Trên tinh thần ấy, để góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình đưa trường ĐHCN Tôn Đức Tháng phát triển, xứng đáng với niềm tin cậy của xã hội - một địa chỉ trí thức hóa công nhân - ở luận
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thu Thủy
MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với sự trân trọng và chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Ban Giám hiệu, Hội đồng Khoa học, Phòng Khoa học Công nghệ sau Đại học, Khoa Tâm
lý Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Quý Giáo sư, Giảng viên, Cán
bộ công nhân viên đã trực tiếp giảng dạy và tư vấn cho chúng tôi trong quá trình học tập Ban Giám hiệu Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Phòng Tổ chức – Hành chính, Phòng Đào tạo, Thư viện nhà trường
Các Giáo sư, Tiến sĩ đã tham gia chương trình 5.07.03 Cao học khóa 11
Các bạn học viên đồng khóa và đồng nghiệp đã chăm lo, giúp đỡ động viên chúng tôi trong quá trình học tập và tiến hành làm luận văn
Đặc biệt chúng tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Trương Văn Sinh, đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, góp ý kiến, cung cấp tư liệu và tạo nhiều thuận lợi giúp chúng tôi thực hiện luận văn này Luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, kính mong sự chỉ dẫn góp ý của quý Thầy,
Cô và của mọi người
Xin chân thành cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh Ngày 20 tháng 11 năm 2003
Tác giả
Trang 4NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CNTH & TUD Công nghệ thông tin và toán ứng dụng
GD-ĐT Giáo dục-đào tạo
GVBCH Giảng viên bán cơ hữu
GVKN Giảng viên kiêm nhiệm
Trang 5LĐLĐ TP.HCM Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh
THCN & DN Trung học chuyên nghiệp và dạy nghẻ
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4
MỤC LỤC 6
MỞ ĐẦU 9
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 9
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU: 10
3 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI: 11
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 11
5 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI: 12
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN: 12
6.1 Cái mới của luận văn: 12
6.2 Đóng góp của luận văn: 13
7 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 13
7.1 Nội dung nghiên cứu: 13
7.2 Phương pháp và phướng pháp luận nghiên cứu: 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 15
1.1.1 Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng: 15
1.1.2 Hệ thống giáo dục quốc dân: 16
1.1.3 Giáo dục đại học: 18
1.1.4 Giáo viên, giảng viên: 18
1.2 VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI VÀ ĐẤT NƯỚC: 19
1.2.1 Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp “trồng người”: 19
1.2.2 Giáo dục - đào tạo là động lực, là mục tiêu của sự phát triển: 19
1.2.3 Giáo dục - Đào tạo là thước đo sự phát triển của một đất nước, một địa phương: 20
1.2.4 Vai trò của GD-ĐT đối với công nghiệp hóa, hiện đại hoá nước ta: 21
Trang 71.3 VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN: 22
1.3.1 Giáo dục- đào tạo và giáo viên trong nhận thức của xã hội: 22
1.3.2 Vai trò của người giáo viên: 23
1.4 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN: 29
1.4.1 Một là: Đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định đối với việc phát triển sư nghiệp GD-ĐT: 29
1.4.2 Hai là: Để đội ngũ giáo viên làm tròn sứ mệnh thiêng liêng và cao cả của mình Đảng và Nhà nước phái ‘‘xây dựng và triển khai chương trình xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quán lý giáo dục một cách toàn diện" [TL.14] 29
1.4.3 Ba là: Bổ sung, hoàn thiện các chính sách đối với đội ngũ giáo viên và cán bộ QLGD 30
1.4.4 Bốn là: có chính sách thu hút cán bộ khoa hoc có trình độ cao của các viện nghiên cứu trong nước và các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, các nhà khoa hoc quốc tế tham gia giảng dạy ở các trường Cao đẳng, Đại học [TL 14] 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG 31
2.1 TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG (ĐHBC) TÔN ĐỨC THẮNG: 31
2.1.1 Quá trình thành lập trường ĐHBC Tôn Đức Thắng: 31
2.1.2 Tổ chức bộ máy và nhân sự của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng: 32
2.1.3 Hoạt động của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng: 36
2.2 TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐHBC TÔN ĐỨC THẮNG: 44
2.2.1 Tình hình đội ngũ giảng viên: 44
2.2.2 Hoạt động của đội ngũ giảng viên: 49
2.2.3 Một số vấn đề đặt ra xung quanh việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên: 51
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGỦ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG ĐẾN NĂM 2010 52
3.1 NHỮNG CƠ SỞ ĐỂ XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP: 52
Trang 83.1.1 Cơ sở lý luận: 52
3.1.2 Cơ sở pháp lý: 52
3.1.3 Cơ sở thực tiễn bao gồm: 53
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG ĐẾN NĂM 2015: 54
3.2.1 Phương hướng chung: 54
3.2.2 Một số chương trình hoạt động cụ thể: 54
3.3 MỘT SỐ YÊU CẦU KHI XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN: 55
3.3.1 Một số yêu cầu chung: 56
3.3.2 Một số yêu cầu riêng: 57
3.4 GIẢI PHÁP VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐHĐC TÔN ĐỨC THẮNG ĐẾN NĂM 2010: 59
3.4.1 Dự báo đội ngũ GVCH toàn trường đến năm 2010: 59
3.4.2 Dự báo về đội ngũ giảng viên thỉnh giảng và bán cơ hữu đến năm 2010 66
3.4.3 Một số giải pháp xây dựng đội ngũ giảng viên: 67
3.4.4 Giải pháp xây dựng đội ngủ giảng viên cơ hữu: 68
3.5 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN: 72
3.5.1 Chuẩn hoá đội ngũ giảng viên: 72
3.5.2 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học: 75
3.5.3 Một số kiến nghị 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1 Lý luận đã khẳng định và thực tế đã chứng minh: Giáo dục - Đào tạo (GD-ĐT) có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển xã hội nói chung, của một đất nước nói riêng: GD-ĐT là đòn bẩy, là động lực, là mục tiêu của mọi sự phát triển
Đối với một nước đang trên con đường phát triển, đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh như Việt Nam chúng ta thì vai trò của GD-ĐT càng to lớn, nó là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện phát huy nguồn lực con người - Yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trường kinh tế nhanh và bền vững" [TL.13, Tr 108-109]
1.2 Chất lượng và hiệu quả của một nền giáo dục nói chung, của một trường học nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có ba yếu tố cơ bản:
- Người học (lực lượng học sinh, sinh viên)
- Người dạy (đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục)
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học
Trong ba yếu tố cơ bản trên đây, yếu tố thứ hai (đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, dưới đây chúng tôi gọi gộp là đội ngũ giáo viên) là yếu tố quan trọng nhất, có tính quyết định Vì thế ông cha ta từ ngàn xưa đã nêu: “Không thầy đố mày làm nên" hay:
Muốn sang phải bắc cầu Kiều , Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy
(Ca dao) 1.3 Hơn 50 nảm qua ngành GD-ĐT nước ta đã có những bước phát triển đáng kể, đạt nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều mặt: mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả đào tạo, góp phần đắc lực vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dường nhân tài, phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH)
Tuy nhiên, bên cạnh đó ngành GD-ĐT nói chung, giáo dục đại học (GDĐH) nói riêng vẫn còn nhiều yếu kém, khiếm khuyết, “chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi to lớn và ngày càng cao
Trang 10nhân lực của công cuộc đổi mới KT-XH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện CNH, HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [TL 12, Tr.5]
Có nhiều nguyên nhân đưa đến những yếu kém đó: định hướng phát triển GD-ĐT chưa phù hợp, mạng lướỉ các trường cao dẳng (CĐ) và đại học (ĐH) phân bố bất hợp lý công tác quản lý giáo dục còn nhiều bất cập, cơ chế và phương thức quản lý không thống nhất, không nhất quán, Đặc biệt, có một nguyên nhân quan ưọng, cần được chú ý đúng mức, đó là đội ngũ giáo viên vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu
Có thể khẳng định rằng, một trong những vấn đề bức xúc của nền giáo dục nước ta hiện nay là vấn đề đội ngũ giáo viên Tình trạng đội ngũ giáo viên vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu không chỉ ở bậc giáo dục phổ thông, mà còn ở bậc GDĐH
Ở bậc GDĐH, tình trạng đội ngũ giáo viên như vừa nêu thể hiện rõ nhất ở các trường CĐ,
ĐH dân lập, bán công Với một trường đại học tuổi đời còn ít như trường Đại học Công nghệ Dân lập (ĐHCNDL) Tôn Đức Thắng, vấn đề đội ngũ giáo viên càng trở nên nan giải
Công cuộc CNH, HĐH đất nước đang đòi hỏi nền giáo dục quốc dân (GDQD) nói chung, GDĐH nói riêng phải nhanh chóng khắc phục những mặt còn yếu kém, khiếm khuyết, phải "thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá giáo dục" [TL 13, Tr 109], nhanh chóng củng cố,
“phát triển đội ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm" [TL.13, Tr.l09]
Trên tinh thần ấy, để góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình đưa trường ĐHCN Tôn Đức Tháng phát triển, xứng đáng với niềm tin cậy của xã hội - một địa chỉ trí thức hóa công nhân - ở luận văn này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu "Một số giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường ĐHCN Tôn Đức Thắng"
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:
2.1 Từ lâu, các nhà quản lý giáo dục (QLGD), các nhà khoa học và nhiều nhà giáo tâm huyết đã nhận ra những bất cập trong việc đào tạo và xây dựng đội ngũ giáo viên, đặc biệt là đội ngũ GV các trường CĐ, ĐH Và hầu như cũng nhận thấy, đội ngũ GV bậc đại học không chỉ thiếu về số lượng mà còn (và điều quan trọng hơn) yếu về chất lượng Có thể khẳng định khá đông đội ngũ GV đại học hoặc non kém về trình độ chuyên môn, hoặc không có phương pháp giảng dạy phù hợp Đã có khá nhiều hội nghị, hội thảo ở những cấp khác nhau đề cập đến vấn đề đào tạo đại học, trong đó có vấn đề đội ngủ GV [xin xem TL 2, TL 19]
Trang 11Tại các hội nghị, hội thảo này, các nhà QLGD, các nhà khoa học và nhiều nhà giáo tâm huyết đề ra nhiều giải pháp, trong đó vấn đề chuẩn hoá (kiến thức và phương pháp) GV và tăng ngân sách Nhà nước đưa những sinh viên và GV trẻ giỏi đi đào tạo ở nước ngoài là những giải pháp được nhiều người ủng hộ Tuy nhiên, hình như do việc quy hoạch hệ thống các trường CĐ,
ĐH chưa tiến hành xong nên vấn đề xây dựng đội ngũ GV ở các trường CĐ, ĐH như thế nào chưa được đề cập đầy đủ Hình như các cấp QLGD để cho các trường CĐ, ĐH tiến hành theo kế hoạch của mỗi trường
2.2 Trong bối cảnh chung ấy, các trường CĐ, ĐH dân lập, bán công đành "bươn chải" theo cách riêng của mình khi xây dựng đội ngũ GV
Trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng là một trường ĐH dân lập mới chuyển sang bán công,
có tuổi đời hơn 5 năm Do đó, các nhà QLGD, các nhà khoa học chưa biết nhiều về trường, theo
đó, chưa có công trình khoa học nào bàn về vấn đề xây dựng đội ngũ GV cho trường Có chăng chỉ là chủ trương của Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban giám hiệu (BGH) của trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng Ngay chủ trương của HĐQT và BGH trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng trở nên
rõ ràng hơn, cụ thể hơn khi trường chuyển từ loại hình dân lập sang loại hình bán công1 Dù sao vấn đề xây dựng đội ngũ GV - một vấn đề tiên quyết - mà bất kỳ trường CĐ, ĐH nào cũng phải làm Đề cập đến điều này chúng tôi vừa một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của đề tài vừa nhấn mạnh những khó khăn khi triển khai luận văn
3 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Thông qua việc phân tích, đánh gỉá một cách khách quan vả toàn diện thực trạng đội ngũ
GV của trương ĐHCNDL Tôn Đức Thắng trong thời gian qua (1997 - 2002) và trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ mà trương đảm nhiệm trong giai đoạn mới, chúng tôi cố gắng đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ GV của trường trong thời kỳ tới, đến năm
2010
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
4.1 Khách thể nghiên cứu: Là những ngươi làm công tác giảng dạy ở trương ĐHCNDL Tôn Đức Thắng (bao gồm các loại hình GV, song trước hết là GV cơ hữu) và đội ngũ cán bộ quản lý của trường
1 Xin xem ý kiến của TS Lê Vinh Danh, Phó hiệu trưởng trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng, trong bàl báo: “Đại học
Trang 124.2 Đối tượng nghiên cứu: là đội ngũ GV trước hết là GV cơ hữu Đối tượng nghiên cứu được đặt trong cơ cấu tổ chức của trường
5 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ GV của một trường CĐ, ĐH luôn là một vấn đề phức tạp, đặc biệt đối với các trường CĐ, ĐH loại hình dân lập, bán công, bởi vấn đề này liên quan đến một số vấn đề khác:
- Nội dung, chương trình, hệ, bậc, cấp đào tạo mà trường đảm nhiệm
- Cơ sở, vật chất, trang thiết bị, nguồn lực tài chính nói chung luôn là tiềm lực vật chất của trường
- “Đầu vào” của đội ngũ GV
- V V
Do khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ và với thời gian hạn chế, chúng tôỉ không có điều kiện và cũng không có tham vọng giải quyết mọi khía cạnh có liên quan đến đề tài Chúng tôi tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
- Xây dựng đội ngũ GV trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng theo hướng nào khi trường thuộc loại hình bán công? Cơ cấu nhân lực đội ngũ GV theo các loại hình, các bậc, các khoa như thế nào cho hợp lý? Làm gì để tạo nguồn đội ngũ GV cho trường ĐHBC Tôn Đức Thắng ?
- Để có một đội ngủ GV có chất lượng cao cần tiến hành đào tạo, bồi dưỡng như thế nào? Theo phương thức nào? Cần trang bị những loại kiến thức ? Đánh giá chất lượng đội ngũ GV theo hệ tiêu chí ?
- Quản lý đội ngũ GV theo phương thức nào? Cơ chế phối hợp điều hành hoạt động và quản
lý giữa các cấp, giữa các tổ chức đoàn thể xã hội, giữa nhà trường với các tổ chức, đơn vị xã hội
ra sao?
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:
6.1 Cái mới của luận văn:
Cái mới của luận văn chủ yếu nằm ở hướng tiếp cận nội dung do đề tài đặt ra Để giải quyết những nội dung do đề tài đặt ra, chúng tỏi tiếp cận theo một số hướng sau đây:
- Bám sát vào chức năng, nhiệm vụ và phương hướng hoạt động của trường mà phân tích, đánh giá thực trạng một cách chi tiết và đưa ra những giải pháp có tính khả thi, sát với thực tiển
Trang 13- Những nội dung do đề tài đặt ra đều được xem xét trong tính hệ thống và dựa trên cơ sở của những quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về phát triển sự nghiệp giáo dục và chiến lược phát triển của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng
6.2 Đóng góp của luận văn:
Theo thiển ý của chúng tôi, luận văn này có hai đóng góp:
Một là: Nêu lên một cách khách quan thực trạng đội ngũ GV của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng qua 5 năm ra đời và trường thành Từ đây cho chúng ta nhận thức một cách chính xác những đóng góp cũng như những tồn tại của đội ngũ GV nói riêng, của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng nói chung Từ đó cung cấp cho trường những cơ sở khách quan khi xây dựng chiến lược phát triển của trường trong giai đoạn sắp tới
Hai là: Đưa ra một số biện pháp có tính khả thi góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ GV của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng trong thời gian sắp tới
7 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1 Nội dung nghiên cứu:
Ở đề tài này, chúng tôi tập trung vào ba nội dung chủ yếu:
Môt là: Trình bày một số vấn đề chung về GD-ĐT, vai trò của đội ngũ GV và việc xây dựng đội ngũ GV
Hai là: Phân tích, đánh giá một cách khách quan, chính xác về trường ĐHBC Tôn Đức Thắng và thực trạng đội ngũ GV của trường sau 5 năm hoạt động (1997 - 2002)
Ba là: Đề xuất một số giải pháp xoay quanh hai nội dung:
- Xây dựng đội ngũ GV
- Nâng cao chất lượng đội ngũ GV
7.2 Phương pháp và phướng pháp luận nghiên cứu:
7.2.1 Phương pháp luận nghiên cứu:
Xuất phát từ lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chi Minh, chúng tôi nghên cứu vấn đề xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ GV của Trường ĐHBC Tôn Đức Thắng trong mối quan hệ giữa cơ cấu giáo dục - cơ cấu nhân lực - cơ cấu kinh tế và trong sự phát triển biện chứng theo tiến trình lịch sử
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
Trang 14Phương pháp thống kê; Phương pháp này nhằm nắm bắt một cách chính xác về tổ chức bộ máy, về hoạt động đào tạo bồi dưỡng của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng thời gian qua, về mọi khía cạnh liên quan đến đội ngũ GV của trường (số lượng, giới tính, trình độ văn hoá, ) Chính phương pháp thống kê đảm bảo độ tin cậy cho những vấn đề định giải quyết trong luận văn Phương pháp đối chiếu so sánh: Với phương pháp này, chúng ta có thể thấy được sự phát triển của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng 5 năm qua và những vấn đề khác gắn với đội ngũ GV Tùy từng chương, từng phần, mà những phương pháp này được dùng riêng biệt hoặc kết hợp với nhau
8 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài khoa học được triển khai thành ba chương, mỗi chương có nhiều phần khác nhau
Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài;
1.1 Một số khái niệm lỉên quan đến đề tải
1.2 Vai trò của giáo dục - đào tạo (GD-ĐT) đối với sự phát triển của xã hội và đất nước 1.3 Vai trò của đội ngũ GV đối với GD-ĐT
1.4 Quan điểm của Đảng ta về đội ngũ GV
Chương 2 Thực trạng đội ngũ GV Trường ĐHBC Tôn Đức Thắng thời gian qua (1997 - 2002):
1.1 Tổng quan về Trường ĐHBC Tôn Đức Thăng
1.2 Thực trạng về đội ngũ GV
1.3 Một số vấn đề đặt ra
Chương 3 Một số giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ GV Trường ĐHBC Tôn Đức Thắng thời gian tới (1997-2002)
3.1 Cơ sở để đề xuất các giải pháp
3.2 Định hướng phát triển của Trường ĐHBC Tôn Đức Thắng thời gian tới (2001 - 2010) 3.3 Một số giải pháp về xây dựng đội ngũ GV
3.4 Một số giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ GV
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Có nhiều khái niệm liên quan đến đề tài ở đây, chúng tôi chỉ đé cập đến một số khái niệm
Cũng theo nghĩa rộng, trong khi xã hội học coi giáo dục là quá trình truyền thụ kinh nghiệm lịch sử, xã hội cho các thế hệ mới nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống xã hội, lao động sản xuất, thì giáo dục học lại coi giáo dục là quá trình hình thành con người dưới ảnh hưởng của những tác động bởi nhà giáo dục học trong hệ thống các cơ quan giáo dục chuyên biệt nhằm hình thành con người phát triển toàn diện (có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp, )
Theo nghĩa hẹp, giáo dục học quan niệm, giáo dục là hoạt động chuyên biệt của nhà giáo dục nhằm bồi dưỡng cho người được giáo dục (học sinh, học viên, sinh viên) những quan niệm, phẩm chất, tri thức, hiểu biết về thế giới tự nhiên và xã hội loài người
Dù hiểu theo cách nào đi chăng nữa, thì giáo dục là một quá trình trang bị và nâng cao hiểu biết, tri thức cho người học về thế giới khách quan, khoa học kỹ thuật, về xã hội loài người và về
kỷ năng trong hoạt động lao động, sản xuất Giáo dục là một quá trình diễn ra liên tục trong đời sống con người, trong mọi môi trường hoạt động của con người, trong đó môi trường học đường đóng vai trò quyết định
Trong mối quan hệ với đào tạo, theo nghĩa rộng, giáo dục bao gồm giáo dục phổ thông và đào tạo chuyên môn sau phổ thông (tức đào tạo nghề, trung học chuyên nghiệp, đào tạo cao đẳng, đại học, trên đại học); theo nghĩa hẹp, giáo dục chỉ bó hẹp ở giáo dục phổ thông
Trang 161.2.1.2 Đào tạo:
Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng kỹ xảo để hình thành chuyên môn, nghề nghiệp cho người lao động Đào tạo có nhiều mức độ, nhiều cấp khác nhau tuỳ theo trình độ tri thức được trang bị cho người học; đào tạo công nhân kỹ thuật (CNKT), đào tạo trung học chuyên nghiệp (THCN), đào tạo cao đẳng, đại học (CĐ, ĐH), đào tạo trên đại học
1.1.1.3 Bồi dưỡng:
Gắn liền với giáo dục, đào tạo là bồi dưỡng Bồi dưỡng là quá trình cung cấp kiến thức bổ sung trên cơ sở của nền tảng kiến thức đã có Khi hoàn tất quá trình đào tạo, người học được cấp bằng tốt nghiệp, còn hoàn tất quá trình bồi dưỡng, người học được cấp giấy chứng nhận (chứng chỉ) về phần kiến thức bổ sung
Việc bồi dưỡng không mang tính đồng loạt mà chỉ giới hạn ở một số đối tượng nào đó
1.1.2 Hệ thống giáo dục quốc dân:
1.1.2.1 Khái niệm:
Hệ thống giáo dục quốc dân (GDQD) là một dạng cấu trúc vĩ mô bao gồm một loạt các thành tố của quá trình giáo dục tổng thể, là nền tảng và điều kiện về mặt tổ chức của quá trình giáo dục tổng thể
Hệ thống GDQD của mỗi nước có khác nhau Thông qua hệ thống GDQD có thể thấy được quan điểm giáo dục của mỗi quốc gia và sự phát triển của nền giáo dục quốc gia ấy
1.1.2.2 Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam:
Theo Luật giáo dục [TL 22], hệ thống GDQD Việt Nam được tổ chức theo bốn bậc, mỗi bậc bao gồm một số cấp như sau:
1 Bậc giáo dục mầm non: có hai cấp: nhà trẻ và mẫu giáo
2 Bậc giáo dục phổ thông: có ba cấp và qua 12 năm học: cấp tiểu học (5 năm), cấp trung học cơ sở (4 năm) và cấp trung học phổ thông (3 năm)
3 Bậc giáo dục chuyên nghiệp: có hai cấp; công nhân kỹ thuật và trung học chuyên nghiệp
4 Bậc giáo dục đại học và sau đại học vớỉ hai trình độ; cao đẳng (3 năm), đại học (4-6 năm)
và bậc sau đạỉ học với hai trình độ: cao học, cấp bằng thạc sĩ (2 năm) và nghiên cứu sinh, cấp bằng tiến sĩ (4 năm)
Có thể hình dung hệ thống GDQD Việt Nam qua bảng tổng hợp sau (xin xem bảng):
Trang 181.1.3 Giáo dục đại học:
1.1.3.1 Xét về cấu trúc, giáo dục đại học là một bậc, một bộ phận của hệ thống GDQD Xét vẻ thời gian, giáo dục đại học (GDĐH) là loại giáo dục sau phổ thông, là mức tiếp theo cao hơn của giáo dục phổ thông
Xét về tính chất, GDĐH là loại hình giáo dục chuyên sâu, bậc cao Do đó, không phải mọi học sinh phổ thông đều vào được đại học GDĐH chỉ tuyển chọn với một tỉ lệ nhất định (do Nhà nước qui định) trong số học sinh tốt nghiệp phổ thông và qua một kỳ thi cử Theo đó, đội ngũ
GV của hệ thống GDĐH là những người có trình độ cao và chuyên sâu
1.1.3.2 GDĐH có vai trò đặc biệt quan trọng: Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao phục vụ cho nhu cầu của các lĩnh vực KT-XH và bồi dưỡng nhân tài Nhìn vào hệ thống GDĐH, ngươi ta có thể nhận thấy được một phần chất lượng của nguồn nhân lực và trĩnh độ phát triển của KT-XH của một quốc gia
1.1.4 Giáo viên, giảng viên:
1.1.4.1 Giáo viên, giảng viên là những ngươi đã qua một quá trình đào tạo và bồi dưỡng nhất định, đủ điều kiện (tiêu chuẩn) và được giao nhiệm vụ giảng dạy một lĩnh vực khoa học nào tương ứng với trình độ được đào tạo Những ngươi giảng dạy ở bậc giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông thường được gọi là giáo viên Những người giảng dạy ở các bậc giáo dục còn lại thường được gọi là giảng viên
1.1.4.2 Do chức năng và nhiệm vụ của GDĐH (xem 1.1.3.2), tiêu chuẩn của đội ngũ GV của các trường CĐ, ĐH rất cao: phải tốt nghiệp đại học loại khá giỏi trở lên và phải qua quá trình đào tạo ở bậc cao hơn (cao học, nghiên cứu sinh), có năng lực giảng dạy và phải có phẩm chất đạo đức tốt Bất kỳ GV nào không có đầy đủ những phẩm chất ấy, trước sau gì cũng sẽ bị loại khỏi đội ngũ giảng dạy đại học Có thể nói, quá trình giảng dạy CĐ, ĐH là quá trình sàng lọc khách quan nhưng nghiêm nhất đội ngũ GV
1.1.4.3 Đội ngũ GV có vai trò cực kỳ to lớn đối với sự sống còn của một trường CĐ hay
ĐH Một trường CĐ, ĐH chỉ thực hiện được nhiệm vụ chính trị của mình là đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, phục vụ kịp thời cho nhu cầu của các lĩnh vực KT - XH khi nào
có một đội ngũ GV đủ về số lượng, cao về chất lượng Theo đó, GDĐH chỉ làm tròn sứ mệnh của mình (như đã nêu ở 1.1.3) khi nào có được một đội ngũ GV đạt được những phẩm chất nêu trên đây
Trang 191.2 VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI
VÀ ĐẤT NƯỚC:
1.2.1 Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp “trồng người”:
1.2.1.1 Con người là chủ nhân của xã hội Thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên là chủ nhân tương lai của đất nước Để gánh vác được trách nhỉệm là những chủ nhân của đất nước trong tương lai thì ngay từ hôm nay họ phải được trang bị đầy đủ mọi mặt cho hành trang vào đời trong tương lai; phải được đào tạo toàn diện cả đức, trí, thể, mỹ, dục: phải nhận thức sâu sắc trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của mình.Tất cả những nội dung ấy chỉ có được nhờ
có giáo dục đào tạo Nói khác đi, chung hơn, GD-ĐT là sự nghiệp “trồng người” Con người ngày mai, con người tương lai có nên người hay không, có phẩm chất cao hay không, có đủ điều kiện để gánh vác sứ mệnh cao cả hay không đều tuỳ thuộc vào GD-ĐT hôm nay “trồng" như thế nào?
1.2.1.2 Sự nghiệp "trồng người" xưa cũng như nay, đặc biệt trong điều kiện cụ thể của đất nước ta hiện nay, là một sự nghiệp vô cùng gian khổ, phức tạp, nhưng đầy vinh quang Bởi lẽ:
Sự nghiệp GD-ĐT gắn liền và chịu sự chi phối mạnh mẽ của KT - XH, với đời sống vật chất và tinh thần của người dân
Sự nghiệp GD-ĐT cùng lúc phải tiến hành giáo dục cho thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên về nhiều mặt (đức, trí, thể, mỹ, dục), trách nhiệm công dân, Những mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng có những khía cạnh khác nhau, sự nghiệp GD-ĐT là một sự nghiệp to lớn, phức tạp và phải tiến hành liên tục, kéo dài, song là sự nghiệp vinh quang, cao cả; đào tạo con người phục vụ lâu dài cho đất nước, cho xã hội
1.2.2 Giáo dục - đào tạo là động lực, là mục tiêu của sự phát triển:
Xã hội ngày càng phát triển, đất nước ngày càng thịnh vượng, sự phát triển của xã hội, sự thịnh vượng của đất nước chịu sự chi phối của nhiều yếu tố mà người ta thường gọi là nguồn lực
Có ba nguồn lực cơ bản tác động đến sự phát triển của xã hội, của đất nước, đó là: tài lực, vật lực
và nhân lực Trong ba nguồn lực cơ bản này, nhân lực là nguồn lực có vai trò quyết định Vai trò
to lớn của nhân lực xuất phát từ hai cơ sở:
Môt là: từ thuộc tính của tài lực và vật lực Tài lực và vật lực luôn luôn chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng, tài lực, vật lực chỉ trở thành sức mạnh, thành hiện thực khi nào có sự can thiệp của con người Con ngươi can thiệp như thế nào? Cách can thiệp ra sao? Đúng hay sai? Đúng hay
Trang 20sai với mức độ nào? Sẽ làm cho tài lực, vật lực trở nên hữu ích hay không? Hữu ích nhiều hay ít? Sự can thiệp thô bạo mang tính chất huỷ diệt đã làm cho rừng nước ta bị tàn phá khốc liệt vả hậu quả sự tàn phá này như thế nào thì ai cũng đã rõ
Hai là: vai trò của con ngươi (nhân lực) trong xâ hội Trong đời sống xã hội, con người vừa
là chủ thể vừa là khách thể xã hội Với tư cách là chủ thể, chính con người chứ không có bất cứ yếu tố nào khác quyết định sự phát triển của xã hội Với tư cách này, con người là động lực của mọi sự phát triển Với tư cách là khách thể thì con người là cái đích, là mục tiêu của mọi sự phát triển Nói cách khác, khi con người phát triển tự nhiên hay xã hội đều hướng đến phục vụ con người, nhằm phát triển con người
Vai trò của nguồn nhản lực đối với sự phát triển to lớn là vậy Song như thế không có nghĩa
là chỉ cần có nhiều người, có nguồn nhân lực đông đảo là có thể phát triển xã hội Nhân lực đông đảo là cần thiết, là quan trọng, nhưng chưa đủ Quan trọng hơn, có tính chất quyết định hơn đấy chính là chất lượng của nguồn nhân lực Thực tiễn của nhiều nước như Thụy Sĩ, Singapore, Nhật Bản, cho thấy chỉ khi nào nguồn nhân lực có dược chất lượng cao thì mới thật sự có điều kiện phát triển xã hội, đất nước bền vững
Chất lượng cao của nguồn nhân lực được đánh giá qua bốn phẩm chất như Nghị quyết 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã nêu: phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tâm hồn và trong sáng về đạo đức [TL 10]
Có nhiều lĩnh vực xã hội như văn hoá, y tế góp phần tạo nên bốn phẩm chất ấy, nhưng lĩnh vực đóng vai trò chủ đạo là GD-ĐT
Trên tinh thần ấy, có thể khẳng định rằng, GD-ĐT trực tiếp đào tạo nên nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho việc phát triển KT-XH của đất nước
1.2.3 Giáo dục - Đào tạo là thước đo sự phát triển của một đất nước, một địa phương:
Ngoài những điểm đâ nêu trên đây, đối với công cuộc CNH, HĐH đất nước ta hiện nay, vai trò của GD-ĐT, có thể nói còn lớn hơn nhiều bởi bối cảnh lịch sử và xã hội việt Nam hiện nay
có những khía cạnh riêng
1.2.3.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội tác động đến vai trò của GD-ĐT:
Đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, với nhiều nước trên thế giới Tiến trình ấy diễn ra trong bối cảnh:
Trang 21a Việt Nam phải đối mặt với những thách thức gay gắt giữa một bên là yêu cầu cao của CNH, HĐH một cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật (KHKT), công nghệ tiên tiến hiện đại và tốc độ phát triển của KHKT cực kỳ nhanh, tốc độ vũ bão và một bên Việt Nam đi vào CNH, HĐH từ một nền nông nghiệp đang trên con đường phát triển, đời sống của người dân còn nghèo nàn, khó khăn, mặt bằng dân trí thấp KHKT lạc hậu, yếu kém, thu nhập kinh tế quốc dân còn quá thấp
b Việt Nam tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập đang diễn ra Một thực tế mà ai cũng có thể nhận ra: hố ngăn cách giữa các nước công nghỉệp phát triển với các nước lạc hậu đang trên con đường phát triển ngày càng lớn, sự chênh lệch giữa giàu - nghèo càng trở nên rõ ràng, sâu sắc
Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần có những bước đột phá, tạo ra sự chuyển biến, phát triển mạnh mẽ Những bước đột phá này có được dựa trên cơ sở:
Một là: Bên cạnh việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, tài trợ của các nước, các tổ chức xã hội trên thế giới, cần phải phát huy cao độ mọi nội lực của Việt Nam, trước hết là nội lực con người Hai là: Phải bắt đầu từ việc đầu tư, phát triển mạnh mẽ GD-ĐT và KHKT, công nghệ: phải tạo ra sự chuyển biến một cách căn bản chất lượng của giáo dục, làm cho GD-ĐT đáp ứng đầy
đủ những đòi hỏi của các lĩnh vực KT-XH cũng như tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định điều này: "Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển GD-ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản phát triển nhanh và bền vững" [TL 11, Tr 19]
1.2.4 Vai trò của GD-ĐT đối với công nghiệp hóa, hiện đại hoá nước ta:
Từ những bối cảnh đâ nêu, vai trò của GD-ĐT dối với công cuộc CNH HĐH đất nước ta
có thể nói đến:
a Trước hết, GD-ĐT trực tiếp góp phần nâng cao dân trí cho nhân dân Dân trí thấp sẽ dẫn đến thiếu việc làm, hoặc có việc làm nhưng sản phẩm ít, chất lượng thấp Từ đây đời sống vật chất và tinh thần của người dân khó lòng nâng cao, cải thiện Kéo theo đó, KT-XH cũng khó lòng phát triển Vì thế thờỉ gian qua, Đảng và Nhà Nước ta đã đẩy mạnh chương trình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và đến tháng 11/2000 chương trình này đã hoàn thành Một số tỉnh thành, quận huyện đang phấn đấu phổ cập giáo dục THCS Từ đây làm cơ sở nâng cao trình
độ KHKT, công nghệ, tay nghề kỹ thuật cho người lao động
Trang 22b GD-ĐT thông qua các loại hình đào tạo, bồi dưỡng nhanh chóng trang bị và nâng cao trình độ KHKT, công nghệ, cho lực lượng lao động phục vụ trực tiếp cho lao động sản xuất Chỉ cần khảo sát qua kết quả hoạt động của một số lĩnh vực KT-XH như nông nghiệp, y tế, có thể thấy rỗ vai trò của GD-ĐT đối với việc phát triển CNH, HĐH Như ngành nông nghiệp chẳng hạn, nhờ có GD-ĐT đã đào tạo nên một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, kỹ sư, THCN, nên chúng ta đã tạo ra được một bộ giống lúa mang thương hiệu Việt Nam và Việt Nam từ một nước nghèo đói thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế giới,
Hiến pháp 1992, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX, nghị quyết 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII và nhiều văn kiện khác khẳng đinh "Giáo dục - đào tạo là quốc sách hành đầu" đã nhấn mạnh vai trò trên đây của GD-ĐT
1.3 VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN:
1.3.1 Giáo dục- đào tạo và giáo viên trong nhận thức của xã hội:
1.3.1.1 Dù lịch sử có thăng trầm, thế sự có đổi thay, từ xưa đến nay trong nhận thức của
xã hội; GD-ĐT có sứ mệnh cao cả, thiêng liêng: Trồng Người Sứ mệnh cao cả thiêng liêng của
sự nghiệp "trồng người" là ở chỗ đào tạo nên những con người, những chủ nhân tương lai của đất nước, của dân tộc vừa có đạo đức trong sáng vừa có trình độ văn hóa, KHKT cao để phụng
sự cho công cuộc bảo vệ Tổ Quốc, xây dựng đất nước
Khác với sự nghiệp "trồng cây", sự nghiệp "trồng người" không chỉ đáp ứng lợi ích trước mắt mà còn đáp ứng lợi ich lâu dài, do đó không thể tiến hành trong ngày một ngày hai, mà phải tiến hành liên tục trong một thời gian dài Chính Chủ tịch Hồ Chí Mỉnh sinh thời đã khẳng định:
Vĩ lợi ích mười năm trồng cây,
Vì lợi ích trăm năm trồng người
1.3.1.2 Chất lượng, hiệu quả của sự nghiệp "trồng người" phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều tác nhân Có một yếu tố luôn luôn được đặt lên hàng đầu, đóng vai trò quyết định sự thành bại của sự nghiệp "trồng người": đó chính là người thầy (giáo viên)
Phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng vốn có truyền thống "tôn sư trọng đạo" Nghề dạy học và vị thế của người thầy được xã hội tôn vinh và đề cao Trong chế độ phong kiến, vị thế của người thầy được đặt lên hàng thứ hai, sau vua (quân - sư - phụ), Đã là thầy thì “nhất tự
vi sư, bán tự vi sư” và "Không thầy đố mày làm nên" Ngày nay, trong sự biến đổi của xã hội dưới tác động của nhiều nhân tố, nhất là nhân tố thương mại thị trường, có nơi có lúc, vị thế của
Trang 23người thầy bị hạ thấp Tuy nhiên, nhận thức chung của xã hội, người thầy chính là những "kỹ sư tâm hồn", là ngươi mang ánh sáng văn minh, tri thức đến cho mọi ngươi Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng, đề cao và đặt niềm tin vào đội ngũ các nhà giáo; đồng thời bằng nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp tìm mọi cách nâng cao mọi mặt về đời sống tinh thần, vật chất cho giáo viên; và đưa giáo dục cũng như giáo viên về đúng vai trò và vị thế vốn có trong truyền thống dân tộc xã hội tôn vinh và đề cao người thầy
1.3.2 Vai trò của người giáo viên:
1.3.2.1 Phương châm giáo dục:
Trong chế độ phong kiến, phương châm giáo dục là “Tien học lễ, hậu học văn” phương châm này được duy trì và phát triển cho đến ngày nay Tuy nhiên, xuất phát từ tình hình mới, để GD-ĐT có thể đào tạo được một nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng kịp thời, đầy đủ những đòi hỏi của các lĩnh vực KT-XH trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước ta đưa ra phương châm mới trên cơ sở mở rộng phương châm vốn có: "Dạy người, dạy chữ
và dạy nghề"
Qua phương châm này có thể nhận thức rõ ràng:
- Nội dung, nhiệm vụ của GD-ĐT
- Trình tự và tầm quan trọng của mỗi nhiệm vụ
- Nhiệm vụ và vai trò của người thầy
1.3.2.2 Vai trò của người giáo viên nói chung:
a Giáo viên là người góp phần tích cực, trực tiếp vào vliệ hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh sinh viên
"Dạy người" hay "học lễ" là nhiệm vụ đầu tiên quan trọng nhất, có tính tiên quyết của
GD-ĐT Việt Nam đối với học sinh sinh viên (HS- SV) - những chủ nhân tương lai của đất nước Dù HS-SV có học gỉỏi, có kiến thức chuyên môn KH-KT cao, sâu sắc mà nhân cách, đạo đức kém, động cơ học tập và lao động mơ hồ, không đúng đắn, thì khó trở thành những con người hữu ích cho xã hội Điều này phù hợp với một nét đẹp mang tính truyền thống của nhân dân ta: coi trọng đạo đức, nhân cách con người: “cái nết đánh chết cái đẹp" Đảng và Nhà nước ta cũng đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức phải "vừa hồng vừa chuyên"
Thứ nhất, nhân cách, đạo đức của HS-SV hình thành và phát triển như thế nào, tốt hay xấu, chịu sự chi phối, tác động của nhiều nhân tố, nhiều lực lượng, nhiều tổ chức xã hội: gia đình,
Trang 24làng xóm, đoàn thể, bạn bè, môi trường sống, và nhà trường Từ khi sinh ra cho đến khi con người đi vào thế giới vĩnh hằng, con người chịu sự tác động chi phối của giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội Mỗi loại giáo dục này chủ yếu chi phối, tác động đến một phần của cuộc đời con người: giáo dục gia đình chi phối giai đoạn con người thơ ấu và đi học; giáo dục nhà trường gắn với giai đoạn con người đi học; giáo dục xã hội gắn vớỉ con người trường thành Vai trò của ba loại giáo dục này có vai trò khác nhau trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của người học Nếu như giáo dục gia đình đóng vai trò to lớn đối với người học ở giai đoạn tiền học đường (từ 1 đến 5 tuổi) và giai đoạn đầu của học đường (giai đoạn tiểu học và THCS), còn giáo dục xã hội chủ yếu củng cố hoàn thiện nhân cách đã hình thành và phát triển nhân cách ấy trong môi trường xã hội (lao động sản xuất), thì giáo dục học đường tác động suốt cả thời gian người học vừa bước vào tuổi mầm non, mẫu giáo đến hết THPT (>12 năm) và suốt thời gian học tập sau phổ thông (giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục cao đẳng và đại học) kéo dài 4-6 năm, Với một khoảng thời gian dài như vậy, nhân cách của người học mới dần dần hình thành, hoàn thiện và phát triển để chuẩn bị bước vào cuộc sống trở thành công dân hữu ích cho
xã hội
Trong suốt thời gian ấy, tri thức và nhân cách của người học gắn chặt VỚI nhà trường với bạn bè và đặc biệt với thầy cô giáo Người thầy không chỉ là người trang bị kiến thửc khoa học (tự nhiên và xã hội) mà còn là người xây dựng nẻn móng cho nhân cách của HS-SV vả nuôi dưỡng ước mơ hoài bão, lý tưởng cho người học, hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức, đạo lý làm người, đạo lý xã hội cho người học Nếu như người thẩy với tất cả lương tâm nghề nghiệp của mình, với tư cách là một "kỹ sư tâm hồn" xây dựng được, hình thành được và hoàn thiện được những nhân cách cao dẹp, trong sáng ở người học thì có nghĩa lả người thầy đã ươm được mật ngọt cho đời, đã "trổng" được nhửng con người hữu ích cho xã hội tương lai
Có nhiều cách thức, nhiều con dường khác nhau dể người thầy hình thành, hoàn thiện và phát triển nhân cách của người học Trước hết là thông qua việc "tự làm gương", "tự nêu gương" của chinh người thầy Nếu như người thầy tự ý thức được rằng bản thân nhân cách, đạo đức của người thầy có tác dụng rất to lởn làm gương cho người học, thì người thầy cũng phải thường xuyên rèn luyện, giữ gìn dạo dức, nhân cách của người thầy Nhân dân ta có câu "cha nào con nấy" Vận dụng tinh thần của câu ấy vào trong giáo dục, có thể nói "thầy nào trò nấy" Người thầy có nhân cách có đạo đức trọng nghề nghiệp, không coi nghề dạy là nghề kiếm cơm nuôi
Trang 25thân, mà là sự nghiệp cao cả sự nghiệp "trồng người" thì người thầy trở thành tấm gương sáng cho học sinh - sinh viên noi theo Người thầy sẽ được học sinh kính trọng, nghề dạy sẽ trở nên cao qúi Lịch sử giáo dục Việt Nam đã ghi nhận biết bao nhiêu người thầy mẫu mực: Chu Văn
An, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Tất Thành GS-NGND Nguyễn Lân, GS-NGND Lê Trí Viễn Thứ hai, người thầy giáo dục nhân cách đạo đức cho người học bằng chính trình độ chuyên môn của mình Nhiệm vụ chính trị của người thầy là truyền thụ, trang bị kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cho người học Dù người thầy có nhân cách, đạo đức mà không đủ trình
độ, không có khả năng truyền thụ tri thức cho người học thì không những người thầy không làm tròn nhiệm vụ (giáo dục) của mình, đồng thời làm giảm niềm tin và sự kính trọng của người học Như vậy hai mặt nhân cách, đạo đức và trình độ, năng lực chuyên môn ở người thầy phải gắn bó chặt chẽ với nhau đưa đến sự hoàn hảo của một người thầy, trong đó mặt nhân cách đạo đức được đưa lên hàng đầu và mặt trình độ, năng lực chuyên môn là quan trọng
Thứ ba, gắn chặt với điều vừa nêu, người thầy bằng năng lực của mình làm sao cho người học biết cách chuyển tất cả những kiến thức đã được truyền thụ thành tri thức của mình, biết vận dụng một cách sáng tạo và đưa những gì được truyền thụ vào cuộc sống, vào lao động và sản xuất, thành những thành quả kinh tế - xã hội Nói khác đi, chung hơn, người thầy phải làm sao cho người học tiếp nhận một cách đầy đủ, sâu sắc tri thức khoa học, công nghệ trên cơ sở một quan niệm, động cơ, nhân sinh quan đúng đắn từ đó sáng tạo nên những sản phẩm, của cải, phục vụ cho xã hội Đấy chính là ba nội dung của nền giáo dục XHCN mà Đảng ta đề ra: dạy người, dạy chữ và dạy nghề
b Giáo viên là ngươi trực tiếp trang bị tri thức KHKT cho HS, SV, từ đó góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
Mỗi loại lao động xã hội đều tạo ra những sản phẩm với những công dụng khác nhau Lao động của người nông dân tạo ra lúa gạo Lao động của người công nhân tạo ra vải vóc, máy móc Lao động của nhà văn, nhà thơ tạo ra các tác phẩm văn học Lao động của người thầy tạo ra những con người mới - chủ nhân tương lai của đất nước
Nếu như lao dộng của người nông dân và công nhân nhằm nuôi sống con người (giải quyết mặt vật chất), lao động của nhà văn nhà thơ nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của xã hội, thì lao động của người thầy tạo ra sản phẩm là con người với một trình độ KHKT cao
Trang 26Lao dộng của người thầy là loại lao động đặc biệt đặc thù Lao động của người thầy tuy không đưa lại vật chất, tinh thần cụ thể, nhưng lại vô cùng quan trọng, chi phối kết quả của mọi loại lao động và sản phẩm do lao động tạo ra Điều này do chính vai trò của con người trong xã hội Như đã nêu ở trên con ngươi là chủ thể của xã hội Với tư cách này, mọi của cải vật chất và tinh thần đều do con ngươi tạo ra Chất lượng hiệu quả của mọi lao động tạo ra của cải vật chất hay tinh thần đều phụ thuộc vào chất lượng của con người - chủ nhân tạo ra chúng Chất lượng con người suy cho cùng lại do quá trình GD- ĐT mà có Vì thế, bất kỳ ngươi nông dân, công nhân hay nhà văn, nhà thơ nào nếu thông qua quá trình GD-ĐT, được trang bị một trình độ KH-
KT, công nghệ hiện đại thì số lượng, chất lượng, năng suất, sản phẩm làm ra sẽ cao hơn Như vậy chính GD-ĐT và người thầy đã đào tạo ra một nguồn nhân lực có chất lượng cao, để rồi nguồn nhân lực ấy trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho xã hội, cho con người
để phát triển KT-XH của một đất nước, một địa phương
Nói đến nhà trường là nói đến hai lực lượng: người học (học sinh, sinh viên, học viên) và người dạy (giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, những người phục vụ cho việc dạy và học) Nếu như lực lượng thứ nhất, người học là trung tâm của nhà trường, thì lực lượng thứ hai, người dạy là lực lượng quyết định nội dung, chất lượng của người học trong quá trình học tập cũng như khi người học kết thúc việc học để vào đời hay tiếp tục học lên Vai trò to lớn và cao
cả của người thầy là ở đấy
Thông qua đội ngũ giáo viên, GD-ĐT thực hiện chức năng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Cả ba chức năng có quan hệ chặt chẽ với nhau và đều có vai trò quan trọng Song thực tế cho thấy, chức năng đào tạo nhân lực là chức năng quan trọng nhất bởi: Nguồn nhân lực nói chung, lực lượng lao động nói riêng là lực lượng trực tiếp tham gia vào lao động sản xuất, tạo ra của cải vật chất và tinh thần, từ đây phát triển KT-XH Nếu nguồn nhân lực chỉ dừng lại ở trình độ nâng cao dân trí, mặt bằng văn hoá tri thức của người lao dộng thấp
mà không được đào tạo một đầy đủ, không có trình độ cao và hiện đại, không có một trình độ nghề nghiệp vững vàng, thành thạo thì khó lòng đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao về KH- KT, công nghệ của các lĩnh vực KT-XH
Bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp thiết của ngành GD-ĐT Song nhiệm vụ ấy không thể triển khai đại trà như chức năng đào tạo nhân lực
Trang 27Một điều chắc chắn, GD-ĐT chỉ thực hiện được ba chức năng trên đây, đặc biệt là chức năng thứ hai, thông qua đội ngũ giáo viên Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã chỉ
rõ điều này: “Mục tiêu của GD-ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dường nhân tài, hình thành một đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành tự chủ, năng động, có đạo đức cách mạng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế
hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và có khả năng tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần" [TL.9, Tr.79]
Mặt khác, cũng cần nói thêm, đội ngũ giáo viên còn là những nhà khoa học Mỗi nhà khoa học chuyên về một lĩnh vực nào, đều hướng đến phát hiện và sáng tạo ra một sản phẩm của lĩnh vực ấy Người thầy với tư cách là "kỹ sư tâm hồn" phải luôn luôn kiên trì, khó nhọc để tạo ra một loại sản phẩm - tác phẩm đặc biệt "Con Người" Sản phẩm này càng hoàn hảo với một kiến thức khoa học cao, tiên tiến, hiện đại và với những đặc trưng văn hóa, đạo đức mang bản sắc dân tộc thì đất nước, dân tộc sẽ có những chủ nhân tương lai có chất lượng cao phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Người thầy với tư cách nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục trở thành cầu nối thiết yếu giữa khoa học với cuộc sống, đưa những kiến thức khoa học mà nhân loại tích luỹ, sáng tạo được vào giải quyết những vấn đề của cuộc sống thông qua lực lượng học sinh, học viên, sinh viên Về phương diện này mà nói không có bất kỹ ai có thể đưa tri thức khoa học vào cuộc sống một cách nhanh chóng, sâu rộng như là đội ngũ giáo viên
1.3.2.3 Vấn đề xây dựng đội ngũ GV đối với các trường ngoài công lập:
a Theo xu hướng phát triển của giáo dục hiện đại, đồng thời thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục - một chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước ta - một loạt các trường ngoài công lập (bán công, dân lập, tư thục) lần lượt ra đời
Thực tiễn cho thấy, vai trò của các trường ngoài công lập đối với việc phát triển GD-ĐT nói riêng, đối với việc phát triển KHKT & CN, nguồn nhân lực và các lĩnh vực KH-XH là không nhỏ
Đối vớỉ GD-ĐT: Sự ra đời của các trường ngoài công lập đã góp phần giải quyết nhu cầu học tập, nâng cao kiến thức KHKT & CN ngày càng lớn của ngươi dân, đã giảm thiểu một phần
sự quá tải lượng học sinh, sinh viên, học viên của các trường công lập Từ đó làm cho hệ thống giáo dục quốc doanh của nước ta phong phú, đa dạng hơn các loại hình giáo dục, đào tạo, đồng thời phát huy được vai trò, trách nhiệm của người dân đối với việc phát triển sự nghiệp giáo dục
Trang 28Đối với KT-XH: Các trường ngoài công lập đã trực tiếp tham gia đào tạo một đội ngũ lao động có trình độ, có kỹ thuật đáp ứng nhu cầu về KHKT & CN, nhu cầu về nguồn nhân lực của các lĩnh vực KT- XH Theo số liệu gần đây nhất từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong 5 năm qua (1998 - 2003), các trường ngoài công lập thuộc bậc giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học
đã thu hút được gẩn 40% số học viên, sinh viên1
b Thế nhưng, trong quá trình tiến hành GD-ĐT, hầu như các trường ngoài công lập ở các bậc, các cấp giáo dục đều đang đứng trước nhiều khó khăn, trong đó khó nhất là vấn đề xây dựng đội ngũ GV
Thực ra, vấn đề GV là một trong những vấn đề bức xúc của GD- ĐT nước ta hiện nay Tuy nhiên, do đặc điểm của mình, vấn đề xây dựng đội ngũ GV đối với các trường ngoài công lập còn bức xúc, cấp thiết hơn nhiều, so với các trường công lập
Trước hết, các trường ngoài công lập ra đời muộn, chưa có bề dày hoạt động, nguồn tài chính cơ sở vật chất hạn hẹp, nên khó lòng có được một đội ngũ GV đông đảo, có kinh nghiệm
và có trình độ cao như các trường công lập
Thứ đến, trong cán bộ, nhân dân và cả ở những người làm công tác giáo dục vẫn tồn tại phổ biến một khía cạnh tâm lý: “nhất bên trọng, nhất bên khinh" khi đối xử với các trường ngoài công lập trong quan hệ với các trường công lập HSSV tốt nghiệp từ các trường ngoài công lập chỉ là HSSV loại hai Theo đó, những sv giỏi, xuất sắc của các trường công lập và cả ngoài công lập nếu không được giảng dạy hay công tác ở các trường đại học, cao đẳng công lập thì sẽ chọn con đường đi làm ở các công ty, xí nghiệp, rất ít khi muốn về giảng dạy hay công tác ở các trường ngoài công lập
Thứ nữa, do sự không ổn định và những khó khăn do tính chất của loại hình trường ngoài công lập (nhất là khả năng tạo điều kiện cho GV vươn lên về chuyên môn), nên không mấy ai mặn mà về gỉang dạy và công tác tại các trường này
Tất nhiên, ngoài những nguyên nhân trên đây, còn có một số nguyên nhân khác
Vì thế, không phải ngẫu nhiên, một trong những khâu đầu tiên và là quan trọng nhất mà Hội đồng quản trị và Ban Giám hiệu các trường ngoài công lập quan tâm và lo lắng là vấn đề xây dựng đội ngũ GV Trường Đại học dân lập công nghệ Tôn Đức Thắng trước đây (nay là trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng) cũng không nằm ngoài thực trạng chung trên đây
Trang 29
1.4 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN:
Khi đưa ra những quan điểm chỉ đạo phát triển sự nghiệp GD- ĐT, Đảng ta đã dành một phần đề cập đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên vả cán bộ quản lý giáo dục Quan điểm của Đảng ta đối với đội ngũ giáo viên gồm
1.4.1 Một là: Đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định đối với việc phát triển sư nghiệp ĐT:
GD-Đi đôi với sự nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của GD-ĐT đối với công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, Đảng ta luôn luôn đề cao vai trò của đội ngũ giáo viên, coi giáo viên là những kỹ sư tâm hồn, là những người trực tiếp góp phần vào sự nghiệp “trồng người”, vào việc đào tạo một thế hệ người Việt Nam mới thiết tha gắn
bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH (xem 1.3 và 1.4.1) Trong bải phát biểu tại Bộ Giáo dục và Đào tạo (ngày 26/4/2002), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã khẳng định: “Nói đến chất lượng giáo dục trước hết phải nói đến vai trò rất quan trọng, rất quyết định của các thầy giáo, cô giáo”1
1.4.2 Hai là: Để đội ngũ giáo viên làm tròn sứ mệnh thiêng liêng và cao cả của mình Đảng
và Nhà nước phái ‘‘xây dựng và triển khai chương trình xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quán lý giáo dục một cách toàn diện" [TL.14]
Trước mắt thực hiện chỉ thị số 18/2001/CT-TTg ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về đảm bảo biên chế đội ngũ giáo viên cho các địa phương Các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương, phải quan tâm chỉ đạo thường xuyên công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán
bộ QLGD về mọi mặt, coi đây là một phần của công tác cán bộ, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và lối sống của nhà giáo
Xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ QLGD, đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu cân đối, đẩy mạnh công tác chuẩn hoá đội ngũ giáo viên Các trường cao đẳng và đại học chủ động xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ GV, sớm giải quyết tình trạng hụt hẫng GV đầu ngành Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28/12/2001, có hẳn một phần đề cập đến các gỉảỉ pháp phát triển đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ nhà giáo cho mỗi bậc đào tạo nói riêng
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo - Ngành Giáo dục - Đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) và Nghị quyết
Trang 301.4.3 Ba là: Bổ sung, hoàn thiện các chính sách đối với đội ngũ giáo viên và cán bộ QLGD
Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi đối với đội ngũ này [TL 14], trong một bài phát biểu gần đây, Thủ tướng Phan Văn Khải đã chỉ thị: “Có thể nói rằng nhà giáo là người quyết định sự thành bại của giáo dục Vì vậy chúng ta phải chăm lo đào tạo thầy giáo, cô giáo ( ] Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ và chính quyền các địa phương cần triển khai thực hiện tốt chỉ thị số 18 ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chinh phủ”, [xem tài liệu ở chú thích 1 trang 32]
1.4.4 Bốn là: có chính sách thu hút cán bộ khoa hoc có trình độ cao của các viện nghiên cứu trong nước và các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, các nhà khoa hoc quốc tế tham gia giảng dạy ở các trường Cao đẳng, Đại học [TL 14]
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN
CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG
2.1 TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG (ĐHBC) TÔN ĐỨC THẮNG:
2.1.1 Quá trình thành lập trường ĐHBC Tôn Đức Thắng:
Tiền thân của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng hiện nay là trường Đại học Công nghệ dân lập Tôn Đức Thắng Sau gần sáu năm ra đời và hoạt động, trường ĐHBC Tôn Đức Thắng đã trãi qua hai giai đoạn:
2.1.1.1 Giai đoạn mang tên trường đại học dân lập (1997- 2002):
Căn cứ vào đề nghị của Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh, ngày 24/9/1997 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 787/9Đ - TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập trường Đại học Công nghệ dân lập Tôn Đức Thắng
Như mọi trường Cao đẳng và Đại học dân lập khác, trường Đại học Công nghệ dân lập (ĐHCNDL) Tôn Đức Thắng hoạt động theo cơ chế của một trường dân lập với tổ chức hai cấp: Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban Giám hiệu (BGH); trong đó HĐQT quản lý mọi hoạt dộng của trường và BGH chịu sự chỉ đạo của HĐQT và điều hành các hoạt động đào tạo
Nhưng trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng có nhiều điểm khác các trường CĐ, ĐH dân lập khác Trước hết, trường không do các cá nhân hợp tác, góp vốn để thành lập, mà là do Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh (LĐLĐ TP HCM) - một đoàn thể xã hội thành lập
Các thành viên của HĐQT đều là cán bộ của LĐLĐ TP HCM, thuộc biên chế của LĐLĐ
TP HCM, được biệt phái sang quản lý trường có thời hạn với sự đồng ý của Ban Tổ chức cán
bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ)
Mục đích và nhiệm vụ của trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng cũng khác: triển khai chương trình 17 của Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chi Minh về xây dựng giai cấp công nhân phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH bên cạnh nhiệm vụ đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài các cấp cho
TP Hồ Chi Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam
Mặt khác, tuy là một trường dân lập, nhưng công tác quản lý và hạch toán tài chính theo chế độ một trường công lập, các cán bộ chủ chốt thuộc biên chế của một tổ chức đoàn thể xã hội, chứ không thuộc hệ thống GD-ĐT
Trang 32Với một đội ngũ cán bộ, GV cơ hữu tương đối ít ỏi, chỉ có 80 người, trong đó có 13 GV, khối quản lý: 47 lãnh đạo khoa, bộ môn; 20 (Báo cáo hoạt động của trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng - ngày 06/11 /2000) nhưng nhờ có sự hổ trợ và quan tâm của Thành ủy, UBND và LĐLĐ
TP HCM, sự hợp tác nhiệt tình của nhiều GV ở các trường CĐ và ĐH trong thành phố, trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng đã đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng tay nghề cho nhiều người, trong
đó số công nhân chiếm tỉ lệ cao (xem 2.1.3)
Tuy có đạt được một số kết quả nhất định, nhưng với nhiều khó khăn đang đặt ra, đặc biệt
là cơ chế hoạt động của một trường đại học dân lập, nên trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng rất khó thực hiện tốt những nhiệm vụ mà Thành ủy, UBND và LĐLĐ TP HCM giao cho Vì thế, sau khi có sự nhất trí cao của GV, CBCNV nhà trường, HĐQT đã đề nghị chuyển đổi loại hình
và tên gọi của trường
2.1.1.2 Giai đoạn mang tên trường ĐHBC (từ 01/2003 đến nay):
Theo đề nghị của HĐQT trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng, ngày 28/01/2003 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 18/2003/QĐ-TTg cho phép trường chuyển sang loại hình trường ĐHBC và mang tên gọi là trường ĐHBC Tôn Đức Thắng Với cơ chế hoạt động này, trường ĐHBC Tôn Đức Thắng có điều kiện vừa thực hiện tốt nhiệm vụ của Thành ủy, UBND, LĐLĐ
TP HCM giao cho vừa có điều kiện phát huy vai trò của trường
2.1.2 Tổ chức bộ máy và nhân sự của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng:
2.1.2.1 Tổ chức bộ máy:
Trường ĐHBC Tôn Đức Thắng được tổ chức như sau;
a Hội đồng quản trị và Ban Giám hiệu:
- Hội đồng quản trị: gồm có Chủ tịch HĐQT và bốn thành viên
- Ban Giám hiệu: gồm có Hiệu trưởng và ba Phó hiệu trưởng:
- Một Phó hiệu trưởng phụ trách Đào tạo kiêm trường phòng Đào tạo
Một Phó hiệu trường phụ trách Nghiên cứu - Phát triển & Hợp tác
- Một Phó hiệu trưởng phụ trách Tổ chức hành chính, Công tác Chính trị sinh viên, Bí thư chi bộ
b Khối phòng ban chức năng (quản lý hành chính) gồm 5 phòng: Đào tạo, Tổ chức - Hành chính, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề (THCN & DN) và 5 ban: Ban Thanh tra đào tạo,
Trang 33Điện toán và dữ liệu, ban quản lý khoa học và hợp tác, bộ phận hướng nghiệp và việc làm sinh viên, thư viện
c Khối chuyên môn đào tạo gồm 8 khoa: Khoa học ứng dụng, Điện - Điện tử, Kỹ thuật công trình, Bảo hộ và môi trường, Công nghệ thông tin và toán ứng dụng, Kinh tế, Khoa học xã hội và nhân văn (KHXH & NV), Ngoại ngữ; và 1 bộ môn: Giáo dục thể chất
d Một số trung tâm: trung tâm nghiên cứu ứng dụng, trung tâm quản lý đào tạo và đào tạo lại kỹ năng tay nghề cho công nhân, trung tâm phát triển nguồn nhân lực, trung tâm nghiên cứu ứng dụng mỹ thuật công nghiệp, trung tâm Anh ngữ Michigan, trung tâm tin học và bồi dưỡng văn hoá, trung tâm nghiên cứu và đào tạo kinh tế ứng dụng, trung tâm bồi dưỡng văn hoá và luyện thi
Mối quan hệ giữa các đơn vị trong bộ máy của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng có thể thấy qua bảng sau:
Trang 35Số GV khối khoa, bộ môn có 102 người với 34 nữ, trong đó GV BCH là 18 người với 3 nữ
b Về độ tuổi: trong số 143 CB, GV, CNV cơ hữu được phân bố như sau:
- <35 tuổi: 95 người, chiếm 66,43%
- 35 -50 tuổi: 27 người, chiếm 18,88%
- 51-60 tuổi: 10 người, chiếm 6,99 %
- >60 tuổi: 11 người, chiếm 7,70 %
c Về trình độ học vấn: trong số 143 CB, GV, CNV cơ hữu được phân bố như sau:
- Trung học phổ thông : 18 người, chiếm 12,58 %
- Trung cấp kỹ thuật viên : 05 người, chiếm 3,49 %
- Cao đẳng : 02 người, chiếm 1,42 %
- Đại học : 83 ngươi, chiếm 58,04 %
- Thạc sĩ : 23 ngươi, chiếm 16,08 %
- Tiến sĩ : : 11 người, chiếm 8,39 %
- Tiến sĩ khoa học : 01 người
d Từ những số liệu về nhân sự trên đây, chúng ta có thể nêu lên mấy nhận xét:
- Tỷ lệ giữa nữ và nam trong tổng số CB, GV, CNV của trường là vừa phải: 55 nữ (kể cả BGH), chiếm 34.15% (ở khối hành chính, phục vụ là 35,59%)
- Về độ tuổi: CB, GV, CNV khá trẻ; có 66,85% dưới 35 tuổi (95 người), trong số này có tới 51,75% từ 30 tuổi trở xuống (78 người); số người cỏ độ tuổi từ 51 tuổi trở lên chỉ có 13,77% (21 người), trong đó trên 60 tuổi chỉ có 7.7% (11 người) Tuy nhiên, trong số CB, GV, CNV cơ hữu từ 51 tuổi trở lên, thì phần lớn rơi vào cán bộ quản lý (BGH, trưởng phó phòng, trưởng phó khoa, trưởng phó giám đốc trung tâm): có 15/21 người
Trang 36- Về trình độ chuyên môn: số có trình độ thạc sĩ trở lên không cao: chiếm 24,47% (35 người) và tập trung khá nhiều ở bộ khung cán bộ quản lý; 9 người Ngược lại, tỷ lệ có trình độ dưới đại học không ít: 18,49% (25 người)
2.1.2.2 Cơ sở vật chất trang thiết bị
a Trường ĐHBC Tôn Đức Thắng hiện nay có ba cơ sở:
- Cơ sở chính (98 Ngô Tất Tố): diện tích sử dụng 11.000m2, trong đó 7.200m2 phòng học, 680m2 phòng thí nghiệm 1.100m2 thư viện và 600m2 hội trường
- Cơ sở 2 (55 Mạc Đĩnh Chi): là nơi học tập của Khoa Ngoại ngữ, một số khoa khác và các trung tâm
- Cơ sở 3 (37/3 Ngố Tất Tố): là nơi học tập của học sinh phòng THCN & DN
b Trường có hệ thống phòng thí nghiệm rất mạnh với 21 phòng (đã được đầu tư trên 9 tỉ đồng) Phòng THCN & DN có 11 xưởng thực hành (được đầu tư 1,1 tỉ đồng trong giai đoạn 1)
- Trường có một thư viện khá hiện đại, rộng rãi với 3 phòng đọc, 1 phòng giảng dạy internet,
1 phòng tra cứu internet, 2 phòng đọc và tra cứu dành cho GV, cán bộ, 1 kho sách với 9.000 đầu sách Trường đã khởi xướng cùng 10 trường CĐ, ĐH khác thành lập Hiệp hội thư viện các trường
CĐ, ĐH ngoài công lập (UNUL) và trưởng thư viện của trường là chủ tịch của hiệp hội nhiệm
kỳ đầu tiên
- Trường đã kết nối internet 24/24 giờ cho cán bộ, giảng viên và sinh viên làm việc trên môi trường internet Mạng nội bộ LAN được kết với internet toàn cầu cho phép các máy tính của trường liên thông với mạng toàn cầu Việc nối mạng internet vừa tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên, cán bộ, sinh viên của trường tiếp thu nhiều thông tin về khoa học kỹ thuật, công nghệ
và của thế giới về ĐHCNDL Tôn Đức Thắng, tăng cường hoạt động và hiệu quả nghiên cứu, giảng dạy, học tập, vừa là điều kiện mở rộng quan hệ với hệ thống CĐ, ĐH trong và ngoài nước
2.1.3 Hoạt động của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng:
2.1.3.1 Cơ sở để xem xét, đánh giá hoạt động của trường:
Để có được những đánh giá một cách khách quan kết quả của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng trong thời gian qua, theo chúng tôi cần xuất phát từ những cơ sở sau đây:
Một là: Những nhiệm vụ mà Thành ủy, UBND và LĐLĐ TP HCM giao cho trường và là
cơ sở để trường ra đời và đi vào hoạt động (từ khi trường có tên gọi là trường ĐHCNDL Tôn
Trang 37Đức Thắng đến khi trường chuyển thành trường ĐHBC như hiện nay), cơ sở này chúng tôi đã trình bày ở 2.1.2
Hai là: Xuất phát điểm ban đầu của trường (bao gồm cả những thuận lợi, khó khăn lẫn đội ngũ CB, GV, CNV, cơ sở vật chất của trường)
a Thuận lợi: Trường ĐHBC Tôn Đức Thắng ra đời và hoạt động có một số thuận lợi: Nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Thành ủy, UBND và LĐLĐ TP HCM Đây là một thuận lợi quan trọng không phải trường CĐ, ĐH nào cũng có
- Nhận dược sự đồng tình, hưởng ứng và quan tâm của xã hội, nhất là các nhà máy, các công ty, các đơn vị hoạt động và sản xuất thuộc lĩnh vực công nghiệp Thuận lợi này xuất phát
từ cả hai phía: về phía các nhà máy, công ty thuộc các lĩnh vực công nghiệp sớm nhận ra trường ĐHBC Tôn Đức Thắng là một địa chỉ đáng tin cậy giúp cho các công ty và các đơn vị này đào tạo và nâng cao tay nghề cho đội ngũ công nhân của mình, đồng thời giúp họ giải quyết được nhiều vấn đề về KHKT & CN, mà lâu nay họ chưa thể giải quyết được Vì thế, các đơn vị này sẵn sàng đặt hàng cho trường, đồng thời hợp tác với trường khi giải quyết những vấn đề KHKT
& CN Về phía trường ĐHBC Tôn Đức Thắng HĐQT và BGH cũng đã nhận thức sâu sắc: trường muốn tồn tại, không có con đường nào khác là phải gắn hoạt động đào tạo của trường với hoạt động của các nhà máy, công ty, xí nghiệp
b Khó khăn:
Khó khăn đầu tiên là mâu thuẫn giữa cơ chế quản lý (cơ chế quản lý của một trường ĐHDL) với phương thức hoạt động và hạch toán tài chính theo chế độ của một trường công lập Vì thế trường rất khó khăn về tài chính phục vụ cho việc xây dựng trường sở và mua sắm trang thiết bị Ngoài một phần tài chính thu được từ nguồn học phí của sinh viên, học viên (và phần này lại eo hẹp), trương phải nhờ vào sự hỗ trợ tài chính của thành phố Mà vấn đề này quả là không dễ dàng, không dồi đào chút nào
- Thuở ban đầu, trường ĐHCNDL Tôn Đức Thắng gặp nhiều trắc trở trong địa điểm học
vá làm việc của BGH, của các phòng, ban, khoa, phải di chuyển địa điểm liên tục Rồi nữa, việc mời giảng viên thỉnh giảng không dễ dàng vì thù lao cho giảng viên không hậu hĩ như các trường
CĐ, ĐHDL khác Trường cũng không có điều kiện tổ chức một số hoạt động bề nổi nhằm thu hút học sinh đến với trường
Trang 38- Trường ra đời khá muộn so với nhiều trường ĐHDL khác Khả năng tạo đầu vào (tuyển sinh) không dễ dàng Vì thế, trong thời gian đầu điểm tuyển sinh của trường không cao, còn có thể nói là thấp Chính điều này làm cho không ít học sinh phổ thông chưa thực sự mặn mà với trường Tôn Đức Thắng
2.1.3.2 Hoạt động của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng:
a Một số hoạt động về đào tạo và bồi dưỡng:
Từ chổ chỉ có 8 ngành đào tạo bậc đại học vào năm học đầu tiên (1997-1998), đến nay trường đã có 18 ngành đào tạo chính quy và 7 ngành đào tạo hệ không chính quy (hệ tại chức) Trong đó, ngành bảo hộ lao động là ngành duy nhất chỉ có trường ĐHBC Tôn Đức Thắng đào tạo trong các tỉnh phía nam Hiện nay ngành này đã đào tạo hệ chính quy và tại chức
Từ khi thành lập đến nay, trường đã tuyển sinh được 6 khoá Đã có 2 khoá hệ đại học 4 - 5 năm vả 1 khóa hệ cao đẳng 3 năm tốt nghiệp với tổng số 948 sinh viên Có 70% sinh viên tốt nghiệp có việc làm Hiện nay tại trường, bậc đại học có 5.640 sinh viên Ngoài ra, trường còn có
497 học sinh bậc THCN (thuộc 4 ngành)
Song song với đào tạo chính khoá, trường đã tiến hành đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ, tay nghề ngắn hạn cho công nhân của hơn 50 doanh nghiệp với 80 lớp và 4.494 học viên công nhân
So với các trường CĐ, ĐH công lập và một số trường CĐ, ĐHDL và CĐ, ĐHBC khác, thì những số liệu trên đây còn khiêm tốn Song nếu đối chiếu với những khó khăn, thuận lợi và nhiệm vụ của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng như đã nêu (xin xem 2.1.3.), thì những số liệu trên đây quả là to lớn và đáng được ghi nhận Và thực tế xã hội đã ghi nhận những thành tựu đào tạo này của trường (Xin xem các bài viết đăng trên báo Nhân dân ra ngày 30/3/2002, báo Người Lao động ra ngày 18/3/2002, báo Sài Gòn giải phóng ra ngày 11/4/2002 - những bài viết này được trích in trong tập kỷ yếu (1997-2002) của trường ĐHBC Tôn Dức Thắng, TL.37]
Không chỉ tăng về số lượng ngành đào tạo, số lượng học viên, sinh viên mà chất lượng đào tạo của trường ĐHBC Tôn Đức Thắng cũng tăng dần qua các khoá, các năm Bảng dưới dãy thể hiện một phần điều này:
Trang 39Bảng 1 Số lượng sinh viên qua các khoá
Bảng 2 Kết quả phân loại sinh viên
Trang 40- Đã ký thoả thuận đào tạo đại học hình thức 2+2 với Học viện Công nghệ Rajamangala, Thái Lan
- Trường Đại học Saxion, Hà Lan hợp tác tổ chức đào tạo thạc sĩ (Master) hai chuyên ngành: quản trị kinh doanh (QTKD) và khoa học môi trường theo hình thức 01 học kỳ ở Việt Nam và
02 học kỳ ở Hà Lan Hai trường cũng thoả thuận hợp tác đào tạo đại học theo hình thức 2+2 hoặc 3+1 cho các chuyên ngành: QTKD quốc tế, công nghệ sinh học và thực phẩm, kỹ nghệ điện, công nghệ hoá học và môi trường Hợp tác đào tạo này sẽ góp phần chuyển giao công nghệ một cách mạnh mẽ từ Hà Lan sang Việt Nam đối với các lĩnh vực mà Hà Lan có thế mạnh như: cung cấp điện, công nghệ sinh học, quản trị môi trường
- Hợp tác với Viện Ngôn ngữ học Michigan đào tạo Anh ngữ để thi chứng chỉ Competency
và Proficiency
- Trường cũng mở rộng hợp tác nghiên cứu, đào tạo với một số trường đại học của Canada,
Úc, tổ chức Asia Foundation hiện có quan hệ tốt với Trường ĐHBC Tôn Đức TThắng, đã tặng cho trường 3 đợt sách với tổng giá trị hơn 30.000 USD và đang có kế hoạch hổ trợ xây dựng thư viện online
Việc xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo đã được trường tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc, tuân thủ đúng phương hướng, mục tiêu của trường, làm cơ sở cho việc giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên Việc biên soạn bài giảng tóm tắt cho sinh viên có tài liệu học tập hiện nay đã được tiến hành tốt Đã in hơn 100 bản bài giảng tóm tắt với số lượng trên 30.000 bản
b Mốt số hoạt động nghiên cứu khoa học:
Xuất phát từ những nhiệm vụ được giao, ngay từ những ngày đầu, trường đã xác định: đi sâu vào khoa học ứng dụng là hướng đi và là mục tiêu cơ bản của hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của trường Hướng đi này nhằm hai mục đích:
Một là: góp phần giải quyết những vấn đề về khoa học kỹ thuật và công nghệ từ hoạt động của các doanh nghiệp, nhà máy, công ty, cơ sở sản xuất, đặt ra Từ đó thắt chặt hơn mối quan
hệ giữa nhà trường với các đơn vị sản xuất, đưa trường đến gần với thực tiễn lao động sản xuất
và đưa doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, công nhân đến với trường
- Hai là: Tạo điều kiện cho CB, GV và sinh viên gần gũi hơn, sát hơn với thực triễn cuộc sống, qua thực tiễn soi rọi vào những vấn đề lý thuyết Chính đây là cơ sở để cho giảng viên