ được học sinh kính trọng, nghề dạy sẽ trở nên cao quí Lịch sử giáo dục Việt Nam đã ghi nhận biết bao nhiêu người thầy mẫu mực: Chu Văn An, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Tất Thành, GS-NGND Nguyễn Lân, GS-NGND Lê Trí Viễn,
42T
Thứ hai, 32T42Tngười thầy giáo dục nhân cách đạo đức cho người học bằng chính trình độ chuyên môn của mình Nhiệm vụ chính trị của người thầy là truyền thụ, trang bị kiến thức KH-TN và KH-XH cho người học Dù người thầy có nhân cách, đạo đức mà không đủ trình
độ, không có khả năng truyền thụ tri thức cho người học thì không những người thầy không làm tròn nhiệm vụ (Giáo dục) của mình, đồng thời làm giảm niềm tin và sự kính trọng của người học Như vậy hai mặt nhân cách, đạo đức và trình độ, năng lực chuyên môn ở người thầy phải gắn bó chặt chẽ với nhau đưa đến sự hoàn hảo của một người thầy, trong đó mặt nhân cách đạo đức được đưa lên hàng đầu và mặt trình độ, năng lực chuyên môn là quan trọng
42T
Thứ ba, 32T42Tgắn chặt với điều vừa nêu, người thầy bằng năng lực của mình làm sao cho người học biết cách chuyển tất cả những kiến thức đã được truyền thụ thành tri thức của mình, biết vận dụng một cách sáng tạo và đưa những gì được truyền thụ vào cuộc sống, vào lao động và sản xuất, thành những thành quả kinh tế - xã hội Nói khác đi, chung hơn, người thầy phải làm sao cho người học tiếp nhận một cách đầy đủ, sâu sắc tri thức khoa học, công nghệ trên cơ sở một quan niệm, động cơ, nhân sinh quan đúng đắn từ đó sáng tạo nên những sản phẩm, của cải phục vụ cho xã hội Đấy chính là ba nội dung của nền giáo dục XHCN
mà Đảng ta đề ra: dạy người, dạy chữ và dạy nghề
Trang 23Nếu như lao động của người nông dân và công nhân nhằm nuôi sống con người (giải quyết mặt vật chất), lao động của nhà văn nhà thơ nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của xã hội, thì lao động của người thầy tạo ra sản phẩm là con người
32T
Lao động của người thầy là loại lao động đặc biệt đặc thù Lao động của người thầy tuy không đưa lại vật chất, tinh thần cụ thể, nhưng lại vô cùng quan trọng, chi phối kết quả của mọi loại lao động và sản phẩm do lao động tạo ra Điều này do chính vai trò của con người trong xã hội Như đã nêu ở trên con người là chủ thể của xã hội Với tư cách này, mọi của cải vật chất và tinh thần đều do con người tạo ra Chất lượng hiệu quả của mọi lao động tạo ra của cải vật chất hay tinh thần đều phụ thuộc vào chất lượng của con người - chủ nhân tạo ra chúng Chất lượng con người suy cho cùng lại do quá trình GD-ĐT mà có Vì thế, bất
kỳ người nông dân, công nhân hay nhà văn, nhà thơ nào nếu thông qua quá trình GD-ĐT, được trang bị một trình độ KH-KT, công nghệ hiện đại thì số lượng, chất lượng, năng suất, sản phẩm làm ra sẽ cao hơn Như vậy chính GD-ĐT và người thầy đã đào tạo ra một nguồn nhân lực có chất lượng cao, để rồi nguồn nhân lực ấy trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho xã hội, cho con người để phát triển KT-XH của một đất nước, một địa phương
32T
Nói đến nhà trường là nói đến hai lực lượng: người học (học sinh, sinh viên, học viên)
và người dạy ( giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, những nsười phục vụ cho việc dạy và học) Nếu như lực lượng thứ nhất, người học là trung tâm của nhà trường, thì lực lượng thứ hai, người dạy là lực lượng quyết định nội dung, chất lượng của người học trong quá trình học tập cũng như khi người học kết thúc việc học để vào đời hay tiếp tục học lên Vai trò to lớn và cao cả của người thầy là ở đây
32T
Thông qua đội ngũ giáo viên, GD-ĐT thực hiện chức năng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Cả ba chức năng có quan hệ chặt chẽ với nhau và đều có vai
Trang 24trò quan trọng Song thực tế cho thấy, chức năng đào tạo nhân lực là chức năng quan trọng nhất bởi:
32TNguồn nhân lực nói chung, lực lượng lao động nói riêng là lực lượng trực tiếp tham gia vào LĐSX, tạo ra của cải vật chất và tinh thần, từ đây phát triển kinh tế -xã hội Nếu nguồn nhân lực chỉ dừng lại ở trình độ nâng cao dân trí, mặt bằng văn hóa tri thức của người lao động thấp mà không được đào tạo một đầy đủ, không có trình độ cao và hiện đại, không
có một trình độ nghề nghiệp vững vàng, thành thạo thì khó lòng đáp ứng được những đòi hỏi ngay càng cao về KH-KT, công nghệ của các lĩnh vực KT-XH
32T
- Bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp thiết của ngành GD-ĐT Song nhiệm vụ ấy không thể triển khai đại trà như chức năng đào tạo nhân lực
32TMột điều chắc chắn, GD-ĐT chỉ thực hiện được ba chức năng trên đây, đặc biệt là chức năng thứ hai, thông qua đội ngũ giáo viên Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã chỉ rõ điều này: "Mục tiêu của GD-ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, hình thành một đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành tự chủ, năng động, có đạo đức cách mạng tinh thần yêu nước, yêu CNXH Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và
có khả năng tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần" [TL 38 , tr 79]
4TMặt khác, cũng cần nói thêm, đội ngũ giáo viên còn là những nhà khóa học Mỗi nhà khoa học chuyên về một lĩnh vực nào, hướng đến phát hiện và sáng tạo ra một sản phẩm của lĩnh vực ấy Người thầy với tư cách là "kỹ sư tâm hồn" phải luôn luôn kiên trì, khó nhọc để tạo ra một loại sản phẩm - tác phẩm đặc biệt "Con Người" Tác phẩm này càng hoàn hảo với một kiến thức khoa học cao, tiên tiến, hiện đại và với những đặc trưng văn hóa, đạo đức mang bản sắc dân tộc thì đất nước, dân tộc sẽ có những chủ nhân tương lai có chất lượng cao phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Người thầy với tư cách nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục trở thành cầu nối thiết yếu giữa khoa học với cuộc sống, đưa những kiến thức khoa học mà nhân loại tích lũy, sáng tạo được vào giai quyết những vấn đề của cuộc sống thông qua lực lượng học sinh, sinh viên, học viên 4T40TVề 4T40Tphương diện này có thể không có bất kỳ ai có thể đưa tri thức khoa học vào cuộc sống một cách nhanh chóng, sâu rộng như là đội ngũ giáo viên
Trang 251.3 V ai trò của đội ngũ giảng viên hải quan
1.3.1 Vai trò của ngành Hải quan đối với công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc
10T
1.3.1.1 4T10TLà lực lượng "gác cửa" và bảo vệ an ninh kinh tế cho đất nước, ngành Hải quan đã qua 57 năm xây dựng và trưởng thành (1945-2002) Qua các giai đoạn cách mạng, ngành đã góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước Nhất là từ khi Tổng cục Hải quan được thành lập (20/10/1984) đến nay ngành đã trưởng thành về nhiều mặt Đội ngũ cán bộ công chức Hải quan đã nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành các nhiệm vụ chính trị được giao Riêng đội ngũ giáo viên của trường Cao Đẳng Hải Quan, trong mười lăm năm qua đã đào tạo và bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ công chức khá đông đảo có trình độ nghiệp vụ của ngành
10T
1.3.1.2 4T10TĐất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH, mở rộng quan hệ giao lưu thương mại, văn hóa với nhiều nước trên thế giới, và đang nhanh chóng hội nhập với thế giới Quá trình mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tế đặt ra những thách thức gay gắt cho mọi ngành, mọi lĩnh vực trong quá trình triển khai hoạt động Đối với ngành Hải quan cũng vậy Ngoài những thách thức chung cho cả đất nước, cho cả dân tộc như: giao lưu, hội nhập nhưng vẫn phải kiên định mục tiêu chính trị, hòa nhập nhưng không hóa tan; hội nhập quốc
tế khi xuất phát điểm về kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ, năng lực quản lý, trình độ dân trí của nhân dân ta còn thấp,…thì ngành Hải quan đang đứng trước những thách thức riêng:
4T
- Lực lượng quá mỏng (ít về số lượng, hạn chế về chất lượng, năng lực) lại hoạt động trên một địa bàn quá rộng Quả vậy, hiện nay, toàn ngành Hải quan có gần 7242 cán bộ công chức được biên chế ở 30 cục Hải quan và 146 cửa khẩu nằm trên 54 tỉnh, thành phố với một địa bàn bao gồm các khu cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt, liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, các địa điểm làm thủ tục Hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho báo thuế, khu vực ưu đãi Hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hành hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông qua các địa bàn hoạt động Hải quan khác theo qui định của pháp luật" [ TL12, tr.10)]
Trang 26- Nhiệm vụ của ngành Hải quan càng nặng nề và phức tạp, có quan hệ với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực (công an, thuế, kiểm soát, thanh tra,…)
4TTheo Luật Hải quan, điều 11, ngành Hải quan có bốn nhiệm vụ chủ yếu:
4T
Để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Tổng cục Hải quan đã đưa ra một loạt biện pháp nhằm củng cố và hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức ngành Hải quan Một trong những nội dung quan trọng để thực hiện chủ trương ấy là đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức **(2) và đơn vị được giao trực tiếp thực hiện là Trường Cao Đẳng Hải Quan Những chủ trương và biện pháp đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức Hải quan mà Tổng cục Hải quan giao cho Trường Cao Đẳng Hải Quan đã cho thấy phần nào vai trò của trường, của đội ngũ giáo viên ở đây
1.3.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên Trường Cao Đẳng Hải Quan
10T
1.3.2.14T10T Như giáo viên của các trường cao đẳng và đại học, giáo viên của trường Cao Đẳng Hải Quan cũng có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức cho ngành Theo
đó giáo viên trường CĐHQ cũng có vai trò chung, to lớn như mọi giáo viên (mà chúng tôi
đã nêu ở trên, xem 1.2.2)
10T
1.3.2.2 4T10T Tuy nhiên do đặc thù của ngành và đặc điểm của trường CĐHQ, vai trò của đội ngũ giáo viên trường CĐHQ nặng nề hơn nhiều
Trang 27- Trong khi nhiều ngành, nhiều lĩnh vực có hàng loạt trường THCN, cao đẳng và đại học, các viện nghiên cứu làm công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, công chức của ngành thì ngành Hải quan chỉ có một trường cao đẳng duy nhất (vốn từ trường nghiệp vụ ngành được nâng cấp) Mọi công việc đào tạo, bồi dưỡng chưyên môn, nghiệp vụ đều do trường CĐHQ đảm nhiệm
4T
- Mặc dù hiện nay có 66% cán bộ công chức Hải quan đã tốt nghiệp đại học, 25% tốt nghiệp cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, nhưng phần lớn tốt nghiệp từ các trường THCN, CĐ và ĐH ngoài ngành Hải quan Nghiệp vụ Hải quan mà cán bộ công chức ngành
có được chủ yếu xuất phát thực tế công tác, do rút kinh nghiệm mà có Số cán bộ công chức được đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ Hải quan không nhiều Thông thường sau 5-6 năm hoạt động trong ngành, cán bộ và công chức Hải quan được cử đi bồi dưỡng các khóa ngắn hạn 2-3 tháng Số cán bộ dự các lớp bồi dưỡng chính trị và kiến thức quản lý nhà nước quá ít Chưa kể, cán bộ công chức Hải quan chưa được trang bị đầy đủ về ngoại ngữ và tin học phục vụ cho công tác nghiệp vụ, chuyên môn Vì thế hàng loạt cán bộ, công chức gặp khó khăn khi chuẩn hóa theo chức danh Đội ngũ cán bộ, giáo viên, công chức của trường CĐHQ cũng không ngoài thực tế ấy, tất nhiên ở mức độ nhẹ hơn, ít căng thẳng hơn (chúng tôi sẽ trở lại ở chương II)
4T
Đối chiếu thực tế này với chỉ tiêu và những nội dung phải thực hiện của kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức ngành Hải quan năm 2000-2005**(3), mới thấy hết trách nhiệm nặng nề, vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ giáo viên trường CĐHQ
4T
Như vậy, vai trò của đội ngũ giáo viên Trường Cao Đẳng Hải Quan tập trung ở nhiệm
vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức có trình độ, nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn cho toàn ngành và khối lượng công việc mà người giáo viên phải đảm nhiệm khi tiến hành nhiệm vụ này
Trang 28CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO
ĐẲNG HẢI QUAN
2.1 Tổng quan về trường Cao đẳng Hải Quan
2.1.1 Quá trình thành l ập
32TTính đến ngày 10/6/2001, Trường Cao Đẳng Hải Quan đã đi qua 15 năm xây dựng và trưởng thành (1986 - 2001) Từ khi ra đời đến nay, Trường Cao Đẳng Hải Quan đã trải qua
2 giai đoạn với hai tên gọi và chức năng, nhiệm vụ có phần khác nhau
4T
a UGiai đoạn 1986-1996:
32TĐây là giai đoạn đầu của Trường Cao Đẳng Hải Quan với tên gọi là trường Nghiệp Vụ Hải quan
32TVới tư cách là một trường nghiệp vụ, trường chỉ có nhiệm vụ:
32T
Ở giai đoạn này, trường gặp nhiều khó khăn từ đội ngũ giảng viên đến việc biên soạn giáo trình, giáo án, từ cơ sở vật chất, trang thiết bị nội dung, chương trình cụ thể của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng,
32T 4T32Tb UGiai đoan 1996 - đến nay :
32T
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, đất nước ta mở rộng quan hệ giao lưu thương mại, hội nhập quốc tế Gắn liền với xu thế này, nhiệm vụ của một số ngành, lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an ninh, kinh tế quốc gia như ngành Hải quan trở nên nặng nề, phức tạp hơn
32T
Để có thể đảm đương được nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên cho ngành trong tình hình mới, theo đề nghị của Tổng Cục Hải Quan và Bộ giáo dục - đào
Trang 29tạo, 15/9/1996 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 603 (TTg) về việc thành lập trường Cao Đẳng Hải Quan trên cơ sở nâng cấp và tổ chức lại trường Nghiệp vụ Hải quan Đây là một bước ngoặt trên con đường xây dựng và phát triển của trường Cao Đẳng Hải Quan Từ đây, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, hoạt động của trường có những thay đổi quan trọng
2.1.2 Tổ chức bộ máy của trường Cao Đẳng Hải Quan:
2.1.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của trường Cao Đẳng Hái Quan:
32T
Căn cứ vào quyết định số 603 (TTg) của Thủ tương Chính phủ, trường Cao Đẳng Hải Quan có hai chức năng (và cũng là hai nhiệm vụ) chủ yếu sau :
- 32TLà trung tâm đào tạo và bồi dưỡng công chức Hải quan bậc Cao Đẳng
Có nhiệm vụ tổ chức nghiên cứu khóa học về Hải quan
Trang 312.1.2.3 Tình hình đội ngũ cán bộ công chức của Trường Cao Đẳng Hải Quan
32T
Tính đến cuối năm 2001, tổng số cán bộ, công chức ( kể cả đội ngũ giảng viên ) của Trường Cao Đẳng Hải Quan có 67 người Có thể đánh giá tình hình đội ngũ này theo nhiều tiêu chí sau :
32TThạc sĩ : 09 người, chiếm 13,4%
32TĐại học : 44 người, chiếm 65,7%
32TCao đẳng : 03 người, chiếm 4,5%
32TTrung cấp : 09 người, chiếm 13,4%
32T
Dưới đây là bảng chi tiết hóa theo các tiêu chí vừa nêu ( xin xem bảng 1)
Trang 3232T
Trang 33và là một đơn vị duy nhất làm công tác đào tạo, bồi dưỡng của ngành thì số kiểm tra viên chính và kiểm tra viên cao cấp 8% đáng phải băn khoăn, nếu như không muốn nói ra là phải báo động Điều này được củng cố thêm khi cả trường chỉ có 11 thạc sĩ và tiến sĩ, chiếm tỉ lệ là 16,4% Đây là một tỷ lệ quá thấp đối với một trường Cao đẳng
42T
Hai là: 32T42TTrường Cao Đẳng Hải Quan có nhiệm vụ đào tạo nên những cán bộ, công chức đảm nhiệm việc "gác cửa" kinh tế và an ninh Quốc gia Vì vậy, cán bộ và giảng viên của trường phải được trang bị đầy đủ, chu đáo những kiến thức về ngoại ngữ, tin học, luật học và phải được bồi dưỡng về trình độ chính trị và kiến thức quản lý nhà nước Thế nhưng, hiện nay số cán bộ công chức được bồi dưỡng về trình độ chính trị (diện cao cấp, trung cấp ), về tin học, ngoại ngữ quá thấp: Trình độ Chính trị cao cấp và trung cấp : 24 người, chiếm tỉ lệ 35,8% Cử nhân Tin học : 03 người, tỉ lệ 4.0% Cử nhân ngoại ngữ : 11 người, tỉ lệ 16,0%
42T
Ba là40T42T: Về 32T40Tđộ tuổi: cán bộ, công chức thuộc độ tuổi khá trẻ Có tới 94% ở độ tuổi từ
50 tuổi trở xuống Với độ tuổi như vậy, Trường Cao Đẳng Hải Quan có một đội ngũ cán
bộ công chức trẻ, khỏe, năng động Những nhận xét trên cho thấy một phần những mặt mạnh và yếu của đội ngũ cán bộ công chức của nhà trường
2.2 Hoạt động của trường Cao đẳng Hải quan trong thời gian qua
32T
Trong 15 năm qua, Trường Cao Đẳng Hải Quan đã triển khai một số hoạt động nhằm triển khai, thực hiện những nhiệm vụ do Tổng cục Hải quan giao cho Ở đây chúng tôi xin đi sâu vào hoạt động đào tạo và các hoạt động gắn với công tác đào tạo - nhiệm vụ chủ yếu của trường, và khi đi vào những hoạt động này, chúng tôi đặt trọng tâm vào các hoạt động ở giai đoạn thứ hai (từ 1996 đến 2001 )
Trang 342.2.1 M ột số kết quả
2.2.1.1 Về công tác đào tạo
- 32TĐã tuyển sinh, và đào tạo được 5 khóa Cao đẳng Hải quan hệ chính quy với 854 sinh viên, 4 khóa cao đẳng Hải quan tại chức cho 260 cán bộ công chức của ngành; có 635 sinh viên đã tốt nghiệp
- 32TLiên kết với các trường Đại học Tài chính - Kế toán, Đại học Kinh tế, Đại học Ngoại thương và Đại học Ngoại ngữ mở l0 lớp cử nhân tài chính kế toán, kinh tế và 4 lớp ngoại ngữ (tiếng Anh) với gần 1000 học viên (bao gồm cán bộ, công chức và con em trong ngành và cho xã hội) Trong số này có gần 200 cán bộ, công chức đào tạo bằng đại học thứ hai
2.2.1.2 V ề công tác bồi dưỡng
32T
Mở 47 khóa với 55 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Hải Quan (thời gian từ 1,5-6 tháng) cho
5676 cán bộ, nhân viên Hải Quan, chiếm gần 70% biên chế của ngành
2.2.1.4 Về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị
32T
Trường đã xây dựng mới: 1 hội trường và giảng đường đủ phòng học cho hơn 1000 sinh viên, xây dựng 2 phòng học ngoại ngữ và 96 cabin, 2 phòng học vi tính với 45 máy, 1
Trang 35phòng đọc 50 chỗ, 1 phòng hội thảo 50 chỗ và 1 khu tập luyện thể dục, thể thao, võ thuật
42T
Thứ hai: 32T42TNếu căn cứ vào thống kê số học thuần túy, số lượng sinh viên, học viên do Trường Cao Đẳng Hải Quan và bồi dưỡng không nhiều ( đào tạo hơn 2100 sinh viên, bồi dưỡng 73 lớp với hơn 6800 học viên ) nhưng đối chiếu với tổng số cán bộ, giảng viên, công chức của trường là 67 người mới thấy hết nhiệm vụ nặng nề và sự đóng góp to lớn của mỗi cán bộ giáo viên, công chức ở đây
32T
Trường đã xây dựng được một hệ thống giáo trình, bài giảng, bộ bài tập thực hành
và tài liệu tham khảo phù hợp với yêu cầu của ngành Hệ thống giáo trình, bài tập, thường xuyên được điều chỉnh, bổ sung, cập nhật sát với thực tế hoạt động Hải quan
32T
Tuy chất lượng đào tạo, bồi dưỡng chưa thật cao, nhưng những số liệu thống kê dưới đây đã phản ánh sự nỗ lực của thầy và trò trường Cao đẳng Hải quan trong thời gian qua
Trang 371) 4TPháp luật Hải quan
2) 4TXây dựng lực lượng
3) 4TTrị giá xuất xứ hàng hóa
4) 4TKiểm tra Giám sát
5) 4TKế toán xuất, nhập khẩu
6) 4TĐiều tra chống buôn lậu
7) 4TThống kê nhà nước về Hải quan
8) 4TXử lý Tố tụng trong lĩnh vực Hải quan
9) 4TNghiệp vụ ngoại thương
10) 4TThanh toán Quốc tế
Trang 38+ 54/55 học viên cho rằng nội dung các chuyên đề có tác dụng nâng cao chất lượng
và hiệu quả công tác cho học viên
bộ phận nào của ngành (Kiểm tra, Giám sát, Điều tra chống buôn lậu, Văn phòng ) và học viên đã tham dự bao nhiêu khóa bồi dưỡng, thâm niên nhiều hay ít v.v
34T
Thứ ba 4T34T: Trường CĐHQ đã mở rộng quan hệ với nhiều trường đại học, cao đẳng, các học viện, các tổ chức (kể cả các tổ chức Quốc tế) trong công tác đào tạo và bồi dưỡng Chẳng hạn : Trường ĐH Kinh Tế, Trường ĐH Ngoại Thương, Trường ĐH Ngoại Ngữ, Học viện Chính Trị Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Hành Chính Quốc Gia Thành phố
Hồ Chí Minh, Cục Lưu trữ Quốc gia, Hải quan Đan Mạch, Hải quan Nhật Bản, nhờ vậy trường GĐHQ có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên của trường nói riêng, của ngành Hải quan nói chung, đồng thời nâng cao vai trò uy tín của trường
Trang 39Thứ hai: 4T33TDo nhiều điều kiện khách quan và chủ quan, các giáo trình, chuyên đề, môn học được đưa vào đào tạo, bồi dưỡng chưa thể hiện rõ đặc thù khoa học về Hải quan (Hải quan học) Nếu coi các môn học, các chuyên đề về Hải quan từ hướng một khoa học đặc thù thì cần phải xây dựng lại một hệ thống lý thuyết, xác định đối tượng, phương pháp, cho các môn học Xuất phát từ thực tế đó, một số giáo trình, chuyên đề của Trường Cao Đẳng Hải Quan không khác hoặc khác không nhiều so với các trường CĐ,
ĐH có liên quan Theo đó mối quan hệ giữa các loại hình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chưa được tính toán hợp lý, chưa có sự phân biệt rõ ràng, nên sản phẩm đào tạo chưa phát huy đầy đủ hiệu quả
34T
Thứ ba 4T34T: Chất lượng đào tạo và bồi dưỡng còn hạn chế không chỉ ở kết quả học tập
và rèn luyện của sinh viên, học viên mà còn ở hệ thống chuyên đề, giáo trình và nội dung của hệ thống chuyên đề, giáo trình có phần chưa theo kịp thực tiễn cuộc sống, của xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta mở rộng giao lưu và đẩy mạnh hội nhập Quốc tế; và ở cả chất lượng của đội ngũ giáo viên - những người trực tiếp tạo ra sản phẩm đào tạo
Trang 402.2.2.3 Nguyên nhân của tồn tại
4T
a UNhững nguyên nhân khách quanU :
42T
Thứ nhất: 32T42TCông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của ngành nằm trong thời
kỳ cải cách giáo dục - đào tạo chung của cả nước, nên việc chỉ đạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo và ngành Hải quan đối với Trường Cao Đẳng Hải Quan rơi vào bối cảnh vừa làm vừa rút kinh nghiệm Từ đấy, hoạt động đào tạo của Trường Cao Đẳng Hải Quan không được định hướng rõ ràng, dễ bị động
32T
Cho đến nay, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã đưa ra " Quy hoạch tổng thể mạng lưới các trường ĐH, CĐ Việt nam giai đoạn đến năm 2010" Tuy nhiên bản quy hoạch này vẫn có những điểm chưa ổn, chẳng hạn, ĐH, CĐ, Viện tổ chức theo Umô hình 3 cấpU ( Trường- Khoa - Bộ môn ) hay theo Umô hình 4 cấpU ( Viện ĐH -Trường ĐH - Khóa - Bộ môn )? Chưa có một quyết định chính thức? Một ví dụ khác, đối với ngành Hải quan có cần phải thành lập trường Đại học Hải quan hay không? Nếu không, cần tổ chức 01 hay 02 Trường Cao Đẳng Hải Quan? Trong bản quy hoạch nêu trên không tìm thấy lời giải đáp cho những câu hỏi đặt ra
42T
Thứ hai: 32T42TNhững biến đổi về Kinh tế - Xã hội của nước ta thời gian qua, xu thế mở rộng giao lưu và hội nhập Quốc tế đã tác động sâu sắc đến hoạt động của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Ngành Hải quan cũng không phải là ngoại lệ Ở một mức độ nào đó có thể nói rằng Tổng cục chưa bắt kịp với thực tế, nên không khỏi bị động trong quá trình triển khai, chỉ đạo hoạt động các đơn vị cơ sở, trong đó có việc chỉ đạo hoạt động đào tạo của Trường Cao Đẳng Hải Quan Có khá nhiều dẫn liệu minh chứng cho điều này Vì sao trong khi đội ngũ cán bộ công chức Hải quan quá mỏng và chất lượng đội ngũ này khá hạn chế, nhưng Tổng cục giao chỉ tiêu đào tạo và bồi dưỡng cho Trường Cao Đẳng Hải Quan lại quá ít Phải chăng do Bộ Giáo dục - Đào tạo hạn chế chỉ tiêu? Nếu vì 29T32Tlý 29T32Tdo này, chắc chắn Tổng cục Hải quan phải có đề xuất tham mưu cho Chính phủ Hay do sự hạn chế cả về số lượng và chất lượng lượng của đội ngũ giáo viên của trường? Nếu đúng như vậy, với tư cách là cấp cao nhất của ngành, Tổng cục cần có những giải pháp thích hợp