Các Trung tâm này có cơ sở vật chất như phòng hội họp, phòng học, thư viện… và các trang thiết bị như sách, báo, máy chiếu phim, dụng cụ thể dục thể thao, v.v…Các chương trình được thực
Trang 1
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 21.2.4 Nội dung và phương pháp học tập ở các TTHTCĐ 28
1.4.3 Những yêu cầu về nhân cách của người giáo viên 43
1.4.5 Chế độ cho người giáo viên trong các TTHTCĐ 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊNCỦA 47
Trang 32.1.2 Cơ cấu nền kinh tế 48
2.2 Thực trạng hoạt động của các TTHTCĐ huyện Tân Yên 51
64
2.3.5 Thực trạng kỹ năng giảng dạy của giáo viên 66 2.3.6 Thực trạng kỹ năng tổ chức từng chuyên đề 67 2.3.7 Đánh giá tổng quan về đội ngũ giáo viên 69 2.3.8 Đánh giá về phương pháp và thái độ của giáo viên 70 2.3.9 Đánh giá, tổng kết công tác quản lý giáo viên các TTHTCĐ 71 2.3.10 Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng giảng dạy 72
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TTHTCĐ 75 3.1 Một số nguyên tắc xây dựng đội ngũ giáo viên các TTHTCĐ 75 3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng 75 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính liên kết phối hợp 76 3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đa dạng về lĩnh vực chuyên môn 76 3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính linh hoạt và kiêm chức 77 3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính tại chỗ ngay tại địa phương 77 3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính kết hợp hài hoà các lợi ích 78
3.2 Các biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên 78 3.2.1 Biện pháp 1: Xác định nhu cầu và tuyển chọn đội ngũ 78 3.2.2 Biện pháp 2: Bố trí và sử dụng theo nguyên tắc liên kết phối hợp 81 3.2.3 Biện pháp 3: Đào tạo đội ngũ giáo viên cho các TTHTCĐ 83 3.2.4 Biện pháp 4: Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong các TTHTCĐ 85 3.2.5 Biện pháp 5: Xây dựng chế độ đãi ngộ cho cán bộ, giáo viên 87 3.2.6 Biện pháp 6: Giám sát và đánh giá hiệu quả của giáo viên 89
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, với những bước tiến nhảy vọt của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội; kinh tế tri thức ngày càng đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất Đó là những cơ hội và cũng là những thách thức lớn cho mọi quốc gia Trong bối cảnh đó, giáo dục được xem
là một trong những nhân tố quyết định tương lai của các dân tộc Điều đó đòi hỏi giáo dục phải phù hợp với thời đại Hầu hết các nước trên thế giới đã và đang tiến hành cải cách giáo dục, nhằm đáp ứng một cách năng động, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu phát triển đất nước
Hướng tới tương lai, nhìn chung nền giáo dục của các nước đều hướng tới những tư tưởng của giáo dục hiện đại như Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO đã kết luận: Giáo dục phải dựa trên bốn trụ cột “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với nhau và học để làm người” Bốn trụ cột này phải đặt trên nền tảng học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi
Trang 5toàn dân học tập, người người đi học, học ở trường, lớp và tự học suốt đời, người biết dạy người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít, mỗi người phải không ngừng tự nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức giáo dục và các loại hình trường lớp phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới với nhu cầu học tập của tuổi trẻ và toàn xã hội” [5 – Tr.11,12]
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX ( 4/2001 ) của Đảng CSVN đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển giáo dục & đào tạo (GD&ĐT) thực hiện “Giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập” [1-Tr.169] Tiếp đó các văn kiện của TƯ Đảng và Nhà nước đã từng bước cụ thể hoá nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập (XHHT) Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 1001-2010 chỉ rõ quan điểm: xây dựng XHHT, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học suốt đời Kết luận của hội nghị TƯ 6 (khoá I X) họp tháng 7/2002 chỉ rõ: phát triển GD không chính quy, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế đời sống kinh tế – xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập Hội nghị TƯ7(khoá I X) đã ra nghị quyết “về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, trong đó có nội dung “xây dựng phong trào” “ Cả nước trở thành một xã hội học tập” “Học tập suốt đời”, trước hết trong cán bộ, Đảng viên, và thế hệ trẻ” [4-Tr.10]
Trong Công văn số 198/CV-KHVN ngày 26/5/2005 của Hội Khuyến học Việt Nam về việc đẩy mạnh hoạt động khuyến học, thực hiện đề án xây dựng xã hội học tập của Chính phủ đã chỉ rõ: “Phát triển rộng khắp, bền vững, có hiệu quả TTHTCĐ, là công cụ thiết yếu để xây dựng xã hội học tập từ cơ sở Đối với các địa phương đã phủ kín 100% xã, phường, thị trấn được thành lập TTHTCĐ thì củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động của TTHTCĐ, chú ý
Trang 6việc huy động số lượng người đến học và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy”
Xây dựng XHHT là việc mới mẻ với nước ta; nhưng thế giới đã có những kinh nghiệm, ta cần nghiên cứu có chọn lọc các bài học ở một số nước, kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn GD nhất là các mô hình có tính chất XHHT đã xuất hiện mấy năm nay; cần nghiên cứu những vấn đề lý luận về XHHT, về quản lý nhà nước về GD theo XHHT- HSĐ trên cơ sở từng bước xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý theo cơ chế Nhà nước - xã hội phối hợp quản lý GD để triển khai rộng rãi các mô hình GD ngoài công lập, không chính quy và phi chính quy, GD cộng đồng phù hợp thực tế của ta Như vậy việc xây dựng XHHT trở thành vấn đề thời sự lớn của nước ta nói chung, của ngành GD nói riêng Nhà nước chủ trương xây dựng và mở rộng ngay các mô hình học tập cho các cộng đồng dân cư trước mắt là ở các thôn xã, đồng thời sẽ tập hợp lực lượng nghiên cứu lý luận về vấn đề XHHT ở nước ta Với tiếp cận XHHT và HSĐ thì GD nói chung, đào tạo giáo viên nói riêng sẽ phải có nhiều thay đổi lớn
về nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn để thực hiện nghị quyết IX “thực hiện GD cho mọi người”, “xây dựng cả nước thành một XHHT” Vấn đề đào tạo giáo viên và sử dụng giáo viên phải theo hướng xây dựng XHHT
Giáo dục thế kỷ XXI và XHHT đòi hỏi nâng cao vai trò xã hội và thay đổi hoạt động lao động của người giáo viên GD Thế kỷ mới đang thay đổi sâu sắc
và toàn diện so với thời gian cách đây vài thập kỷ, khiến nhiều nước trên thế giới phải tiến hành khi cải cách GD Cuộc cải cách GD có tính toàn cầu bước vào thế kỷ XXI đi theo các hướng lớn: tăng cường GD nhân văn; tính cộng đồng cao, có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và thông lưu; đào tạo những con người có năng lực thúc đẩy tiến bộ xã hội, biết làm kinh tế, biết quản lý và phát triển xã hội; hiện đại hoá phương pháp GD theo các hướng bồi dưỡng năng lực sáng tạo của người học, tăng cường sử dụng phương tiện hiện đại và cá thể hoá
Trang 7trò XH và tính chất lao động nghề nghiệp nhà giáo thay đổi lớn, nhằm GD thế
hệ đang lớn lên có thái độ đúng và đủ bản lĩnh vừa đối mặt với các thử thách, xây dựng tương lai với quyết tâm và trách nhiệm Nhà giáo còn đóng vai trò quyết định trong sự hình thành và phát triển thái độ đối với việc học, khơi dậy
sự ham hiểu biết, tinh thần nghiêm túc khoa họcvà tạo điều kiện sẵn sàng thực hiện GD liên tục suốt cuộc đời, đảm bảo quyền và trách nhiệm học tập cho mọi người Tính chất lao động sư phạm được xác định bởi diện mạo xã hội và những đặc thù lao động trí óc của nhà giáo Hiện nay xã hội công nhận và tôn vinh chức năng xã hội lớn của giáo giới vì GD đóng vai trò động lực của sự tăng trưởng sức sản xuất do thực hiện chức năng tạo nguồn nhân lực được coi là nguồn lực hàng đầu trong các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội.Trong nhà trường hiện đại nhà giáo không đóng vai trò hẹp là chỉ truyền thụ kiến thức như trước mà là người tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy các em biết phương pháp học và tổ chức tự học, học liên tục và học suốt đời Giáo viên còn phải là nhân vật tham gia vào công tác quản lý nhà trường, xã hội hoá GD, tham gia nhiều hoạt động xã hội đa dạng đòi hỏi văn hoá giao tiếp Giáo viên sẽ phải đảm nhiệm công việc tại các cơ sở GD công lập, GD ngoài công lập, tiến hành phương thức GD chính quy, không chính quy, phi chính quy tại các loại đơn vị
GD người lớn như các TTGDTX, TTHTCĐ, GD từ xa, GD mở và GD cá thể hoá
Thực hiện Chỉ thị số 02- CT/TƯ ngày 21/5/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh
uỷ Bắc Giang về tăng cường sự lãnh đạo thực hiện công tác xây dựng TTHTCĐ
xã, phường, thị trấn đến nay 24/24 xã, thị trấn của huyện Tân Yên đã thành lập TTHTCĐ Các TTHTCĐ đều đã hoạt động và đạt được hiệu quả Nhiều chuyên
đề về thời sự chính trị, chính sách pháp luật của Nhà nước đã được triển khai Nhiều chuyên đề chuyển giao khoa học kỹ thuật đã được tập huấn như: Kỹ thuật chăn nuôi lợn siêu nạc, ngan Pháp, gà công nghiệp, chim cút, chăn nuôi cá … kỹ thuật trồng dưa bao tử, dưa hấu, cây ăn quả … Nhiều chuyên đề chăm sóc sức khoẻ, đời sống nhân dân được thực hiện góp phần giúp người lao động biết cách
Trang 8xoá đói giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống Góp phần thúc đẩy việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở cộng đồng dân cư
Tuy nhiên, một số TTHTCĐ hoạt động chưa hiệu quả, nội dung, hình thức còn nghèo nàn, cơ sở vật chất yếu kém, kinh phí duy trì hoạt động thường xuyên còn hạn hẹp, cơ cấu tổ chức bộ máy chưa hợp lý, cơ chế vận hành còn nhiều lúng túng Đặc biệt là chưa có một đội ngũ giảng viên tương đối ổn định để đảm bảo cho các trung tâm hoạt động Hiện nay đội ngũ giáo viên chủ yếu là hợp đồng với giảng viên cơ hữu của các trường đại học như Đại học Nông nghiệp Hà Nội I, Đại học Nông lâm Thái Nguyên và Trường Cao đẳng Nông lâm Việt Yên Nguồn kinh phí do phòng khuyến nông, khuyến lâm huyện và tỉnh cung cấp; còn giáo viên dạy văn hoá chủ yếu là giáo viên của Phòng Giáo dục huyện và giáo viên thuộc TTGDTX&DN của huyện được mời thỉnh giảng, hàng năm trạm thú y và phòng nông nghiệp huyện Tân Yên phối hợp với TTGDTX&DN mở lớp thú y, lớp làm vườn, lớp chăn nuôi cá, nuôi tôm, lớp máy may công nghiệp ; để tạo nguồn cán bộ kỹ thuật tại cơ sở
Là một người làm công tác quản lý tại huyện Tân Yên, tôi không khỏi băn khoăn, trăn trở làm thế nào để góp phần thúc đẩy các Trung tâm học tập cộng đồng hoạt động thường xuyên và đạt hiệu quả cao Do đó, tôi chọn nghiên cứu
đề tài: “Một số biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên các trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang”; để giải quyết nhu cầu
nói trên
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Nhằm tìm ra biện pháp xây dựng và sử dụng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, vững về chuyên môn, đáp ứng tối đa các loại hình học tập của Trung tâm, để Trung tâm học tập cộng đồng hoạt động thường xuyên và đạt hiệu quả cao
Trang 93.2 Đối tượng nghiên cứu:
Xây dựng đội ngũ giáo viên các TTHTCĐ của các xã, thị trấn huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Đội ngũ giáo viên còn chưa ổn định, hiệu quả sử dụng còn thấp đã làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục trong các TTHTCĐ Vì thế, nếu tìm ra những biện pháp thích hợp để xây dựng và sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :
5.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đội ngũ giáo viên TTHTCĐ 5.2 Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của các TTHTCĐ ở huyện Tân Yên và đội ngũ giáo viên tại các TTHTCĐ
5.3 Đề xuất một số biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên cho các TTHTCĐ
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Bao gồm phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá,…các tài liệu lý luận, các công trình nghiên cứu có liên quan đến giáo viên các TTHTCĐ nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài 6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra: Điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến và phỏng vấn trực
tiếp học viên, giáo viên, cán bộ quản lý về những vấn đề liên quan đến đội ngũ giáo viên của TTHTCĐ
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trao đổi, toạ đàm với cán bộ quản lý,
giáo viên, học viên về vấn đề đội ngũ TTHTCĐ; tổ chức các buổi hội thảo về xây dựng đội ngũ giáo viên cho các TTHTCĐ, tham gia những hội nghị tổng kết kinh nghiệm về các TTHTCĐ
- Phương pháp quan sát: Quan sát thực tiễn công tác giảng dạy của các
giáo viên, sự tham gia học tập của các học viên, cách thức điều hành của Ban quản lý các TTHTCĐ
Trang 10- Phương pháp chuyên gia: Thông qua các mẫu phiếu và trao đổi trực tiếp
để xin ý kiến các chuyên gia về cách xử lý các kết quả điều tra, cách thức thực hiện các biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên đã đề xuất
6.3 Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý các tài liệu lượng hoá kết quả nghiên cứu đề tài
7 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Các TTHTCĐ của huyện Tân Yên
Cơ cấu, trình độ đào tạo, phương pháp giảng dạy của đội ngũ giáo viên trong các TTHTCĐ
8 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:
Về mặt lý luận: Luận văn hệ thống các tri thức lý luận về TTHTCĐ và công tác quản lý các TTHTCĐ, xác định được hệ thống một số biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên cho các TTHTCĐ
Về mặt thực tiễn: Luận văn này nêu lên thực trạng hoạt động của giáo viên
và thực trạng hoạt động của các TTHTCĐ, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó Luận văn trình bày kết quả điều tra khảo sát và thu thập ý kiến đánh giá về các biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên mà các TTHTCĐ đang
Trang 11Sau Thế chiến thứ II, Bộ Giáo dục Nhật Bản sáng tạo một mô hình cơ sở
giáo dục mới, gọi là Kô-min-kan (TTHTCĐ) Ngày 5 tháng 7 năm 1946, Bộ
Giáo dục đã có thông báo khuyến khích thành lập Kô-min-kan Thông báo xác định mục tiêu sự nghiệp giáo dục Nhật Bản lúc đó như sau: “Điều quan trọng nhất cho tương lai của Nhật Bản là toàn dân Nhật Bản cần tiếp thu những kiến thức nhiều ngành khác nhau, xây dựng một phong cách độc lập suy nghĩ và phong cách hợp tác với người khác một cách hoà bình” Để thực hiện mục tiêu
đó, Thông báo khẳng định tiếp: “Cần hình thành các Kô-min-kan tại mọi làng,
xã - như một ngôi nhà của công dân - nơi mà nhân dân trong làng, xã có thể đến bất cứ lúc nào; có thể là nơi đọc sách, trao đổi tranh luận; là nơi mà đôi lúc có thể tiếp nhận sự giúp đỡ của người khác về các vấn đề sinh sống của cá nhân hay các vấn đề liên quan đến công việc Mọi người có thể thiết lập mối quan hệ ngày càng mật thiết với nhau, tại đó, nơi mà cùng một lúc có nhiều chức năng như là một trường học công dân, một thư viện, một nhà bảo tàng, một hội trường, một nhà sinh hoạt cộng đồng của làng, xã Đây cũng là nơi sinh hoạt của nhiều tổ chức xã hội khác nhau như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ,…”
Kô-mi-kan không những được thành lập do yêu cầu của dân mà còn được dân tham gia quản lý Về kinh phí hoạt động, ngoài sự hỗ trợ phần nào của nhà nước, chủ yếu là do uỷ ban địa phương tự lo Bên cạnh các văn bản pháp quy để thể chế hoá việc hình thành Kô - mi – kan do Chính phủ ban hành, còn có phong trào quần chúng diễn ra trên cả nước để thành lập Kô - mi-kan với khẩu hiệu: Lập Kô-mi-kan trước tiên để xây dựng làng, xã Chính nhờ chủ trương đúng đắn trên và phong trào quần chúng sôi nổi ấy mà Kô- mi-kan đã trở thành một hệ thống phát triển rộng khắp đất nước Nhật Bản Hiện nay, trên toàn quốc Nhật Bản có khoảng 18 nghìn Kô-mi-kan, phủ khắp 90% tổng số thành phố, thị trấn, làng, xã
Kô- mi-kan tại các thành phố, thị trấn, làng, xã như là một Trung tâm văn hoá tại địa phương Nó là nơi cung cấp địa điểm và các phương tiện, trang thiết
bị cho giáo dục xã hội nhằm mục đích phục vụ những lợi ích của cộng đồng với
Trang 12những chương trình đặc trưng được xây dựng bởi những người quản lý và nhân viên của Trung tâm Các Trung tâm này có cơ sở vật chất (như phòng hội họp, phòng học, thư viện…) và các trang thiết bị như sách, báo, máy chiếu phim, dụng cụ thể dục thể thao, v.v…Các chương trình được thực hiện tại Trung tâm bao gồm: Các chương trình ngắn hạn phục vụ cho phụ nữ và thanh niên; chương trình cho người lớn; các buổi sinh hoạt văn học, hội họp, học tập, triển lãm, chiếu phim, tranh luận, thể thao, giải trí…
- Thái Lan:
Từ năm 1977, Thái Lan thực hiện dự án phát triển giáo dục không chính quy trong khuôn khổ của giáo dục suốt đời Dự án đã xây dựng lại hệ thống các
cơ sở giáo dục không chính quy cho người lớn như sau:
Xây dựng 5 Trung tâm nghiên cứu và phát triển tại 5 vùng
Xây dựng mạng lưới các Trung tâm giáo dục không chính quy cấp tỉnh (6 tỉnh) và các Trung tâm giáo dục không chính quy các huyện (khoảng 700 Trung tâm)
Xây dựng mạng lưới các TTHTCĐ cấp xã hoặc liên xã (khoảng 6000 Trung tâm)
Các TTHTCĐ cấp xã tại Thái Lan chịu sự quản lý của dân làng Kế hoạch hoạt động của Trung tâm do Hội đồng xã lập ra Các Trung tâm này có thư viện, phòng đọc sách báo, phòng họp cộng đồng, phòng xem ti vi, radio, và một số phương tiện giáo dục cơ bản cần thiết Ngoài ra, tại các Trung tâm này còn có một số phương tiện phục vụ cho các hoạt động xã hội như đài, loa phát thanh, nhạc cụ, dụng cụ thể dục thể thao v.v…Năm 1999, Thái Lan đã thành lập gần 6.000 TTHTCĐ, bảo phủ khoảng 85% cụm xã trong cả nước
-Ấn Độ:
Từ năm 1988, Chính phủ Ấn Độ quyết định thành lập hàng loạt các Trung tâm học tập trong cả nước nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho sau XMC và
Trang 13các chương trình sau XMC và GDTX Cứ 4-5 làng ( khoảng 5.000 dân ) có một TTHT Các hoạt động chủ yếu của TTHT này là:
Tổ chức các lớp học buổi tối để củng cố kỹ năng biết chữ và tính toán;
Tổ chức các buổi thảo luận nhóm;
Tiến hành các chương trình huấn luyện đơn giản, ngắn ngày;
Phổ biến thông tin;
Tổ chức tuyên truyền qua đài, ti vi;
Tổ chức các hoạt động giải trí, văn hoá, thể thao, v.v…
-Myanmar
Mô hình TTHTCĐ được xây dựng tại Myanmar từ năm 1994 Được sự trợ giúp của UNDP, UNESCO và các tổ chức phi chính phủ khác, đến nay Myanmar đã có 480 TTHTCĐ
TTHTCĐ tại Myanmar được xác định là một cơ sở giáo dục taị một làng
xã, nằm ngoài hệ thống giáo dục chính quy, được thành lập và quản lý bởi nhân dân địa phương, cung cấp cho nhân dân những cơ hội học tập đa dạng nhằm phát triển và cải thiện chất lượng cuộc sống TTHTCĐ là của cộng đồng, cho cộng đồng và vì cộng đồng
TTHTCĐ có thể là một trung tâm thông tin; một trung tâm huấn luyện nghề nghiệp; một CLB để trao đổi, thảo luận; một nơi đọc sách báo, một thư viện; một trung tâm văn hoá, vui chơi, giải trí
TTHTCĐ được xây dựng nhằm những mục đích sau:
Cung cấp những cơ hội học tập cho mọi người;
Cung cấp thông tin đa dạng cho mọi người;
Cung cấp các chương trình giáo dục không chính quy, các chương trình đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng những nhu cầu của cộng đồng;
Phát triển nguồn nhân lực;
Phối kết hợp giữa dân làng với các cơ quan phát triển
Tổng quan về sự phát triển của các TTHTCĐ ở một số nước trên thế giới cho thấy:
Trang 14Các nước đều quan tâm đến giáo dục cộng đồng, lấy cộng đồng làm mục tiêu và động lực cho sự phát triển giáo dục vì cộng đồng Sự cam kết, quan tâm của chính phủ; sự tham gia của các lực lượng xã hội; sự đầu tư thích đáng của các nguồn lực; sự bình đẳng đối với các đối tượng hưởng thụ đảm bảo cho các trung tâm đó hoạt động có kết quả
- Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế chung đó Trước yêu cầu của cuộc sống, của sự nghiệp đổi mới kinh tế, văn hóa nước ta, cần thiết phải quan tâm đến việc xây dựng và phát triển các TTHTCĐ Phải tạo điều kiện để người dân tham gia học tập thường xuyên, học tập suốt đời Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: " Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính qui và không chính qui, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập" [17-Tr.15]
1.1.2 Sự phát triển TTHTCĐ của Việt Nam [38-Tr.18]
Như trên đã nói, TTHTCĐ đã được xây dựng và phát triển rất sớm ở nhiều nước, đặc biệt là ở Nhật Bản
Ở Việt Nam: Sau hơn 80 năm sống dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến với chính sách của thực dân Pháp “ngu dân dễ cai trị” nước ta có 99% dân số bị
mù chữ Vì vậy ngay từ khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mới được thành lập, ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Người mong “ai cũng được học hành” Nhiệm vụ chống giặc dốt đã được xếp thứ hai ngay sau chống giặc ngoại xâm Để nhanh chóng chống nạn mù chữ cho người
dân, ngày 8/9/1945 Chính phủ đã ký các sắc lệnh quan trọng về bình dân học vụ: Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha bình dân học vụ
Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng làng nào, thị trấn nào cũng phải có lớp học ít nhất 30 người theo học
Trang 15Nơi nào cũng có người cần học ở đó có lớp học, những người tham gia chiến dịch, người dạy và người học đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi, không phân biệt nam nữ giàu nghèo” [19-T.1-Tr.28] Như vậy, có thể nói đây là những cơ sở đầu tiên, là những TTHTCĐ đầu tiên ở Việt Nam, với nhiệm vụ nhanh chóng xoá nạn mù chữ cho người dân lao động
“Từ chiến dịch chống nạn mù chữ năm 1945 - 1946 sau này đã trở thành những kinh nghiệm quốc tế đến tận cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI (Tuyên ngôn Jomtien - Thái Lan năm 1990 và khuôn khổ hành động Dakar - Sengal năm 2000 về giáo dục cho mọi người), đó là: sự cam kết, quan tâm của chính phủ; sự tham gia của các lực lượng xã hội; sự đầu tư thích đáng của các nguồn lực; sự bình đẳng đối với các đối tượng hưởng thụ” [19-T.1-Tr.28]
Có thể nói ở Việt Nam, việc xây dựng TTHTCĐ một công cụ thiết yếu để xây dựng “xã hội học tập” từ cơ sở, chủ trương mang tính chiến lược mà Đảng
ta nêu lên bắt nguồn từ tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ai cũng
có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [22-Tr.46] Tư tưởng này phù hợp với xu thế thế giới
Trong những năm 1995 - 1996, trước đòi hỏi mở rộng nhiều hình thức giáo dục không chính quy của nhân dân, Viện Khoa học giáo dục (nay là Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục) đã nghiên cứu, thí điểm mô hình TTHTCĐ ở các vùng kinh tế khác nhau, được UNESCO Băngkok và Nhật Bản nhiệt tình giúp đỡ Trung tâm XMC và GDTX thuộc Viện Khoa học giáo dục đã thử nghiệm tại các xã Cao Sơn (Hoà Bình), Pú Nhung (Lai Châu), Việt Thuận (Thái Bình) và An Lập (Bắc Giang)
Sau thí điểm có kết quả trên, từ đầu năm 1999, Bộ GD&ĐT đã mở rộng mô hình TTHTCĐ ở các tỉnh thành phố khác Các tổ chức quốc tế - như Hiệp hội Quốc gia và các tổ chức UNESCO Nhật Bản (NFUAJ) đã giúp 2 tỉnh Lai Châu, Điện Biên xây dựng 40 TTHTCĐ và 3 TTGDTX (2000 - 2003); giúp đỡ 8 tỉnh
Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Lào Cai và Sơn La mỗi tỉnh một TTHTCĐ UNESCO Hà Nội giúp 5 tỉnh Tây Nguyên (
Trang 16Kon Tum, Gia Lai, Đăc Lắc, Đăc Nông, Lâm Đồng) và Bình Phước mỗi tỉnh 1 TTHTCĐ Các TTHTCĐ phát triển rất nhanh, từ 15 Trung tâm năm 1999 đến tháng 2/2005, cả nước đã có 4.783 Trung tâm, đạt tỷ lệ 44,5% xã, phường, thị trấn trong cả nước Đặc biệt tỉnh đạt 100% số xã, phường, thị trấn có TTHTCĐ (Thái Bình, Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc, TP Đà Nẵng, Hải Dương và Đồng Tháp)
Qua thực tiễn hoạt động của các TTHTCĐ trong cả nước nhiều cấp uỷ Đảng, chính quyền ở các tỉnh, thành phố đã khẳng định rằng: TTHTCĐ là công
cụ quan trọng góp phần ổn định tình hình chính trị, thúc đẩy công cuộc đổi mới
và phát triển kinh tế - xã hội TTHTCĐ đã và đang trở thành trường học của nhân dân lao động, là cơ sở quan trọng để xây dựng xã hội học tập từ cơ sở Thực tế cho thấy, ở những xã, phường, thị trấn có TTHTCĐ bước đầu đã tạo được phong trào học tập trong nhân dân Nhiều TTHTCĐ hoạt động có đã đạt được các kết quả đáng khích lệ, đó là:
TTHTCĐ đã góp phần đẩy mạnh việc củng cố và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác XMC - phổ cập giáo dục tiểu học, nâng tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và tăng tỷ lệ người biết chữ
Có thể nói, TTHTCĐ là nơi tổ chức và tiến hành có hiệu quả các hoạt động giáo dục nhằm đáp ứng các nhu cầu học tập cơ bản, học tập suốt đời của các nhóm thanh, thiếu niên và người lao động ở xã, phường, thị trấn Các lớp học sau XMC đã được mở cho nhiều đối tượng, đặc biệt là những người mới được công nhận biết chữ, nhằm ngăn chặn tái mù chữ và từng bước góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động nhờ kiến thức được cung cấp tại các lớp này Hoạt động của các TTHTCĐ cùng với các TTGDTX quận, huyện
đã góp phần nâng cao tỷ lệ người biết chữ
TTHTCĐ đã góp phần ổn định chính trị - xã hội, xây dựng khối đoàn kết nội bộ trong nhân dân và mối liên kết giữa các đoàn thể, tổ chức xã hội trong
Trang 17Hoạt động của các TTHTCĐ đều bắt đầu bằng các hình thức nghe báo cáo thời sự, chính trị, trao đổi, phổ biến các chế độ chính sách mới của Đảng, Nhà nước, chủ trương của các ban, ngành, đoàn thể và tổ chức, thảo luận những chương trình công tác sắp triển khai của địa phương để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Từ đó quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, không còn những khiếu kiện tập thể, mối quan hệ giữa chính quyền và quần chúng nhân dân thêm gắn bó
TTHTCĐ đã góp phần nâng cao nhận thức về hiến pháp và pháp luật
Hầu hết các TTHTCĐ đều đem đến cho nhân dân sự hiểu biết về hiến pháp, pháp luật như: Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Giáo dục, Luật Quân sự, Luật An toàn giao thông … và nếp sống văn hoá mới Những nơi này, cộng đồng đều có nhận thức khá sâu sắc về pháp luật, người dân được học tập, được giải thích nên họ tin vào pháp luật và làm việc theo pháp luật; hoạt động của TTHTCĐ đã góp phần là giảm đáng kể việc tranh chấp khiếu kiện về đất đai, giảm các vụ tai nạn giao thông, giảm tỷ lệ phát triển dân số, thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự và vượt chỉ tiêu …
Các TTHTCĐ đã góp phần giúp người lao động biết cách xoá đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, phấn đấu làm giàu chính đáng thông qua việc truyền nghề và dạy nghề ngắn hạn
- Về chăn nuôi: Nhiều chuyên đề mới đã được ứng dụng và được thực tiễn
đúc rút thành những bài học quý như nuôi ba ba thịt, ba ba giống ở xã Cảnh Thuỵ (Yên Dũng - Bắc Giang), Quận 12 (Tp Hồ Chí Minh), Đức Thuỵ (Quảng Bình); nuôi heo, bò, ong, cá bằng phương pháp áp dụng công nghệ mới ở tỉnh Đồng Nai Rất nhiều TTHTCĐ đã giúp bà con nông dân nuôi tôm, lợn hướng nạc, gà siêu trứng, bò sữa …
- Về trồng trọt: Phổ biến những tiến bộ kĩ thuật được cộng đồng chú ý như,
giống mới, phương pháp phòng trừ sâu bệnh cho lúa, ngô, cây ăn quả Những giống lúa mới và phương pháp phun thuốc trừ sâu cho lúa được giới thiệu tại TTHTCĐ qua các hình thức tập huấn (như ở Nghĩa Thắng -Nam Định, Quảng
Trang 18Xương, Tĩnh Gia - Thanh Hoá) Có những cộng đồng mạnh dạn trồng rau sạch cung cấp cho thành phố (Yên Dũng - Bắc Giang) hoặc trồng mai vàng cung cấp cho cả nước (phường Thạch Lộc - Tp Hồ Chí Minh) Mỗi địa phương khác nhau, có cách làm, cách nghĩ khác nhau để nâng cao hiệu quả cây trồng
- Về nghề thủ công: Đã có những TTHTCĐ cử người đi học nghề để trở
thành chuyên gia về sản xuất mây tre đan; sản xuất muối tinh khiết với công nghệ đơn giản nhưng giá trị gấp 3 lần muối thô (Tĩnh gia - Thanh hoá); hướng dẫn người khiếm thị dệt vải ( quận 12 - Tp Hồ Chí Minh)
TTHTCĐ góp phần thúc đẩy việc thực hiện của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở cộng đồng dân cư
Có rất nhiều hoạt động phổ biến kiến thức về văn hoá - xã hội đã được triển khai trong các TTHTCĐ ở các tỉnh, thành phố, nhất là các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, thông qua các chuyên đề xây dựng nếp sống mới ở nông thôn, miền núi; học và tập thể dục dưỡng sinh, chăm sóc sức khoẻ trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, đọc sách báo, sinh hoạt câu lạc bộ thơ, ca hát, hoạt động thể dục thể thao
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình xây dựng
và phát triển TTHTCĐ còn có nhiều khó khăn, yếu kém và bất cập, cụ thể là:
Về chỉ đạo, các TTHTCĐ hoạt độngêtrong khi chưa có quy chế chính thức
về tổ chức và hoạt động Đây là trở ngại lớn, vì chưa có hành lang pháp lý trong quá trình xây dựng, phát triển và quản lý hoạt động của TTHTCĐ
TTHTCĐ là hình thức học tập mới được tổ chức tại nước ta, chưa nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, nên chưa có danh mục để đầu tư từ ngân sách nhà nước Đây cũng là trở ngại rất lớn trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp tài liệu và trang thiết bị học tập Hoạt động của các TTHTCĐ được duy trì chủ yếu dựa vào tinh thần trách nhiệm của ngành GD&ĐT, của Hội Khuyến học và chính quyền địa phương cũng như lòng nhiệt tình của người dạy
Trang 19TTHTCĐ phát triển chưa đều, mới phát triển ở các vùng ven đô, đồng bằng
và trung du Tại các thành phố, thị xã hoặc vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, các trung tâm này chưa phát triển
Một số TTHTCĐ hoạt động chưa có hiệu quả, nội dung và hình thức tổ chức học tập cho người lao động còn nghèo nàn Mặt khác, do chưa có cơ chế phối hợp, phân rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành từ trung ương đến các đơn
vị cơ cở nên nhiều ngành, tổ chức xã hội chưa có trách nhiệm hỗ trợ cho các TTHTCĐ hoạt động
- Nguyên nhân của những tồn tại yếu kém đó là:
Một số cấp uỷ Đảng, chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể chưa thấy hết vai trò quan trọng TTHTCĐ đối với việc học tập của nhân dân
Tài liệu hướng dẫn, tài liệu học tập cho đội ngũ cán bộ còn thiếu Việc tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ trong Ban Quản lý trung tâm chưa được thực hiện Chưa xây dựng và sử dụng được đội ngũ giáo viên cho các TTHTCĐ
1.2 Trung tâm học tập cộng đồng
1 2.1 Khái niệm TTHTCĐ
Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục được thành lập tại xã,
phường, thị trấn hoạt động theo phương thức giáo dục không chính quy
Là nơi học tập thường xuyên của nhân dân, học không chỉ vì bằng cấp, chủ yếu để nâng cao chất lượng cuộc sống, chăm sóc gia đình, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế xã hội ở địa phương
TTHTCĐ là nơi kết phối hợp, hỗ trợ các hoạt động tuyên truyền giáo dục của các ban, ngành, đoàn thể, dự án, … Các hoạt động đều do các ban ngành đoàn thể cùng phối hợp tổ chức, cùng lo kinh phí Do vậy nó không phải là tổ chức của riêng ngành giáo dục hay bất cứ tổ chức xã hội nào
Hình thức học tập không chính quy là một hình thức học tập linh hoạt, đa dạng, mềm dẻo, đáp ứng yêu cầu “cần gì học nấy”, “học để làm ngay”, “vừa học vừa làm”, rất phù hợp với nguyện vọng và hoàn cảnh của người lao động, cán bộ đảng viên, thế hệ trẻ, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa
Trang 20TTHTCĐ làm phát triển mạnh hệ thống giáo dục bên ngoài nhà trường, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có văn hoá, có khoa học kỹ thuật để chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước ở ngay tại đại phương họ sinh sống
TTHTCĐ là nơi thu hút mọi người dân đến để học tập, góp phần thực hiện
“cả nước trở thành một xã hội học tập” như mục tiêu của Đại hội IX của Đảng
đã khẳng định Việc xây dựng “xã hội học tập”, chủ trương mang tính chiến
lược mà Đảng ta nêu lên bắt nguồn từ tư tưởng mang tính nhân văn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh: “Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Tư tưởng này đã trùng hợp với xu thế phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI
Chúng ta đang sống trong thời đại của sự phát triển kinh tế tri thức, của công nghệ thông tin Thế giới đã hình thành nền văn minh trí tuệ Với xu thế toàn cầu hoá, các quốc gia đang sống trong thời kỳ vừa thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau, vừa bảo vệ tính độc lập của từng nước, vừa hợp tác vừa đấu tranh Cuộc cách mạng thông tin hiện nay đang tạo điều kiện thuận lợi để tiếp thu các tinh hoa văn hoá của các nước, nhưng đồng thời cũng làm cho các nền văn hoá
dễ bị pha tạp, lai căng, mất bản sắc Khi hội nhập vào quá trình toàn cầu hoá, nếu biết phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại thì sẽ có sức đề kháng với các cuộc
“xâm lược văn hoá” diễn ra hàng ngày, hàng giờ Gìn giữ bản sắc văn hoá dân
tộc phải được quán triệt trong mọi lĩnh vực giáo dục và trong lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học, nghệ thuật, ngoại giao, an ninh quốc phòng
… chính đó là nguồn sức mạnh của mỗi dân tộc
Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Ngày nay, vai trò của nguồn nhân lực được nhận thức như một yếu tố năng động nhất Con người được xem như một tài nguyên, một nguồn lực Phát triển con người, hoặc phát triển nguồn lực con người giữ
Trang 21nhất Phát triển vốn con người quyết định sự phát triển các vốn khác.Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin; sự xuất hiện của xã hội thông tin, của kinh tế tri thức, của xã hội học tập (XHHT); xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, liên kết chặt chẽ các quốc gia vào cộng đồng chung thế giới và khu vực, thì việc học tập suốt đời lại càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết Những kiến thức có được trong nhà trường chính quy của mỗi người không đủ đáp ứng những nhu cầu mới, luôn thay đổi của cuộc sống hiện đại Do đó, mỗi người phải học thường xuyên, học suốt đời “Học để biết, học để làm, học để tồn tại và học để chung sống cùng nhau”, như ông Jacque Delors, Chủ tịch Uỷ ban quốc tế về giáo dục cho thế kỷ XXI đã khẳng định
Xây dựng XHHT để tiến tới nền kinh tế tri thức đang là một trong những chủ đề trọng tâm của UNESCO, của các Hội nghị giáo dục quốc tế Hiểu một cách cơ bản nhất, XHHT là một xã hội mà mọi người được khuyến khích và hỗ trợ để học tập, mọi người vừa làm vừa học, học thường xuyên, học liên tục để không ngừng nâng cao trình độ học vấn và tay nghề nhằm đáp ứng những yêu cầu của thời đại mới: tin học hoá, toàn cầu hoá, xã hội thông tin và tri thức Có như vậy mới thực hiện được tinh thần bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười tại Đại hội Đảng
bộ trường Đại học Sư phạm Hà Nội tháng 4/1996 : “ Cần dấy lên phong trào diệt
“giặc dốt” trong toàn Đảng, toàn dân Ai dốt gì diệt nấy, người biết dạy người
chưa biết, xoá mù chữ, mù công nghệ, mù nghề, mù tin học, mù ngoại ngữ để nhân dân ta tự nâng mình lên một trình độ trí tuệ ngang tầm thời đại, áp dụng được công nghệ vào sản xuất, xây dựng được nếp sống văn hoá, văn minh” Một trong những cách thức tổ chức của XHHT là xây dựng TTHTCĐ TTHTCĐ nhằm thực hiện mục tiêu: Tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người trong cộng đồng được học tập, được hưởng dịch vụ giáo dục, thực hiện đa dạng các nội dung học tập Là mô hình chuyển giao kiến thức, khoa học kỹ thuật trực tiếp, rộng rãi, nhanh nhất đến người lao động và cũng là nơi trang bị kiến thức
về cuộc sống cho cộng đồng, góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, cải thiện cuộc
Trang 22sống, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, … góp phần làm lành mạnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng “Cả loài người đang bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ XXI với tư tưởng xây dựng một xã hội học tập, coi việc học là việc làm thường xuyên, suốt đời của mọi người, lấy việc học là động lực quyết định hàng đầu để đưa xã hội tiến lên” [9-Tr.28]
TTHTCĐ ra đời và phát triển phù hợp với xu thế chung của thời đại và hợp với nhu cầu, nguyện vọng học tập của quần chúng nhân dân lao động Ngày 27/6/2005, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Lệnh số 11/2005/L/CTN công
bố Luật Giáo dục, đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghã Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005, bổ sung tại Mục 5, Điều 46, khoản 1 “Cơ sở giáo dục thường xuyên bao gồm:
- Đây là nền giáo dục phổ cập, giáo dục cơ bản, giáo dục về văn hoá, kỹ thuật, nghề nghiệp, cập nhật kiến thức tạo nguồn nhân lực thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
- Đây là nền giáo dục hết sức đa dạng về nội dung, về hình thức tổ chức
- Trong quá trình giáo dục luôn diễn ra sự kết hợp hài hoà giữa giáo dục và
đời sống của người dân
Trang 23- Phát triển nguồn nhân lực,
- Cải thiện đời sống và phát triển cộng đồng,
[23-trấn là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nơi cụ thể hoá thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội Ở xã, phường, thị trấn mọi thành viên gắn bó mật thiết bằng sinh hoạt cộng đồng, dòng họ, phong tục tập quán Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử thăng trầm của đất nước làng, xã Việt Nam luôn luôn phát huy truyền thống cố kết, ý thức
tự lực, tự cường, lòng yêu quê hương đất nước, thực sự là nền tảng của xã hội có tính bền vững cao
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, công cuộc đổi mới thu được nhiều kết quả tốt đẹp đã làm cho bộ mặt nông thôn có sự thay đổi đáng kể về vật chất, tinh thần, trình độ dân trí, phong tục tập quán và nếp sống theo hướng hiện đại hoá Tuy nhiên, một bộ phận nhân dân có trình độ thấp, năng lực hạn chế, tư tưởng còn lạc hậu, chưa tiến bộ, đời sống còn thấp kém Việc bổ sung kiến thức, năng lực là việc làm cần thiết đặc biệt là sự thay đổi trong nhận thức để tìm ra cách đi mới, cách làm mới cho theo kịp thời đại
- Cải thiện đời sống và phát triển cộng đồng:
Chương trình tạo thu nhập (TTN) là một loại chương trình GDTX giúp người học tiếp thu hoặc nâng cao các kỹ năng nghề nghiệp để họ tiến hành những hoạt động tạo nhu nhập Mục đích chính của chương trình TTN là cải
Trang 24thiện chất lượng cuộc sống cho những người tham gia chương trình Trọng tâm của chúng ta là xoá đói, giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực Bởi vì, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế của cộng đồng và của quốc gia
Chương trình TTN cải thiện chất lượng cuộc sống nhằm trang bị cho học viên những kiến thức, thái độ và kỹ năng cần thiết để họ có khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, góp phần nâng cao mức sống xã hội và phong cách sống của mỗi người, tăng cường lợi ích trong các lĩnh vực sinh học, xã hội, kinh tế, nhân văn và môi trường,…
Vì tính đa dạng về nội dung của chương trình, học viên có thể chọn cho mình những nội dung cần thiết và phù hợp với điều kiện của mình như quỹ thời gian, điều kiện học tập,…Khi chọn nội dung và các điều kiện đảm bảo khác nhằm đạt được mục đích cuối cùng là giúp mình, gia đình và góp phần cùng cộng đồng nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp cho người học áp dụng khoa học kỹ thuật nâng cao công nghệ sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, phát triển kinh
tế, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho gia đình và cho cộng đồng
Đối với lực lượng lao động ở nông thôn, tuỳ theo vùng miền và tính đặc thù của từng địa phương mà lựa chọn nội dung học tập theo các chương trình khuyến nông, khuyến lâm hay khuyến ngư Đối với các vùng đất đai trồng trọt, việc dồn điền, đổi thửa tạo ra các vùng chuyên canh có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao là nhu cầu cấp bách đang được các địa phương triển khai mạnh mẽ và có kết quả tốt Đối với chăn nuôi thì ở địa phương nào nuôi con gì cho phù hợp với mục đích thu nhập cao Các chương trình TTN thực sự nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và là đòn seo thúc đẩy phát triển kinh tế cho mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng
Tuy nhiên, nâng cao chất lượng cuộc sống không chỉ đơn thuần là nâng cao đời sống vật chất, tạo cho người lao động có thu cao mà các chương trình học
Trang 25vụ của mỗi cá nhân đối với gia đình, cộng đồng quốc gia theo khuôn khổ hiến pháp và pháp luật; giúp họ hiểu biết phép lịch sự trong giao tiếp; giúp cá nhân hoà nhập trong cuộc sống cộng đồng trước yêu cầu cao của quá trình hội nhập khi bước vào thế kỷ XXI - thế kỷ của nền văn minh tri thức,…giúp học viên nhận thức được tầm quan trọng của môi trường thiên nhiên để họ yêu quý và biết cách bảo vệ môi trường; tạo điều kiện để họ được thụ hưởng môi trường thiên nhiên trong sạch, nâng cao sức khoẻ cộng đồng,…
Nói tóm lại, tuỳ theo đặc thù của từng địa phương mà cán bộ Trung tâm giúp học viên định hướng cho việc lựa chọn nội dung học tập, một mặt đáp ứng nhu cầu của người học, một mặt phải phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó
Các chương trình TTN, nâng cao chất lượng cuộc sống có ý nghĩa đặc biệt
vì nó liên quan trực tiếp đến việc cải thiện, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho người lao động; xây dựng môi trường trong sạch; tăng cường sức khoẻ cho
cá nhân, cộng đồng; tạo sự phát triển kinh tế - xã hội có kế hoạch Chính vì vậy
mà chương trình này được coi là cốt lõi của GDTX
- Xây dựng xã hội học tập (XHHT) là một xã hội mọi người đều được học
hành bằng hình thức giáo dục chính quy, không chính quy và tự học ở trong nhà trường và ngoài nhà trường, học thường xuyên, học suốt đời; học chữ, học nghề, học làm người; học để biết, học để làm việc, để chung sống, để phát triển cá nhân và cộng đồng Đồng thời, mỗi người đều có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp phần xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo
Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IX (4-2001) đã chỉ rõ: cần “Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và là động lực của sự nghiệp CNH, HĐH”; “Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng các hình thức giáo dục chính quy và
Trang 26không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một
xã hội học tập” [6-Tr35]
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 được Thủ tướng phê duyệt (tháng 12 - 2001) đã chỉ rõ quan điểm: giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân; xây dựng xã hội học tập tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên suốt đời; Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích,
huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục
Kết luận Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành TW Đảng cộng sản Việt Nam khoá IX (Kết luận số 14-KL/TW ngày 26/7/2002) về phương hướng phát triển giáo dục đào tạo từ nay đến 2005 và 2010 đã chỉ rõ “Phát triển giáo dục không
chính quy, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu
thực tế đời sống kinh tế – xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập (XHHT)”
Chỉ thị ngày 15/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát huy vai trò của Hội khuyến học Việt Nam trong phát triển sự nghiệp giáo dục, đã đề cập đến một mục tiêu phát triển giáo dục là “từng bước hình thành một “xã hội học tập”, đưa sự nghiệp giáo dục lên ngang tầm đòi hỏi của CNH, HĐH đất nước”
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (tháng 4- 2001), Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam lần thứ IV (khoá 2), họp tháng 3-2002 đã thông qua đề án “Hội Khuyến học Việt Nam góp phần xây dựng xã hội học tập” và phát động phong trào “xây dựng xã hội học tập từ cơ sở” “đi đôi với việc phát triển tổ chức Hội ở các cơ sở xã, phường, các tổ chức kinh tế, các hiệp hội nghề nghiệp, các trường học, các đơn vị công tác chính quyền, đoàn thể … và hình thành những Trung tâm học tập cộng đồng xã, phường” [12-Tr.5] Ta có thể hiểu các hình thức tổ chức học tập chính qui và
Trang 27Hệ thống giáo dục quốc dân có chức năng hình thành nhân cách (bao gồm các phẩm chất đạo đức, các năng lực chung và năng lực nghề nghiệp) một cách
nên phương thức và hệ thống giáo dục này được gọi là giáo dục chính qui
Nền giáo dục truyền thống trước hết quan tâm xây dựng giáo dục chính qui Sau đó mới đến việc đáp ứng nhu cầu của những người không có điều kiện học tập một cách chính qui, đó là những người đi học khi đã lớn tuổi và những người
bị rơi rụng ra ngoài hệ thống giáo dục không chính qui do bị sàng lọc theo khoản 1a) 1d) Điều 41 Luật giáo dục (1998), giáo dục không chính qui thu hút những người học theo chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, học theo các chương trình để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức vừa học vừa làm, học từ xa, tự học có hướng dẫn
Học tập không chính qui còn để đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức kỹ năng và đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học
- Người đi học đã trưởng thành hoặc lớn tuổi qui định chính thức cho cấp học tương ứng, vì vậy giáo dục không chính qui còn được gọi là giáo dục người lớn
- Không tuân thủ chặt chẽ một số qui định của giáo dục chính qui, như qui định về mặt thời gian (có thể học vào buổi tối, ngày nghỉ, hoặc chỉ tập chung
Trang 28học vào một thời gian nhất định trong tháng, trong năm), về chương trình cắt bỏ một số phần mà người học đã biết) v.v
Tuy nhiên giáo dục không chính qui vẫn tìm cách thực hiện các chuẩn mực đánh giá, kiểm tra để đạt được bằng cấp, chứng chỉ tương đương giáo dục chính qui
- Cách tổ chức trường, lớp của giáo dục không chính qui linh hoạt hơn giáo dục chính qui, có thể có lớp mà không thành trường (như các lớp xoá mù chữ,
bổ túc văn hoá) Có thể gọi nơi học tập là trung tâm (như trung tâm dạy nghề) hoặc người học chỉ được đăng ký trên giấy tờ (các khoá của giáo dục từ xa) Vì vậy có người gọi giáo dục không chính qui là giáo dục ngoài nhà trường, nhưng cách gọi đó không chính xác vì đây cũng là một kiểu trường, lớp biến dạng, linh hoạt mà luật Giáo dục (Điều 32, Điều 42) cho phép
- Cũng có nơi gọi giáo dục không chính qui là giáo dục thường xuyên Giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời là tinh thần, quan điểm chung của toàn bộ nền giáo dục ngày nay, không riêng bộ phận nào Dùng tên gọi đó để chỉ một bộ phận trong hệ thống giáo dục là không hợp lý và rễ gây hiểu lầm, hơn nữa vì giáo dục không chính qui chấp nhận cách học đứt quãng, gián đoạn “không thường xuyên” so với giáo dục chính qui, nên gọi bộ phận này là “giáo dục thường xuyên” tạo ra một nghịch lý
Trang 29- Góp phần thực hiện sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương: TTHTCĐ là nơi nhân dân các xã, phường, làng, bản … ai cũng được
đến đó để học chữ, học nghề, dự các lớp tập huấn kỹ thuật, nghe phổ biến các kiến thức phổ thông để ăn ở vệ sinh, nuôi con khoẻ, dạy con ngoan, gia đình sống hoà thuận hạnh phúc, làng xóm no ấm, đoàn kết Học tập được kiến thức, thái độ và kỹ năng cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, góp phần nâng cao mức sống trong xã hội, làm giàu đẹp cho quê hương
1.2.4 Nội dung và phương pháp học tập ở các TTHTCĐ
- Nội dung: Ở TTHTCĐ người dân học những nội dung gì? Đây là vấn đề
không nhỏ đặt ra cho mỗi trung tâm Với phương châm “cần gì học nấy”, “học
để làm ngay”, trên cơ sở thực tiễn của từng địa phương để lựa chọn nội dung học tập cho phù hợp Trồng cây gì, nuôi con gì, phát triển như thế nào là căn cứ vào tình hình thực tế của từng địa phương Ví dụ, những nơi có nhiều vườn đồi thì cần tập trung vào các chuyên đề về quy hoạch trồng cây ăn quả hay cây lấy gỗ? Trồng giống gì để phù hợp với chất đất ở nơi đó để có thu nhập cao Những nơi có nhiều ao, hồ, ruộng trũng thì cần nuôi trồng loại thuỷ sản nào cho hợp với đồng đất và hoàn cảnh của mình, và tìm đầu ra cho sản phẩm Hay ngay trong
GD NHÀ TRƯỜNG
(GD người lao động và các đối tượng còn lại)
HỌC TẬP THƯỜNG XUYÊN, HỌC TẬP SUỐT ĐỜI
- GD nghề nghiệp, đại học
- Gia đình
- Cá nhân
XÃ HỘI HỌC TẬP
Trang 30lĩnh vực chăn nuôi thì ta chú ý đến loại gì, nơi có nhiều đồng cỏ thì chăn nuôi bò sữa hay ngan Pháp
Tuy nhiên, có thể khái quát thành nội dung chính sau:
Học tập đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật, thời sự chính trị
Học tập về KHKT, sản xuất và đời sống, học nghề
Học tập về văn hoá, văn nghệ, TDTT, vệ sinh môi trường
Học tập về văn hoá, ngoại ngữ, tin học
Nội dung học tập trên được thể hiện qua một số chương trình học tập sau:
- Chương trình tương đương nhằm nâng cao trình độ văn hoá ứng với các lớp phổ thông
Mục tiêu: Cung cấp những kiến thức hành dụng để người học vận dụng vào
sản xuất, đời sống hàng ngày nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội của cộng đồng, đất nước; Hình thành và phát triển kỹ năng cơ bản, thiết thực ở trình độtương ứng; Bồi dưỡng nhân cách con người Việt Nam, góp phần phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng, hình thành bước đầu phương pháp tự học, làm việc có
kế hoạch, khoa học, linh hoạt, sáng tạo
Nội dung: Đó là các chương trình XMC, bổ túc tiểu học, THCS, tin học,
ngoại ngữ thông dụng
Cách thức tiến hành: Dùng đội ngũ giáo viên ngay tại địa phương vận động
học viên ra lớp Phối hợp với chính quyền, ban, ngành đoàn thể hỗ trợ, cùng cộng tác trách nhiệm tạo điều kiện để người dân đi học đầy đủ, nghiêm túc và hiệu quả cao Cách dạy thực sự linh hoạt theo yêu cầu của mùa vụ, có thể dạy bất cứ lúc nào thích hợp với dân cư
- Chương trình tạo thu nhập
Đây là vấn đề thiết thực với bà con nông dân Xét cho đến cùng thì việc học tập nâng cao nhận thức để tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống
Trang 31Mục tiêu: Giúp người lao động biết cách xoá đói, giảm nghèo, từng bước
nâng cao chất lượng cuộc sống, phấn đấu làm giàu chính đáng thông qua việc tư vấn, chuyển giao khoa học công nghệ, truyền nghề và dạy nghề ngắn hạn
Nội dung: Căn cứ vào đặc thù của địa phương, nhu cầu học tập của nhân
dân để mở các chuyên đề cho thiết thực, phù hợp
Về chăn nuôi: Các chuyên đề về kỹ thuật chăn nuôi vịt, chăn nuôi bò sữa, lợn hướng nạc, gà siêu trứng, kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản …
Về trồng trọt: Đây là nội dung trọng tâm, được cộng đồng chú ý như kỹ thuật mới, giống mới, phương pháp phòng trừ sâu bệnh cho lúa, ngô, cây ăn quả
Kỹ thuật trồng các loại cây giống mới lúa cao sản, lạc che phủ ni lông, dưa hấu, ngô bao tử, cà chua bi,…
Về nghề thủ công: Cử người đi học nghề và mở các lớp dạy về các nghề truyền thống: Mây tre đan xuất khẩu, thêu ren, làm hương, máy may, …
Cách thức tiến hành: Vì tính đa dạng về nội dung của chương trình, học
viên có thể chọn cho mình những nội dung cần thiết và phù hợp với điều kiện của mình như quỹ thời gian, điều kiện học tập, nhu cầu học tập của nhân dân địa phương….Khi chọn nội dung và các điều kiện đảm bảo khác nhằm đạt được mục đích cuối cùng là giúp mình, gia đình và góp phần cùng cộng đồng nâng cao chất lượng cuộc sống
- Chương trình học theo sở thích
Là một loại khác của chương trình GDTX nhằm cung cấp các cơ hội khác nhau cho cá nhân tham gia và học tập những vấn đề xã hội, văn hoá, tinh thần, sức khoẻ và nghệ thuật,…mà họ quan tâm
Mục tiêu: Khuyến khích và tăng cường các hoạt động học tập để làm tăng
khả năng của mỗi người trong việc sử dụng thời gian, cải thiện cuộc sống và tự khẳng định mình Chương trình này tương đối dễ tổ chức và thực hiện, song cần đưa ra yêu cầu chất lượng của các hoạt động này sao cho cá nhân có thể đóng góp vào việc phát triển cá nhân và cộng đồng một cách tốt nhất
Nội dung: Chương trình này thường được tổ chức cho một nhóm người có
cùng một sở thích nhất định Chẳng hạn, chương trình sinh vật cảnh dành cho
Trang 32người có sở thích về vườn hoa cây cảnh, yêu nghệ thuật của tiền nhân và sự tạo dáng theo các điển tích trong việc tạo thế cây, hoa; hay câu lạc bộ của những người yêu thơ, yêu hội hoạ; hội người chơi tem; hội những người nghiên cứu làm thuốc đông y; hay thể dục dưỡng sinh…
Ý nghĩa: Các chương trình học theo sở thích ( HTST) làm tăng thêm tiềm
lực cho con người, do vậy, làm tăng tốc độ phát triển cho xã hội Sự khuyến khích học tập theo sở thích cá nhân có ý nghĩa tăng cường sự phát triển cá nhân,
từ đó cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, làm đẹp cuộc sống cho cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội Nhờ hứng thú, sở thích tạo ra động cơ học tập nên chương trình HTST kích thích được sự say mê học tập những điều mỗi cá nhân tâm đắc trong cuộc sống Chương trình HTST tăng cường sự liên kết giữa các chương trình khác của GDTX, góp phần chuyển giao truyền thống văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác và khuyến khích các hoạt động văn hoá làm phong phú thêm cuộc sống Chương trình này còn giúp cho những người yêu thích từng lĩnh vực của cuộc sống có điều kiện gần nhau, cùng nghiên cứu, trao đổi về những lĩnh vực họ cùng yêu thích, tạo nên tâm hồn sảng khoái, giúp cho đời sống vật chất
và tinh thần của họ được nâng cao
- Chương trình định hướng tương lai
Mục tiêu: Đây là chương trình cung cấp cho nông dân, công nhân, các nhà
chuyên môn, các nhà lãnh đạo, các doanh nhân, những người lập kế hoạch, … những kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật mới nhằm làm cho họ thích ứng được với những biến đổi nhanh chóng về công nghệ trong thời đại ngày nay Chúng giúp cho những người tham gia chương trình những hiểu biết để có thể nhận thức được những cơ hội và thách thức ở phía trước và sẵn sàng đương đầu với quá trình biến đổi, xây dựng được hình tượng trong tương lai và thực hiện được chương trình biến đổi trong các lĩnh vực có liên quan đến công nghệ và xã hội Đây là loại chương trình chưa thể tổ chức rộng khắp cho mọi người, song
Trang 33quan để tổ chức học tập theo chương trình này trong điều kiện có thể được, từ đó rút kinh nghiệm để tổ chức tiếp tục
Nội dung: Chương trình này bao hàm các nội dung mang tính chất đón đầu
sự phát triển của thời đại Chẳng hạn như công nghệ thông tin tuy đã được triển khai mạnh mẽ ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới và ngay ở một số vùng phát triển của nước ta, nhưng đối với phần lớn các vùng miền, nhất là các vùng chưa phát triển, còn là những nội dung mới mẻ với đa số người dân trong các cộng đồng Do đó việc học tập, sử dụng, khai thác công nghệ thông tin phục vụ cho công việc sản xuất của người lao động được xem là một nhu cầu cấp bách, song không dễ đáp ứng khi chưa có điều kiện về thiết bị Một đặc điểm khác của chương trình này là người học phải xây dựng kế hoạch khả thi để chuyển quá trình nghe giảng sang quá trình nghiên cứu, tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức
Ý nghĩa: Các chương trình định hướng tương lai có ý nghĩa lớn trong việc
cung cấp kiến thức, hình thành các kỹ năng và xây dựng thái độ cho người học thực hành một hình tượng tương lai Trên cơ sở đó, người học có khả năng tham gia vào sự biến đổi cá nhân, biến đổi xã hội trong sự vận động từ hiện tại tới tương lai theo một phương thức có kế hoạch, có tổ chức hợp lý…
- Phương pháp học tập:
Giảng dạy ở TTHTCĐ thường tập trung cho đối tượng người lớn Vì vậy cần phải áp dụng các nguyên tắc học tập cho người lớn trong giảng dạy, đó là phát huy tối đa những kinh nghiệm của học viên với sự tham gia tích cực của người học trong quá trình học tập Mặt khác không nên quá đề cao sự tham gia của học viên mà coi nhẹ vai trò dẫn dắt, gợi ý của giảng viên Điều đó có nghĩa
là cần có sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học trong một môi trường học tập năng động
Không có phương pháp nào là tuyệt đối trong giảng dạy học tập ở cộng đồng.Trong việc giảng dạy ở TTHTCĐ cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau tuỳ theo mục tiêu học tập Với mỗi một phương pháp đều có những khả năng vận dụng, mục đích cũng như ưu và nhược điểm riêng Vì vậy trong cùng
Trang 34một thời gian cần phối hợp nhiều phương pháp nhằm phát huy ưu điểm cũng như hạn chế tối đa nhược điểm của từng phương pháp Liên kết và phối hợp là phương thức hoạt động chủ yếu của TTHTCĐ Đối tượng đến học tập tại TTHTCĐ là mọi người dân, có thể là cá nhân hay một nhóm đại diện cho một tổ chức, thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi trình độ văn hoá từ mù chữ đến sau đại học
Họ tham gia các hình thức học tập tuỳ theo nhu cầu cá nhân, cần gì học nấy Những nhu cầu này có thể từ XMC, bổ túc văn hoá cơ bản, nghề thông dụng đến kỹ thuật tiên tiến như máy vi tính hoặc các lĩnh vực công nghệ khác
- Hình thức học tập
Do phương thức hoạt động và đối tượng người học phong phú và đa dạng như vậy, nên các hình thức tổ chức hoạt động của TTHTCĐ rất đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo để tạo điều kiện tốt nhất cho người học theo các hình thức sau:
- Học tập không theo cấp lớp, trình độ văn hoá, lứa tuổi, giới tính Đó là các buổi nói chuyện, các lớp học theo chuyên đề, các lớp tập huấn chuyển giao ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
xã hội, hướng nghiệp, hội thảo đầu bờ (tại chỗ), các hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về các chủ đề khác nhau, các câu lạc bộ (thơ văn, nhạc học, thể dục dưỡng sinh, cờ tướng, cờ vua, phòng chống ma tuý,…), tham quan thực tế, tổ chức hội thi, giao lưu văn hoá, tổ chức triển lãm, nghe loa đài, xem tivi, video, xem phim, đèn chiếu, tổ chức đọc, giới thiệu sách báo tại thư viện, tại hội trường trung tâm, các thôn bản, tổ dân phố
Các lớp học theo cấp, lớp, có qui chế chặt chẽ để lấy văn bằng, chứng chỉ như: Các lớp XMC, bổ túc văn hoá, học nghề, ngoại ngữ, tin học
Các buổi tư vấn về giáo dục, khuyến học, tự học, giáo dục từ xa, khuyến nông - lâm - ngư nghiệp … với những cá nhân, gia đình hay nhóm dân cư có nhu cầu
Trang 35bị cho học viên những kiến thức, thái độ và kỹ năng cần thiết để họ có khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của toàn xã hội
1.2.5 Nguồn lực của TTHTCĐ
TTHTCĐ là cơ sở giáo dục không chính quy, ngoài công lập, do dân lập để phục vụ nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc học tập của nhân dân, coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu nhưng ngân sách nhà nước còn rất nhiều khó khăn nên chỉ hỗ trợ một phần, còn nguồn lực chính phải khai thác từ cộng đồng Việc huy động các nguồn lực phải theo phương thức “xã hội hóa”, không trông chờ vào cấp trên mà phải tận dụng các nguồn lực ngay tại cộng đồng
Nguồn lực gồm nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực
- Nhân lực:
Bộ máy tổ chức: Mỗi TTHTCĐ có thể có một Ban Quản lý gồm đại diện
lãnh đạo Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể của xã, phường, thị trấn; đại diện giáo viên, học viên ( khoảng trên 10 người) do UBND xã, phường, thị trấn ra quyết định thành lập
Giảng viên, giáo viên, hướng dẫn viên: Gồm những người có trình độ, chuyên môn kỹ thuật của các ban ngành, đoàn thể ở trung ương, huyện tỉnh, xã; đội ngũ cán bộ, kỹ sư, bộ đội, giáo viên đã nghỉ hưu, các cụ cao tuổi, các cựu chiến binh, lão thành cách mạng, các nghệ nhân, người lao động giỏi ở các cơ sở sản xuất, giáo viên các TTGDTX, các trường tiểu học, THCS, THPT, các trường Đại học, Cao đẳng … và những người khác ở địa phương
- Vật lực: có thể tận dụng ngay mặt bằng sẵn có ở địa phương như phòng
họp của UBND xã, phường, trụ sở thôn, đình làng, nhà văn hoá, nhà bưu điện
…trang thiết bị như bàn ghế, loa, đài của chính quyền, đoàn thể ở địa phương;
Có thể mượn, tận dụng cơ sở vật chất của các trường học trong những ngày nghỉ,…
Trang 36-Tài lực: Một nguồn lực rất quan trọng để thành lập và duy trì hoạt động
của TTHTCĐ đó là nguồn kinh phí Nguồn tài chính để tu bổ cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, tài liệu học tập, bồi dưỡng giảng viên, báo cáo viên, tổ chức các hoạt động của trung tâm được lấy từ các nguồn:
Ngân sách xã, phường, thị trấn hằng năm được Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn thông qua dành một phần để chi cho TTHTCĐ
Sự hỗ trợ ban đầu và hằng năm từ ngân sách nhà nước
Kinh phí các chương trình hoặc dự án cho địa phương
Kinh phí tập huấn của các ban, ngành, đoàn thể góp vào
Kinh phí thu từ các hoạt động của trung tâm (sản xuất, dịch vụ, đóng góp của học viên các lớp ngoại ngữ, tin học, học nghề,…) của con đường khuyến học, huy động sự đóng góp, tài trợ, giúp đỡ của các cá nhân, các cơ sở sản xuất dịch vụ, kinh doanh, các đoàn thể xã hội, Việt Kiều
Sự tài trợ của các tổ chức quốc tế
- Tin lực: Một nguồn lực không thể thiếu trong TTHTCĐ là thông tin Các
thông tin này có thể tìm kiếm, khai thác ở Internet để phục vụ cho cộng đồng Ngoài ra, qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, đài truyền hình, báo chí cũng có thể khai thác những gương điển hình tiên tiến, những bài học về nâng cao chất lượng cuộc sống, các tin tức về chính trị, xã hội, Ngày nay, ở các xã đã có bưu điện văn hóa xã nơi có những tài liệu, băng đĩa hình, mạng Internet phục vụ nhu cầu học tập của nhân dân và cả các thông tin ngay tại cộng đồng
1.2.6 Quản lý các TTHTCĐ
1.2.6.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý hình thành cùng với sự xuất hiện của loài người Xã hội phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau thì trình độ tổ chức điều hành cũng
Trang 37- “Quản lý: Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định 2 Tổ chức
và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [26-Tr.742]
- “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của
từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [17-Tr.15]
- “ Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục
đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [17-Tr.15]
- “ Hoạt động quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của người quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành
Các định nghĩa trên tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý một hệ cơ sở, một đơn vị, một cơ quan, một trường học… với tư cách là một hệ thống xã hội đó là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người và người quản lý tựu chung lại là phải nghiên cứu khoa học nghệ thuật giải quyết những mối quan hệ giữa con người và con người vô cùng phức tạp giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống và ngoài hệ thống đó chính là đối tượng của khoa học quản lý Những nội dung cơ bản của quản lý gồm các yếu tố như sau:
Trang 38- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động do chủ thể quản lý tạo ra cũng như và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động cũng có thể là một lần và cũng có thể là nhiều lần
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Chủ thể phải thực hành các tác động
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hay nhiều người ( trong tổ chức xã hội ), các vật hữu sinh, các vật vô tri vô giác Tóm lại, những khái niệm quản lý nêu trên đều có các đặc trưng chủ yếu, là: tính tự giác, tính mục đích và tính quần chung trong quản lý
1.2.6.2 Khái niệm về quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội Lĩnh vực này ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống; giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển Nó
là cái hiện hữu vô hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh thần Quản lý giáo dục là sự điển hình nhất vì đây là quản lý con người, quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách Sự hình thành và phát triển nhân cách là cái gốc để có dân trí, nhân lực và nhân tài
Một vài định nghĩa về quản lý giáo dục:
“Quản lý giáo dục là hệ thống có mục đích có kế hoạch, quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý của Đảng, thể hiện được tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội
tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ; đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [27-Tr.22]
- “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [28-Tr.85]
Trang 39- “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt đến mục tiêu của nó” [4-Tr.15]
Khái quát các định nghĩa trên ta thấy điểm chung của các định nghĩa này là: xác định được các chủ thể quản lý; khách thể quản lý; các hoạt động của chủ thể
và khách thể nhằm đạt được các mục tiêu của hoạt động quản lý Như vậy, quản
lý giáo dục là những tác động có phương hướng, có mục đích rõ ràng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục
có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội” [34-Tr.200]
1.2.6.3 Quản lý TTHTCĐ
TTHTCĐ là một hình thức giáo dục không chính quy, của dân, do dân, vì dân, do cấp uỷ Đảng chỉ đạo, UBND địa phương đứng ra thành lập và quản lý Như vậy, quản lý của TTHTCĐ do UBND xã, thị trấn thực hiện
Theo nghĩa: “trông coi và giữ gìn” đó là việc quản lý về cơ sở vật chất kỹ thuật của trung tâm
- Mục tiêu: Quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị của trung tâm nhằm vào
mục đích phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học viên, phát huy tối đa các nguồn lực sẵn có của cơ sở để phục vụ các hoạt động của trung tâm Vì vậy, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị là một nội dung đồng thời cũng
là biện pháp quản lý giáo dục trong TTHTCĐ nhằm mục đích phục vụ tốt nhất cho mọi hoạt động của trung tâm
“Quản lý tốt cơ sở thiết bị vật chất nhà trường không chỉ đơn thuần là bảo quản tốt, mà phải phát huy tốt năng lực của chúng cho dạy học và giáo dục, đồng thời còn làm sao để có thể thường xuyên bổ sung thêm những thiết bị mới
và có giá trị” [34-Tr.204]
- Nội dung quản lý: Kiểm tra và lập hệ thống vật chất hiện có Bảo quản,
bảo trì, bảo dưỡng Cập nhật số liệu mới Cơ sở vật chất của các TTHTCĐ ở
Trang 40nước ta bao gồm: Phòng học, hội trường, bàn, ghế, bảng, sách báo, tài liệu trong thư viện, các đồ dùng như tăng âm, loa đài, các phương tiện nghe nhìn, sân chơi
bãi tập …
- Cách thức quản lý: Người được giao phụ trách công tác quản lý cơ sở vật
chất của Trung tâm cần tham gia các hoạt động hàng ngày
Cập nhật hệ thống thông tin và bổ sung sách báo cho thư viện
Bảo quản, bảo trì tài liệu, trang thiết bị, đồ dùng dạy – học, ngôi nhà và cảnh quan xung quanh
Theo dõi việc chi tiêu tài chính và kiểm kê tài sản
Chẳng hạn, để quản lý tốt hoạt động của thư viện chúng ta cần làm như sau: Tiến hành kiểm kê để biết được số lượng, chủng loại, chất lượng của các loại sách báo, tài liệu
Tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến để đọc, mượn, trả sách nhanh gọn, chính xác, không mất thời gian nhưng đồng thời cũng nắm được những tài liệu mà nhân dân hay dùng Đó là, đề ra nội qui, hướng dẫn sử dụng tài liệu Ấn định thời gian mở cửa để nhân dân biết và tiện cho việc sử dụng Lập sổ theo dõi người mượn, trả … có phiếu ghi cụ thể và cập nhật vào sổ Theo nghĩa là quá trình “tổ chức và điều khiển các hoạt động”, quản lý TTHTCĐ cần thực hiện:
- Mục tiêu: Nhằm tổ chức và điều khiển các hoạt động của trung tâm theo
đúng kế hoạch và đạt được kết quả cao nhất
- Nội dung: Tổ chức các hoạt động; Quản lý đội ngũ giáo viên, giảng viên,
hướng dẫn viên và học viên của trung tâm; Liên kết, phân công trách nhiệm để nâng cao chất lượng giáo dục trong cộng đồng
- Cách thức tiến hành:
Huy động cộng đồng vào việc tổ chức thực hiện các chương trình
Khuyến khích học viên tham gia các chương trình được tổ chức tại trung