Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận, thực tiễn làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS tại tỉnh Lạng Sơn góp phần nâng ca
Trang 13 Khách thể và đối tượng nghiện cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Phạm vi nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Kế hoạch thực hiện
9 Cấu trúc luận văn
Chương 1 Cơ sở lý luận về xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm về QL, QLGD, QL nhà trường
1.2.1 Khái niệm quản lý
1.2.2 Khái niệm quản lý GD, quản lý trường học
1.3 Khái niệm về xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường
THCS
1.3.1 Khái niệm về đội ngũ
1.3.2 Khái niệm về xây dựng và xây dựng đội ngũ hiệu trưởng
1.3.3 Khái niệm về phát triển và phát triển đội ngũ hiệu trưởng
1.4 Cơ sở pháp lý về xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng
trường THCS
1.4.1 Vị trí, vai trò của trường THCS
1.4.2 Mục tiêu đào tạo trường THCS
Trang 2Chương 2 Thực trạng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu
trưởng trường THCS tỉnh Lạng Sơn
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội
tỉnh Lạng Sơn
2.2 Khái quát về GD tỉnh Lạng Sơn
2.3 Những định hướng phát triển GD & ĐT của Lạng Sơn đến 2010
2.4 Đặc điểm tình hình GD THCS ở tỉnh Lạng Sơn
2.4.1 Qui mô phát triển
2.4.2 Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
2.4.3.Đội ngũ giáo viên
2.4.4 Chất lượng giáo dục
2.5 Thực trạng đội ngũ hiệu trưởng trường THCS ở tỉnh Lạng Sơn
2.5.1 Số lượng, cơ cấu và trình độ đào tạo
2.5.2 Khảo sát ý kiến đánh giá của các đối tượng khác nhau về năng lực
và phẩm chất của đội ngũ hiệu trưởng trường THCS tỉnh Lạng Sơn
2.5.3 Đánh giá chung về thực trạng đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
tỉnh Lạng Sơn
2.6 Đánh giá thực trạng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS ở tỉnh Lạng Sơn
2.6.1 Công tác qui hoạch đội ngũ hiệu trưởng
2.6.2 Công tác bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ hiệu trưởng
2.6.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng
Trang 3trưởng trường THCS
2.6.5 Việc thực hiện chế độ chính sách đối với đội ngũ hiệu trưởng
2.6.6 Đánh giá thực trạng các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ
hiệu trưởng và phương hướng thực hiện
Chương 3 Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu
trưởng trường THCS ở tỉnh Lạng Sơn
3.1 Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
người hiệu trưởng trường THCS
3.2 Xây dựng quy hoạch đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
3.3 Tăng cường công tác ĐT, BD và tự BD của đội ngũ hiệu trưởng
3.4 Xây dựng chuẩn năng lực hiệu trưởng trường THCS
3.5 Thực hiện bổ nhiệm, luân chuyển và miễn nhiệm hiệu trưởng
trường THCS
3.6 Tăng cường áp dụng công nghệ thông tin trong QL trường THCS
3.7 Tổ chức tổng kết các trường tiên tiến, điển hình và đẩy mạnh phong
trào thi đua trong các trường THCS
3.8 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại hiệu trưởng
trường THCS
3.9 Xây dựng và hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ
hiệu trưởng trường THCS
3.10 Mối quan hệ giữa các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ
hiệu trưởng trường THCS
3.11 Kết quả khảo nghiệm, thăm dò mức độ cần thiết và tính khả
thi của các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng
Trang 4ký hiệu viết tắt trong luận văn
Cán bộ quản lý giáo dục Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo Cán bộ quản lý trung học cơ sở
Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
Đại học
Đào tạo Giáo dục Giáo dục và đào tạo Giáo viên
Học sinh Nhà xuất bản Nhà xuất bản giáo dục Quản lý
Quản lý giáo dục Quản lý nhà n-ớc Trung học cơ sở Trung -ơng
Uỷ ban nhân dân
Trang 5
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong”
“Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”
Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục - đào tạo, thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng và toàn dân ta Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28 tháng 12 năm 2001, mục tiêu Chiến lược phát triển giáo dục đã được nêu rõ: tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến cuả thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam ; đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo để đạt được mục tiêu trên, vấn đề nâng cao chất lượng và phát triển đội ngũ nhà giáo, đặc biệt là xây dựng đội ngũ CBQLGD là hết sức quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lớn vì đây là lực lượng đóng vai trò quyết định trong việc bảo đảm cho sự phát triển của nền GD quốc dân
Chính phủ đã có Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 về
việc phê duyệt đề án: “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” Trong Đề án có nêu lên mục
tiêu tổng quát “Xây dựng nhà giáo và cán bộ QLGD theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn…”{35} Trong đó có đội ngũ
Trang 6CBQLGD trường THCS, đặc biệt là các hiệu trưởng trong giai đoạn mới cần phải đáp ứng yêu cầu của ngành học và yêu cầu của toàn xã hội
Theo đánh giá tại Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIII
trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, “Sự nghiệp GD & ĐT có bước phát triển mới, mở rộng về qui mô và từng bước nâng cao chất lượng Chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD từng bước được nâng lên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo ngày càng cao Cơ sở vật chất trường,
lớp được tăng cường đầu tư đáp ứng ngày càng tốt hơn cho việc dạy và học”
{2,5} Nghị Quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV chỉ rõ: Ngành
GD tỉnh Lạng Sơn cần: “Tiếp tục nâng cao chất lượng GD, ĐT, phát triển nguồn lực có chất lượng , phấn đấu hoàn thành phổ cập THCS vào năm 2007; thực hiện phổ cập trung học phổ thông ở khu vực thành phố, thị trấn Phấn đấu đến năm 2010 có 82 trường học đạt chuẩn quốc gia Tiếp tục nâng cao chất lượng, thực hiện chuẩn hoá đội ngũ GV và CBQL trong các cơ sở
GD, ĐT Tăng cường kỷ cương nề nếp, làm chuyển biến mạnh mẽ công tác QLGD ” {2,19}
Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh vừa là mục tiêu và vừa là động lực
để toàn ngành GD của tỉnh phấn đấu thực hiện nhằm phát huy những thành tựu đã có, khắc phục những mặt còn hạn chế để nhanh chóng đạt tới các mục tiêu GD, đáp ứng những yêu cầu của tỉnh Những điều này đòi hỏi đội ngũ CBQL nói chung và hiệu trưởng trường THCS nói riêng cần được xây dựng
và nâng cao chất lượng, trang bị những tri thức và khả năng cần thiết nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra
Mặc dù vấn đề này đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ các góc độ khác nhau và ở những địa phương khác nhau, song ở Lạng Sơn chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này Đồng thời để phục vụ cho công tác giảng dạy ngày một tốt hơn, cùng với sự mong muốn nâng cao chất lượng đội ngũ hiệu trưởng các trường THCS ở địa phương và góp phần nâng cao chất lượng GD
Trang 7của tỉnh Lạng Sơn, tác giả chọn vấn đề “Một số biện pháp xây dựng và phát
triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS tại tỉnh Lạng Sơn”, để làm đề tài
nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận, thực tiễn làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS tại tỉnh Lạng Sơn góp phần nâng cao chất lượng GD trong giai đoạn đổi mới hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Những biện pháp có hiệu quả trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ
hiệu trưởng trường THCS ở tỉnh Lạng Sơn
4 Giả thuyết khoa học:
Giáo dục THCS của tỉnh Lạng Sơn sẽ phát triển cân đối, đồng bộ, có chất lượng, đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục THCS và xây dựng trường chuẩn quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục nói chung và của tỉnh Lạng sơn nói riêng nếu có một hệ thống các biện pháp có tính khả thi, khoa học trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng
các trường THCS của tỉnh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu
trưởng các trường THCS
5.2 Đánh giá thực trạng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu
trưởng trường THCS tỉnh Lạng Sơn
5.3 Đề xuất một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu
trưởng trường THCS tỉnh Lạng Sơn
Trang 86 phạm vi nghiên cứu:
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ hiệu trưởng ở một số trường THCS trên địa bàn khác nhau của tỉnh Lạng Sơn (3 trường Thành phố,
3 trường thuộc khu vực II, 3 trường khu vực III), từ năm 2003 - 2006
7 Các phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu các Tài liệu, Văn bản, Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị, Thông tư Các công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành GD & ĐT
- Lấy ý kiến chuyên gia
- Thống kê toán học, phân tích, xử lý số liệu
8 Kế hoạch thực hiện:
- Từ tháng 01 đến tháng 3 năm 2006: Thu thập tài liệu, đăng kí đề tài
- Từ tháng 4 - 6 / 2006: Nghiên cứu tài liệu, viết đề cương chi tiết
- Từ tháng 7 đến hết tháng 9 năm 2006: Viết luận văn
- Tháng 10 đến tháng 12 năm 2006: Hoàn chỉnh luận văn
9 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
Chương 2 Thực trạng đội ngũ và công tác xây dựng, phát triển đội ngũ
Trang 9hiệu trưởng các trường THCS ở tỉnh Lạng Sơn
Chương 3 Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS tại Tỉnh Lạng Sơn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THCS
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
Chất lượng GD của mỗi một trường học chịu ảnh hưởng trực tiếp của người hiệu trưởng Những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được quán triệt tới đội ngũ GV hay không cũng do một phần lớn cách tuyên truyền, phổ biến của hiệu trưởng Sự nắm bắt chương trình và đổi mới phương pháp dạy học của GV cũng phụ thuộc vào người hiệu trưởng Do đó người hiệu trưởng phải nắm vững những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vững vàng về chuyên môn, có trình độ lí luận và nghiệp vụ tốt thì mới có thể tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá được đội ngũ Có thể nói: người hiệu trưởng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động GD trong nhà trường
Vấn đề xây dựng và phát triển nâng cao chất lượng cho đội ngũ hiệu trưởng nhà trường nói chung, hiệu trưởng trường THCS nói riêng, luôn là vấn
đề quan tâm của các cấp QLGD, với mục đích chính là nâng cao hiệu quả QL trong nhà trường, nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động GD Đến nay, đã có nhiều Hội thảo khoa học cấp quốc gia bàn luận về các chủ đề nêu trên, nhiều ý kiến đã được đăng tải trên các tạp chí, tập san chuyên ngành như: Nghiên cứu GD, GDTHCS Thông tin QLGD Nhiều tác giả đã nghiên cứu
Trang 10vấn đề này ở góc độ từng địa phương khác nhau trong cả nước Song đến nay,
ở tỉnh Lạng Sơn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc tìm ra các biện pháp xây dựng và phát triển nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ hiệu trưởng trường THCS Với đề tài này tác giả sẽ phân tích thực trạng xây dựng
và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS, từ đó đưa ra một số biện pháp quản lý có hiệu quả góp phần vào việc nâng cao chất lượng GD nhằm đưa sự
nghiệp GD THCS ở Tỉnh Lạng Sơn ngày càng ổn định và phát triển
1.2 Một số khái niệm về QL, QLGD, QL trường học
1.2.1 Quản lý
Cuộc sống xã hội loài người luôn luôn vận động và phát triển Từ lao động riêng rẽ, đơn giản đến lao động phối hợp, phức tạp, con người đã biết phân công, hợp tác với nhau trong quá trình lao động của cộng đồng Hoạt động QL đã bắt nguồn từ đó và nó ra đời như một tất yếu khách quan Do đó
có nhiều cách tiếp cận khác nhau về QL Trong phạm vi đề tài tác giả chỉ đề cập tới một số cách tiếp cận có liên quan như sau:
“Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt mục tiêu chung QL là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác” {31,176}
“Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho
tổ chức vận hành và đạt mục tiêu của tổ chức” {7,1}
“Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức”.{11,25}
“Công tác QL, lãnh đạo của một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau “quản” và “lý” Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn duy trì hệ thống tổ chức ở trạng thái ổn định Quá trình “lý”
Trang 11gồm việc sửa sang, sắp xếp đổi mới đưa hệ thống tổ chức vào thế phát triển”.{6,3} Từ các quan điểm trên, có thể rút ra những nhận xét sau:
Quản lý là một khái niệm chứa trong mình các thành tố: chủ thể QL, khách thể QL và mục tiêu QL Tuy nhiên, bản chất của QL là quá trình tác động của chủ thể QL thông qua những hoạt động chuyên biệt Do vậy QL vừa
là khoa học, vừa là nghệ thuật Mang tính khoa học vì các hoạt động QL có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những quy luật, những quy tắc và phương pháp hoạt động cụ thể, đồng thời mang tính nghệ thuật vì nó cần được vận dụng một cách sáng tạo vào những điều kiện cụ thể, đối tượng cụ thể, trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội
Mà cốt lõi của QL là những tác động có ý thức (có mục đích, có định hướng,
có nguyên tắc) của chủ thể QL đến khách thể QL thông qua việc thực hiện các chức năng: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Đặc biệt trong quá trình
QL, thông tin là một chức năng trung tâm để cùng với bốn chức năng QL đó điều khiển quá trình hoạt động của tổ chức
Có thể biểu diễn chu trình QL thông qua các chức năng cơ bản như sau:
Hình 1.1 Sơ đồ các chức năng quản lý trong qúa trình quản lý :
Kế hoạch
Chỉ đạo TTQL
Trang 12Như vậy, Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý thông qua các chức năng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đảm bảo sự vận động, phát triển và đạt mục tiêu của hệ thống tổ chức
1.2.2 Quản lý giáo dục, QL trường học
- Quản lý giáo dục: QLGD là một loại hình QL, một bộ phận của QL
xã hội Căn cứ vào khái niệm “Quản lý”, một số tác giả đã đưa ra khái niệm
về QLGD như sau:
“QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể QL đến khách thể QL theo những qui luật khách quan nhằm đưa hoạt động GD đạt tới kết quả mong muốn”.{25,36}
“QLGD, QL trường học có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch) mang tính chất tổ chức sư phạm của chủ thể QL đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường, nhằm làm cho quá trình này vận hành một cách tối ưu tới việc hoàn thành các mục tiêu dự kiến”.{24,19}
Tuy có những cách nhìn, cách hiểu có phần khác nhau nhưng các định nghĩa nêu trên đã nói lên được bản chất của hoạt động QLGD là tập hợp những tác động có mục đích, có định hướng, có ý thức của chủ thể QLGD lên đối tượng QL theo những qui luật khách quan nhằm hoàn thành mục tiêu GD
và đưa hệ thống GD tới trạng thái mới về chất
- Quản lý trường học:
Trường học là tổ chức cơ sở trực tiếp làm công tác GD & ĐT, là tế bào
cơ bản của hệ thống GD của từng địa phương và của toàn quốc, là hệ thống bộ phận trong hệ thống GD quốc dân Chính vì vậy, mọi hoạt động QL của các cấp QLGD đều phải hướng về trường học
Trang 13"QL nhà trường là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD, để tiến tới mục tiêu GD & ĐT đối với ngành GD, thế hệ trẻ và từng HS” {18,61}
QL nhà trường là quá trình tổ chức và QL hoạt động DH, thực hiện các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN Tức là cụ thể hoá đường lối GD của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước
Vậy chúng ta có thể hiểu QL trường học như sau:
QL trường học là qúa trình tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể QL đến tập thể GV - học sinh và các CB khác, đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường Hay nói cách khác đó là quá trình tác động lên toàn bộ các thành tố của quá trình dạy học (bao gồm: mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, GV, HS và việc tổ chức đánh giá kết quả giáo dục ) nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu của quá trình sư phạm, đạt tới các mục tiêu quốc gia đã đề ra
Quá trình QL trong nhà trường được xem như một thể thống nhất toàn vẹn, có các thành tố quan hệ mật thiết với nhau rất chặt chẽ
Hình 1.2: Sơ đồ mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình QL nhà trường
Trang 14- Mục tiêu giáo dục: M - Lực lượng giáo dục (Thầy): Th
- Phương pháp giáo dục: P - Đối tượng giáo dục (Trò): Tr
- Nội dung giáo dục: N - Kết quả giáo dục: K
1.3 Khái niệm về xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
1.3.1 Khái niệm về đội ngũ:
Theo từ điển Tiếng Việt (NXB Văn hoá thông tin - 1999) thì đội ngũ được hiểu đó là một tập hợp số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp hợp thành một lực lượng hoạt động trong một tổ chức
Đội ngũ hiệu trưởng trường THCS là tập hợp những người thực hiện một vào hay toàn bộ các chức năng QLGD nhằm làm cho hệ thống GD vận hành và phát triển đạt mục tiêu GD với hiệu quả cao nhất
1.3.2 Khái niệm về xây dựng, xây dựng đội ngũ hiệu trưởng
Xây dựng là “làm nên hoặc gây dựng nên” một cái gì đó hoặc một nội dung nào đó, với mục đích là nhằm tạo ra cái mới có giá trị hơn
Vậy khi nói đến xây dựng thì bao hàm cả về số lượng và chất lượng Xây dựng luôn gắn với phát triển và phát triển dựa trên cơ sở của thế ổn định
Xây dựng đội ngũ hiệu trưởng là xây dựng nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ của người hiệu trưởng trong nhà trường THCS để có một đội ngũ không những ổn định, mà còn được biến đổi theo chiều hướng phát triển
Theo lý thuyết xây dựng nguồn nhân lực, công tác xây dựng đội ngũ hiệu trưởng trường THCS cần được nhận thức theo hai khía cạnh sau:
- Con người với tư cách là nguồn nhân lực để phát triển GD, con người
là “nhân vật chủ đạo” trong quá trình phát triển GD & ĐT, con người là thành
tố quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất Đặc biệt chỉ có một con đường duy nhất là con đường GD thì mới phát triển được nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do đó, trước tiên cần phải có những biện pháp cụ thể để xây dựng và phát triển đội ngũ CBQLGD,
Trang 15trong đó có đội ngũ hiệu trưởng Có sự đầu tư, sự quan tâm thích đáng cho
GD và đội ngũ CB nhà giáo và CBQL ngành GD
- Vấn đề cơ bản của xây dựng đội ngũ hiệu trưởng là phải đảm bảo đủ
số lượng, đồng bộ về cơ cấu và nâng cao chất lượng nhằm giúp họ phát huy được năng lực và hoàn thành tốt nhiệm vụ của người QL
Xây dựng đội ngũ hiệu trưởng trường THCS là vấn đề cốt lõi của việc phát triển nguồn nhân lực trong GD nói chung, trong các nhà trường THCS nói riêng Đây là một trong những nguồn nhân lực có vai trò quyết định việc bảo đảm chất lượng và hiệu quả GD, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
1.3.3 Khái niệm về phát triển và phát triển đội ngũ hiệu trưởng:
Theo từ điển Tiếng việt: “Phát triển là lớn lên về mặt kích thước, độ rộng (Số lượng) hay về mặt giá trị, tầm quan trọng (chất lượng)”
Đội ngũ của một tổ chức là nguồn nhân lực trong tổ chức đó, các đặc trưng về phát triển đội ngũ gắn liền với đặc trưng phát triển tổ chức nói chung
và đặc trưng của công tác cán bộ nói riêng
Vậy theo lý thuyết phát triển nguồn nhân lực thì:
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động, người lao động có kỹ năng được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc nào đó trong cơ cấu lao động của xã hội
Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi, chuyển biến số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp độ khác nhau, đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội”.{16,10}
Tư tưởng chỉ đạo về phát triển nguồn nhân lực là lấy phát triển bền vững làm trung tâm; mỗi con người là một cá nhân độc lập làm chủ quá trình lao động của mình; lấy lợi ích của người lao động là nguyên tắc cơ bản của
Trang 16quản lý lao động; bảo đảm môi trường dân chủ thuận lợi cho tiến hành giao lưu đồng thuận; có chính sách giải phóng và phát huy tiềm năng của người lao động, bảo đảm hiệu quả công việc; phát triển nguồn nhân lực bám sát thị trường lao động, đây là một vấn đề rất phức tạp, trong đó mấu chốt là phải xây dựng các chính sách quản lý phát triển GD & ĐT đúng đắn; chính sách sử dụng nguồn nhân lực, bao gồm tuyển dụng, chính sách lao động, phân công lao động, phân bổ nhân lực, chính sách cán bộ, tiền lương, khen thưởng ; vấn
đề tạo ra động lực để kích thích mọi người chăm học, chăm làm, động viên tính tích cực của người lao động cho họ năng động, thiện chí, cầu tiến từ đó đi đến sáng tạo là một vấn đề cực kỳ quan trọng trong tổ chức QL vĩ mô, cũng như vi mô nguồn lực con người, lực lượng lao động ở đây cần chú ý cả lợi ích vật chất, cả nhu cầu tinh thần của con người Để làm việc này cần “nghiên cứu
cơ cấu lại hệ thống và QL nguồn nhân lực của cả nước”
Phát triển nguồn nhân lực liên quan đến GD & ĐT, sử dụng những tiềm năng con người và tiến bộ kinh tế - xã hội Các yếu tố liên quan đến phát triển nguồn nhân lực là: GD, sức khoẻ, việc làm và các nhân tố kinh tế - xã hội Các yếu tố này xâm nhập vào nhau và phụ thuộc lẫn nhau, song GD là cơ sở cho tất cả những yếu tố khác, là nhân tố thiết yếu để cải thiện sức khoẻ và dinh dưỡng để duy trì môi trường có chất lượng cao, để mở rộng và cải thiện lao động, để duy trì sự đáp ứng yêu cầu về kinh tế - xã hội Vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược CNH - HĐH đất nước bao gồm đồng bộ cả 3 mặt chủ yếu: GD & ĐT con người, tạo môi trường việc làm và đãi ngộ thoả đáng cho con người, trong đó GD được coi như là cơ sở để sử dụng con người
có hiệu quả cũng như để mở rộng và cải thiện môi trường làm việc Cơ cấu mới của nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội ngày nay là định hướng cho phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là định hướng phát triển nguồn nhân lực cho
GD & ĐT nhằm đảm bảo đào tạo các loại hình lao động cần thiết: đó là cơ cấu
Trang 17phân công lao động theo ngành, chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ
Để đạt được các định hướng phát triển nguồn nhân lực, căn cứ cơ sở
lý thuyết phát triển nguồn nhân lực như trên: trong bất cứ tổ chức nào (tổ
chức xã hội, kinh tế lớn…hay một tổ chức đơn lẻ) đều có bộ phận lãnh đạo, quản lý và nhân lực thừa hành, tác nghiệp theo từng lĩnh vực, từng công việc, với chức năng, nhiệm vụ cụ thể Trong đó bộ phận lãnh đạo và QL là bộ phận quan trọng nhất Bởi vì lãnh đạo là việc đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện Muốn vậy, người lãnh đạo là người có kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để hoạch định chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương đường lối đó trong thực tế trong phạm vi công việc của mình Quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối đã được đề ra của các nhà lãnh đạo đòi hỏi nhiều yếu tố như bối cảnh, các nguồn lực, các cơ chế hỗ trợ như hệ thống pháp luật… và đặc biệt là nhân tố con người - nguồn nhân lực bao gồm bộ máy nhân sự cho QL và những người thừa hành các nhiệm vụ mục tiêu cụ thể Ở đây nổi lên vai trò của các nhà QL, với tư cách là các nhà chuyên môn có trách nhiệm tổ chức QL và điều hành các công việc cụ thể Nếu như các nhà lãnh đạo có trách nhiệm định hướng thì các nhà QL cần có những năng lực QL chuyên môn với các phương pháp, cách thức QL chuyên môn phù hợp với các quy luật chung và tình hình cụ thể Về cơ bản, các nhà lãnh đạo và các nhà QL có những điểm tương đồng về các năng lực và phẩm chất, nhưng do vai trò, vị trí chức trách không đồng nhất, vì vậy cần có phân biệt cần thiết trong quá trình tạo nguồn, đào tạo và bồi dưỡng, sử dụng hợp lý
Qua phần phân tích trên, đội ngũ hiệu trưởng nói chung, hiệu trưởng trường THCS nói riêng, nằm trong định hướng phát triển nguồn nhân lực và cũng chính là nhà lãnh đạo, nhà QL ở cấp nhà trường, là một trong những thành viên ngoài việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách chung của ngành còn xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương, chiến lược, kế hoạch
Trang 18riêng trong nhà trường của mình Do đó phát triển đội ngũ hiệu trưởng là định hướng rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu và kế hoạch ĐT, là người
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của một nhà trường
Phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS là quá trình tạo ra sự biến đổi trong công tác lãnh đạo và quản lý, sự chuyển biến số lượng, cơ cấu và chất lượng nhằm xây dựng được một đội ngũ đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển GD nói chung, trường THCS nói riêng, góp phần xây dựng và phát triển của xã hội, của địa phương
1.4 Cơ sở pháp lý về xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
1.4.1 Vị trí, vai trò của trường THCS
Luật Giáo dục năm 2005, Điều lệ trường Trung học đã qui định:
“Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín Học sinh vào lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học,
có tuổi là muời một tuổi;”{19,31}
“Trường trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông Trường trung học có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng”.{15,5}
Như vậy trường THCS thuộc bậc học trung học của GD phổ thông, trong hệ thống GD quốc dân, có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn CNH, HĐH đất nước Ngành giáo dục cần tạo điều kiện phân luồng cho một bộ phận học sinh học xong chương trình THCS không có điều kiện học lên THPT có thể theo học các trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường trung tâm giáo dục… vừa để tiết kiệm thời gian, tiền của, giảm sức ép cho số lượng thí sinh quá tải trong các kỳ thi vào đại học, vừa sớm đào tạo nhanh được nguồn nhân lực cho đất nước, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Trang 19Trường THCS thuộc trường trung học của GD phổ thông trong hệ thống quốc dân, có nhiệm vụ đón nhận học sinh học xong tiểu học vào học Tiếp nhận kết quả của tiểu học, trên cơ sở đó thực hiện mục tiêu GD của cấp mình
Về mục tiêu giáo dục phổ thông, tại Điều 27, Luật GD 2005 khẳng định: "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" Trong đó: “GD THCS nhằm giúp học sinh củng cố
và phát triển những kết quả của GD tiểu học; có học vấn phổ thông cơ sở ở trình độ cơ sở và có những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học về trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.{19,32}
Với mục tiêu đó, sau khi học xong chương trình THCS học sinh phải đạt các yêu cầu sau:
- Có phẩm chất nhân cách phù hợp với mục tiêu GD chung và mức độ yêu cầu của cấp học Đó là: yêu nước, hiểu biết và có niềm tin về lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; tự hào về truyền thống văn hoá của dân tộc; quan tâm đến các vấn đề bức xúc ảnh hưởng đến toàn cầu; góp phần vào sự nghiệp:
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thông qua các
Trang 20hoạt động học tập, lao động, công ích, xã hội; có lối sống văn hoá lành mạnh cần kiệm trung thực, có lòng nhân ái, tinh thần hợp tác ý thức trách nhiệm ở gia đình, nhà trường, cộng đồng và xã hội, tôn trọng giá trị lao động, hành động theo qui định của nhà trường, cộng đồng nói riêng và pháp luật nói chung
- Có kiến thức phổ thông cơ bản tương đối hoàn chỉnh theo yêu cầu của cấp học Hiểu được những nội dung cốt lõi, cơ bản tiêu biểu nhất để từ đó có thể chiếm lĩnh được những nội dung khác của hệ thống khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ; nắm được những kiến thức có ý nghĩa đối với cuộc sống cá nhân và cộng đồng; cuối cấp học có thể thêm những hiểu biết nhất định về một lĩnh vực văn hoá, khoa học kỹ thuật nào đó
so với yêu cầu chung của chương trình, tuỳ theo nguyện vọng và năng lực cá nhân, để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống
- Có kỹ năng bước đầu những vận dụng kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân Đó là những kỹ năng quan sát thu thập, xử lý và thông báo thông tin qua nội dung môn học; biết vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề thường gặp trong cuộc sống bản thân và cộng đồng; có kỹ năng lao động kỹ thuật đơn giản; biết thưởng thức
và ham thích sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong văn học nghệ thuật; biết rèn luyện thân thể giư gìn vệ sinh và bảo vệ sức khoẻ; biết sử dụng hợp lý thời gian để cân bằng giữa hoạt động trí tuệ và thể lực, giữa lao động và nghỉ
ngơi; biết tự định hướng con đường học tập và lao động tiếp theo
1.4.3 Nhiệm vụ của trường THCS
Theo Điều lệ trường trung học, trường THCS có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
- "Tổ chức giảng, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục trung học do Bộ trưởng Bộ GD & ĐT ban hành;
Trang 21- Tiếp nhận HS, vận động HS bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập GD THCS trong phạm vi cộng đồng theo qui định của nhà nước;
- Quản lý GV, nhân viên và HS;
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo qui định của pháp luật;
- Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức, cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục;
- Tổ chức giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong phạm vi cộng đồng;
- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo qui định của pháp luật.”{15,5}
Đề cập tới những yêu cầu mới về nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường, tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 8, Điều 58, Luật Giáo dục năm 2005
có ghi:
- "Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền;
- Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên tham gia vào qúa trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên;
- Tuyển sinh và quản lý người học;
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm tra chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền thẩm định chất lượng giáo dục”.{19,48}
Các nhiệm vụ này quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau Trong đó nhiệm vụ 1 đến 3 (qui định trong điều lệ trường trung học) là các nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản của trường THCS Các nhiệm vụ còn lại hỗ trợ cho 3 nhiệm vụ trên thực hiện đạt hiệu quả cao Nếu thực hiện tốt 3 nhiệm
vụ đầu tiên sẽ tạo cơ sở cho việc thực hiện các nhiệm vụ còn lại Mặt khác, nếu triển khai thực hiện được các nhiệm vụ mới được nêu trong Luật Giáo
Trang 22dục năm 2005, sẽ tạo ra tâm thế mới cho đội ngũ hiệu trưởng các trường THCS trong việc điều hành, điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt tốt nhất các mục tiêu đã đề ra
1.5 Những yêu cầu cơ bản về phẩm chất, năng lực của hiệu trưởng trường THCS
Xuất phát từ đặc điểm, mục tiêu và nhiệm vụ của cấp học và dựa vào những phẩm chất, năng lực của người hiệu trưởng đã quy định trong Điều lệ trường THCS, những yêu cầu cơ bản về phẩm chất và năng lực của người hiệu trưởng trường THCS nhằm đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp GD trong giai
đoạn hiện nay được xác định như sau:
- Nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là đường lối, chủ trương, chính sách về GD & ĐT Bản lĩnh chính trị vững vàng và sáng tạo lựa chọn những yếu tố tích cực có ích cho sự phát triển nhà trường theo đường lối quan điểm giáo dục của Đảng ta
- Có ý thức tổ chức kỷ luật; ý thức chấp hành pháp luật và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
- Không những là người gương mẫu trong tập thể sư phạm mà còn là người có uy tín, có niềm tin, có thái độ đạo đức phù hợp với các giá trị và chuẩn mực đạo đức Phẩm chất của hiệu trưởng còn qui định tính người, tình người, đạo lý làm người được biểu hiện qua thái độ hành vi ứng xử đối với người khác, đối với công việc cũng như đối với môi trường sống
- Có kiến thức chuyên môn, trình độ nghiệp vụ, có niềm tin và thái độ nghề nghiệp trong nhân cách của người hiệu trưởng Bản chất này còn thể hiện tính năng động, sáng tạo của hiệu trưởng trước những tình huống cụ thể,
ở tính chủ động trong việc đổi mới hoạt động của nhà trường và hoạt động quản lý của bản thân người hiệu trưởng Thái độ tích cực đối với cái mới, ủng
hộ cái mới, cải tạo cái cũ, gạt bỏ cái bảo thủ, trì trệ…
Trang 23Đồng thời khi giải quyết các vấn đề chung của nhà trường, người hiệu trưởng cần phải có một số năng lực chung như sau:
Hiểu biết sâu sắc nội dung chương trình và phương pháp dạy các môn trong phạm vi chương trình cấp học Có khả năng kiểm tra, đánh giá chuyên môn đối với GV Giảng dạy xuất sắc bộ môn chuyên ngành được ĐT
Phổ biến, tuyên truyền cho tất cả mọi thành viên trong nhà trường nắm bắt được các vấn đề chung Đây không chỉ là sự đồng cảm, chia sẻ của mọi người mà còn là phong cách dân chủ trong công tác QL của người hiệu trưởng
Giải quyết đúng đắn các vấn đề hành chính quản trị Phải xác định rõ ràng trách nhiệm - quyền hạn của từng thành viên trong nhà trường để qua đó
có thể xác định mức độ, phạm vi đóng góp của từng thành viên, đồng thời có thể tiến hành bồi dưỡng nghiệp vụ cho họ một cách chủ động, phù hợp
Nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường: có khả năng phân tích thông tin đã thu thập được Duy trì chế độ thông tin một cách thường xuyên, chính xác, nhanh chóng và ứng phó kịp thời, phù hợp, đúng đắn
Biết tổ chức khoa học lao động quản lý và sư phạm của bản thân và tập thể Đưa tập thể vào guồng máy hoạt động nề nếp Biết bỏ qua những cái thứ yếu, cái hình thức để nắm bắt cái bản chất bên trong vấn đề, đưa ra thứ tự ưu tiên và dồn sức lực trước tiên vào cái quan trọng nhất để giải quyết
Có năng lực vận động, thuyết phục, cảm hoá, lôi cuốn nhân dân xây dựng sự nghiệp GD, Có khả năng hoà mình vào mọi người Có năng lực nhận diện cái mới, cái đúng, cái hay Có khả năng hùng biện, ứng xử và giao tiếp tốt Từ đó kết quả đạt được trong mọi hoạt động của nhà trường được phản hồi chính xác và được kiểm tra, đánh giá thường xuyên Điều này giúp cho hiệu trưởng đối chiếu kết quả với mục tiêu dự kiến ban đầu và do đó có sự điều chỉnh trong công tác quản lý
Trang 24Hệ thống phẩm chất và năng lực là hai yếu tố cơ bản cấu thành chất lượng người hiệu trưởng trường THCS, đồng thời là căn cứ để tổ chức bồi dưỡng và tự bồi dưỡng cho đội ngũ hiệu trưởng trường THCS các địa phương
1.6 Tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCH Trung ương Đảng khoá VIII đã tiếp tục khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”, “Xây dựng đội ngũ CB, công chức có phẩm chất và năng lực là yếu tố quyết định chất lượng bộ máy Nhà nước”{12,3} Quan điểm đó nói lên vai trò rất quan trọng và then chốt của đội ngũ CB, công chức, viên chức đối với việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; vừa đặt ra yêu cầu trách nhiệm cao cho đội ngũ CB, công chức, viên chức phải luôn phấn đấu vươn lên để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng
Vì vậy việc xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng có tầm quan trọng như sau:
- Xây dựng và phát triển đội ngũ là thực hiện Nghị quyết và Chỉ thị của Đảng về giáo dục
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề xây dựng, phát triển, nâng cao chất lượng CBQLGD nói chung và hiệu trưởng trường THCS nói riêng đã trở thành nhiệm vụ hết sức quan trọng của các cấp, các ngành Chỉ thị số 40 đã nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là một nhiệm
vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và chấn hưng đất nước”
Đây là chỉ thị vô cùng quan trọng và hết sức cụ thể về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD và đặc biệt Chỉ thị đã
Trang 25nhấn mạnh: “Phát triển GD và ĐT là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và CB QLGD là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”
- Xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng là đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành GD nói chung và của trường THCS nói riêng
Giáo dục THCS có vai trò to lớn trong việc thực hiện mục tiêu “Nâng cao dân trí, ĐT nhân lực, BD nhân tài” phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Vì vậy, trước hết mỗi nhà trường THCS cần đạt được mục tiêu cụ thể của cấp học, mục tiêu của nhà trường Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào người CBQL nhà trường nói chung và hiệu trưởng trường THCS nói riêng Đội ngũ hiệu trưởng nhà trường là những người đại diện cho Nhà nước có trách nhiệm
và thẩm quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn trong nhà trường Là lực lượng trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch giảng dạy và giáo dục trong nhà trường, là người tiên phong thực hiện thành công Nghị quyết 40 của Quốc hội khoá XI về việc đổi mới GD phổ thông trong những năm qua, là người tạo ra uy tín, chất lượng và hiệu quả GD của nhà trường Đồng thời họ cũng sẽ là một trong những người QL chỉ đạo và định hướng phát triển GD của đơn vị mình đang công tác, tiếp tục thực hiện có chất lượng
và hiệu quả các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về GD trong giai đoạn
2006 - 2010
- Xây dựng và phát triển đội ngũ là đáp ứng nhu cầu phát triển của mỗi
cá nhân hiệu trưởng
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, QL, điều hành các hoạt động giáo dục Do đó đòi hỏi từng thành viên trong đội ngũ hiệu trưởng phải thường xuyên học tập, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi
dưỡng Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, quan niệm “Học suốt đời” đã thúc
đẩy nhu cầu phát triển toàn diện của họ, là một trong những nhu cầu cơ bản
Trang 26của mỗi con người Các cấp lãnh đạo càng tăng cường xây dựng và phát triển
đội ngũ thì càng đáp ứng được nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân
Tất cả những vấn đề nêu trên đã thể hiện tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQLGD nói chung, hiệu trưởng trường THCS nói riệng Thực tế của các quốc gia cho thấy sự thành công hay thất bị của mỗi một tổ chức đều do yếu tố con người Trong QLGD, sự yếu kém của đội ngũ CBQLGD là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng chậm phát triển của GD trong những năm qua Thực hiện Chỉ thị 40 ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định 09 Ngày 01/01/2005 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD & ĐT giai đoạn 2005 - 2010 Đây một lần nữa khẳng định vai trò và tầm quan trọng của vấn đề xây dựng và phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trong đó có đội ngũ hiệu trưởng THCS trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy việc xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng giỏi,
đa năng là việc làm cấp thiết và lâu dài của toàn ngành, và mọi địa phương Vấn đề này phải được coi là một trong những tiêu chí hàng đầu để xây dựng
và phát triển một nhà trường đảm bảo chất lượng cao
1.7 Mục tiêu, quan điểm và nhiệm vụ xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
Công tác QL, xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng nhà trường nói chung, trường THCS nói riêng là một nhiệm vụ quan trọng vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, mà hiện nay ngành cùng với các cấp lãnh đạo đang được quan tâm và từng bước thực hiện có hiệu quả
1.7.1 Mục tiêu:
Mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ hiệu trưởng trường THCS trước hết phải tuân thủ mục tiêu chung của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, đó là : xây dựng một nền hành chính
Trang 27dân chủ trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất
và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Nội dung của chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 tập trung vào bốn vấn đề : cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ CB, công chức; cải cách tài chính công
Căn cứ mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD trong Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư Trung ương Đảng và Quyết định 09/2005/QĐ - TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu xây dựng và phát triển đối với đội ngũ hiệu trưởng là xây dựng và thực hiện chuẩn hoá đội ngũ hiệu trưởng Đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ hiệu trưởng về kiến thức, kỹ năng và rèn luyện phẩm chất đạo đức Điều chỉnh sắp xếp lại đội ngũ hiệu trưởng theo yêu cầu mới của ngành và phù hợp với năng lực, phẩm chất của từng người; Có cơ chế thay thế khi không đáp ứng yêu cầu
1.7.2 Quan điểm:
Các quan điểm chỉ đạo bao gồm:
- Nhà giáo và CBQLGD là đội ngũ cán bộ đông đảo nhất, có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp nâng cao dân trí, xây dựng con người, đào tạo nguồn nhan lực cho đất nước Nhà nước ta tôn vinh nhà giáo, coi trọng nghề dạy học
- Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD là nhiệm vụ của các cấp uỷ đảng và chính quyền, coi đó là một bộ phận công tác cán bộ Đảng và Nhà nước; trong đó ngành giáo dục giữ vai trò chính trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện
- Nhà nước thống nhất chỉ đạo, quản lý và chịu trách nhiệm trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo & CBQLGD; giữ vai trò chủ đạo trong quản lý,
Trang 28bố trí, sử dụng đội ngũ nhà giáo trong các trường công lập; tạo cơ chế, chính sách để các trường ngoài công lập được sử dụng có hiệu quả đội ngũ này
- Xây dựng đội ngũ nhà giáo & CBQLGD phải được tiến hành đồng bộ với việc thực hiện đổi mới cơ chế QL nhà nước đối với CB, công chức hành chính, sự nghiệp và bảo đảm thực hiện chủ trương xã hội hoá sự nghiệp GD
1.7.3 Nhiệm vụ chủ yếu:
Nhằm thực hiện được mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ CBQLGD nói chung và hiệu trưởng nói riêng cho trường THCS, toàn ngành đã được xác định cần thực hiện ba nhiệm vụ chủ yếu sau
- Khắc phục những bất hợp lý về số lượng và cơ cấu đội ngũ nhà giáo & CBQLGD, đảm bảo đủ CB GD cho vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiẻu số
- Nâng cao chất lượng toàn diện đối với đội ngũ nhà giáo &CBQLGD
ĐT, BD đội ngũ nhà giáo & CBQLGD để họ có bản lĩnh chính trị, nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao, tâm huyết với sự nghiệp GD, tinh thông nghiệp vụ QL, chỉ đạo, điều hành
- Tạo động lực thu hút, động viên đội ngũ nhà giáo & CBQLGD tự phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp
GD
1.8 Nội dung xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
Tiếp cận trên cơ sở lý luận QL nguồn nhân lực thì đội ngũ nhà giáo & CBQLGD là một bộ phận trong nguồn nhân lực cho hệ thống GD Xây dựng
và phát triển đội ngũ nhà giáo &CBQLGD là quản lý và phát triển nguồn nhân lực của các nhà trường và các cơ quan QLGD các cấp
Từ lý luận và thực tiễn, nội dung xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS được căn cứ vào nội dung xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo & CBQLGD và được xác định như sau:
(1) Xây dựng quy hoạch nhân sự đội ngũ CBQLGD: qui hoạch đội ngũ
là việc xác định nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu nhằm đáp ứng mục
Trang 29tiêu nhiệm vụ của các nhà trường Khi lập quy hoạch nhân sự cần căn cứ vào các văn bản pháp quy của Bộ GD & ĐT, căn cứ nội dung, kế hoạch GD và thực trạng đội ngũ hiệu trưởng hiện có
Việc đầu tiên để xây dựng và phát triển đội ngũ là công tác quy hoạch đội ngũ nhà giáo và CBQLGD Đó chính là việc xây dựng các loại kế hoạch
về nhu cầu phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQLGD cho việc sử dụng có hiệu quả đội ngũ hiện có và các cán bộ trong tương lai Các kế hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQLGD được dựa vào kế hoạch chiến lược của từng đơn vị nhà trường và hệ thống giáo dục của từng địa phương Thông thường kế hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ CBQLGD có bốn vấn đề sau:
- Xác định số lượng CBQLGD cần phải có trong tương lai đáp ứng với tiêu chuẩn CBQLGD của cấp học
- So sánh số lượng CBQLGD và trình độ năng lực hiện có với chỉ tiêu
và tiêu chuẩn đặt ra cho CBQLGD
- Lên kế hoạch bổ nhiệm các CBQLGD mới hoặc cho thôi công tác QL đối với các CB không đáp ứng được yêu cầu
- Lên kế hoạch ĐT, BD hoặc phát triển nâng cao trình độ cho CBQLGD
Công tác quy hoạch đội ngũ CBQLGD và xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ được thực hiện theo hai bước cơ bản là:
Bước 1 Dự báo yêu cầu về số lượng, trình độ đào tạo về chuyên môn, trình độ kiến thức quản lý hành chính nhà nước, về chính trị
Bước 2: Kiểm kê số lượng và chất lượng đội ngũ CBQLGD theo những yêu cầu và nhiệm vụ các công tác QL đang đòi hỏi Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức nếu sử dụng đội ngũ hiện có cho công tác mới trong tương lai Từ đó có những đánh giá thực trạng, nguyên nhân của thực trạng và đưa ra các biện pháp cụ thể cho việc thuyên chuyển, đề bạt hoặc bãi nhiệm đối với các đối tượng cụ thể
(2) Tuyển chọn
Trang 30Theo lý thuyết về quản lý và phát triển nguồn nhân lực, công tác tuyển chọn đội ngũ CBQL có hai hoạt động cụ thể là tuyển mộ và lựa chọn
Tuyển mộ là cung cấp một nhóm đủ lớn các ứng viên có khả năng đáp ứng cho các vị trí cần tuyển nhằm tạo điều kiện cho tổ chức có thể lựa chọn những thành viên phù hợp có thể đáp ứng nhiệm vụ một cách tốt nhất
Trước hết, phải xác định vị trí công tác cần tuyển và mô tả rõ công việc, có nghĩa là nhà tuyển mộ phải “nêu rõ tên gọi (chức danh) công việc hay
vị trí công tác; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho vị trí sắp đặt trong tổ chức”
Sau đó phải đưa ra yêu cầu hay tiêu chuẩn tuyển mộ về trình độ, văn bằng chứng chỉ, kiêm nhiệm, kỹ năng tay nghề để hoàn thành công việc hay
vị trí quản lý sẽ đảm đương
Nguồn tuyển mộ có thể từ bên trong tổ chức hoặc bên ngoài tổ chức Mỗi nguồn tuyển mộ đều có ưu điểm và nhược điểm riêng Chẳng hạn như nếu tuyển mộ từ bên trong tổ chức, người được tuyển mộ có thể thích nghi nhanh chóng với nhiệm vụ mới vì họ đã quen với hoạt động, truyền thống, luật lệ của tổ chức; khích lệ sự trung thành kiên định của mọi thành viên với
tổ chức; cổ vũ sự nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và ít tốn kém hơn Tuy nhiên, nhược điểm của cách làm này là dễ dẫn đến sự tự mãn của nhiều thành viên trong tổ chức và gây nên trạng thái tâm lý “sống lâu lên lão làng” Nếu tuyển mộ từ nguồn ngoài tổ chức thì cần phải lưu ý đến vấn đề pháp luật,
áp lực từ bên trong tổ chức, sự ảnh hưởng và tác động của người quản lý và tốn kém hơn
Tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ sung nhân sự nhằm đảm bảo đủ số lượng như trong kế hoạch đã đề ra Việc tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ sung nhân sự cần tuân thủ các nguyên tắc:
(a) Xuất phát từ nhu cầu thực tế của các nhà trường
(b) Căn cứ vào tiêu chuẩn bổ nhiệm CBQL theo quy định của ngành và quy định trong (Luật Giáo dục và Điều lệ trường trung học)
Trang 31(c) Dựa vào kết quả nghiên cứu, kết quả công tác toàn diện, tìm hiểu thông qua dư luận, phiếu tín nhiệm…
Như vậy với công tác tuyển chọn nhân sự đối với hiệu trưởng cũng cần tuân theo các nguyên tắc, yêu cầu một cách phù hợp Tuy nhiên đối với đội ngũ hiệu trưởng trường THCS cần kết hợp các xu hướng khác nhau để tuyển
mộ được những người quản lý có phẩm chất tốt, có lòng yêu nghề, mến trẻ, tận tuỵ với sự nghiệp giáo dục
(3) Xây dựng tập thể thống nhất có khả năng hoạt động nhóm (định hướng hay xã hội hoá từng cá nhân) nhằm hội nhập vào môi trường quản lý
Khi đã chọn lựa được nhân sự phù hợp cho tổ chức rồi, công việc tiếp theo là định hướng hoạt động cho họ hay nói cách khác là tạo điều kiện cho
họ hội nhập vào môi trường làm việc mới Trong môi trường hoạt động được thống nhất mục tiêu, chương trình, kế hoạch hoạt động Môi trường không những đoàn kết nhất trí mà còn được tổ chức thi đua một cách tích cực Xây dựng thành một tổ chức biết học hỏi
Định hướng là một quá trình chính thức hay không chính thức nhằm giới thiệu cho người mới đến làm quen với nhiệm vụ mới, với đồng nghiệp mới và các chính sách của tổ chức Mục đích của công tác định hướng là:
- Đẩy nhanh sự phát triển để đạt được kết quả làm việc mong đợi
- Người mới đến sẽ hoà nhập nhanh vào tổ chức vì họ hiểu rõ những giá trị của tổ chức cần tuân thủ và giữ gìn
- Giảm bớt công sức và thời gian mà tổ chức phải bỏ ra để huấn luyện người mới đến
- Giảm sự hoán chuyển thành phần tổ chức, người mới gia nhập tổ chức yên tâm làm việc lâu dài trong tổ chức
(4) Huấn luyện bồi dưỡng và phát triển
Trang 32Trong lý luận quản lý nguồn nhân sự, nội dung này được chia ra làm hai chương trình: chương trình huấn luyện/bồi dưỡng và chương trình phát triển
Các chương trình huấn luyện/ BD hướng vào việc duy trì và hoàn thiện kết quả thực hiện công việc hiện có, đang diễn ra; còn các chương trình phát triển đội ngũ sẽ hướng vào phát triển, hình thành và nâng cao các kỹ năng cho các công việc trong tương lai
Các chương trình huấn luyện/bồi dưỡng hướng vào nhân sự mới để giúp họ làm quen với công việc Ngoài ra, các nhân viên lâu năm cũng cần phải được bồi dưỡng thêm kiến thức, kỹ năng cho công việc Để xác định nhu cầu huấn luyện/bồi dưỡng một cách chính xác, chúng ta có thể sử dụng quy trình bốn bước cụ thể sau: thẩm định kết quả làm việc; phân tích yêu cầu của công việc; phân tích tổ chức; nghiên cứu nguồn nhân lực
Các chương trình phát triển là chương trình huấn luyện/bồi dưỡng và chương trình phát triển, người ta thường dùng hình thức huấn luyện tại chỗ và huấn luyện ngoài công việc
Tuy nhiên, các chương trình huấn luyện/bồi dưỡng cụ thể còn tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của mỗi đơn vị và tổ chức
Chương trình BD và phát triển đội ngũ hiệu trưởng nhằm nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực QL, do đó các cấp uỷ Đảng từ trung ương tới địa phương quan tâm chỉ đạo thường xuyên công tác ĐT, BD đội ngũ CBQLGD nói chung và hiệu trưởng nói riêng về mọi mặt, coi đây là một phần của công tác CB, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống của họ Xây dựng kế hoạch ĐT, BD đội ngũ CBQLGD, bảo đảm đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, có phẩm chất và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ tốt đáp ứng được yêu cầu thời kỳ mới
(5) Đánh giá thành tựu
Trang 33Trong QL nguồn nhân lực, đánh giá thành tựu là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhưng không ít khó khăn Đánh giá thành tựu bao gồm đánh giá không chính thức và đánh giá có hệ thống Mục đích của công tác đánh giá thẩm định là xem xét đội ngũ nhân viên có xứng đáng để cân nhắc,
đề bạt hay thuyên chuyển, giáng cấp hoặc sa thải
Việc đánh giá thẩm định lao động của con người sẽ giúp cho họ tự hoàn chỉnh, đồng thời cũng giúp ích cho các nhà QL khi đưa ra các quyết định về chế độ đãi ngộ, đề bạt, sa thải, chuyên chuyển Đây là một hoạt động cần thiết
và hữu ích đối với những nhà quản lý giáo dục, không phân biệt ở cấp QL nào hay ở một cơ sở GD cụ thể nào
(6) Các chính sách khen thưởng và xử phạt
Khen thưởng và xử phạt là hai vấn đề rất lớn và nhạy cảm trong QL nguồn nhân lực nói chung và trong việc xây dựng, phát triển đội ngũ CBQL nói riêng Theo nội dung này, người có nhiều thành tích thì được khen thưởng, kẻ có “tội” thì phải xử phạt Người ta có thể áp dụng các hình thức khen thưởng và xử phạt bằng vật chất và bằng tinh thần như: tăng lương, thưởng tiền, thăng chức, đề bạt, phong tặng danh hiệu cao quý… hoặc phạt tiền, thuyên chuyển, giáng cấp, sa thải v.v
Đối với đội ngũ CBQLGD nói chung, hiệu trưởng trường THCS nói riêng, việc khen thưởng và xử phạt cần được tiến hành thường xuyên Các cơ quan QLGD cấp trên, theo thẩm quyền của mình, cần rà soát đội ngũ CBQL các trường học theo các chuẩn mực cụ thể về năng lực và phẩm chất, trên cơ
sở đó có thể thay thế, bổ sung đội ngũ CBQL có phẩm chất và năng lực tốt một cách kịp thời cho các trường học Mặt khác, các CBQL trường học có nhiều cống hiến tốt cho phong trào cần được tôn vinh và khen thưởng, động viên kịp thời như bố trí đi thăm quan học tập để nâng cao trình độ và có thêm những cơ hội mới để cống hiến cho phong trào chung của các trường học
Trang 34Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng là một quá trình diễn ra thường xuyên của các cấp lãnh đạo Quá trình này bao gồm từ khâu lập qui hoạch, tuyển dụng đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng… Khi tiến hành các nội dung đã nêu ở trên, các cấp lãnh đạo, quản lý giáo dục cần dựa vào những nguyên tắc cơ bản, những tiêu chuẩn cụ thể để xây dựng và phát triển đúng hướng như: phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý … Cần chú ý phát triển phải đảm bảo tính bền vững, ổn định, lâu dài, tính khoa học, tính cụ thể, thiết thực và hiệu quả
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THCS TỈNH LẠNG SƠN
2.1 - Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế chính trị - văn hoá xã
hội tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở vị trí vĩ độ 21019 Bắc đến
22071 Bắc, kinh độ 106006 Đông đến 107021 Đông Tổng diện tích tự nhiên là: 8.305,21km2 Dân số là: 754.133 người trong đó có hơn 57 vạn người ở vùng nông thôn, chiếm 76% Lạng Sơn có 10 huyện và một thành phố trực thuộc tỉnh, cả 10 huyện đều có xã vùng cao, cả tỉnh có 226 xã, phường, Thị trấn, trong đó có 106 xã vùng III (xã đặc biệt khó khăn) và 20 xã và 01 thị trấn biên giới, có 2 cửa khẩu Quốc tế và 2 cửa khẩu Quốc gia, có 7 chợ biên giới
Tỷ lệ tăng dân số là: 2,1%/năm
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Lạng Sơn
đã tập trung mọi cố gắng, nỗ lực phấn đấu, phát huy tinh thần đoàn kết, vượt qua khó khăn, đạt được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hoá - xã hội
Trang 35Kinh tế có bước khá phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 10,04%, đạt mục tiêu đề ra (10 - 10,5%/năm), cao hơn thời kỳ 1996
- 2000 (9,25%/năm) GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 5,9 triệu đồng, tương đương với 376 USD, vượt mức đề ra (350 USD) và gấp 1,74 lần năm 2000 Cùng với sự phát triển chung của cả nước, Lạng Sơn trong thời kỳ đổi mới, Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng và tích cực: Nông nghiệp giảm dần, công nghiệp, xây dựng cơ bản, dịch vụ du lịch tăng dần Nhất là thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục phát triển đã thu hút nhiều lượt khách đến Lạng Sơn không chỉ trong nước mà cả nước ngoài và ngày càng trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Kinh tế hộ gia đình được chú trọng, kinh tế tư nhân được tạo điều kiện thuận lợi phát triển, kinh tế hợp tác xã theo hướng cổ phần hoá được phục hồi, hợp tác đầu tư nước ngoài được quan tâm, đời sống nhân dân được cải thiện Công tác chính sách xã hội được chăm lo Thông qua các chương trình đầu tư, các cơ chế, chính sách đã thu hút được nhiều nguồn lực hỗ trợ các xã nghèo, hộ nghèo Đến nay cơ bản đã không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 7,8% (năm 2000 là 19,6%) Tình hình chính trị, an ninh trật
tự, an toàn xã hội được đảm bảo Bảo vệ vững chắc biên cương của tổ quốc, xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị và hợp tác cùng phát triển, tạo môi trường thuận lợi cho việc đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội
Song bên cạnh đó, nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng chưa bền vững, quy mô còn nhỏ bé, hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao Công tác xây dựng kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập, nhất là công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, một số công trình trọng điểm còn thiếu sự chỉ đạo tập trung Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tiến hành chậm, ảnh hưởng đến tiến độ thi công của nhiều dự án và khả năng thu hút đầu tư của tỉnh Lĩnh vực văn hoá
xã hội còn nhiều bức xúc, chất lượng giáo dục & đào tạo và thực hiện nhiệm
vụ xây dung trường học đạt chuẩn quốc gia chưa đạt mục tiêu đề ra Công tác
Trang 36chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân còn có mặt hạn chế Một số nơi trình độ dân trí thấp, thiếu đội ngũ cán bộ Khoa học kỹ thuật giỏi Đời sống đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn Tình trạng buôn lậu và các tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng, đây là vấn đề nhức nhối ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội Nguyên nhân của những khuyết điểm yếu kém trên là trình độ năng lực của một số bộ phận cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế bất cập cả về chuyên môn nghiệp vụ và năng lực lãnh đạo điều hành, một số thiếu tinh thần trách nhiệm Mặt khác do trình độ dân trí còn thấp cùng với mặt trái của cơ chế thị trường, đó là những khó khăn thách thức lớn ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị trong tỉnh
Từ những vấn đề trên Đặc biệt là việc triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam, cùng với việc thực hiện Nghị quyết lần thứ XIV của tỉnh Đảng bộ Tỉnh Lạng Sơn đang từng bước tìm ra các giải pháp khắc phục những nguyên nhân còn tồn tại Tập trung cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên cơ sở khai thác và phát huy có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, chú trọng phát triển văn hoá - xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, tập trung giải quyết các vấn đề còn búc xúc, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân… Xây dựng tỉnh Lạng Sơn phát triển theo xu hướng ổn định, giàu mạnh và văn minh, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
2.2 - Khái quát về giáo dục Tỉnh Lạng Sơn
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành
GD & ĐT tỉnh Lạng Sơn có những bước phát triển mới cả quy mô, loại hình
và chất lượng giáo dục các cấp học
Năm học 2005 - 2006 toàn tỉnh có 524 trường, bao gồm: 88 trường mầm non (trong đó có 11 cơ sở mầm non tư thục); 183 trường tiểu học; 132 trường THCS; 86 trường phổ thông cơ sở; 21 trường THPT (trong đó ngoài
Trang 37công lập 02 trường); 11 Trung tâm GDTX; 01 Trung tâm KTTH - HN; 01 Trường Trung cấp chuyên nghiệp; 01 Trường Cao đẳng Nhìn chung việc quy hoạch mạng lưới trường lớp được chỉ đạo theo đúng hướng, phù hợp với thực tiễn Các cấp học được tạo điều kiện huy động tối đa HS ra lớp Tỷ lệ HS được huy động ra lớp ở các cấp học đạt cao so với mặt bằng chung của khu vực, tỷ lệ HS bỏ học giảm đáng kể Kết quả huy động HS ra lớp đã phục vụ tốt cho công tác phổ cập, nâng cao dân trí, cung cấp nguồn nhân lực, góp phần đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương
Công tác phổ cập và xây dựng trường chuẩn quốc gia được các cấp các ngành của tỉnh quan tâm Năm 1997 tỉnh Lạng Sơn đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ Năm học 2005 - 2006 đã có 40 đơn vị đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Đến nay, toàn tỉnh có 161/226
Xã, Phường, Thị trấn đạt chuẩn phổ cập GD tiểu học (đạt tỷ lệ 71,2%) Có 2 Huyện, Thành phố đạt chuẩn phổ cập GD tiểu học đúng độ tuổi (Thành phố và Hữu Lũng) Tổng số Xã, Phường, Thị trấn đạt chuẩn phổ cập THCS là 193/226, tỷ lệ 85,4%; trong đó có 05 Huyện, Thành phố đã hoàn thành phổ cập THCS Có 37 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 01 trường mầm non,
28 trường tiểu học và 08 trường THCS So với mục tiêu đề ra thì việc xây dựng trường chuẩn quốc gia chưa đạt kế hoạch, số trường mầm non chuẩn quốc gia còn thấp, chưa có trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia Theo kế hoạch của tỉnh sẽ phấn đấu hoàn thành phổ cập THCS vào năm 2007
và đến năm 2010 sẽ có 82 trường học đạt chuẩn quốc gia
Thực hiện Quyết định số 159/2002/QĐ-TTg ngày15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ, tăng cường thực hiện chủ trương kiên cố hoá trường, lớp học đảm bảo đúng mục tiêu và yêu cầu về chất lượng Thường xuyên phối hợp tăng cường kiểm tra, giám sát các công trình, Cuối năm 2005 đã hoàn thành
và đưa vào sử dụng: 629 phòng học mới Các cấp QLGD đã tích cực tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, Chính quyền cấp xã, phường chỉ đạo huy động các
Trang 38nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học, mở rộng thư viện, phòng thí nghiệm Các đơn vị đã chỉ đạo các nhà trường tăng cường công tác
tu sửa, bảo quản, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng DH và cảnh quan trường học
Đội ngũ GV và CBQL, cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành Chất lượng GV mầm non, phổ thông đã có chuyển biến đáng kể: 63,9% GV mầm non; 99,83% Tiểu học; 79,46% THCS; 97,2% THPT đã đạt
và vượt trình độ chuẩn Ngành đã có nhiều cố gắng trong việc tuyển dụng, bố trí, sắp xếp đội ngũ GV và CBQLGD Tỷ lệ GV tiểu học đạt 1,2 GV/lớp; THCS đạt 1,95 GV/lớp; THPT đạt 1,7 GV/Lớp
Chất lượng GD toàn diện khá cao, thể hiện qua chất lượng từng năm học của các cấp học, kết quả các kỳ thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh ĐH, CĐ, thi học sinh giỏi các cấp, các môn Năm học 2005 - 2006 số lượng giải quốc gia lớp 12 THPT do Bộ GD & ĐT tổ chức, Lạng Sơn có 64 học sinh dự thi ở 8 đội tuyển Kết quả có 27 học sinh đạt giải, xếp thứ 12/41 đơn vị dự thi ở bảng
B, có 01 giải Nhì, 09 giải Ba và 17 giải khuyến khích Đây là những thành tích cao nhất từ trước đến nay
Kỷ cương học đường tiếp tục được duy trì, các tệ nạn xã hội không tồn tại trong trường học, môi trường GD đảm bảo cho sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh Công tác xã hội hoá GD được đẩy mạnh đã đem lại hiệu quả thiết thực đối với phong trào xây dựng trường chuẩn quốc gia, với việc hoàn thành phổ cập GD tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS; với phong trào khuyến học, khuyến tài của địa phương…
Tuy nhiên so với yêu cầu phát triển GD trong thời kỳ CNH - HĐH đất
nước Đặc biệt hưởng ứng thực hiện cuộc vận động “Hai không”, toàn ngành
giáo dục tỉnh Lạng Sơn còn hạn chế ở những mặt sau:
- Việc thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường, lớp còn chậm., chưa đáp ứng được hết nhu cầu học tập của học sinh (đặc biệt là cấp THPT), chưa
Trang 39huy động được nhiều nguồn lực cho GD trong khi kinh phí sự nghiệp cấp cho
- Việc quy hoạch và giao quyền sử dụng đất cho các nhà trường còn chậm Đặc biệt, CSVC của các trường THCS và trường mầm non còn rất hạn chế Kinh phí GD đầu tư cho mua sắm thiết bị hàng năm còn rất thấp so với yêu cầu thực tế
- Việc đổi mới công tác QLGD, đổi mới phương pháp DH ở các trường còn chậm, chưa rõ nét, năng lực QL của một số CBQLGD còn hạn chế chưa sáng tạo, ngại đổi mới Chất lượng các lớp thay sách hàng năm có cao hơn năm trước nhưng chưa đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, việc tập huấn và sử dụng thiết bị DH đã được triển khai, nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao, nhiều
GV còn lúng túng, thụ động khi áp dụng phương pháp mới và sử dụng những giáo cụ trực quan; học sinh còn bỡ ngỡ khi tiếp cận với phương pháp học mới, những tồn tại đó đã ảnh hưởng một phần đến chất lượng giáo dục
2.3 Những định hướng phát triển GD & ĐT của tỉnh Lạng Sơn đến năm 2010
Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XIV; Các Chỉ thị, Nghị quyết của BCH Tỉnh uỷ về GD & ĐT, Chương trình hành động của Đảng uỷ
Sở GD & ĐT Lạng Sơn, nhằm phát huy những kết quả đã đạt được trong năm học vừa qua, đồng thời tạo chuyển biến cơ bản trong việc khắc phục những mặt yếu kém, bất cập còn tồn tại Ngành GD & ĐT Lạng Sơn đã có định hướng phát triển từ năm học 2006 - 2007 đến năm 2010 như sau:
Trang 40(1) Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp
GD, trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy và học, tổ chức tốt thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 5 và dạy học phân ban kết hợp với tự chọn ở lớp 10 THPT Thực hiện nghiêm túc kỷ cương trong dạy và học, trong kiểm tra, đánh giá nhằm phản ánh đúng chất lượng GD của các nhà trường Tập
trung tổ chức thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Nói không với tiêu cực
trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” Đẩy mạnh phổ cập GD tiểu
học đúng độ tuổi, phổ cập GD THCS, xây dựng trường chuẩn quốc gia
(2) Tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
CBQLGD Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Quyết định 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ về Quy chế đánh giá, xếp loại
GV mầm non, GV phổ thông công lập Việc phân loại GV, giảng viên phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, định kỳ hàng năm, nhằm đánh giá thực chất đội ngũ để BD, sử dụng nhà giáo theo yêu cầu nhiệm vụ, đồng thời tác động tích cực đến ý thức nghiên cứu, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV Quan tâm đến công tác phát triển Đảng viên trong trường học, xây dựng chi bộ Đảng trường học thực sự là hạt nhân chính trị lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị
(3) Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho các
trường học, thực hiện có hiệu quả chương trình kiên cố hoá trường lớp học theo Quyết định số 159/QĐ-CP
(4).Tổ chức triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 04/NQ-TW
ngày 14/7/2006 của Ban Thường vụ tỉnh uỷ về đẩy mạnh phổ cập GD, xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2006 - 2010
(5) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý kịp
thời, đúng quy định những biểu hiện tiêu cực Tiếp tục củng cố lực lượng cán
bộ làm công tác thanh tra, đổi mới hơn nữa công tác thanh tra, chú trọng tập