Lý do chọn đề tài Vấn đề nông thôn và ruộng đất ở miền Nam cũng như vấn đề nông thôn và ruộng đất nói chung trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta được Đảng hết sức quan tâm
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ HUỲNH HOA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 3Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, phòng Sau Đại học, phòng Khoa học Công nghệ, Thư viện và quý thầy cô khoa Lịch sử đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin dành phần trang trọng để bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn của tôi đối với TS Lê Huỳnh Hoa - giảng viên khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Cô đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu trường THCS Dương Bá Trạc và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành việc học tập và nghiên cứu
Tôi xin tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Huỳnh Hoa Các số liệu, thống kê, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Ngoài ra, luận văn có sự kế thừa các công trình nghiên cứu của những người đi trước và có sự bổ sung thêm những tài liệu mới
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Lân
Trang 51 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của đề tài 7
7 Bố cục của luận văn 7
Chương 1 ÂM MƯU, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN ĐỐI VỚI MIỀN NAM VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 1955 - 1963 8
1.1 Âm mưu của Mỹ-Diệm đối với nông thôn miền Nam Việt Nam 8
1.1.1 Tình hình miền Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 8
1.1.2 Âm mưu của Mỹ-Diệm đối với nông thôn miền Nam 10
1.2 Các chính sách của Mỹ-Diệm đối với nông thôn miền Nam 13
1.2.1 Chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” 13
1.2.2 Quốc sách “dinh điền”, “khu trù mật”, “ấp chiến lược” 19
1.2.3 Các tổ chức bóc lột nông dân 36
Chương 2 CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA CỦA MỸ-DIỆM Ở MIỀN NAM VIỆT NAM 39
2.1 Vấn đề ruộng đất trong âm mưu của Mỹ-Diệm đối với nông thôn và nông dân miền Nam 39
2.2 Tình hình ruộng đất miền Nam trước “cải cách điền địa” 41
2.3 Chính sách cải cách điền địa của Mỹ-Diệm ở miền Nam Việt Nam 45
Chương 3 CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM CHỐNG CHÍNH SÁCH RU ỘNG ĐẤT CỦA MỸ-DIỆM 66
3.1 Đời sống của nhân dân miền Nam dưới thời Mỹ-Diệm 66
Trang 63.2 Sự ra đời Nghị quyết 15 (1959) và phong trào Đồng khởi ở miền Nam
Việt Nam 72
3.2.1 Nghị quyết 15 và sự chuyển hướng phương thức đấu tranh cách mạng ở miền Nam 72
3.2.2 Phong trào Đồng khởi (1959-1960) 77
3.3 Thành quả đấu tranh giành và giữ ruộng đất của nhân dân miền Nam thời Mỹ-Diệm 81
3.3.1 Chính sách ruộng đất của Đảng ở miền Nam Việt Nam 81
3.3.2 Thành quả cuộc đấu tranh giành và giữ ruộng đất của nhân dân miền Nam 85
KẾT LUẬN 92
TÀ I LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 106
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề nông thôn và ruộng đất ở miền Nam cũng như vấn đề nông thôn và ruộng đất nói chung trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta được Đảng hết sức quan tâm, xem đây là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược cần phải luôn luôn quán triệt để củng cố khối liên minh công nông, bảo đảm lực lượng xã hội chiếm số đông trong nhân dân miền Nam là quần chúng nhân dân lao động tham gia kháng chiến chống ngoại xâm và xây dựng chế độ mới
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nông dân miền Nam đã làm chủ được một phần ruộng đất và nắm chính quyền ở nông thôn Tuy nhiên sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Mỹ đã thay chân Pháp và dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam Trong suốt quá trình xâm lược miền Nam
nước ta, đế quốc Mỹ và tay sai luôn sử dụng con bài “cải cách điền địa” Để đối
phó với tình hình miền Nam, Mỹ-ngụy đã không từ một thủ đoạn nào để đánh phá phong trào cách mạng ở nông thôn, đàn áp, lôi kéo nông dân, giành giật nông dân với cách mạng Mỹ-ngụy luôn coi vấn đề nông thôn và nông dân là những vấn đề hàng đầu phải giải quyết Vì vậy, trong suốt hơn 20 năm can thiệp
và trực tiếp xâm lược miền Nam, đế quốc Mỹ thông qua chính quyền Sài Gòn đã tiến hành nhiều chính sách thâm độc, tàn bạo đối với nông thôn và nông dân miền Nam Việt Nam Một trong những chính sách đó là chính sách ruộng đất hết sức phản động Việc triển khai chính sách ruộng đất phản động của Mỹ-ngụy cùng với chủ trương đánh phá nông thôn về quân sự và chính trị đã gây ra rất nhiều khó khăn và tổn thất cho nhân dân miền Nam
Do vậy, việc nghiên cứu chính sách cải cách điền địa của chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam sẽ góp phần vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn thâm độc và hậu quả của nó đối với nông thôn miền Nam là một việc làm cần thiết, chẳng những có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn Bởi vì việc phát triển nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng,
Trang 8đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Tình hình hiện nay ở nông thôn miền Nam vẫn còn tồn tại những khó khăn Đặc biệt, ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn nhiều vấn đề như: trình độ dân trí thấp, tình trạng nghèo nàn, lạc hậu trong nông thôn còn khá phổ biến Qua đó cho thấy vấn đề nông thôn ở thời kỳ nào cũng cần được coi trọng trong việc phát triển kinh tế của cả nước
Tuy nhiên đây là một vấn đề lớn và phức tạp, đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu, nhiều tư liệu chính xác về tình hình ruộng đất ở miền Nam trước giải phóng Do trình độ và tư liệu có hạn, chúng tôi chỉ xem đây là bước đầu tìm hiểu vấn đề này
2 Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ các lý do thực tiễn và khoa học nêu trên, đề tài “Cải cách điền
địa của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam, giai đoạn
1955-1963” mà chúng tôi nghiên cứu nhằm các mục đích sau đây:
- Làm rõ tính chất phản động của Mỹ-Diệm nhằm giành giật nông thôn và nông dân với cách mạng miền Nam
- Đánh giá đúng thực chất cái gọi là “cải cách điền địa” của Mỹ-Diệm để
rút ra những kết luận đúng đắn góp phần hiểu sâu sắc hơn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và là việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề ruộng đất ở nước ta và ở miền Nam từ lâu đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, cả về phía cách mạng cũng như phía
Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Các công trình nghiên cứu của phía cách mạng:
Trước năm 1975, hầu hết các công trình của giới nghiên cứu đều tập trung
nghiên cứu tình hình sở hữu ruộng đất và giai cấp ở nông thôn miền Nam nói chung, đương nhiên trong đó có đề cập đến vấn đề ruộng đất và giai cấp ở nông
Trang 9thôn Nam Bộ Tuy nhiên các công trình chỉ mới dừng lại ở thời điểm những năm
1960
Trong các công trình hiện có, đáng chú ý là một số công trình chuyên khảo
của các nhà nghiên cứu như: Về cái gọi là cải cách điền địa ở miền Nam Việt
Nam – Tạp chí Nghiên cứu kinh tế các số 21, 22 và 24 – 1964, Nguyễn Phong – Hoàng Linh; Vấn đề nông dân ở miền Nam Việt Nam – NXB Sự thật, H.1962,
Trần Hàm Luông; Những chuyển biến kinh tế của nền nông nghiệp vùng giải
phóng miền Nam – Tạp chí NCKT, số 39 – 1967; Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam, Trần Phương (Chủ biên), NXB Khoa học xã hội, H.1968… Ngoài ra còn
một số công trình nghiên cứu khác như ở bộ sách nhiều tập: Miền Nam giữ vững
Thành Đồng của Giáo sư Trần Văn Giàu (tập I, NXB Khoa học, H.1964), Một vài nét về quá trình xâm nhập của đế quốc Mỹ vào Việt Nam của Phạm Thành
Vinh (NXB Sự thật, H.1958), Tình hình kinh tế miền Nam Việt Nam của Bộ
ngoại thương Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Hà Nội, 1969)
Các công trình nói trên đều tập trung phê phán chính sách ruộng đất của Ngô Đình Diệm, đồng thời làm rõ sự đúng đắn của cách mạng ruộng đất dưới sự lãnh đạo của Đảng ta từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến những năm đầu của thập kỷ 60
Sau năm 1975, đáng chú ý nhất là các công trình sau đây: Một số vấn đề
khoa học xã hội về Đồng bằng sông Cửu Long của Viện Khoa học xã hội tại
Thành phố Hồ Chí Minh (NXB Khoa học xã hội, H.1982); Cách mạng ruộng
đất ở miền Nam Việt Nam của Lâm Quang Huyên (NXB Khoa học xã hội,
H.1985); Vài nét về cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội ở nông thôn miền Nam trước giải phóng của Cao Văn Lượng (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2, 1981); Tầng lớp trung nông ở đồng bằng Nam Bộ trước giải phóng của Nguyễn Văn Nhật
(Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 1 – 1981); Về tình hình sở hữu ruộng đất, máy
móc và cơ cấu các tầng lớp xã hội ở nông thôn Nam Bộ của Hồng Giao (Tạp chí
cộng sản, số 1, 1979); Những vấn đề công tác cải tạo và xây dựng nông nghiệp
Trang 10ở các tỉnh phía Nam của Nguyễn Trần Trọng (NXB Nông nghiệp, H.1980); Chủ nghĩa thực dân mới và vấn đề sở hữu ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long của
Trần Thị Bích Ngọc (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2 – 1986); Đồng bằng sông
Cửu Long của Phan Quang (NXB Văn hóa, H.1981); Đồng bằng sông Cửu Long
40 năm của Trần Bạch Đằng (Báo Nhân dân, số ra từ ngày 9-9-1985 đến ngày
15-9-1985); Quá trình trung nông hóa nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long
của Trần Hữu Đính (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4 – 1991) Gần đây còn có
luận văn “Chính sách cải cách điền địa của chế độ Sài Gòn và hệ quả của nó
đối với xã hội miền Nam (1954-1975)” của ThS.Lê Thị Hồng – trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn, 2008
Các công trình nghiên cứu đều đi sâu phân tích nguyên nhân và quá trình biến đổi về sở hữu ruộng đất và cơ cấu giai cấp ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), phê phán chính sách ruộng đất phản động của chính quyền Sài Gòn, khẳng định kết quả của quá trình thực hiện cách mạng ruộng đất của Đảng Cộng sản Việt Nam
Các công trình nghiên cứu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn:
Có một số công trình đáng chú ý như:
- Nghiên cứu về những điều kiện sinh sống và nhu cầu của dân cư Việt Nam, N ghiên cứu về khả năng và điều kiện phát triển của Việt Nam do Ngân
hàng Quốc gia xuất bản tại Sài Gòn, 1959 và Nghiên cứu một số yếu tố nhân văn
trong cuộc phát triển Việt Nam của Phái bộ “kinh tế học và chủ nghĩa nhân đạo”
(Mỹ) do Ngân hàng Quốc gia xuất bản tại Sài Gòn, 1959
- Một số công trình nghiên cứu của Phái đoàn cố vấn Đại học tiểu bang Michigan Phái đoàn này hoạt động tại miền Nam trong 7 năm (1955-1962),
xuất bản tới 156 công trình, trong đó có những công trình đáng chú ý: Cuộc
nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam – Phần Xã hội học của Gerald
Hickey, Sài Gòn, 1960, Nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam – Phần
Trang 11hoạt động hành chính của Lioyd W.Woodruff, Sài Gòn, 1960, Mỹ Thuận: Một làng thuộc ĐBSCL ở miền Nam Việt Nam của John Donoghue, Sài Gòn, 1961, Định cư tại nông thôn Việt Nam – Một khu trù mật đang phát triển của Joneph
J.Zasloff, Sài Gòn, 1962 Công trình đáng chú ý nhất đó là: Triển vọng phát
triển kinh tế ở Việt Nam do một phái đoàn gồm 22 người thực hiện dưới danh
nghĩa Liên Hợp Quốc, đứng đầu là Carter Goodrich (Mỹ), xuất bản tại New York, tháng 8-1956
Hầu hết các công trình đều phê phán tính chất nửa vời và phản động của cái gọi là “cải cách điền địa” của Ngô Đình Diệm
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu thành công đề tài, luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm phương pháp luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh Các phương pháp cụ thể là:
- Phương pháp lịch sử để liệt kê, hệ thống hóa các sự kiện, các chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện ở nông thôn miền Nam giai đoạn 1955-1963
- Phương pháp logic để phân tích, đánh giá làm rõ bản chất các chính sách của Mỹ-Diệm thực hiện ở nông thôn miền Nam
Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như: phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu… nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đề tài
Nguồn tài liệu:
Trang 12- Vấn đề ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long (2011) - tác giả Võ Văn
Phông Đệ nhất Cộng hòa:
- Hồ sơ về công tác cải cách điền địa năm 1951-1955
- Hồ sơ nguyên tắc về việc cải cách điền địa năm 1953-1956
- Hồ sơ về công tác cải cách điền địa tại các tỉnh Nam Việt năm 1957
- Hồ sơ nguyên tắc về cải cách điền địa năm 1958
- Hồ sơ nguyên tắc quy định về việc cải cách điền địa năm 1957
- Hồ sơ nguyên tắc về cải cách điền địa năm 1959
- Hồ sơ các phiên họp của Hội đồng cải cách điền địa năm 1958
Phông Phủ thủ tướng Việt Nam Cộng hòa:
- Dụ, sắc lệnh và các văn bản tu chỉ về việc cải cách điền địa năm
1956-1965
- Tập sắc lệnh, nghị định, thông tư của Phủ tổng thống, Bộ cải cách điền địa
về công tác quản lý ruộng đất năm 1953-1968
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học liên quan đến chính sách cải cách điền địa của chính quyền Sài Gòn, cũng như một
số công trình luận văn, luận án và một số sách, báo, bài viết liên quan đến đề tài
5 Đóng góp của luận văn
Qua việc lựa chọn, tổng hợp, phân tích một khối lượng lớn tài liệu xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, luận văn có khả năng cung cấp những thông tin khoa học lịch sử có giá trị và đáng tin cậy cho việc nghiên cứu về chính sách cải cách điền địa của chế độ Sài Gòn giai đoạn 1955-1963
Trang 13Luận văn cũng phác họa được toàn cảnh lịch sử của chính sách cải cách điền địa của chính quyền Sài Gòn thời kỳ Mỹ-Diệm ở những nét cơ bản nhất Những phân tích, kiến giải của luận văn đều thể hiện tính nghiêm túc, khoa học và do đó nó mang ý nghĩa nhất định về mặt khoa học và thực tiễn Với những phân tích và kiến giải đó, luận văn hy vọng sẽ đóng góp một phần nào đó
vào công cuộc nghiên cứu khoa học về “Cải cách điền địa của chính quyền Việt
Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam, giai đoạn 1955-1963”
6 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu trong không gian miền Nam Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1955 đến 1963
Đối tượng nghiên cứu là các chính sách của Mỹ-Diệm thực hiện ở nông
thôn miền Nam, đặc biệt là chính sách “cải cách điền địa”
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ đề tài này cần giải quyết gồm:
- Xác định rõ chủ trương, chính sách và kế hoạch tiến hành của hoạt động
“cải cách điền địa” của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955-1963
- Vạch rõ bản chất phản động, tính chất thực dân mới của chính sách ruộng
đất của Mỹ-Diệm qua hoạt động “cải cách điền địa” ở miền Nam Việt Nam giai
đoạn 1955-1963
7 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Âm mưu, chính sách của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với miền Nam Việt Nam, giai đoạn 1955-1963
Chương 2: Cải cách điền địa của Mỹ-Diệm ở miền Nam Việt Nam
Chương 3: Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống chính sách ruộng
đất của Mỹ-Diệm
Trang 14Chương 1
ÂM MƯU, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN ĐỐI VỚI MIỀN NAM VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 1955 - 1963 1.1 Âm mưu của Mỹ-Diệm đối với nông thôn miền Nam Việt Nam
1.1.1 Tình hình miền Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ
Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7/1954), Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn dưới ách thống trị của
đế quốc và tay sai Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, trong mục tiêu chung của thời đại là đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
Trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết 13 ngày (7-7-1954), Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm (người được Mỹ nuôi dưỡng từ lâu) về nước làm thủ tướng bù nhìn thay thế Bửu Lộc, thành lập nội các mới Tháng 9-1954, Mỹ quyết định chuyển thẳng viện trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm Ngoại trưởng Mỹ Dulles cho rằng Mỹ đầu tư ở miền Nam Việt Nam là rất cần thiết và chính đáng Tháng 11-1954, Mỹ cử tướng Lawton Collins sang làm đại sứ ở Sài Gòn Collins đề ra kế hoạch sáu điểm để củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm độc chiếm miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới
Mỹ chủ trương “cần có một chính phủ dựa vào lực lượng cảnh sát mới có
hiệu lực loại trừ các phần tử gây rối” [27; tr.27], nên họ đã cung cấp vũ khí,
phương tiện chiến tranh, viện trợ thẳng cho quân đội và chính quyền Sài Gòn khoảng 2 tỷ đô la, trung bình mỗi năm 300 triệu đô la Mỹ chú trọng củng cố xây dựng quân đội nguỵ Sài Gòn (lên tới 10 sư đoàn bộ binh vào năm 1955) thành đội quân hoàn toàn do Mỹ chi phối Với viện trợ, vũ khí đổ vào, Mỹ đã giúp Diệm thiết lập chính quyền tay sai phục vụ cho chủ nghĩa thực dân mới có tính chất điển hình ở miền Nam Việt Nam (1954-1963)
Trang 15Dưới sức ép của Mỹ, ngày 13-12-1954, Pháp buộc phải ký với Mỹ hiệp ước giao cho Mỹ trách nhiệm huấn luyện trang bị quân nguỵ ở miền Nam Việt Nam Quân đội Sài Gòn giờ đây do Mỹ thao túng và xây dựng lại thành công cụ chống cộng hữu hiệu để phục vụ cho các mục tiêu của chủ nghĩa thự dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Nắm được quân đội, cảnh sát, những công cụ thống trị chủ yếu, theo lệnh Mỹ, Ngô Đình Diệm tiến hành một bước mới xé bỏ Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Việt Nam Ngày 17-7-1955, Diệm tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do Ngày 23-10-1955, Mỹ hậu thuẫn cho tay sai tổ chức
trò hề “trưng cầu dân ý”, phế chức Bảo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống “Việt Nam cộng hoà” một cách “hợp pháp”
Nhằm tạo dựng cho chính quyền tay sai một bộ mặt “hợp hiến, hợp pháp”,
Mỹ đã giật dây cho Ngô Đình Diệm tổ chức bầu cử quốc hội riêng rẽ (4-3-1956)
và cho công bố “Hiến pháp Việt Nam cộng hoà” vào ngày 26-10-1956 Đây là
việc làm hoàn toàn bất hợp pháp, trái với quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ Mỹ
đã thực hiện mọi thủ đoạn để biến miền Nam Việt Nam thành một quốc gia riêng rẽ, hòng chia cắt Việt Nam lâu dài
Mỹ đã dồn công sức, tiền của để củng cố và xây dựng quân đội Sài Gòn, coi đó là một trong những biện pháp hiệu quả làm cho chính quyền tay sai mạnh lên Mỹ đã biến quân đội Sài Gòn thành đội quân thân Mỹ, hoàn toàn do Mỹ chi phối về mặt tổ chức, trang bị, huấn luyện, tác chiến
Cho tới tháng 6-1955, Mỹ đã xây dựng cho chính quyền Sài Gòn một đội quân dưới quyền trực tiếp của các cố vấn Mỹ gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp và 54000 quân địa phương Số cố vấn Mỹ từ 35 người vào năm 1950 tăng lên 699 người vào năm 1956 và có mặt đến tận cấp sư đoàn Mỹ lập ra Phái bộ tác chiến lục quân – CATO (Combat Arms Training Organization) và Phái bộ trang bị cung cấp – TERM (Temporary Equipment Recovery Mission) do Phái bộ viện trợ quân sự Mỹ - MAAG (Military Assistance Advisory Group, thành lập tháng 9-1950 tại Việt Nam) chỉ
Trang 16huy Quân đội Sài Gòn được Mỹ trang bị tương đối hiện đại, được huấn luyện theo chương trình do cố vấn Mỹ đặt ra Mỹ đã tiến hành xây dựng hệ thống sân bay, quân cảng, các đường giao thông chiến lược nhằm biến miền Nam Việt Nam thành một căn cứ quân sự khổng lồ Trong vòng chưa đầy 2 năm (từ 7-
1954 đến 6-1956) Mỹ đã tác động làm thay đổi toàn bộ cơ cấu thống trị trước đây của thực dân Pháp bằng chính quyền tay sai phục vụ cho sự thống trị của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam – Việt Nam Cộng hòa
1.1.2 Âm mưu của Mỹ-Diệm đối với nông thôn miền Nam
Âm mưu chiến lược lâu dài của đế quốc Mỹ là tiêu diệt cách mạng miền Nam Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng, lấy đó làm bàn đạp để đánh chiếm miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn cách mạng xã hội chủ nghĩa lan xuống Đông Nam Á Mỹ còn muốn lấy miền Nam Việt Nam làm nơi thí nghiệm các loại chiến lược, chiến thuật và vũ khí mới để đàn áp phong trào cách mạng các nơi khác trên thế giới Nếu xét về mục tiêu kinh tế cũng như bản chất chính trị phản động thì chủ nghĩa thực dân mới không khác chủ nghĩa thực dân cũ Cái khác là chủ nghĩa thực dân mới dùng các thủ đoạn chính trị và bóc lột một cách tinh vi, che đậy, không trực
tiếp cai trị dân bản xứ Mỹ có thể ban bố “độc lập” giả hiệu cho các thuộc địa cũ
thông qua bộ máy chính quyền người bản xứ do Mỹ dựng lên, do hệ thống cố
vấn thực dân mới khống chế và điều khiển Thông qua hệ thống “viện trợ” kinh
tế, quân sự, Mỹ làm cho những thuộc địa kiểu mới phải phụ thuộc vào chúng về tài chính, kỹ thuật, tiềm lực quân sự và thị trường
Nhưng chủ nghĩa thực dân mới là sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc cho nên
dù có đổi mới hình thức xâm lược, dù có ngụy trang phương pháp bóc lột nhằm chiếm đoạt lợi nhuận độc quyền cao, bản chất của chủ nghĩa thực dân mới vẫn là
áp bức bóc lột nhân dân lao động các nước thuộc địa và phụ thuộc bằng cách nô dịch các nước này về kinh tế và cả chính trị [32]
Trang 17Như vậy, thực chất của chủ nghĩa thực dân mới là chủ nghĩa thực dân giấu mặt, trá hình Nó là chính sách của chủ nghĩa đế quốc nhằm cứu vãn chủ nghĩa thực dân cũ đang sụp đổ, nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc, phong trào nông dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, kìm hãm xu hướng tiến lên
chủ nghĩa xã hội của công nhân, nông dân ở các nước đó Ở miền Nam Việt Nam, từ sau 1954, mục tiêu và ý đồ của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ cũng không ngoài mục đích chống lại thế tiến công của cách mạng miền Nam, chĩa mũi nhọn vào phong trào giải phóng dân tộc, phong trào nông dân, tìm cách áp đặt ách thống trị thực dân mới lên đồng bào ta, kìm chế nhân dân miền Nam trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản do đế quốc Mỹ đứng đầu
Để thực hiên mục tiêu trên, bên cạnh mọi hình thức thủ đoạn lừa bịp mua chuộc tinh vi, xảo trá, chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ với bản chất xâm lược,
gây chiến đã núp dưới chiêu bài “chống cộng”, “bảo vệ thế giới tự do”, tiến
hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới lâu dài, tàn bạo ở miền Nam Việt Nam Trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân mới, một trong những âm mưu và hành động chủ yếu của đế quốc Mỹ và tay sai là nhằm đối phó với phong trào nông dân và nông thôn miền Nam Chúng xác định vấn
đề nông thôn và nông dân thành vấn đề khẩn thiết, cấp bách và cho rằng: “cứu
nông thôn tức là cứu chế độ” [49; tr.9-10]
Chúng ta đều biết địa bàn nông thôn miền Nam có một vị trí chiến lược quan trọng Nơi đây không những là nguồn lực về sức người, sức của, mà còn là nơi có phong trào cách mạng mạnh mẽ của nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân Thành bại của cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân mới trước hết là phụ thuộc vào việc Mỹ và tay sai có thống trị, kìm kẹp, khuất phục được người nông dân miền Nam hay không Do đó, để giành thắng lợi cơ bản cho cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam, đế quốc
Mỹ và tay sai xác định phải giành cho được địa bàn nông thôn
Trang 18Tuy nhiên, khi can thiệp vào miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ vấp phải một đối tượng mà chúng không thể coi thường Đó là cả một dân tộc đã giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám và chiến thắng thực dân Pháp Đại đa số con người của dân tộc ấy là nông dân, đã được hưởng quyền làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn Do đó mà trong suốt hơn 20 năm can thiệp và xâm lược
miền Nam, đế quốc Mỹ và tay sai luôn luôn thi hành chính sách “bình định nông
thôn” Đây là chính sách bao trùm lên các chính sách ở nông thôn để chống lại phong trào đấu tranh thống nhất đất nước, độc lập dân tộc và xu thế đi lên chủ
nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam Đế quốc Mỹ coi chính sách “bình định
nông thôn” là khâu mấu chốt để chống chiến tranh cách mạng, chống sự nổi dậy của quần chúng Theo chúng đây là biện pháp tổng hợp các mặt hoạt động quân
sự, chính trị, kinh tế, văn hóa… nhằm nhiều mục tiêu, chủ yếu là “tiêu diệt cơ sở
hạ tầng của cách mạng” mà chúng cho là đầu mối của mọi nguy cơ, để giành
dân và khống chế chặt chẽ nhân dân mà theo chúng là nguồn gốc của mọi thành công
Do vậy, “bình định nông thôn” là biểu hiện tập trung của chích sách thực
dân mới, là một thủ đoạn chiến lược của Mỹ ở miền Nam nhằm đánh phá cách mạng một cách toàn diện Thực chất, đó là một cuộc chiến tranh xâm lược cực
kỳ tàn bạo của Mỹ ở nông thôn miền Nam
Qua thực tế hơn 20 năm của chiến tranh Việt Nam, trong ba địa bàn hoạt động ở miền Nam: thành thị, nông thôn và rừng núi, địa bàn mà chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ phải tập trung đối phó dai dẳng nhất, ác liệt nhất, khó khăn nhất
đó là nông thôn Để thực hiện biện pháp trên Mỹ đã phái những chuyên gia sừng
sỏ về công tác bình định như Lansdale, Ladejinsky, Komer, Thompson sang miền Nam Việt Nam giúp cho chính quyền Sài Gòn thực hiện kế hoạch bình định này
Báo Cách mạng quốc gia (số 191 năm 1959) – cơ quan ngôn luận chính
thức của chính quyền Ngô Đình Diệm, đã nhấn mạnh “an ninh nông thôn là vấn
Trang 19đề sống chết của chế độ cộng hòa”, là “vấn đề khẩn thiết phải giải quyết gấp đứng đầu các công cuộc khác”, “kiểm soát được nông thôn, ta sẽ chiến thắng cuộc chiến tranh này Mất nông thôn, ta sẽ mất tất cả Nông thôn quyết định chiến trường” [32; tr.29]
Thủ đoạn cơ bản của Mỹ-Ngụy để tiến hành “bình định nông thôn” là sử
dụng bạo lực phản cách mạng Bom đạn và chất khai quang của Mỹ được trút xuống nông thôn miền Nam Việt Nam với mật độ dày đặc là những phương tiện
đã được dùng để phục vụ trực tiếp các chiến dịch “bình định”
Mỹ-Diệm đã không từ một thủ đoạn thâm độc, tàn bạo nào nhằm đánh phá phong trào cách mạng, triệt hạ cơ sở cách mạng ở nông thôn miền Nam, đàn áp, lôi kéo, tranh giành nông dân với cách mạng Chúng luôn luôn coi vấn đề nông
thôn, vấn đề nông dân là vấn đề hàng đầu phải giải quyết với phương châm:
“cứu nông thôn là cứu chế độ”
Tuy nhiên, các chương trình “bình định nông thôn” của Mỹ-Diệm, dù tàn
bạo và thâm độc đến đâu, vẫn bị quần chúng nhân dân, nhất là nông dân chống
đối hết sức quyết liệt Nhận xét về kết quả “bình định nông thôn”, Peter Ácnét, phóng viên hãng AP của Mỹ đã vạch rõ: “Lịch sử bình định nông thôn ở miền
Nam là một bảng kê những kế hoạch to lớn bị sụp đổ, những nghị lực vô hạn của các cố vấn có tài năng tan thành mây khói…” [32; tr.31]
1.2 Các chính sách của Mỹ-Diệm đối với nông thôn miền Nam
1.2.1 Chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”
Với Mỹ-Diệm, lực lượng cách mạng của nhân dân miền Nam là mối hiểm họa lớn nhất và cơ bản nhất đối với chế độ của chúng Vì vậy, ngay khi vừa lên cầm quyền ở miền Nam, Ngô Đình Diệm đã cho tay chân tổ chức các cuộc vây bắt, tàn sát, khủng bố hết sức ác liệt những người kháng chiến cũ, những người đấu tranh đòi hiệp thương, tổng tuyển cử, thống nhất đất nước và cả những người không ủng hộ Diệm
Trang 20Lợi dụng lúc Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ, rút khỏi các vị trí đóng quân, các vùng tự do cũ về nơi tập kết, địch tiến hành đánh phá ngay, hòng gây không khí khủng khiếp trong nhân dân,
làm cho hàng ngũ đảng viên và quần chúng bị rối loạn Với phương châm “Tiêu
diệt cộng sản không thương tiếc”, “tiêu diệt cộng sản tận gốc”, “thà giết lầm hơn bỏ sót”,… Mỹ-Diệm đã gây ra hàng loạt vụ thảm sát bằng những hình thức
giết người man rợ thời trung cổ, kết hợp với những phương pháp tra tấn, cực hình hiện đại, hòng bóp chết tinh thần yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam Cuối năm 1954, Mỹ-Diệm tiến hành thí điểm chiến
dịch “tố cộng, diệt cộng” đầu tiên ở Quảng Nam, lấy tên là “chiến dịch Phan
Chu Trinh”, đồng thời Diệm gấp rút lập Tổng ủy Công dân vụ, chuyên trách vấn
đề chuẩn bị, theo dõi các chiến dịch tố cộng Bản thân Ngô Đình Diệm đứng ra làm chủ tịch danh dự Hội đồng nhân dân chỉ đạo tố cộng, tổ chức hơn 600 tên tâm lý chiến, gần 4000 tên cán bộ ác ôn, hơn một vạn tên ác ôn, và hơn một vạn cán bộ cơ sở ở huyện, xã để phục vụ công việc tố cộng
Từ giữa năm 1955, Mỹ-Diệm bắt đầu tiến hành một cách có tổ chức chiến
dịch “tố cộng, diệt cộng” trên toàn miền Nam và coi đây là “quốc sách” Mục đích của chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ-Diệm là cốt nhằm “gây uất hận
trong dân chúng đối với Việt cộng:
a) Để cho nhân dân tố giác Việt cộng ở lại hoạt động
b) Khủng bố tinh thần Việt cộng làm cho Việt cộng nghi ngờ quần chúng
mà không dám hoạt động nữa
c) Đánh lệch tư tưởng các phần tử lừng chừng còn hướng về cộng sản phải ngả hẳn về chính phủ quốc gia
d) Thêm phương tiện để kiểm soát cán bộ cộng sản còn ở lại hoạt động trong vùng quốc gia kiểm soát” [18; tr.56]
Thực hiện quốc sách “tố cộng, diệt cộng”, chính quyền Ngô Đình Diệm
kiện toàn bộ máy tổ chức thực hiện Tổng ủy Công dân vụ thành lập tháng
Trang 213-1955, ngày càng được tăng cường và chuyên lo việc đàn áp chính trị với gần
4000 tên mật vụ, 9000 tên mật hộ viên, 12000 liên gia trưởng Một hệ thống tổ chức “tố cộng” từ trung ương xuống tận xã thôn Ở Sài Gòn, lập “Hội đồng nhân dân chỉ đạo tố cộng”, gồm tất cả các Bộ trưởng trong chính phủ do đích thân Ngô Đình Diệm làm chủ tịch danh dự và Trần Chánh Thành là chủ tịch hội đồng Hội đồng chỉ định ra Ủy ban chỉ đạo tố cộng trung ương, có ban thường
trực gồm đại diện của các Bộ Thông tin, Quốc phòng Nhiệm vụ của Ủy ban chỉ
đạo này là trực tiếp chỉ đạo phong trào tố cộng ở các tỉnh, các cơ quan, đào tạo
cán bộ phong trào Ủy ban có nhiều ban giúp việc
Mỗi tỉnh có một Ủy ban chỉ đạo tố cộng Mỗi Bộ có một Ủy ban chỉ đạo dọc xuống các cơ quan thuộc bộ mình Thành phần ban chỉ đạo giống như ở trung ương, còn ở các cơ quan thì gồm đại biểu cơ quan và liên đoàn công chức của phong trào cách mạng quốc gia Huyện, xã đều có Ủy ban chỉ đạo tố cộng của huyện, của xã Mỗi xã, thôn lại chia ra nhiều liên gia tố cộng
Trong năm 1955, dưới nhãn hiệu “Phái bộ đại học đường Michigan”, các
cố vấn Mỹ đến miền Nam giúp Ngô Đình Diệm xây dựng bộ máy cảnh sát, đào tạo cán bộ, phổ biến kĩ thuật điều tra và tra tấn, thành lập một hệ thống điều tra
lí lịch tối tân
Mặt khác, để có cơ sở pháp lí cho chính sách khủng bố, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành các luật lệ phát xít, trong đó có Dụ số 6 (11-1-1955) về
việc lập các trại tập trung, giam giữ những người gọi là “nguy hiểm cho quốc
phòng và an ninh”, Dụ số 13 (20-2-1956) bóp nghẹt quyền tự do báo chí [18; tr.56]
Trang 22- Đợt 2 từ tháng 9 đến tháng 11-1955, trọng điểm tiến hành trong nội bộ các
cơ quan ngụy quyền
- Đợt 3 từ 15-11-1955 đến tháng 5-1956 làm rộng rãi ở các tỉnh để triệt hạ
uy thế chính trị của cộng sản và thanh trừng số cán bộ cầu an của chúng ở xã Khi tiến hành, trong mỗi đợt gồm nhiều bước, có điều chỉnh rút kinh
nghiệm Kế hoạch “tố cộng” của địch lúc đầu tiến hành trên diện rộng, sau đó
đánh vào chiều sâu, đánh cả nông thôn và thành thị Mục tiêu của chúng là tập trung vào những nơi có phong trào cách mạng phát triển mạnh trong kháng chiến chống Pháp Thực hiện được như vậy, Mỹ-Diệm sẽ củng cố được thế lực, đẩy mạnh những hoạt động phá hoại hòa bình, dập tắt được phong trào đấu tranh của nhân dân đòi hiệp thương tổng tuyển cử
Phương châm hoạt động của địch là: “Tất cả phục vụ cho chiến dịch tố
cộng” Địch chia nhân dân ra làm ba loại: Loại cán bộ và đảng viên cộng sản,
loại gia đình có người đi tập kết, loại nhân dân nói chung Tùy theo đối tượng
mà địch tổ chức “tố cộng” có mức độ khác nhau [18; tr.57]
Từ tháng 7-1956 trở đi, địch mở chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” giai đoạn
II, trọng điểm là đánh vào miền Đông Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long Để hợp pháp hóa chính sách “tố cộng, diệt cộng”, Điều 7 Hiến pháp
(26-10-1956) của Việt Nam Cộng hòa ghi: “Những hành vi có mục đích phổ biến
hoặc thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức đều trái với nguyên tắc ghi trong hiến pháp” Phương châm của “quốc sách diệt cộng” là: “Tiêu diệt Việt cộng không thương tiếc… tiêu diệt như trong tình trạng chiến tranh, thà giết lầm chứ không bỏ sót” [18; tr.57]
Ở giai đoạn này, địch điều tra rồi phân chia loại theo gia đình:
- Gia đình loại A là gia đình những người kháng chiến cũ, gia đình có người tham gia tập kết, những người yêu nước, thiết tha với hòa bình, độc lập,
thống nhất mà địch gọi chung là “Việt cộng” Địch coi đây là loại gia đình bất
hợp pháp
Trang 23- Loại B là những gia đình có bà con, họ hàng thân thuộc với loại A, cũng được liệt vào danh sách gia đình bất hợp pháp
- Loại C gồm những gia đình vây cánh hậu thuẫn cho chính quyền Ngô Đình Diệm, được ưu đãi về chính trị, kinh tế
Những người thuộc gia đình loại A và B bị bắt tập trung học tập “tố cộng”
Trước hết, địch bắt mọi người học tập chính trị và liên hệ nói xấu cách mạng, nói xấu Việt cộng, coi Mỹ-Diệm là chính nghĩa, thừa nhận bọn phản quốc tay sai
Mỹ là chính nghĩa quốc gia Địch bắt mỗi người phải tự khai nhận về hoạt động của bản thân mình, tố giác các đồng chí, đồng bào và người thân của mình
Những người bị tố giác, địch bắt phải tự nhận là “Việt cộng” được cài lại để phá hoại Những người không “nhận tội” sẽ bị tra tấn ngay tại chỗ, tại lớp học hay
trong các phòng thẩm vấn và có thể bị thủ tiêu Cách thức tra tấn của Mỹ-Diệm tàn ác không thua kém gì so với thời Trung cổ, như dùng đinh đóng vào các khớp xương, treo người lên xà nhà, đổ nước xà phòng, tra điện… [18; tr.58]
Qua các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ-Diệm, hàng ngàn cán bộ,
đảng viên, đồng bào bị địch tra tấn, giết hại, thủ tiêu, tù đày Tại nhà tù Côn
Đảo, với hệ thống “chuồng cọp”, người giam bị biệt lập hoàn toàn với bên
ngoài, thường xuyên bị đánh đập, tra tấn dã man Chỉ trong ba năm từ 1957 đến
1959, đã có 3000/4000 người bị chết Nhà lao Bến Tre không những chứa 1000 người như trước mà thường xuyên phải chứa 3000 người Nhà lao Phú Lợi, người bị giam trong hầm lộ thiên, sâu khoảng 3-4m, rộng 3m, trên mặt hầm rào bằng dây thép gai, không lợp mái nên tù nhân phải chịu đựng phơi sương, nắng, mưa suốt ngày đêm, tư thế luôn luôn phải ngồi, đứng thì chạm đầu bị thép gai đâm Ngày 1-12-1958, tại đây, địch đầu độc một lúc 6000 người, làm 4000 người trúng độc, 1000 tù nhân chết tại chỗ Số khác, địch dùng hình thức chuyển vùng đưa đi quản thúc Rất đông cán bộ, đảng viên từ Nam Bộ bị đưa lên Tây Nguyên quản thúc, thực chất là lao dịch khổ sai
Trang 24Chính sách khủng bố điên cuồng của Mỹ-Diệm nói trên đã gây cho cách mạng miền Nam nhiều tổn thất nghiêm trọng Ở Quảng Trị cuối năm 1954, sau khi thực hiện xong việc chuyển quân tập kết, số đảng viên còn lại là 8400 phân
bố khắp các địa phương trong tỉnh Cuối năm 1957, chỉ còn 306 cán bộ, đảng viên Ở Thừa Thiên, sau khi chấn chỉnh tổ chức còn 300 đảng viên, đến 1957, ở đồng bằng còn vài chi bộ, miền núi còn lại duy nhất một chi bộ Ở Liên khu V,
số cán bộ, đảng viên còn lại sau tập kết bình quân mỗi tỉnh trên dưới 10 ngàn, nhưng đến cuối 1956-đầu 1957, hầu hết các tổ chức đảng ở Liên khu V bị tan vỡ: 70% số cấp ủy xã, 60% huyện ủy viên, 40% tỉnh ủy viên ở các tỉnh đồng bằng bị bắt, bị giết, nhiều huyện, xã không còn cán bộ lãnh đạo Ở Đảng bộ Quảng Nam-Đà Nẵng, hòa bình lập lại có 35.000 đảng viên, đến cuối 1958 còn dưới 100 đồng chí hoạt động đơn tuyến Nếu tính cả miền núi và đồng bằng, thì tỉnh khá nhất cũng chỉ còn 10 chi bộ, mỗi chi bộ có ba đảng viên, tỉnh yếu chỉ còn 2 đến 3 chi bộ
Tại Nam Bộ, nhiều cơ sở bí mật ở địa phương bị thiệt hại nặng nề Ở Trà Vinh, địch bắt 42 người, giết chết 3 cán bộ cơ sở của ta Ở An Giang, địch bắt
21 cán bộ ta, làm 13 chi bộ ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên bị tê liệt hoàn toàn
Ở Kiến Tường, trong 6 tháng cuối năm 1958, địch đã bắt, thủ tiêu và mang đi mất tích 132 cán bộ, đảng viên Đặc biệt nghiêm trọng là Kiến Hòa và Định Tường, ở hai tỉnh này, từ tháng 7 đến tháng 9-1958, địch đã bắt 95 người, trong
đó có 2 tỉnh ủy viên, 2 huyện ủy viên, 13 chi ủy viên, 20 cán bộ giao liên và 11 đảng viên cơ sở Tính đến cuối năm 1958, trên toàn miền Nam, Mỹ-Diệm đã giết hại khoảng 68.800 cán bộ, đảng viên, bắt giam 466.000 người và tra tấn thành thương tật 680.000 người
Ngày 23-3-1959, Diệm công khai tuyên bố tình trạng chiến tranh ở miền Nam và lấy cớ đó để huy động toàn bộ quân đội, cảnh sát vào các cuộc hành
quân càn quét Địch tập trung đánh vào các khu căn cứ của ta ở miền Đông Nam
Bộ, ở Đồng Tháp Mười và vùng U Minh Trong năm 1959, địch mở 279 cuộc
Trang 25hành quân càn quét, trong đó có 12 cuộc hành quân với quy mô lớn từ cấp trung đoàn trở lên
Ngày 6-5-1959, Ngô Đình Diệm ban hành Luật 10/59, bước hoàn chỉnh hệ thống pháp luật chống cộng ở mức cao nhất, phát xít nhất Ngay sau đó, để tăng thêm mức độ tàn ác của Luật 10/59, ngày 4-7-1959, Luật số 21/59, sửa đổi điều
163 của Bộ quân luật được ban hành Nội dung sửa đổi: tử hình tội phạm là
“thường nhân” bị Toà án quân sự đặc biệt tuyên bằng cách “đoạn đầu” – chém
đầu, thay vì “bị bắn” như điều 163 (gốc) của Bộ quân luật quy định Hình thức
tử hình dùng máy chém có từ thời trung cổ được áp dụng phổ biến ở Miền Nam
khi thi hành Luật 10/59 Chính điều này biến máy chém thành biểu tượng của
chế độ Ngô Đình Diệm tàn bạo [37] Các Tòa án quân sự đặc biệt được thiết lập
ở Sài Gòn, Buôn Ma Thuột, Huế Máy chém được đưa về địa phương để thi hành ngay tại chỗ các bản án tử hình Chỉ trong một thời gian ngắn cuối năm
1959, tòa án quân sự đặc biệt Sài Gòn lưu động trong 9 tỉnh Nam Bộ và tuyên
20 án tử hình, 27 án khổ sai chung thân Địch hy vọng với các biện pháp “cứng
rắn” sẽ làm cho quần chúng nhân dân khiếp sợ, đem lại an ninh cho chế độ
Song, chính những hành động tàn bạo đó lại kích động lòng căm thù của nhân dân, khiến họ quyết đứng về phía cách mạng để chống lại Mỹ-Diệm [18], [49]
1.2.2 Quốc sách “dinh điền”, “khu trù mật”, “ấp chiến lược”
bỏ vốn vào kinh doanh [64; tr.41]
Chính sách “dinh điền” được chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành từ năm
1957 Tháng 4-1957, Diệm thành lập Phủ Tổng uỷ dinh điền, tổ chức như một
Bộ trực thuộc Phủ Tổng thống (Bùi Văn Lương làm Tổng uỷ trưởng, phụ tá là
Trang 26tướng Lê Văn Kim) Cố vấn Mỹ chỉ đạo trực tiếp là Barow Ngày 9-5-1957,
Barow tuyên bố Mỹ dành 10 triệu đô la cho quốc sách này “Quốc sách dinh
điền” của Mỹ-Diệm nhằm những mục đích chủ yếu sau:
Một là, thực hiện kế hoạch xây dựng các khu dinh điền, trước tiên là bắt cho được những cơ sở và những người có tinh thần đấu tranh ở những vùng có ảnh hưởng của cách mạng (nhất là các vùng tự do cũ của Liên khu V và những căn cứ cách mạng cũ ở Nam Bộ) đưa đi dinh điền (chủ yếu là ở Tây Nguyên) để xây dựng các căn cứ quân sự, đồng thời cũng là một biện pháp tập trung thành phần này lại để dễ quản chế, làm xáo trộn các cơ sở cách mạng ở địa phương, làm cho phong trào đấu tranh của nhân dân mất nòng cốt, sẽ tan rã Ngoài ra, thành phần chủ yếu tham gia dinh điền là dân di cư từ miền Bắc vào, Mỹ-Diệm
âm mưu dùng lực lượng này để kìm kẹp, kiểm soát bộ phận mà chúng tình nghi
là cộng sản bị bắt đưa từ đồng bằng đưa lên
Hai là, lập địa điểm dinh điền là lập những chốt bán quân sự, gồm những người trung thành với Diệm vào trung tâm những căn cứ kháng chiến cũ ở rừng
núi Báo chí Sài Gòn ủng hộ Diệm cho rằng, địa điểm dinh điền là “những pháo
đài tiễu Cộng”, là “những cứ điểm bao vây Việt cộng không cho chúng một mảnh đất hoang vu nào để hoạt động” Báo Cách mạng Quốc gia (25-4-1958)
khen ngợi “đồng bào di cư tình nguyện tham gia kế hoạch dinh điền, rất xứng
đáng là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận chống cộng”
Ba là, “quốc sách dinh điền” là một bộ phận chủ yếu trong âm mưu biến
miền Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ-Diệm khu dinh điền được tiến hành khắp miền Nam, trong đó Tây Nguyên, vùng chiến lược quan trọng của toàn bộ Đông Dương được địch chú trọng đặc biệt Ratfo, Tổng Tham mưu trưởng của
Mỹ đã tuyên bố rằng, Tây Nguyên có thể trở thành địa bàn cơ động quan trọng, lấy Plâycu làm trung tâm Các địa điểm dinh điền là những nơi tập trung nhân lực, nhân lực là nhân tố lớn trong tiềm lực chiến tranh Tây Nguyên càng quan
Trang 27trọng về chiến lược thì càng phải đưa dân lên đó Chính quyền Ngô Đình Diệm
có kế hoạch đưa khoảng một triệu dân lên Tây Nguyên
Bốn là, ý nghĩa kinh tế của dinh điền Các địa điểm dinh điền là những trung tâm trồng cây công nghiệp Cụ thể, thông qua lập các khu dinh điền, chính quyền Ngô Đình Diệm muốn trồng một số loại cây công nghiệp có giá trị cao, như cà phê, chè và hoa quả đặc sản để xuất khẩu [18; tr.68-69]
Để lôi kéo và dồn ép quần chúng nhân dân vào các khu dinh điền, địch tổ chức học tập tài liệu dinh điền, trong đó chúng ra sức tuyên truyền lừa gạt rằng,
“dinh điền” là biện pháp nhằm “tăng vốn và lợi ích quốc gia, đồng thời tư hữu hoá nông dân vô sản”, “cải tiến kĩ thuật canh tác”, “điều hoà dân cư”, “chỉnh trang lãnh thổ”, “cải thiện dân sinh”,… Học tập xong, nếu ai không tình
nguyện, thì “đem ra bình nghị, bắt đi di dân, một sự bình nghị có bố trí công
khai để khủng bố nạn nhân và dân chúng” Có trường hợp, chính quyền Ngô
Đình Diệm chỉ định các gia đình buộc phải đi dinh điền Chỉ định mà không
chịu đi thì bị xem là “Việt cộng”, “thân cộng” hoặc tội tình nghi chính trị Lúc
đó nạn nhân “đành nghiến răng, ngậm nước mắt mà đập nhà bán ruộng, bồng
con tróng chó ra đi, và trở thành tù nhân suốt đường đi cũng như vĩnh viễn tại nơi họ bị đưa đến” dưới sự kìm kẹp trực tiếp của những tên tay sai ác ôn [18]
Cùng với việc tiến hành lập những khu dinh điền như trên, ở Tây Nguyên, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng ráo riết thực hiện âm mưu dồn làng, tập trung
đồng bào Thượng, lập thành nhiều “trại” dọc theo các đường giao thông chiến
lược và các vùng giáp ranh giữa thượng du và trung du, mục đích là để kiểm soát, khống chế, với âm mưu tách đồng bào Thượng ra khỏi ảnh hưởng của cách mạng
Một khu dinh điền được tổ chức thành nhiều liên gia, mỗi liên gia gồm từ 5 đến 7 gia đình Liên gia trưởng chịu trách nhiệm điều động và kiểm tra những gia đình trong liên gia của mình Những phần tử chống đối hay bị tình nghi có liên quan với cộng sản đều bị theo dõi, bị bắt, bị giam giữ, tra tấn và thậm chí bị
Trang 28trục xuất ra khỏi liên gia Mọi người ra hay vào địa điểm dinh điền phải được phép và chịu sự kiểm tra của nhân viên dinh điền Thanh niên trong các khu dinh điền đều bắt buộc phải luyện tập quân sự và sẵn sàng tham gia quân dịch khi có lệnh
Đến cuối năm 1958, đầu năm 1959, trên toàn miền Nam, địch đã lập được
84 khu dinh điền, khai phá được 12.322 ha đất canh tác, bắt 128.374 người vào các khu dinh điền, trong số đó có 90.436 người là dân di cư
Mặc dù đã được mặc chiếc áo “cải thiện dân sinh”, nhưng các khu dinh
điền của Diệm thực chất giống như các trại tập trung ở nông thôn Trong đó, nhân dân bị kìm kẹp trong các hàng rào “bảo vệ” và bị đàn áp cả về tinh thần và
thể xác
Để xây dựng các khu dinh điền, Mỹ-Diệm đã phải bỏ ra kinh phí lớn, như
Nhà Trắng tuyên bố “những trung tâm định cư chiến lược này rất tốn kém, tuy
chúng chỉ có tác động tới 2% dân số song chúng thu hút tới 50% số tiền viện trợ
Mỹ cho nông nghiệp” (Nhật ký Lầu Năm Góc)
Song do mục đích đen tối, chính sách dinh điền đã gặp phải sự chống đối của nhân dân các vùng, nhất là nhân dân các dân tộc Tây Nguyên và cũng chuốc
lấy sự bất mãn trong đồng bào di cư Nhật ký Lầu Năm Góc ghi: “Chúng (các kế
hoạch định cư) cũng nhanh chóng gây ra những phản ứng chính trị bất ngờ của những người dân vùng núi Tây Nguyên Rút cục lại, do đưa người Kinh vào những vùng xưa nay vẫn là của người Thượng, và do tập trung người Thượng vào các khu có thể bảo vệ được, chính phủ Nam Việt Nam đã tạo cho họ lý do để đấu tranh và hướng nỗi bất bình của họ chĩa vào Diệm Do vậy chính phủ Nam Việt Nam đã tạo điều kiện chứ không phải ngăn chặn để sau này Việt cộng hoạt động lật đổ trong các bộ lạc”
Khu trù mật
Như đã đề cập, hầu hết nhân dân bị dồn ép, cưỡng bức vào các khu dinh điền, không chịu nổi cuộc sống ở vùng xa xôi, hẻo lánh, nhất là sự o ép, bóc lột
Trang 29kinh tế, truy bức tinh thần căng thẳng, nên đến cuối năm 1958, số người trốn khỏi các khu dinh điền mỗi ngày một tăng, trong lúc đó, phong trào cách mạng miền Nam đã từng bước phát triển, đặc biệt là phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nông dân Tình hình này khiến Mỹ-Diệm nghĩ đến một chính sách mới có tính chất táo bạo hơn, lâu dài hơn, có thể kết hợp được sự đàn áp bằng bạo lực
với sự lừa phỉnh về xã hội và kinh tế, nhằm “bình định” nông thôn một cách có
hiệu quả, khống chế nhân dân, cô lập phong trào cách mạng ngay ở địa bàn cơ
sở Ngày 7-7-1959, Ngô Đình Diệm phát lệnh lập khu trù mật: “Năm nay, tôi đề
ra công tác lập khu trù mật tại thôn quê, ở những nơi giao thông tiện lợi, hợp vệ sinh, có những tiện nghi tối thiểu để tập hợp những nông dân lẻ tẻ, thiếu thốn Những khu trù mật ấy sẽ là những đơn vị kinh tế sau này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế quốc gia” [22]
Về mục tiêu của chính sách khu trù mật, Ngô Đình Diệm và tay chân cố đánh lừa dư luận rằng khu trù mật là đem lại sự thịnh vượng ở nông thôn, góp phần phát triển quốc gia Trong diễn văn ngày 20-10-1959, Diệm giải thích việc
lập khu trù mật như là “khâu tất yếu của chương trình cải tiến nông thôn khi giai
đoạn đầu cách mạng, về đại cương, xem như đã thành tựu” Báo Cách mạng
quốc gia (8-7-1959) cho rằng: “Hàng bao thế kỉ nay, cái trở ngại chính cho sự
phát triển xã hội Việt Nam, ở miền Bắc là cái làng đóng kín cửa cổng, co mình trong luỹ tre giữa đồng ruộng, ở miền Nam là tình trạng cư trú phân tán, ai ở vuông tre mảnh vườn ấy” Vì vậy, “khu trù mật là thượng sách để san bằng các trở ngại phân tán kia… Có thể nói khu trù mật là một công trình cách mạng đời sống, sẽ mang lại những kết quả lạ lùng không thể lường được” [18; tr.70-71]
Tuy Diệm và tay chân ra sức cổ vũ cho ý nghĩa kinh tế, xã hội của chính
sách khu trù mật, nhưng cái mục tiêu chính trị-quân sự cốt lõi của nó là “bình
định” cho được nông thôn miền Nam đang sục sôi căm phẫn chế độ Diệm, vẫn
không tài nào che đậy được Báo Lẽ sống (5-3-1960) nói rõ lý do chính trị của
khu trù mật: “Những vùng hoang vu hẻo lánh thường là sào huyệt của Việt cộng
Trang 30nằm vùng và phiến loạn, quân đội đến tảo thanh thì chúng lẩn trốn, rút đi, rồi trở lại, bởi vậy, khu trù mật thiết lập ngay tại những vị trí xung yếu để cắt đứt đường giao thông liên lạc của địch, cô lập chúng, đồng thời kiểm soát mọi sự xâm nhập phá hoại…” [23; tr.380]
Ngô Đình Diệm đặt kỳ vọng rằng khu trù mật được xây dựng, thì tất cả các
gia đình kháng chiến và bị tình nghi sẽ bị bao vây chặt chẽ, dựa vào các cuộc “tố
cộng”, nhà cầm quyền sẽ bắt hết cán bộ cách mạng nào dám ở trong khu, còn
những cán bộ ở ngoài khu, ở trong rừng, không dân, không cơm, thì khác nào
“cá ra khỏi nước, cá nằm trên thớt” Đồng thời, trên cơ sở nhân dân bị kiểm soát
chặt chẽ, địch sẽ tiếp tục thực hiện việc bắt lính, bắt phu, xây dựng công trình quân sự, lập đồn điền trồng cây công nghiệp khác có lợi cho xuất cảng của chúng Trên thực tế, khu trù mật là một chương trình bổ sung cho chính sách
“dinh điền”, một kiểu tập trung dân ở những vùng nông thôn có phong trào cách
mạnh mẽ và mục tiêu của nó là nhằm “bình định” hiệu quả nông thôn miền Nam
đang sục sôi cách mạng Điều cần lưu ý, khu dinh điền trước đó và khu trù mật
mà chính quyền Diệm đang tiến hành đều nhằm mục đích chống phá cách mạng, kìm kẹp, đàn áp, kiểm soát nhân dân Với khu dinh điền, chính quyền Ngô Đình Diệm bắt dân từ xa, từ đồng bằng, lên khai khẩn ở vùng hoang vu là chính, còn lập khu trù mật, thì chính quyền Diệm dồn dân nhiều làng kế nhau về một địa
điểm, được tổ chức gần như một “thị trấn” nông thôn
Do yêu cầu cấp bách phải đẩy lùi cộng sản ra khỏi nông thôn miền Nam, biến nông thôn miền Nam thành pháo đài chống cộng, nên việc lập khu trù mật được Mỹ-Diệm tiến hành khẩn trương và nối tiếp nhau Ngô Đình Diệm tuyên
bố: “Xong khu trù mật này tiến tới khu trù mật khác, cứ làm, làm mãi, làm cho
đến khi nào nông thôn trở nên những pháo đài kiên cố của tự do” (17-7-1960)
[22]
Do “Lập Khu mà cốt để lập công” cho nên khối lượng công việc “tăng tốc”
mau chóng Trong vòng chưa đầy ba tháng cuối năm 1959, ở hầu hết các tỉnh
Trang 31Nam Bộ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã khởi công xây dựng 32 khu trù mật Cuối năm 1960, có 26 khu trù mật đã được khánh thành rầm rộ, trước sự chứng kiến của quan chức Mỹ-Diệm và nhiều báo chí tư sản nước ngoài, nhằm đưa lên
“tận mây xanh” cái sáng kiến tài ba của Ngô Đình Diệm, trong đó có 11 khu trù
mật được Diệm đích thân đến dự lễ khánh thành, số còn lại có các quan chức cấp cao của Diệm, như Bộ trưởng Bộ Lao động, Bộ trưởng Bộ Phủ Tổng thống, Đại biểu Chính phủ miền Tây Nam phần đến dự
Để cưỡng bức nông dân vào khu trù mật, địch đưa lực lượng đến ép từng gia đình dỡ nhà vào sống ở khu tập trung, nếu dân chúng có ý định chống lại thì
bị lính xông vào dỡ nhà, triệt hạ các thôn ấp Ở Định Tường (nay là Tiền Giang), ngày 2-12-1959, địch cho phá sạch trên 2000 công vườn, phá 14000 công lúa,
dỡ 800 nhà, đào 1500 mồ mả Lập khu trù mật An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay là
Kiên Giang), mà nhân dân ở đây gọi là “khu tử địa An Biên”, địch cho phá
50.000 công lúa và rẫy Ác liệt nhất là những nơi mà chính quyền Ngô Đình Diệm chọn xây dựng khu trù mật điển hình, như khu trù mật Thành Thới, tỉnh Kiến Hòa (nay là Bến Tre) Địch tập trung 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 7 và 2 đại đội địa phương quân, tiến hành càn quét Thành Thới và các xã chung quanh Mặt khác, để nông dân không thể chống lại, chúng hạ lệnh cho lính đốt nhà, chặt cây cối trong vườn, phá hoại lúa ngoài đồng, cướp đi tất cả số thóc tịch thu được Cả một vùng đất đai phì nhiêu, cây trái xum xuê, phải dọn sạch sẽ để làm khu trù mật Tổng cộng 240 mẫu vườn dừa, ruộng lúa của ba ấp: An Hoà (xã An Thạnh) và hai ấp Thới Hoà, An Thiện (xã Thành Thới) bị phá thành bình địa trong một thời gian ngắn [49; tr.229]
Khu trù mật Vị Thanh-Hỏa Lựu, khởi công ngày 3-10-1959, khánh thành sớm nhất vào ngày 12-3-1960 Vị Thanh-Hỏa Lựu (tỉnh Phong Dinh), một khu đất được lựa chọn, trung tâm của miền Hậu Giang, giáp nối nhiều đường thủy
bộ Chính quyền tỉnh Phong Dinh tổ chức Ban trưng dịch do ba sĩ quan phụ trách lo việc bắt phu đưa đến địa điểm sắp lập khu trù mật Dân tráng từ 18 đến
Trang 3245 tuổi trong bốn quận Phụng Hiệp, Ô Môn, Cái Răng, Châu Thành (Cần Thơ), phải đi làm mỗi người 10 ngày, đi về bằng phương tiện của mình, cơm gạo, công cụ tự túc Dân trong 15 xã bị dồn về Vị Thanh-Hỏa Lựu (độ 5 vạn người) cũng bị bắt đi lao dịch Nhà nào không đi thì đóng từ 5000 đến 10000 đồng Tất
cả công chức trong tỉnh đóng mỗi người ba ngày lương Dân đi sưu đến đào mương, đắp đường, làm nền, xây dựng các trụ sở, các cơ quan công cộng, làm rào, làm bốt canh, làm cổng… Mỗi gia đình nông dân bị dời đến khu trù mật, buộc phải lĩnh mấy công đất (mỗi công ruộng bằng 1/10 hécta) đã được định đoạt trước, trên đó người nông dân phải tự mình xây dựng nhà cửa theo một số quy tắc khắc nghiệt Nông dân trong 15 xã bị ép về Vị Thanh-Hỏa Lựu, phải bỏ vườn tược, nhà cửa, mồ mả ông bà Ai không chịu đi, thì chính quyền, quân đội, hay tổ chức chính trị của Diệm đến dỡ, hoặc xô sập, hoặc đốt cháy để cắt đứt mọi sự luyến tiếc
Về tổng quan, cấu trúc trong mỗi khu trù mật, ở những mức độ khác nhau đều có ba khu:
- Một là khu công ốc, gồm có trụ sở Ủy ban hành chánh, cơ quan quân sự, phòng thông tin, trường học, bệnh xá, nhà bảo sanh, nhà thủy tạ, trụ sở nông hội, nhà máy điện
- Hai là khu gia cư, nhân dân ở đây được phân chia thành hai khu vực, một
là khu vực dân sự gồm những gia đình mà địch cho là thành phần cơ bản, nghĩa
là không có liên hệ gì với cách mạng, hai là khu dành riêng để tập trung các gia
đình “thân cộng”, nghĩa là các gia đình có người nhà đi tập kết ra Bắc, hoặc bị
tình nghi là cộng sản, khu này bị bao vây chằng chịt bằng hàng rào thép gai và tháp canh, cá biệt vẫn có trường hợp bố trí xen kẽ giữa các gia đình mà chúng
tin tưởng và các gia đình “thân cộng”
- Ba là khu công cộng, dùng làm sân vận động, giải trí và chăn nuôi gia súc, như trâu, bò Dân số mỗi khu trù mật trung bình từ 2.000 đến 3.000 người Tuy nhiên, cũng có khu trù mật, như Vị Thanh-Hỏa Lựu có số dân gần 25.000 người
Trang 33Như vậy, về hình thức, khu trù mật gần như là một thị trấn, nhưng điều này không thuyết phục được nông dân đi theo Diệm Nguyên nhân khi bị đẩy vào khu trù mật, nông dân chẳng những đi làm rất xa, “những người ở xa nhất là 30
cây số đường thủy Nếu đi bằng thuyền máy phải mất khoảng 2, 3 tiếng đồng hồ” [18; tr.75] Hơn thế nữa khi gặt lúa đập xong, nông dân không được đem lúa
thẳng về nhà, mà phải đem đến “sân chung” Tại đây, nhân viên chính quyền sẽ
khấu trừ mọi thứ thuế, tô, tiền quyên góp, tiền mua hình Tổng thống, tiền khẩu hiệu, tiền đóng góp hàng tháng cho tổ chức phản động…, còn bao nhiêu thì phải gửi vào kho, khi cần thì đến kho mà lấy
Tuy không phải chịu đày ải nơi rừng thiêng nước độc như ở các khu dinh điền, nhưng trong khu trù mật, chính sách kìm kẹp của địch hà khắc và nghiệt ngã hơn nhiều Ngoài vòng rào và các lô cốt, với sự kìm kẹp của cảnh sát, do
thám, địch bắt nông dân “đi thưa về trình, sáng chúng mở cổng mới được đi làm,
chiều về chúng đóng cổng lại Người dân ở trong khu trù mật như trong một khám tù chật hẹp, một gia đình chiếm bề ngang không đầy 4 thước, bề dọc không đầy 10 thước, không có nghề nghiệp, phương tiện làm ăn chỉ còn có cách sống như người nông nô thời thượng cổ hiến thân cho bọn chủ cày máy, chủ thầu của Mỹ-Diệm” [18; tr.75]
Chính sách khu trù mật đã gây hậu quả xấu, làm xáo trộn đời sống ở nông thôn miền Nam Nông dân có hàng trăm thứ bất bình, như đi làm xâu không cơm, không công ngay trong ngày mùa, bỏ vườn ao, nhà cửa, mồ mả ông bà, đi
làm xa, chỉ được đi làm ban ngày, mùa màng đem về bị bắt “gửi”, khấu trừ, nhà
mới trơ trọi, thiếu ánh sáng, thiếu bóng mát, thiếu gió, thiếu nước; rau cỏ, hoa quả, cá mắm, ra vào bị kiểm soát, câu thúc, phải đóng góp nhiều thứ về ngày
công, về tiền bạc; bị bắt “học tập”, bắt “tố cộng”, bắt canh tuần, bị bắt vào tổ
chức phản động của Diệm… Đỗ Mậu, một nhân vật cao cấp trong chính quyền
Ngô Đình Diệm, viết: “Sinh hoạt nông thôn vốn có tính định kì, theo thời tiết,
theo giống lúa, và theo loại đất, cho nên từ ngàn xưa, chính những hoạt động
Trang 34canh tác đã quy định những hoạt động nhân văn khác của thôn xã, như hội hè, đình đám, cưới hỏi, lễ lạc… Chỉ cần làm xáo trộn chu kì sinh hoạt này là làm
xá o trộn nếp sống của người dân, trên cả hai mặt nghề nghiệp cũng như phong cách” [44; tr.320] Nói tóm lại, nông dân mất nhiều tự do, mất nhiều quyền lợi, trái nhiều tập quán, ngược nhiều tình cảm thiêng liêng
Dư luận trong và ngoài nước đều phản đối chính sách dồn dân lập khu trù mật của chính quyền Ngô Đình Diệm, hay ít ra là hoài nghi sự thành công của chính sách đó Không chỉ nông dân mà ngay cả các phe nhóm đối lập ở Sài Gòn
cũng ra tuyên ngôn công kích chính sách khu trù mật của Diệm “Tuyên ngôn
của 18 nhân vật thuộc nhóm Tự do Tiến bộ” gửi Ngô Đình Diệm, ngày
26-4-1960, viết: “Hiện nay, nhiều người không có việc để làm, không có nhà để ở và
không có tiền bạc Gạo nhiều nhưng không bán được, các tiệm đầy hàng mà hàng hóa không di chuyển-nguồn lợi nằm trong tay những kẻ đầu cơ, dùng phe nhóm, đoàn thể của chính quyền để che dấu sự buôn bán độc quyền đem lợi về cho một thiểu số tư nhân Trong lúc đó, hàng ngàn dân bị huy động đi làm việc cực nhọc, bị ép buộc phải rời bỏ công ăn việc làm, nhà cửa, gia đình của mình
để tham gia vào công tác xây dựng những khu dinh điền tuy đồ sộ nhưng vô ích Điều này làm họ mệt mỏi và mất thiện cảm với chính quyền, càng làm cho mối bất mãn thêm trầm trọng và tạo môi trường lí tưởng cho công tác tuyên truyền của địch (chỉ phong trào cách mạng)”, và đòi hỏi “chính quyền phải chấm dứt
sự bóc lột con người dưới mọi hình thức trong các công trường lao động của những khu dinh điền” [18; tr.76]
Tờ Đại Việt xuất bản tại Pháp (3-1960) viết: “Chỉ có ông Ngô Đình Diệm
hả lòng, hả dạ mỗi khi khánh thành khu trù mật, chớ các tỉnh trưởng, họ hiểu rõ
sự thực hơn Họ lấy làm lo sợ oán hận của nhân dân Họ vừa họp lại, báo cáo cho bộ trưởng Lâm Lễ Trinh rằng khu trù mật là thất nhân tâm”
Stanley Karnow cho biết về khu trù mật Vị Thanh-Hỏa Lựu, một khu trù
mật được xem là thành công nhất: “Khi tôi tới gần, khu trù mật Vị Thanh (nơi
Trang 35mà Tổng thống Diệm đã cho khánh thành rầm rộ) trông thật là rộng rãi, đồ sộ khi so sánh với các làng mạc dọc đường Viên chỉ huy chương trình Khu trù mật địa phương, Thiếu tá Trần Cửu Thiên, giới thiệu nào là trường học, nhà thương, trụ điện để đưa điện về cho nông dân lần đầu tiên trong đời họ Ông ta cũng cho tôi biết là nông dân sẽ có nhiều lợi tức Ông ta khoe khoang là đã hoàn thành khu trù mật chỉ trong vòng có năm mươi ngày theo lệnh của Tổng thống Diệm,
và khu trù mật là một kiến trúc gương mẫu để làm vui lòng những nhà lập pháp Hoa Kỳ đến viếng Việt Nam Nhưng trong thực tế lại là một đại họa
Đại họa là vì nông dân bị bắt buộc phải bỏ làng mạc cũ, bỏ cả mồ mả cha ông, bỏ cả tập tục cổ truyền để tập trung về Khu Tai hại hơn nữa là Thiếu tá Thiên đã phải theo lệnh Tổng thống huy động 20 ngàn người để xây dựng một khu chỉ để cho 6 ngàn người ở Số 14 ngàn người kia phải bỏ công việc đồng áng để làm việc mà không được trả tiền công Thiên bảo rằng, bắt họ làm công không trả tiền là để tập cho họ làm bổn phận công dân Trái lại, đối với nông dân thì những công tác cộng đồng như thế là hình thức “cưỡng bách lao động” nên dù lúc đó họ chưa theo Việt cộng họ cũng đã tỏ ra bất mãn với chế độ Diệm” [44; tr.320-321]
Tuy nhiên, xét về hiệu quả, theo Frances Figzerald, dinh điền hay khu trù
mật dưới chế độ Diệm: “Tất cả các công tác… như Khu trù mật, như dinh điền,
như hợp tác xã nông nghiệp… đều thất bại nặng nề”
Còn theo Đỗ Mậu, một nhân vật cao cấp trong chính quyền Ngô Đình
Diệm: “Tất cả mọi sản phẩm lí thuyết của chế độ (Diệm), phần kế hoạch và
những biểu hiện hình thức bao giờ cũng bắt đầu rất đẹp và quyến rũ Nhưng trên thực tế, dù chương trình này do chính vị Tổng thống điều động và theo dõi kiểm soát từng chi tiết một, kết quả vẫn trở nên bi thảm Sự thất bại bi thảm của
nó, ngoài những lí do dễ hiểu là không nghiên cứu kĩ càng để đi sát với thực tế,
là chuộng hình thức, nặng về lượng hơn là về phẩm, là cán bộ thừa hành lo hối
hả trồng cây hôm nay để ngày mai Tổng thống đi kinh lí khen thưởng hơn là sự
Trang 36phát triển chậm nhưng chắc… Còn có một lí do khác là sự can thiệp quá độ của ông Diệm, người đích thân điều khiển chương trình một cách độc đoán mà lại không đủ hoặc không lưu tâm đến những kiến thức chuyên môn cần thiết cho một chương trình bao gồm cả bốn lãnh vực nông nghiệp, xã hội, quốc phòng và nhân tâm” [44; tr.319-320]
Sự thất bại của chính sách khu trù mật của chính quyền Ngô Đình Diệm như những lí giải của Đỗ Mậu không phải là không có cơ sở Nhưng cần phải thấy rằng, sự thất bại của chính sách này chủ yếu là do phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam trên nhiều mặt, trong đó có phong trào đấu tranh của nông dân chống khu trù mật diễn ra trên cả hai mặt trận chính trị và quân sự Mặt khác, xét về tập tục, lối sống của người nông dân miền Nam, khu
trù mật lẫn chính sách dinh điền đều là những chính sách thất nhân tâm đem lại
đói nghèo, đau khổ cho người nông dân ở miền Nam lúc bấy giờ
Ấp chiến lược
Phong trào Đồng khởi (1959-1960) đã phá vỡ từng mảng bộ máy cai trị và
hệ thống kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn ở thôn xã Các chính sách “dinh
điền”, “khu trù mật” lần lượt bị phá sản Với phong trào Đồng khởi, chính sách
xâm lược của Mỹ ở miền Nam bằng những biện pháp cổ truyền của chủ nghĩa thực dân mới đã bị thất bại
Chính vì vậy, từ giữa năm 1961, Mỹ-Diệm bắt đầu triển khai ở miền Nam
chiến lược “Chiến tranh dưới mức hạn chế, chiến tranh lật đổ, chiến tranh đặc
biệt” Kế hoạch Staley-Taylor được tiến hành gồm ba giai đoạn, trong đó giai
đoạn một có tầm quan trọng và có tính quyết định nhất, nhằm “bình định” xong
miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng (bắt đầu từ giữa năm 1961 và kết thúc vào cuối năm 1962) với biện pháp chủ yếu là gom dân lập ấp chiến lược
Ấp chiến lược được thực hiện nhằm mục đích:
Về quân sự: Đối với Mỹ-Diệm thì nông thôn, rừng núi không còn an ninh nữa, nông thôn không an ninh thì chế độ Mỹ-Diệm lung lay Mỹ-Diệm ý thức
Trang 37rằng muốn giải quyết vấn đề an ninh ở nông thôn thì việc mấu chốt phải tách nông dân ra khỏi du kích, để một mặt khống chế và đè bẹp nông dân, mặt khác
cô lập và tiêu diệt quân du kích Chính sách ấp chiến lược là chính sách “tát cạn
nước để bắt cá”, rằng “ấp chiến lược là mồ chôn Việt cộng”
Thực hiện gom tuyệt đại đa số nhân dân miền Nam vào các ấp chiến lược (ở nông thôn) các khóm, phường chiến lược (ở thị trấn), bọn Mỹ-Diệm nhằm: Thứ nhất, tách rời quần chúng nhân dân, chủ yếu là nông dân ra khỏi các lực lượng vũ trang làm cho quân du kích không còn chỗ tuyển mộ chiến sĩ, cung cấp lương thực, thông tin tình báo, trà trộn ẩn nấp Thứ hai, buộc các lực lượng
vũ trang nhân dân phải bỏ chiến thuật du kích “xuất quỷ nhập thần”, phải chiến
đấu có trận tuyến và chiến đấu trên những trận địa kiên cố mà Mỹ-Diệm đã chuẩn bị sẵn, giữa hai gọng kìm của dân vệ trong ấp chiến lược và quân chính quy tới tiếp viện cho ấp chiến lược Thứ ba, hệ thống ấp chiến lược là hệ thống gồm hàng ngàn hàng vạn các pháo đài nối tiếp nhau bên trong có nhân dân tích cực chống du kích, Việt cộng, bên ngoài có bảo an và quân chính quy yểm trợ, thì du kích Việt cộng chẳng những không có sức tiến công mà cũng không sao tránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn
Về chính trị: Chủ trương lập ấp chiến lược là tách nhân dân ra khỏi du kích, nắm chắc và kiềm chế nhân dân, tiêu diệt các cơ sở cách mạng và đoàn thể tiến
bộ trong nhân dân, lập các tổ chức chính trị phản cách mạng, phản tiến bộ lấn chiếm các vùng nhân dân tự quản và lập lại ngụy quyền ở đó Mỹ-Diệm tuyên truyền hương ước mới với ba điểm sau đây:
- Thực hiện chế độ dân chủ pháp trị: hội đồng xã không được tự tiện bắt bớ
vô cớ và mọi người đều tuân hành luật lệ chính phủ
- Thực hiện cộng đồng đồng tiến: công việc của ấp, xã công dân tùy theo hạn tuổi mà phân công luân chuyển phục dịch
- Thực hiện chế độ công bằng xã hội: đặt lại hệ thống giá trị mới cho ấp, xã, các quyền lợi dành ưu tiên theo thứ tự sau đây: thứ nhất là những phần tử cầm
Trang 38khí giới chống địch và gia đình con cái họ, thứ hai là những phần tử dân cử điều hành công việc chung, thứ ba là những phần tử sản xuất trong ấp
Về kinh tế: Gắn với chính trị và quân sự Gom dân vào ấp chiến lược có ý nghĩa là gom dân vào tay của chế độ Mỹ-Diệm Sự hoạt động của hợp tác xã có
lẽ dễ dàng hơn nhiều, tiền cho vay của Nông Tín Cuộc (một tổ chức cho vay ở nông thôn của chính quyền Sài Gòn) sẽ không bị thất thu Gom dân vào ấp chiến lược cũng là gom hàng chục triệu lực lượng lao động vào một bộ máy điều động
và sử dụng của chế độ Mỹ-Diệm với mục đích vơ vét, bóc lột và kiểm soát
Để chuẩn bị tư tưởng, tâm lý, niềm tin cũng như “cảnh báo sự kiên quyết”
của chính quyền Sài Gòn trong việc thực hiện quốc sách ấp chiến lược, Diệm đã tập trung mọi phương tiện tuyên truyền: sách, báo, tạp chí, khẩu hiệu,
Mỹ-áp phích, đài phát thanh… với quy mô lớn, nhằm cổ vũ cho chương trình ấp
chiến lược trên toàn miền Nam, nào là “ấp chiến lược nhằm mục đích cao cả là
xây dựng một xã hội mới, trong đó con người được hoàn toàn giải phóng về phương diện vật chất cũng như tinh thần” [18; tr.125], nào là “ấp chiến lược vừa
có tính chất kiến quốc, vừa có tính chất cứu quốc”, “ấp chiến lược là một công tác tổng hợp, gắn liền với đường lối, mục đích toàn bộ cuộc đấu tranh của dân tộc: đấu tranh chống cộng sản, đấu tranh chống chậm tiến, đấu tranh chống chia rẽ”, nào là “ấp chiến lược là cơ sở kiến tạo một nền văn minh mới”, nào là
“ấp chiến lược không phải chỉ nhằm mục đích thuần túy quân sự là bảo vệ an ninh, hay mục tiêu kinh tế là cải thiện dân sinh Việc lập ấp chiến lược ngày nay nhằm mục đích cao cả là cải tạo toàn diện xã hội: biến đổi từ một xã hội cũ đầy dẫy sự bất công, thành kiến hủ bại và sai lầm, tiến lên kiến tạo một xã hội mới, trong đó mỗi người sẽ có đủ cơ hội và điều kiện để phát huy khả năng tự tạo một đời sống hạnh phúc, nhân phẩm được tôn trọng” [24; tr.162]
Từ đầu tháng 7-1961, Mỹ-Diệm mở đợt thí điểm dồn dân lập ấp chiến lược
ở hai trọng điểm là Vĩnh Long (Nam Bộ) và Quảng Ngãi (Trung Bộ) để rút kinh nghiệm Tháng 8-1961, chương trình được triển khai rộng rãi trên quy mô toàn
Trang 39miền Nam với tên gọi “chiến dịch xây dựng nông thôn” Đến ngày 17-4-1962,
Quốc hội Sài Gòn thông qua Nghị quyết nâng chương trình lập ấp chiến lược lên hàng “quốc sách” và tập trung mọi nỗ lực cao nhất để thực hiện cho được các
mục tiêu đã đặt ra, đồng thời “ủy ban liên bộ đặc trách ấp chiến lược” của Diệm còn đưa ra đề nghị “đưa ngày 17-4 lên ngày Quốc lễ, có tầm quan trọng ngang
hàng với ngày Quốc khánh 26-10…” Ngô Đình Nhu, người trực tiếp điều hành
chương trình ấp chiến lược khẳng định: “Thôn ấp là vấn đề sinh tử, quyết định
sự thắng lợi của chúng ta” [18; tr.125-126]
Để đảm bảo cho việc chắc thắng của kế hoạch đặt ra, ngoài việc mời phái
đoàn cố vấn chuyên về “các vấn đề hành chính và chính sách” do Thompson,
chuyên gia về chống du kích của Anh ở Malaysia cầm đầu sang miền Nam giúp chính quyền Sài Gòn thực hiện quốc sách ấp chiến lược, Mỹ-Diệm còn cử nhiều
đoàn cán bộ “bình định” sang Malaysia và một số nước khác nghiên cứu, học
tập kinh nghiệm chống chiến tranh du kích và dồn dân lập ấp chiến lược
Cần phải thấy rằng quốc sách ấp chiến lược mà Mỹ-Diệm triển khai trong
giai đoạn “chiến tranh đặc biệt” là sự kế thừa và phát triển chính sách dinh điền
và khu trù mật ở một mức cao, cả về quy mô, hình thức và thủ đoạn kìm kẹp đối với nhân dân miền Nam Nếu dinh điền mới chỉ là những trại tập trung được xây dựng ở những vùng xa xôi, hẻo lánh để giam giữ những người kháng chiến và gia đình cách mạng xen lẫn với đồng bào Thiên Chúa giáo di cư; khu trù mật được dựng lên ở những khu vực thuận tiện giao thông cơ động, gần các căn cứ quân sự… để gom dân từ các địa bàn nhỏ lẻ, hiểm trở, đường sá đi lại khó khăn
về tập trung quản chế, thì ấp chiến lược được xây dựng rộng rãi ở khắp cả nông thôn đồng bằng, miền núi, kể cả vùng vành đai các đô thị để gom toàn bộ người dân miền Nam ở nông thôn vào sinh sống tại đây Đây là một điểm mới, là sự
“phát triển hơn hẳn cả về lượng và chất” của ấp chiến lược so với chính sách
dinh điền và khu trù mật mà Mỹ-Diệm đã thực hiện trong những năm trước đó
Trang 40Từ mùa xuân năm 1962, chương trình ấp chiến lược được triển khai trên phạm vi toàn nông thôn miền Nam Ở bất cứ nơi nào có dân cư, nhà cửa, làng mạc đều bị san ủi, gom dân như một cuộc càn quét thực sự Số dân đó được bắt đưa về một nơi tập trung được bao bọc chung quanh bởi ba lớp hàng rào tre và
hệ thống dây kẽm gai Giữa hai hàng rào là hào rộng 2m, sâu 1m50 có cắm chông và gài mìn Muốn vào trong ấp phải vượt qua ba hàng rào và hai hào sâu
Sự liên lạc giữa bên ngoài với bên trong ấp là cực kỳ khó khăn Bốn góc ấp chiến lược có bốt gác, tối đến các cửa ra vào đều đóng kín Trong các ấp chiến lược, ở nơi xung yếu đều có đồn lính đóng bên cạnh Ở mỗi ấp chiến lược có ban trị sự, đứng đầu là những tên ấp trưởng, ấp phó khét tiếng gian ác tổ chức kìm kẹp nhân dân bằng bộ máy quân sự hóa… Do vậy, mà cả đối với người tu
hành sống dưới chế độ Mỹ-Diệm cũng phải thốt lên những lời ta thán: “Ấp chiến
lược như những chiếc nơm sắt, lớn và chắc”, là “cơn ác mộng khủng khiếp…”
[18; tr.127]
Mặc dù vấp phải sự chống trả quyết liệt và mạnh mẽ của quân và dân khắp các địa phương miền Nam, nhưng sau hơn một năm thực hiện quốc sách ấp chiến lược, Mỹ-Diệm đã đạt được những kết quả nhất định Theo tổng kết của Thompson, nếu vào tháng 7-1962, số ấp chiến lược hoàn thành ở miền Nam là
2559 ấp, thì đến tháng 12-1962 đã lên 4080 ấp và đến tháng 8-1963 đã đạt tới
8095 ấp, trong đó, có những tháng đạt khá cao như tháng 9-1962 đạt 428 ấp, tháng 12-1962 đạt 530 ấp, tháng 2-1963 đạt 608 ấp, tháng 6-1963 đạt 646 ấp [18; tr.127]
Với kết quả như trên, cả phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn đều hy vọng rất nhiều ở chương trình ấp chiến lược, một quốc sách có thể đem lại thắng lợi triệt
để trong việc tiêu diệt “Việt cộng” Nhưng những người phát minh và điều hành
chương trình ấp chiến lược đã xuất phát từ một nhận định hoàn toàn không đúng với thực tế: Họ coi cộng sản là cộng sản, nông dân là nông dân, họ không thấy được hai phạm trù ấy chính là một Do đó, họ đã cố tìm cách phân biệt cái không