1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền việt nam cộng hòa (1955 1975)

252 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 252
Dung lượng 11,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tƣợng nghiên cứu Quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền trung ương VNCH, cụ thể là: - Các nhân tố tác động đến sự hình thành hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH; những

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ LY

LỊCH SỬ XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN

VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955-1975)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ LY

LỊCH SỬ XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN

VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955-1975)

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của giảng viên hướng dẫn Các tài liệu, số liệu công bố trong luận án này

là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận án chưa được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên

Tác giả Luận án

Trang 4

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

2.1 Mục đích 3

2.2 Nhiệm vụ 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 5

4.1 Phương pháp nghiên cứu 5

4.2 Nguồn tư liệu 6

5 Đóng góp của luận án 7

6 Cấu trúc của luận án 7

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955-1975) 9

1.1 Các khái niệm sử dụng trong luận án 9

1.1.1 Văn bản 9

1.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật 10

1.1.3 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 12

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 15

Trang 5

1.2.1 Những nghiên cứu mang tính lý luận về xây dựng hệ thống văn bản quy phạm

pháp luật 15

1.2.2 Nghiên cứu về chính quyền và tổ chức bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975) 20

1.2.3 Nghiên cứu về quá trình xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975) 25

1.3 Những vấn đề kế thừa và đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu của luận án 34

1.3.1 Những vấn đề kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước đây 34

1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 36

CHƯƠNG 2 CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT GIAI ĐOẠN 1955 – 1967 38

2.1 Hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 1955-1963 38

2.1.1 Các nhân tố chi phối sự hình thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa 38

2.1.2 Tổ chức và nhân sự thực hiện xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955-1963 45

2.1.3 Quá trình xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955-1963 50

2.2 Hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn giai đoạn 1963-1967 58

2.2.1 Các nhân tố chi phối hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1963-1967 58

2.2.2 Tổ chức và nhân sự thực hiện xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1963-1967 61

Trang 6

2.2.3 Hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1963-1967 62

Tiểu kết chương 2 66 CHƯƠNG 3 CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT GIAI ĐOẠN 1967-1975 68 3.1 Nhân tố tác động đến hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1967-1975 68

3.1.1 Tình hình miền Nam giai đoạn 1967-1975 68 3.1.2 Những thay trong tổ chức bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1967-1975 69 3.1.3 Sự kiện toàn hệ thống pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) 77

3.2 Tổ chức và nhân sự thực hiện hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1967-1975 79

3.2.1 Về mặt tổ chức 79 3.2.2 Về mặt nhân sự 80

3.3 Hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1967-1975 90

3.3.1 Thẩm quyển ban hành văn bản 90 3.3.2 Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật 93 3.3.3 Cơ chế giám sát và kiểm soát đối với hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1967-1975 96 3.3.4 Những chuyển biến trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1967-1975 98

Tiểu kết chương 3 109

Trang 7

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG

HÒA (1955-1975) 111

4.1 Đặc điểm 111

4.2 Kết quả và hạn chế 117

4.2.1 Kết quả đạt được 117

4.2.2 Một số hạn chế 121

4.3 Tác động của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 126

4.3.1 Đối với chính trị 126

4.3.2 Đối với kinh tế -xã hội 129

4.3.3 Đối với văn hóa - giáo dục 133

4.4 Giá trị của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975) trong nghiên cứu lịch sử và xây dựng pháp luật 137

4.4.1 Giá trị trong nghiên cứu lịch sử 137

4.4.2 Giá trị trong xây dựng pháp luật 140

Tiểu kết chương 4 142

KẾT LUẬN 144

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 153

TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Xây dựng hệ thống VBQPPL là một trong những hoạt động cần thiết và quan trọng trong quản lý nhà nước bởi các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đều sử dụng văn bản như một công cụ pháp lý quan trọng phục vụ hoạt động quản lý, điều hành Trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước (VBQLNN), văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ hệ thống Đây là phương tiện chủ yếu để thể chế hóa và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước VBQPPL có vai trò quan trọng trong hoạch định chủ trương, đường lối cho hoạt động quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội

Thông qua văn bản, nhà nước có thể kiểm tra và nắm bắt tình hình thực hiện các quyết định quản lý của mình trong thực tiễn, qua đó tiếp tục duy trì hoặc điều chỉnh chính sách cho phù hợp và hiệu quả hơn Đồng thời, sau khi giải quyết công việc, nếu được lưu trữ, văn bản còn có giá trị như một nguồn sử liệu quan trọng, giúp các nhà sử học nghiên cứu và nhìn nhận toàn diện, chân thực về những thời kỳ, những giai đoạn lịch sử mà dân tộc đã đi qua, đồng thời để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho hiện tại và tương lai Do dó, nghiên cứu về quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của một chính thể là một việc làm cần thiết và cấp thiết

Sau khi hiệp định Genève ký kết, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền Ở miền Nam Việt Nam, Mỹ đã hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm xây dựng chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Ngay từ khi ra đời, chính quyền VNCH đã phụ thuộc vào Mỹ

và chịu sự chi phối sâu sắc của người Mỹ Do đó, sau khi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam (1973), VNCH rơi vào khủng hoảng, suy yếu và cuối cùng sụp đổ trước sự tấn công của lực lượng cách mạng Miền Nam Trong thời gian tồn tại (1955-1975), chính quyền VNCH cũng đã có những nỗ lực trong việc quản lý miền Nam Việt Nam thông quan việc ban hành hệ thống văn bản pháp quy (ngày nay gọi là VBQPPL) trên các lĩnh vực cụ thể

Hệ thống VBQPPL của VNCH chịu tác động bởi bối cảnh cuộc chiến tranh đương thời

Trang 10

và mang nhiều dấu ấn của mô hình nhà nước cộng hòa Tổng thống chế Vì vậy, để có những đánh giá khách quan và toàn diện về chính thể này, bên cạnh những nghiên cứu tổng quát, chúng ta cần có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu về từng lĩnh vực trong hoạt động quản lý Do đó, lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH cũng là một đối tượng nghiên cứu chuyên môn rất cần thiết và được khuyến khích để chúng ta có cơ hội nhìn nhận VNCH một cách đa chiều, đa diện hơn

Hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH là một phần không thể thiếu khi chúng ta tìm hiểu về lịch sử văn bản Việt Nam, lịch sử xây dựng nhà nước và pháp luật Việt Nam, lịch sử hành chính Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL một cách đầy đủ, toàn diện và chuyên sâu không chỉ làm phong phú lịch sử văn bản Việt Nam mà còn góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, lịch sử hành chính Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận

án góp phần bổ sung, làm phong phú hơn nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu cho những ai quan tâm

Ngay từ khi ra đời, chính quyền VNCH đã mang dấu ấn của nhà nước cộng hòa Tổng thống chế và chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố ngoại lai Vì vậy, sự tồn tại của VNCH đã thu hút rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tìm hiểu với các lĩnh vực cụ thể như: kinh tế, chính trị, quân sự, giáo dục, y tế… Các nghiên cứu nhìn nhận VNCH ở các chiều cạnh khác nhau, đã được công bố trong các sách chuyên khảo, trên tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học Tuy nhiên, cho đến nay chưa

có công trình nào xác định lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

là đối tượng nghiên cứu chính

Trên cơ sở những định hướng chung đó, tác giả lựa chọn đề tài: Lịch sử xây dựng

hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975) làm luận án tiến sĩ chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Trang 11

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Thực hiện đề tài lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH, luận

án xác định rõ mục đích là nhằm hiểu rõ quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH dưới góc độ lịch sử từ đó góp phần làm rõ bức tranh lịch sử xã hội Miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975 Đồng thời, luận án rút ra một số kinh nghiệm trong xây dựng pháp luật của nước ta hiện nay

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án hướng đến các mục tiêu nghiên cứu cơ bản sau đây:

- Tái hiện lại bức tranh tổng thể về sự hình thành và quá trình chuyển biến trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH từ 1955 đến 1975

- Làm rõ các đặc điểm trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

- Làm rõ những kết quả, hạn chế trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

- Lý giải tác động, ảnh hưởng của quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH đối với đời sống chính trị, kinh tế - xã hội và văn hóa – giáo dục của Miền Nam Việt Nam

- Làm rõ giá trị của hệ thống VBQPPL trong nghiên cứu khoa học lịch sử và xây dựng pháp luật Việt Nam

- Phân tích bối cảnh lịch sử xã hội Miền Nam Việt Nam và những tác động của bối

nó đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

- Thực hiện phép so sánh đồng đại và lịch đại, các thao tác liệt kê, phân tích, tổng hợp về những khía cạnh trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH: các

Trang 12

cơ quan, chức vụ ban hành văn bản, quy trình, tổ chức và nhân sự thực hiện hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL, các loại hình văn bản trong hệ thống Phân tích sự chuyển biến của vấn đề nêu trên trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

- Phân tích đặc điểm, những kết quả, hạn chế trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

- Phân tích tác động của hệ thống VBQPPL đối với chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục của Miền Nam Việt Nam

- Đánh giá giá trị của quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL trong nghiên cứu khoa học lịch sử và xây dựng pháp luật Việt Nam

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền trung ương VNCH, cụ thể là:

- Các nhân tố tác động đến sự hình thành hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH; những chuyển biến trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL thông qua các khía cạnh cụ thể như: Các quy định chỉ đạo, hướng dẫn; vấn đề tổ chức và nhân sự thực hiện hoạt động này; quy trình ban hành và hoạt động triển khai hệ thống VBQPPL; các loại hình văn bản trong hệ thống

- Kết quả, hạn chế trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

- Tác động của hệ thống VBQPPL đối với chính trị, kinh tế - xã hội và văn hóa – giáo dục của Miền Nam Việt Nam

- Những giá trị được tạo nên từ quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL trong nghiên cứu khoa học lịch sử và xây dựng pháp luật Việt Nam đã được khai thác

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

4.1.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận án “Lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955- 1975)” vận dụng cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, cụ thể là quan điểm duy vật lịch sử và phép biện chứng Theo đó, tác giả luận án đặt hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH trong thời gian tồn tại của chính quyền này (1955-1975) để tìm hiểu, phân tích, giải thích và đánh giá Đây là cơ sở để luận án nhìn nhận chân thực và khoa học về cơ sở hình thành cùng những chuyển biến cơ bản trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975)

4.1.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản của Khoa học Lịch sử, đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Phương pháp lịch sử được sử dụng để tái hiện lại quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH Hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH là một thực thể của lịch sử Sự ra đời và hoàn thiện của hoạt động này là một quá trình lịch sử Phương pháp lịch sử giúp luận án làm rõ về tiến trình hình thành, những chuyển biến của các khía cạnh trong hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH Những chuyển biến này được gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể của từng giai đoạn tồn tại của chính quyền VNCH

Phương pháp logic được sử dụng nhằm khái quát hóa quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH với một nội dung như: đặc điểm, kết quả, hạn chế trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL; tác động và giá trị của hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH trong nghiên cứu lịch sử và xây dựng pháp luật hiện nay

Như vậy, việc sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic giúp cho việc phục dựng quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH từ năm 1955 đến 1975; phân tích và đánh giá các đặc điểm, kết quả và hạn chế trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH; phân tích tác động và đánh giá về giá trị của hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH đối với nghiên cứu sử học và trong xây dựng

Trang 14

pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đối tượng nghiên cứu của đề tài có sự liên quan mật thiết đến nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau như: Sử học, Văn bản học, Văn thư học, Luật học, Hành chính học, Lưu trữ học,… Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu

có tính liên ngành Các phương pháp của Sử liệu học, Văn bản học, Văn thư học, Luật học, Lưu trữ học, Hành chính học được kết hợp với phép so sánh lịch sử đồng đại, lịch đại và thao tác thống kê nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu của luận án Sự kết hợp thống nhất trong đa dạng của các phương pháp nghiên cứu nêu trên không chỉ giúp luận án kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước mà còn giúp luận án có cơ hội tiếp cận hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL ở nhiều góc độ khác nhau làm cho đối tượng nghiên cứu thêm phần sáng rõ, chặt chẽ và sâu sắc

4.2 Nguồn tƣ liệu

Thứ nhất, luận án khai thác nguồn tài liệu lưu trữ về VBQPPL của chính quyền VNCH đang được bảo quản, tổ chức khoa học tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (hồ sơ thuộc các Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa, Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa, Phủ Thủ tướng VNCH, Hội đồng Quân nhân cách mạng, Tổng bộ Văn hóa xã hội, Hội đồng sắc tộc ) Bên cạnh đó, nguồn tư liệu từ công báo VNCH và Quy phạm vựng tập sẽ cung cấp thêm thông tin về có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận

án Công báo VNCH sẽ cung cấp các thông tin liên quan đến các quy định về ban hành và triển khai văn bản, nội dung, đối tượng điều chỉnh của các loại hình văn bản trong hệ thống VBQPPL Quy phạm vựng tập là công trình đã hệ thống hóa các loại hình VBQPPL đã được ban hành trong từng năm của chính quyền VNCH với các thông tin chủ yếu như tên loại văn bản, thời gian ban hành, trích yếu nội dung của văn bản Đây là nguồn tư liệu quan trọng nhất được sử dụng chủ yếu trong luận án

Thứ hai, những luận văn - luận án (được công bố và bảo vệ thành công), các công trình (sách) chuyên khảo, các bài viết trên các tạp chí khoa học và hội thảo khoa học nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án Đây là một nguồn tư liệu rất quan trọng mà tác giả rất chú trọng kế thừa và phát huy Nguồn tư liệu này đang được bảo quản tại thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành

Trang 15

phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, thư viện Học viện Hành chính và thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và một số thư viện khác

Thứ ba, nguồn thông tin về đối tượng nghiên cứu từ các trang thông tin điện tử (website): Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ, Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II…

5 Đóng góp của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống về quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975) Vì vậy, luận án có những đóng góp về khoa học và thực tiễn sau đây:

- Luận án tái hiện bức tranh về quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH trong bối cảnh lịch sử từ 1955 đến 1975 và rút ra một số đặc điểm chủ yếu của quá trình đó

- Luận án phân tích kết quả, hạn chế và lý giải nguyên nhân trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

- Luận án lý giải tác động, ảnh hưởng của quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH đối với đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975

- Luận án đánh giá ý nghĩa của hệ thống VBQPPL trong nghiên cứu Khoa học lịch

sử và rút ra những giá trị trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH có thể xem xét và vận dụng trong bối cảnh hiện nay

- Luận án góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, lịch sử hành chính Việt Nam

- Luận án bổ sung nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, học viên và sinh viên có quan tâm

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án được kết cấu thành 4 chương

Trang 16

Chương 1: Một số khái niệm và tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)

Chương 2: Chính quyền Việt Nam Cộng hòa xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 1955 -1967

Chương 3: Chính quyền Việt Nam Cộng hòa xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 1967 -1975

Chương 4: Một số nhận xét về quá trình xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)

Trang 17

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA

CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÕA (1955-1975)

1.1 Các khái niệm sử dụng trong luận án

1.1.1 Văn bản

Thuật ngữ “văn bản” có gốc từ tiếng Latin là “documentum” có nghĩa là sự chứng minh, chứng nhận Còn theo Đại từ điển tiếng Việt thì “văn” được hiểu là “chữ nghĩa, hình thức ngôn ngữ được trau chuốt cho hay, đẹp” (Trung tâm Ngôn ngữ, 1999, tr.1100); còn “bản” được hiểu là “tờ giấy, tập giấy có hình chữ chứa đựng nội dung nhất định” (Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, 1998, tr.30) Theo Từ điển tiếng Việt, văn bản “là bản viết hoặc in, mang một nội dung nhất định, thường để lưu lại” (Trung tâm Từ điển học, 2009, tr.1406) hay là “chuỗi ký hiệu ngôn ngữ hay nói chung những ký hiệu thuộc hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung, ý nghĩa trọn vẹn”

(Trung tâm Từ điển học, 2009, tr.1406)

Theo nghĩa rộng nhất, văn bản là “phương tiện ghi tin và truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ hoặc ký hiệu nhất định” (Trung tâm Từ điển học, 2009, tr.1406) Với cách hiểu này, nội hàm của văn bản rất rộng: cuốn truyện, bài báo, bài thơ, bài hát, gia phả, văn bia, câu đối, lá thư cho đến tất cả các tài liệu, giấy tờ hình thành hàng ngày trong hoạt động quản lý của mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị đều được coi là văn bản Văn bản vừa là phương tiện giao tiếp đồng thời là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, d ng để ghi ch p và truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ hoặc ký hiệu từ một chủ thể này đến một chủ thể khác nhằm thỏa mãn những yêu cầu hoặc mục đích nhất định

Văn bản còn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn Dưới góc độ hành chính học, “văn bản dùng để chỉ công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt động quản lý của các cơ quan tổ chức” (Vương Đình Quyền, 2005, tr.47) Theo đó, “công văn giấy tờ được gọi chung là văn bản gồm các loại chính sau đây: luật, sắc luật, sắc lệnh, nghị định, nghị quyết, quyết định, điều lệ, thông tư, chỉ thị, báo cáo, thư công công điện, công lệnh, phiều gửi, giấy giới thiệu, giấy đi đường” (Thủ tướng Chính phủ, 1957, tr.01) được hình thành trong hoạt

Trang 18

động hằng ngày của các cơ quan, tổ chức Những loại văn bản này đều hoàn chỉnh về thể thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc, độc lập về giao tiếp

Trong phạm vi nghiên của luận án, tác giả hiểu và nghiên cứu văn bản theo nghĩa hẹp Đó là công văn giấy tờ hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức được sử dụng để quản lý, điều hành công việc của chính các cơ quan, tổ chức

1.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật

VBQPPL là một bộ phận trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước Ở nước ta, trước năm 1996, trong quy định của pháp luật thực định không đề cập tới khái niệm VBQPPL Trong sách báo pháp lý có nhắc tới nhưng không phải với tên gọi VBQPPL như hiện nay mà có thể gọi với tên khác như “văn bản pháp luật” (Trường Đại học Pháp

lý Hà Nội, 1992, tr.52) hay “văn bản pháp quy” (văn bản pháp quy được hiểu theo hai cách: (i) là cách gọi tắt của VBQPPL; (ii) chỉ các văn bản có giá trị hiệu lực thấp hơn văn bản luật) Trong thời gian này, VBQPPL không được định nghĩa mà chỉ quy định về từng hình thức văn bản của các cơ quan nhà nước Sau này, để thống nhất và rõ ràng hơn về mặt thuật ngữ, các tài liệu nghiên cứu cũng như pháp luật đã gọi những văn bản có chứa các quy tắc xử sự chung do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành là VBQPPL

Khái niệm VBQPPL chính thức định nghĩa lần đầu tiên tại Điều 1 của Luật ban hành VBQPPL năm 1996: “VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ

nghĩa” (Quốc hội, 1996, tr.01) Sau đó, thuật ngữ này tiếp tục được quy định với một số

điểm thay đổi trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL năm

2002, luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, Luật ban hành VBQPPL năm 2008 và Luật ban hành VBQPPL năm 2015 Đồng thời, khái niệm VBQPPL đã được quốc hội nhiều khóa sử dụng trong các luật Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm VBQPPL song các quan điểm đều chỉ ra những đặc điểm chung nhất về VBQPPL, đó là: chứa đựng các quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc và được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục

Trang 19

quy định Đây cũng là cách hiểu phổ biến hiện nay, cách hiểu này được quy định tại Điều

2 Luật ban hành VBQPPL năm 2015: VBQPPL là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này (Quốc hội, 2015, tr.01)

Thuật ngữ văn bản pháp quy, văn bản pháp luật hay VBQPPL mặc dù có tên gọi không giống nhau nhưng lại có nội hàm tương tự nhau Đó là, chứa đựng các quy tắc xử

sự chung, có tính bắt buộc, thể hiện ý chí của nhà nước, được các cơ quan nhà nước ban hành theo một trình tự thủ tục luật định và được nhà nước đảm bảo thực hiện Nội hàm của các tên gọi về VBQPPL là một thành quả của sự phát triển của lịch sử pháp luật nhân loại Hệ thống VBQPPL có tính thứ bậc, thống nhất và kế thừa các thời kỳ lịch sử, các chính thể nhà nước và các giai đoạn phát triển của quốc gia Vì vậy, sử dụng khái niệm VBQPPL để chỉ các văn bản lập pháp và lập quy được chính quyền VNCH ban hành trong thời gian tồn tại của mình (1955-1975) là tương đối phù hợp và thỏa đáng Theo đó,

hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH bao gồm: văn bản lập pháp (hiến pháp, luật, sắc luật, dụ) và văn bản lập quy (sắc lệnh, nghị định, quyết định)

Văn bản lập pháp là những văn bản “ấn định quy tắc luật pháp, có tính cách tổng

bản có tính chất lập pháp ấn định quy tắc tổng quát nên không thể điều chỉnh và chi phối tất cả các hành vi pháp lý của các cơ quan, tổ chức và người dân trên phạm vi quản lý của chính quyền Để áp dụng những quy tắc lập pháp có hiệu quả, VNCH đã ban hành các văn bản cụ thể hóa và áp dụng quy tắc này trong các cơ quan công quyền và đối với dân chúng Vì vậy, hệ thống văn bản lập quy đã hình thành và được triển khai vào thực tế cuộc sống Do đó, “văn bản lập quy đặt ra những quy định về thiết lập, tổ chức và điều hành các cơ quan công quyền, quản trị nhân viên ” (Lê Thái Ất, 1969, tr.22)

Trang 20

1.1.3 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống VBQPPL “là khái niệm liên quan tới pháp luật thức định, phản ánh thực trạng các nguồn của pháp luật, là sự thể hiện ra bên ngoài của pháp luật dưới hình thức văn bản và mối liên hệ giữa các văn bản trong một chỉnh thể toàn vẹn” (Phạm Hồng Thái

& Đinh Văn Mậu, 2009, tr.346)

Trong phạm vi luận án, tác giả hiểu hệ thống VBQPPL chính là tập hợp các loại hình VBQPPL do các cơ quan, định chế nhà nước có thẩm quyền ban hành, có quan hệ chặt chẽ với nhau, có tính thứ bậc rõ ràng tạo thành một chính thể thống nhất, hoàn chỉnh,

d ng làm phương tiện trong hoạt động quản lý và điều hành mọi lĩnh vực của các cơ quan nhà nước Theo đó, hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955 - 1975 ) bao gồm: hiến pháp, luật, dụ, sắc luật, sắc lệnh, nghị định, quyết định

Hiến pháp: “Là hình thức VBQPPL do Quốc hội ban hành, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật, quy định các vấn đề cơ bản nhất của nhà nước như: hình thức, bản chất nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước” (Bộ Tư pháp & Viện Khoa học pháp lý, 2018, tr.30) Đối với Miền Nam Việt Nam, trong giai đoạn 1955-

1975, chính quyền VNCH hoạt động theo sự điều chỉnh của bản Hiếp pháp đã được ban hành ngày 26/10/1956 và ngày 1/4/1967 do Quốc hội VNCH ban hành

Luật: “Là một loại VBQPPL do quốc hội hay nghị viện ban hành, có hiệu lực pháp

lý cao nhất, chỉ đứng dưới hiến pháp” (Lê Thái Ất, 1969, tr.472) Trong hoạt động của chính quyền VNCH, luật là loại văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của quốc hội Luật

là văn bản pháp lý điều chỉnh những quan hệ cơ bản và quan trọng nhất trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

Dụ: Là loại văn bản xuất hiện từ thời kỳ phong kiến Theo Từ điển Văn thư Lưu trữ,

dụ ghi lại những lời truyền dạy, khuyên nhủ của nhà vua đối với bề tôi và các thần dân Đây là loại hình văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của nhà vua Đặc điểm nổi bật của

dụ là ở chỗ nhà vua đưa ra các mệnh lệnh, các yêu cầu bắt buộc thần dân phải thi hành nhưng lại sử dụng lối văn có tính chất truyền dạy, khuyên răn để tăng sức thuyết phục

Trang 21

Các triều đại trước nhà Nguyễn, dụ mang nặng tính chất nhắc nhở, khuyên bảo, thường ban hành dưới hình thức khẩu dụ, tiêu biểu như: Thời vua Lê Thánh Tông (cuối thế kỷ XV) nhà vua đã ban hành nhiều đạo dụ nhắc nhở quan lại kể cả quan đã từng đỗ đạt do ít chịu rèn luyện nâng cao hiểu biết nên phải đặt ra lệ kiểm tra, khảo sát định kỳ đánh giá từng người; vua Minh Mạng đã ban hành nhiều dụ vừa khuyên răn vừa cấm việc truyền

đạo Thiên Chúa giáo (nhiều nhất là các năm 1825,1833,1836,1838) Trong hoạt động của

chính quyền VNCH, dụ vẫn được ban hành nhưng có sự thay đổi về tính chất: không còn tính khuyên răn mà là tính chất mệnh lệnh, bắt buộc Loại hình văn bản này trong thời kỳ VNCH ban hành với số lượng không nhiều và chỉ tồn tại đến giai đoạn quân đội nắm quyền quản lý đất nước (1963-1967) Dụ là văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của

Tổng thống VNCH để thực hiện chức năng lập pháp hoặc công bố luật

Sắc luật: Đối với việc ban hành, thủ tục lập pháp đòi hỏi một thời gian khá lâu để

hoàn thành một đạo luật Vì lý do này và trong trường hợp khẩn cấp của công vụ, hiến pháp đã dự liệu, quy định cho hành pháp một “hướng giải quyết” là quyền ban hành sắc luật Các sắc luật này, nếu quốc hội không bác bỏ thì sẽ coi hẳn như những đạo luật

Sắc lệnh: “Là VBQPPL hoặc văn bản pháp luật cá biệt của người đứng đầu bộ máy

nhà nước hoặc bộ máy hành pháp” (Bộ Tư pháp & Viện Khoa học pháp lý, 2018, tr.668) Đây là loại hình văn bản được hình thành khi chính quyền VNCH ra đời và có chức năng quy định cơ cấu của các cơ quan thuộc hệ thống bộ máy nhà nước, và quy định về các lĩnh vực quản lý của quốc gia hay tuyên bố những trường hợp nguy cấp của đất nước

Nghị định: Là loại văn bản ra đời từ thời Pháp thuộc và được sử dụng như một đạo luật - có tính lập pháp tại thuộc địa Đây là loại hình văn bản có giá trị pháp lý cao nhất tại Nam kỳ (1862-1887) và Liên bang Đông Dương (1887-1945) Nghị định d ng để ban hành những quy định có tính chất lập pháp và lập quy của cấp liên bang Thẩm quyền ban hành nghị định thuộc về Toàn quyền Đông Dương (lập pháp, lập quy, hành pháp và tư pháp) trên toàn liên bang, Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ (lập quy và hành pháp) trong phạm vi kỳ (xứ) mình quản lý

Trang 22

Trong hoạt động của chính quyền VNCH, “nghị định là văn bản do cơ quan hành pháp soạn thảo và ban hành với nội dung bao quát đường lối chính phủ, thực hiện chính sách quốc gia và tình trạng hành chính của cán bộ công chức” (Lê Thái Ất, 1969, tr.233) Cùng với nghị định, quyết định cũng là loại hình văn bản được sản sinh trong thời

kỳ Pháp thuộc Đây là loại hình văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Toàn quyền Đông Dương (lập quy, hành pháp và tư pháp) trên phạm vi liên bang; Thống đốc Nam

kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ (lập quy và hành pháp) trong phạm vi kỳ (xứ) mình quản lý; Công sứ ở các tỉnh Bắc kỳ và Trung kỳ, quan chủ tỉnh ở Nam kỳ (lập quy) trong phạm vi địa hạt quản lý Trong thời gian này, quyết định một loại văn bản dưới luật, có tính lập quy d ng để thi hành luật hay nghị quyết hoặc quy định một vấn đề cá biệt (để quyết định về một việc hay một vấn đề thuộc thẩm quyền theo luật định)

Trong hoạt động quản lý của chính quyền VNCH, “quyết định là loại hình văn bản

“do cơ quan trung ương và địa phương ban hành, có tính chất mệnh lệnh nhằm thực hiện chính sách quốc gia và phản ánh tình trạng của nhân viên hành chính Loại hình văn bản này có giới hạn về không gian và thời gian”(Lê Thái Ất, 1969, tr.235)

Hệ thống văn bản lập pháp và lập quy chứa đựng các quy phạm và có tính lệ thuộc lẫn nhau Các văn bản lập quy được ban hành trên cơ sở luật, thực hiện luật và phải đồng

bộ, không mâu thẫn, phủ định lẫn nhau Đó là đặc trưng cơ bản để tạo ra quy phạm thống

nhất trong hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

Xây dựng hệ thống VBQPPL là quá trình ban hành và triển khai các loại hình VBQPPL theo một trình tự thủ tục luật định để hình thành một hệ thống VBQPPL phục

vụ cho quản lý điều hành của nhà nước Hiện nay, luật số 80/2015/QH13 của Quốc hội Khóa 13 về ban hành VBQPPL đã quy định rất rõ quy trình xây dựng các loại hình văn bản cụ thể trong hệ thống VBQPPL Đối với chính quyền VNCH, hoạt động này bao gồm các công việc, soạn thảo, biểu quyết, ban hành và công bố VBQPPL

Trang 23

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2.1 Những nghiên cứu mang tính lý luận về xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Các công trình nghiên cứu mang tính chất lý luận về xây dựng hệ thống văn bản nói chung và hệ thống VBQPPL nói riêng sẽ tạo cơ sở lý luận và khung lý thuyết giúp luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu đa diện, đa chiều Đồng thời, việc khai thác tốt nguồn tư liệu này, tạo cơ sở để luận án đưa ra những luận cứ vững vàng cho những luận điểm được đúc kết trong quá trình nghiên cứu

Sách Luật hiến pháp và chính trị học (1969) của tác giả Nguyễn Văn Bông đã

phân tích và trình bày nhiều vấn đề liên quan đến các thể chế chính trị trên thế giới và Việt Nam Liên quan đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH, tác giả đã phân tích quá trình xây dựng Hiến pháp VNCH với các nội dung như: khái niệm, thẩm quyền ban hành và quyền tu chỉnh hiến pháp Những thông tin này góp phần giúp tác giả có thêm một góc nhìn và thông tin về loại hình văn bản quan trọng nhất trong hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH đó là Hiến pháp năm 1956 và Hiến pháp năm 1967

Sách Hình luật tổng quát (1970) của tác giả Nguyễn Quang Quýnh đã phân tích

vai trò hình luật Theo tác giả, “hình luật không chỉ quan trọng đối với nhà cầm quyền mà còn rất quan trọng đối với công dân vì hình luật liên quan trực tiếp đến tự do, danh dự, tài sản và sinh mạng của cá nhân” (Nguyễn Quang Quýnh, 1970, tr.79) Thông qua quy trình ban hành dự thảo bộ Hình luật, tác giả Nguyễn Quang Quýnh đã bày tỏ quan điểm của mình về dự thảo Hình luật khi cơ quan hành pháp chuyển qua Quốc hội VNCH năm 1969 với mong muốn ý kiến của tác giả “góp được phần nhỏ vào công việc lớn lao của nhà lập pháp trong nhiệm vụ xây dựng một nền hình luật Việt Nam duy nhất và tiến bộ” Như vậy, ngay trong quá trình tồn tại của chính quyền VNCH, các hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL cũng có những kênh góp ý của nhà khoa học Đây là một yếu tố giúp cho hoạt động này ngày càng hoàn thiện và hiệu quả hơn

Với giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật (2015), Trường Đại học Luật Hà

Nội biên soạn đã phân tích mối liên hệ biện giữa hai yếu tố: nhà nước và pháp luật với

Trang 24

nguồn gốc phát sinh, đặc điểm và tính quy luật của hai yêu tố nêu trên Công trình cũng

đã phân tích chi tiết quá trình hình thành nhà nước và pháp luật của Việt Nam từ thời Văn Lang - Âu Lạc đến nay Liên quan đến hoạt động xây dựng VBQPPL của chính quyền VNCH, giáo trình đã đề cập đến nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1967 và bộ Hình luật (1972)

Tác giả công trình đã khẳng định: “Về hình thức, khác với chính quyền chủ nghĩa thực dân cũ thời Pháp thuộc trước đó, chính quyền VNCH được tổ chức theo chính thể Cộng hòa Tổng thống Vì là pháp luật của chính quyền thực dân mới nên trong

hệ thống pháp luật có cả hiến pháp Chính quyền VNCH đã chú trọng xây dựng pháp luật và đã tạo ra được hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh theo mô hình pháp luật của Pháp” (tr.471)

Đây là nhận định quan trọng giúp luận án nghiên cứu, kiểm chứng thông qua tìm hiểu sự hình thành và quá trình chuyển biến của hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

Công trình Lý luận nhà nước và pháp luật, tác giả Phạm Hồng Thái và Đinh Văn

Mậu đã tổng hợp và phân tích những thông tin cơ bản nhất về lý luận nhà nước và pháp luật của một quốc gia Liên quan đến lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL, tác giả đã trình bày và phân tích các loại VBQPPL, thẩm quyền ban hành và hiệu lực của VBQPPL

Phạm Hồng Thái & Đinh Văn Mậu (2009) cũng đặt ra và phân tích các tiêu chí phân loại VBQPPL: “dựa vào tính tối cao của luật trong hệ thống văn bản quy phạp pháp luật chia thành: Luật (hiến pháp, đạo luật, bộ luật) và các văn bản quy phạp pháp luật dưới luật (pháp lệnh, nghị quyết, lệnh, nghị định, quyết định, thông tư); phân chia theo ngành luật (luật hành chính, luật hình sự, luật dân sự, ); dựa vào không gian lãnh thổ (VBQPPL có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc, hay hiệu lực địa phương); đối tượng áp dụng; chủ thể ban hành…” (tr.31)

Những thông tin lý luận về VBQPPL của công trình đã được tác giả kế thừa khi phân loại hệ thống VBQPPL sản sinh trong hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền VNCH (1955-1975)

Trang 25

Bên cạnh những công trình nghiên cứu trong nước còn có các công trình nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài về quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL Theo đó, các khía cạnh như quy trình, tiêu chí đánh giá về hiệu quả và chất lượng của hệ thống VBQPPL ngày càng được phân tích một cách toàn diện và sâu sắc, tiêu biểu là một số công trình dưới đây:

Cuốn sách Legislative Drafting (soạn thảo dự Luật) của G.C.Thornton (ed) do

Butterworths Pushier, London xuất bản năm 1996 đã giúp những người còn mới mẻ với công việc soạn thảo luật pháp hiểu rõ về các công việc cần phải làm Theo tác giả, một người soạn thảo tốt không bao giờ hoàn toàn hài lòng với bản dự thảo đã hoàn thành; nó luôn có khả năng cải tiến và hiểu rõ việc cải thiện chất lượng soạn thảo văn bản phải đảm bảo yêu cầu: chú ý nhiều hơn đến cấu trúc ở mọi mức độ; một sự tâm huyết đối với việc soạn thảo để được hiểu, nhưng không thiếu sự rõ ràng và chính xác; tiếp tục đặt câu hỏi, đánh giá và cải tiến các thói quen và phong cách soạn thảo khác; sẵn sàng chấp nhận thay đổi khi có một lợi ích được chứng minh; chấp nhận rằng tất cả các khả năng không phải

là không thể lường trước được và sẵn sàng đưa ra quyết định khi thích hợp; cung cấp các nguồn lực nhân sự và công nghệ đầy đủ; lập kế hoạch để luật luôn được sửa đổi và cập nhật Với công trình này, tác giả đã cung cấp một góc nhìn để có thể tạo ra những VBQPPL chất lượng Quá trình học hỏi, hiểu và vận dụng thành thạo các bước trong xây dựng là yếu tố tạo nên chất lượng văn bản khi ban hành

Tác giả Ann Seidman, Robert B.Seidman và Nalin Abeyesekere (2003) đã đề cập

đến vấn đề lập pháp trong tác phẩm Assessing Legislation - A manual for legislators

(soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ) do nhà xuất bản Kluwer Law Internation phát hành năm 2003, được Nguyễn Duy Hưng, Lưu Tiến Dũng và Nguyễn Khánh Ngọc dịch Cuốn sách đề cập đến những vấn đề cơ bản về phương pháp và kỹ thuật lập pháp, xác định vai trò và trách nhiệm của nhà soạn thảo luật, những yếu tố cần quan tâm trong trình tự lập pháp, quy trình xây dựng dự thảo luật một cách khoa học, đặc biệt công trình

đã phân tích 23 kỹ năng soạn thảo văn bản cụ thể giúp các nhà làm luật có thể xây dựng một đạo luật có hiệu quả Điều này có ý nghĩa tham khảo trong việc nghiên cứu về quy

Trang 26

trình ban hành và vấn đề tổ chức nhân sự thực hiện hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

Công trình Pháp luật hành chính của Cộng hoà Pháp của Martine Lombard (Giáo

sư Trường Đại học Tổng hợp Panthéon – Assas và Gilles Dumont (Paris II), Giáo sư Trường Đại học luật và Kinh tế Limoges) do Nhà xuất bản Tư pháp phát hành năm 2007 Đây là công trình đã phân tích đầy đủ và chi tiết nhất về sự hình thành và phát triển của

hệ thống pháp luật hành chính của Cộng hoà Pháp Cuốn sách đã lý giải về nguồn luật và trật tự thứ bậc giữa các nguồn của pháp luật hành chính đến cơ chế kiểm tra sự tuân thủ trật tự thứ bậc đó… Tại Chương I, cuốn sách đã luận giải rất chi tiết về nguồn luật gồm các quy phạm hiến định, quy phạm pháp luật quốc tế và pháp luật của Liên minh Châu

Âu, các quy phạm có tính chất án lệ, luật và văn bản dưới luật, pháp lệnh và thông tư có hiệu lực thi hành bắt buộc Trong quá trình phân tích về từng loại nguồn luật, cuốn sách

đã tiếp cận từ cách hiểu, bản chất, trật tự pháp lý và nhất là đưa ra những tiêu chí để kiểm tra, giám sát về tính hợp hiến; về sự phù hợp của quyết định hành chính với quy định của điều ước quốc tế; cơ chế kiểm tra, giám sát của Tham chính viện đối với pháp lệnh và điều kiện về tính hợp pháp của thông tư có hiệu lực thi hành bắt buộc Có thể nói, đây là những nội dung thực sự có ý nghĩa để nhìn nhận về hoạt động ban hành và triển khai hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH vào thực tế và nhìn nhận các yếu tố kế thừa cũng như tiếp thu hệ thống VBQPPL của Pháp ở Việt Nam

Lon L.Fuller (1969) với tác phẩm The Morality of Law (đạo của pháp luật), Yale

University Press đã khẳng định, một văn bản pháp luật không đảm bảo chất lượng (sẽ mất hiệu lực) nếu mắc phải một trong 8 lỗi cơ bản sau: (1) không có tính quy phạm (tức là chứa đựng các quy định pháp luật nhưng không thể hiện rõ điều 29 đúng/sai, hợp pháp/bất hợp pháp, cho phép/cấm đoán, thưởng phạt rõ ràng cho người chấp hành nghiêm

và người vi phạm), (2) không công khai các quy định của nó cho công chúng, (3) ngôn từ

sử dụng trong các quy định tối nghĩa, khó hiểu, (4) quy định hiệu lực hồi tố, (5) quy định những quy phạm có nội dung mâu thuẫn nhau, (6) đưa ra các quy định mà đối tượng bị áp dụng cũng như chủ thể có trách nhiệm áp dụng không thể thực thi được, (7) thay đổi quá thường xuyên theo thời gian, và (8) không có tính nhất quán trong việc áp dụng pháp

Trang 27

luật, 8 tiêu chuẩn này được giáo sư Lon L.Fuller coi là những tiêu chuẩn thiết yếu mà một

hệ thống pháp luật nên có và phải có Thiếu một trong 8 tiêu chí ấy, chức năng, tác dụng thực tế của hệ thống pháp luật sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực Những tiêu chuẩn mà giáo sư Lon Fuller đề cập là nguồn tài liệu quan trọng đối với việc nghiên cứu của đề tài luận án về tiêu chí đánh giá chất lượng ban hành VBQPPL ở Việt Nam, là nguồn tài liệu tham khảo nhằm đưa ra quan điểm xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng ban hành VBQPPL nói chung và VBQPPL của chính quyền VNCH nói riêng Những tiêu chí mà Lon L.Fuller đưa ra có giá trị tham khảo nhất định khi tác giá đánh giá hiệu quả của quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL vào thực tiễn Miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD, 2001) đã công bố bài viết

Improving Policy Instruments through Impact Assessment (Cải thiện các công cụ chính

sách thông qua đánh giá tác động) đã nhận định: Ở các nước thành viên OECD, việc rà soát, đánh giá chất lượng VBQPPL là một công việc thường xuyên, hàng ngày của tất cả các Bộ thuộc Chính phủ Trong mỗi Bộ, thường có một đơn vị gọi là bộ phận rà soát, đánh giá văn bản pháp luật (regulatory review unit), chịu trách nhiệm rà soát, đánh giá văn bản pháp luật do Bộ đó chịu trách nhiệm thực thi Trực thuộc Chính phủ có Văn phòng chịu trách nhiệm chung về rà soát và đánh giá văn bản pháp luật (Cơ quan chịu trách nhiệm và điều phối chung công việc rà soát, đánh giá hệ thống văn bản pháp luật) Ngoài ra, ở một số nước còn có các tổ chức nhà nước (nhưng rất độc lập, thuật ngữ tiếng anh là Statutory body); và những tổ chức này cũng thường xuyên rà soát và đánh giá chất lượng VBQPPL mà họ quan tâm (có thể văn bản pháp luật trong một ngành nào đó, hay tác động đến một đối tượng cụ thể nào đó, ví dụ rà soát tất cả các văn bản pháp luật tác động đến hay liên quan đến doanh nghiệp)… Như vậy, văn bản pháp luật ở các nước nói trên có thể được bổ sung, sửa đổi hàng năm theo hướng đảm bảo chất lượng tốt hơn, việc thực thi có tốt và thuận lợi hơn cho đối tượng bị điều chỉnh, do vậy, pháp luật luôn ổn định và đáng tin cậy đối với công chúng Bài viết cung cấp một góc nhìn để hệ thống VBQPPL của các quốc gia có hiệu quả thì hoạt động rà soát, kiểm tra hệ thống này trước

và sau khi ban hành giữ vai trò rất quan trọng Những thông tin bài viết cung cấp có giá

Trang 28

trị tham khảo nhất định khi tác giả đánh giá công tác thẩm tra văn bản của chính quyền VNCH trước và sau khi triển khai vào thực tiễn đương thời

Mặc dù những công trình nêu trên không có đối tượng nghiên cứu trực tiếp là quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH, song nó cung cấp một hệ thống những cơ sở lý luận, các tiêu chí chuyên môn liên quan đến văn bản nói chung và VBQPPL nói riêng như: quy trình ban hành VBQPPL; các phương pháp, tiêu chí đánh giá hiệu quả, chất lượng ban hành VBQPPL Tác giả sử dụng những kết quả nghiên cứu trong những công trình trên để xây dựng những luận điểm, luận cứ chuyên môn khi khảo cứu về lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

1.2.2 Nghiên cứu về chính quyền và tổ chức bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)

Chính quyền VNCH và các khía cạnh liên quan đến chính quyền này từ khi hình thành đến nay đã thu hút sự chú ý, quan tâm và nghiên cứu của các nhà khoa học, các học giả trong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như: Sự hình thành chế độ VNCH; chính sách và vai trò của Hoa Kỳ đối với chính quyền VNCH; tổ chức và hoạt động của chính quyền VNCH trên các phương diện: bộ máy chính quyền, kinh tế, xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao của VNCH

Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về chính quyền VNCH đã được nghiên cứu ngay trong khi chính quyền này còn đang tồn tại Có thể kể đến các công trình tiêu biểu

đã được công bố như:

“ ng uộ thành ậ hế ộ ộng h nh n vị t i iệt N tự ” của tác giả

Vũ Quốc Thông được đăng trên Tạp chí Nghi n u hành h nh, số 10, tháng 10-1960;

“Lịch trình chuyển biến chính trị từ ngày cách mạng (01-11-1963 đến ngày 19-6-1965)”

của tác giả Nguyễn Thành Cung, đăng tải trên Tạp chí Nghi n u hành h nh (số 2-Tam

cá nguyệt II-1967); “Văn kiện căn bản tổ chức công quyền Việt Nam” của Thông tấn xã

VNCH xuất bản năm 1974; Bộ sách “Thành tích ( nă ) ho t ộng của Chính phủ

VNCH và kỷ niệ ệ (nhất, nhị, t ,…) chu niên Ngô Tổng thống chấp chánh” được xuất

bản theo từng năm từ 1954-1963; “Tổ chức và điều hành nền hành chính tại Mỹ quốc”,

Tạp chí Nghi n u hành h nh, số 2, tháng 2-1961 của tác giả Bùi Quang Khánh; Miền

Trang 29

Nam Việt Nam từ s u Điện Biên Phủ (1963, Diệu Bình dịch), của tác giả Nguyễn Khắc

Viện do Nxb Trí Thức xuất bản; tác phẩm Những ngày hư qu n (1954-1963) (tập thứ

2) của Đoàn Thêm, xuất bản năm 1969; “Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ tại Đông

Nam (1968)” của Nguyễn Mạnh H ng đăng trên Tạp chí Nghi n u hành h nh, số 2,

Tam cá nguyệt II, năm 1968)

Sau sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền VNCH không còn tồn tại nữa Tuy nhiên, các vấn đề, các khía cạnh liên quan đến chính quyền này vẫn là những chủ đề đối với giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Có thể kể đến các công trình

nghiên cứu tiêu biểu như: “Nhìn l i sự thất b i thả h i ủ Đế quốc Mỹ trong chính

sách sử dụng chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam” của tác giả Cao Văn Lượng

đăng trên Tạp chí Nghiên c u Lịch sử, số 6, năm 1977 (Hà Nội); Cái chết của anh em

nhà Ngô, (NXB CAND, 2009) của Nông Huyền Sơn; Luận án tiến sĩ Lịch sử Việt Nam: Chế ộ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt N gi i n 1955-1963 của tác giả

Nguyễn Xuân Hoài; Sự lừa dối kinh khủng – 25 nă t i à việc ở CIA của Ralph W McGehee (Trần Đăng Minh Hiếu dịch, NXB Đà Nẵng, 1987) Sách 1963-2013-50 nă

nhìn l i do Nhà xuất bản Thiện Tri thức Publications, tập hợp 122 bài viết của 99 tác giả,

và 100 lời nhận định về chế độ Ngô Đình Diệm của các tác giả trong và ngoài nước sống trong chế đệ Ngô Đình Diệm và hiện nay với ba tập Các bài nghiên cứu tâp trung vào tất

cả các lĩnh vực trong hoạt động của chính quyền VNCH (1955-1963) và đưa ra những nhận định về chế độ này Bên cạnh các tác giả trong nước, còn có một số tác giả nước ngoài nghiên cứu và đã công bố ấn phẩm của mình liên quan đến chính quyền VNCH Có

thể kể đến như: Edward Miller (2013), Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States,

and the Fate of South Vietnam (Harvard University Press) Trong công trình này tác giả

đã trình bày về quá trình thành lập chính quyền VNCH và có một số nhận định đáng lưu

ý như: Theo Hiến pháp 1956, Ngô Đình Diệm có quyền lực gần như tuyệt đối đối với chính quyền ở Miền Nam Việt Nam Tác giả cũng nhận định phong cách quản trị của Ngô Đình Diệm ngày càng trở nên độc tài theo thời gian Bên cạnh đó, ấn phẩm cũng đề cập đến cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm vào tháng 11 năm 1963;

Moyar, Mark (2006) Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954–1965 New York:

Trang 30

Cambridge University Press Tác giả đã đề cập một cách khái quát quá trình xây dựng và củng cố chính quyền của Ngô Đình Diệm trong giai đoạn đầu của chế độ VNCH và có những bình luận về cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 và hậu quả của nó đối với chính

quyền VNCH; Jacobs, Seth (24 July 2006) Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the

Origins of America's War in VietNam, 1950–1963 Rowman & Littlefield Publishers

Trong cuốn sách này, Seth Jacobs vạch ra lịch sử hỗ trợ của Mỹ cho Ngô Đình Diệm từ lần xuất hiện đầu tiên của ông tại Washington vào năm 1950 cho đến khi Diệm bị giết bởi lực lượng quân đội Nam Việt Nam ở ngoại ô Sài Gòn năm 1963; Chapman, Jessica

(2013) Cauldron of resistance: Ngo Dinh Diem, the United States, and 1950s southern

Vietnam (Ithaca: Cornell University Press) Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến

quá trình Ngô Đình Diệm thiết lập chính quyền VNCH ở miền Nam Việt Nam

K.W Taylor, Introduction: Voices from the South, in K.W Taylor (ed), Voices

from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975) (Ithaca: Cornell Southeast Asia

Program Publications, 2014, pp 1-8) Đây là một công trình tập hợp nhiều bài viết của các tác giả nước ngoài và những người từng làm việc trong chế độ VNCH Các bài viết trong tập sách này tường thuật nhiều trải nghiệm khác nhau và các tác giả cũng có quan điểm và cách trình bày vấn đề khác nhau Điều này thể hiện sự đa dạng về mục đích và ý kiến của thành phần ưu tú trong xã hội Miền Nam Việt Nam vào thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, khi những thăng trầm của cuộc chiến và sự can thiệp của nước ngoài tạo

ra những thay đổi nhanh và một loạt khủng hoảng về lãnh đạo, tổ chức chính trị, hoạt động quân sự, đời sống kinh tế, trật tự xã hội, và chính sách hành chính

Năm 1967, khi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Hoa Kỳ rơi vào bế tắc,

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert S McNamara (1961-1968) chỉ thị cho 36 nhà

nghiên cứu biên soạn bộ sách nghiên cứu về Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ 1945-1967

Bộ sách dày 7.000 trang gồm 4.000 trang tài liệu của chính phủ Hoa Kỳ và 3.000 trang phân tích, được giữ bí mật cho đến năm 1971 thì công bố trên báo The New York Times Sau đó được xuất bản thành 2 cuốn The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc) của báo The New York Times và của Thượng nghị sĩ Gravel

Trang 31

Các công trình nghiên cứu liên quan đến chính thể VNCH nêu trên đã cung cấp cho chúng ta những thông tin cơ bản về vấn đề chính trị và cuộc chiến mà chính quyền này đang theo đuổi dưới nhiều góc nhìn khác nhau Đây cũng chính là những thông tin mang tính chất nền tảng, định hướng hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975)

Bên cạnh những nghiên cứu về chính quyền VNCH cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức bộ máy của chính quyền này giai đoạn 1955-1975

Trước hết là những công trình nghiên cứu tổng hợp về hệ thống bộ máy hành

chính VNCH có thể kể đến như: Tổ ch c hành chính Việt Nam của tác giả Lê Văn An

(giáo sư của Học viện Quốc gia Hành chánh) là một trong những công trình nghiên cứu

một cách toàn diện về bộ máy hành chính của VNCH trong giai đoạn 1955-1963; Việt

Nam Cộng hoà - Tổ ch c chính trị, hành hính, tư h và tài hính (1959) của Đào Văn

Hội đã giới thiệu tổng quát về chế độ VNCH trên các phương diện chính trị, hành chính,

tư pháp và tài chính Nhìn chung, đây là một công trình có tính khái quát về lịch sử hành chính VNCH; Tổng nha Ngân sách và Ngoại viện, Tổ chức các cơ quan công quyền, là một tài liệu tập hợp và hệ thống hoá các văn bản pháp lý về tổ chức của tất cả các cơ quan công quyền VNCH, đồng thời cung cấp sơ đồ tổ chức tổng quát cũng như chi tiết

của các cơ quan; Tác giả Tế Xuyên cũng có công trình Tổ ch c công quyền t i Việt N

ộng h à Đây là một tài liệu giới thiệu về hệ thống các cơ quan công quyền VNCH vào

năm 1959; Hoàng Xuân Hào, Tổ ch c chính trị và hành chính Việt Nam đã giới thiệu khá

chi tiết về tổ chức bộ máy hành chính của chính quyền VNCH; Tác giả Nguyễn Văn

Tương với ấn phẩm Định chế chính trị và Tổ ch c công quyền Việt Nam đã nghiên cứu

và giới thiệu tổng quát về thiết chế chính trị và tổ chức chính quyền VNCH vào năm cuối

c ng của chế độ VNCH (năm 1975); Hoàng Cơ Thụy (2002), Việt sử khảo luận, Paris:

Nam đã nghiên cứu khá đầy đủ về chính quyền VNCH, trong đó tác giả cũng giới thiệu khá chi tiết tổ chức bộ máy hành chính VNCH trong giai đoạn 1963-1967

Về tổ chức hành chính Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1967-1975 đã được tác giả

Võ Phúc Tùng giới thiệu trong cuốn Tổ ch c chính trị và hành chính Việt Nam

(1972-1973) Đây là công trình giới thiệu về tổ chức chính trị và hành chính VNCH dưới nhiều

Trang 32

khía cạnh khác nhau trong đó có nội dung tổ chức chính quyền VNCH theo Hiến pháp ngày 1-4-1967 Tác giả Nguyễn Văn Tương với Định chế chính trị và Tổ chức công quyền Việt Nam, đã nghiên cứu và giới thiệu tổng quát về thiết chế chính trị và tổ chức chính quyền VNCH vào năm cuối c ng của chế độ VNCH (năm 1975)

Trong giai đoạn cuối của chế độ VNCH (từ 10-7-1973 đến 10-7-1974), Tổng thống VNCH đã triển khai một cuộc cải tổ hành chính và công vụ với một quy mô rộng lớn và toàn diện Chương trình cải tổ hành chính này được Phủ Tổng ủy Công vụ (thuộc

Phủ Thủ tướng VNCH) tổng hợp thành cuốn sách Một nă ải tổ hành chánh và công

vụ

Một số luận văn cao học của các học viên tại Học viện Quốc gia hành

chính viết về tổ chức bộ máy VNCH giai đoạn Đệ nhị Cộng hòa như: Tổ ch ơ

quan công quyền Việt Nam Cộng hòa (1971) của Nguyễn Văn Tầm; Nhận ịnh về các biến cố chính chị Việt Nam Cộng hòa thời kỳ 1963-1967 (1971) của Nguyễn Thế Viên; Mối quan hệ giữa lậ h , hành h và tư h (1972) của học viên Huỳnh Tấn Lê; Vấn ề chính trị t i Việt Nam Cộng hòa (1972) của Trương Trí Hiệp; Vấn ề cải tổ nền hành chính (1973) của Nguyễn Khắc Nhân; Tổ ch c chính th c và phi chính th c trong nền hành chính (1974) của Nguyễn Như Thủy; Thẩm quyền của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (1969) của Nguyễn Văn Tám; Phát triển chính trị và hành chính (1974) của

Pham Viết Vinh; ịnh chế quốc gia của nền Đệ nhị Cộng hòa (1971) của Lê Văn Tòng; Quốc Hội Việt Nam Cộng hòa 1967-1973 (1973) của Trần Trọng Thủy; Thượng

Nghị viện Việt Nam Cộng hòa (1972) của Nguyễn Thị Thúy; H Nghị viện Việt Nam Cộng hòa Pháp nhiệm 1 (1972) của Khổng Trọng Hinh; Hệ thống tư h Đệ nhị Cộng hòa (1971) của Nguyễn Văn Sô; Tổ ch ơ qu n ng quyền Việt Nam Cộng hòa (1971)

của Nguyễn Văn Tầm; Tổ ch hành hính ị hương iệt Nam (1971) của Trần Văn Nhã; Cải tổ nền hành hính Đ , Tình và Thị xã (1972) của Trương Ngọc Minh; Giám sát

viện (1972) của Nguyễn Thị Kim Oanh; Khảo luận về Tối cao pháp viện (1972) của

Nguyễn Minh Kháng; Tối cao Pháp viện nền Đệ nhị Cộng hòa (1972) của Nguyễn Ngọc Diệp; Vai trò chính trị của Tối cao pháp viện (1971) của Trần Việt Nguyên; Cải cách thủ

tục hành chính t i Nam Việt Nam (1973) của Nguyễn Thị Ty Các luận văn nêu trên do

Trang 33

học viên Trường Quốc gia Hành chính thực hiện đã phân tích ở góc nhìn quản lý về tổ

chức và hoạt động của một số cơ quan trong bộ máy của chính quyền VNCH giai đoạn

1955-1975

Một số bài viết về vấn đề hành chính VNCH đã được công bố như: “Vấn đề tập

quyền hành chánh tại Việt Nam Cộng hòa” (1960) của tác giả Vũ Quốc Thông đăng trên

(Tạp chí Nghi n u hành h nh, số 8, tháng 8-1960); “Công cuộc cải tổ hành chánh tại

Việt Nam - Một vài khía cạnh của việc cải thiện hành chính địa phương từ năm 1949

(1958)” của Nguyễn Thành Cung, đăng trên Tạp chí Nghiên c u hành chánh (tập II, số 2

tháng 4-1958); Đào Văn Hội (1961), “Hành chánh đô thị tại Việt Nam và Thái Lan

(1959)” của tác giả Trần Văn Đĩnh (Tạp chí Nghi n u hành h nh, số 1&2 năm 1959);

“Diễn tiến công cuộc cải cách hành chính tại Việt Nam” (1972) của Nguyễn Văn Vàng

(Tạp chí Nghi n u hành h nh số 4, Tam cá nguyệt 4 năm 1972 Tác giả đã bàn luận

đến một số hoạt động cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính VNCH ở trung ương và

địa phương trong giai đoạn 1970-1972

Những công trình nêu trên đã cung cấp những kiến thức và thông tin về cách thức

tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước của chính quyền VNCH VBQPPL xét cho cùng là

một lĩnh vực thuộc về phạm trù tổ chức và quản lý bộ máy hành chính nhà nước Do đó,

những công trình nghiên cứu kể trên đã chia sẻ một góc nhìn khái quát về sự hiện diện

của hệ thống VBQPPL trong nền hành chính của chế độ VNCH Sự biến đổi của tổ chức

bộ máy của VNCH bắt nguồn từ những biến cố của lịch sử Vì vậy, hoạt động xây dựng

hệ thống VBQPPL cũng bị chịu tác động và ảnh hưởng rất lớn vì các cơ quan trong bộ

máy của chính quyền VNCH chính là những chủ thể ban hành, công bố và triển khai hệ

thống VBQPPL vào thực tiễn quản lý, điều hành của chính thể

1.2.3 Nghiên cứu về quá trình xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp

luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)

1.2.3.1 Giáo trình và sách chuyên khảo Các nghiên cứu có liên quan đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính

quyền VNCH đã được công bố trong thời gian tồn tại của chính quyền này đến ngày nay

Tiêu biểu là các công trình sau đây:

Trang 34

Giáo trình So n thả ng văn (1969) của tác giả Lê Thái Ất đã tập trung phân

tích lịch sử ra đời của công văn, thực trạng soạn thảo công văn ở các cơ quan công quyền VNCH còn nhiều hạn chế

Theo Lê Thái Ất (1969): “Tại các cơ quan trung ương, việc soạn thảo văn bản chưa được thống nhất về nhiều phương diện Tại các cơ quan địa phương, các tòa hành chính tỉnh, các ty chuyên môn việc soạn thảo văn bản lại càng có nhiều khiếm khuyết Những việc đã nêu cũng làm cho các cơ quan trung ương gặp nhiều khó khăn trong việc theo dõi, nắm bắt tình hình ở địa phương nhất là làm cho dân chúng

xa rời chính quyền, khó quên được thành ngữ “con r a hành chính” hay “vô phúc đáo công môn” (tr.24)

Từ thực trạng công tác soạn thảo công văn, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân và

đề xuất biện pháp khắc phục Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích và trình bày cách thức soạn thảo từng loại công văn trong hệ thống văn bản lập pháp, lập quy của chính quyền VNCH như: kết cấu, cách thức hành văn, thể thức và kỹ thuật trình bày công văn Với công trình này, Lê Thái Ất đã giúp tác giả luận án có cái nhìn cụ thể và chi tiết về cách thức và bố cục soạn thảo từng loại hình văn bản của chính quyền VNCH Xét ở góc độ nghiệp vụ thì công trình này có thể coi là “kim chỉ nam” cho công chức VNCH trong công tác soạn thảo và ban hành văn bản

Các tác giả cùng thời với Lê Thái Ất cũng đề cập đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH trong các công trình nghiên cứu của mình Đó là tác giả Nguyễn Văn Bông, Trương Quang Quýnh, Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tân, Vũ Văn Mẫu…

Sách Luật thương i Việt Nam dẫn giải của tác giả Lê Tài Triển (chủ biên),

Nguyễn Vạng Thọ & Nguyễn Tân (1972) đã giả phân tích và trình bày nguồn gốc của thương mại cũng như lịch sử quy định về thương mại ở Nam Kỳ từ thời Pháp thuộc đến giai đoạn Đệ nhị Cộng hòa Liên quan đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH, nhóm tác giả đã trình bày một góc nhìn về cách thức ban hành một loại hình văn bản trong hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH là Luật Thương mại

Trang 35

Năm 2008, tác giả Vũ Minh Giang cho xuất bản công trình chuyên khảo có tên gọi

Những ặ trưng ơ bản của bộ máy quản ý ất nước và hệ thống chính trị nước ta

trước thời kỳ ổi mới Công trình đã phân tích và trình bày các thiết chế chính trị từ khi

có nhà nước đến trước năm 1986 Đối với thiết chế chính trị của chính quyền VNCH (1955-1975), tác giả đề cập đến các yếu tố như: bối cảnh lịch sử, tổ chức bộ máy và hệ thống pháp luật

Theo Vũ Minh Giang (2009): “Trong suốt 20 năm tồn tại… bên cạnh chính sách phản động về mặt chính trị, trong vòng hai thập kỷ tồn tại, chính quyền VNCH cũng đã có một số biện pháp về mặt kỹ thuật hành chánh và ban hành nhiều văn bản pháp quy có giá trị tham khảo” (tr.246)

Nhận định trên cũng là một góc nhìn về lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH Tác giả sẽ nghiên cứu và tham khảo luận điểm nêu trên khi phân tích đối tượng nghiên cứu của luận án để lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH được nhìn nhận khách quan ở nhiều góc độ

Ấn phẩm Lược sử lập hiến Việt Nam, tác giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị

Hòa (2013) đã phân tích quá trình lập hiến của nước ta qua các thời kỳ lịch sử Hoạt động lập hiến của chính quyền VNCH được nhóm tác giả trình bày thông qua nội dung của hệ thống các văn bản được ban hành trong thời kỳ này như: tạm ước, hiến pháp, hiến chương lâm thời, ước pháp tạm thời công trình giúp cho tác giả nhìn nhận sự phức tạp của hoạt động lập hiến của chính quyền VNCH bởi chỉ trong 20 năm tồn tại mà có tới 7 chính phủ liên tục cầm quyền

Các công trình về pháp luật của tác giả Vũ Văn Mẫu, bao gồm: Dân luật khái

luận (1961); Việt Nam dân luật ược khảo (1963); Cổ luật Việt N và tư h sử (1973)

Cổ luật Việt Nam thông khả và tư h sử (1974) Nội dung của các công trình nêu trên

đều phân tích nguồn gốc ra đời của pháp luật trên thế giới và Việt Nam Phân tích pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử; quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình và đối với xã hội các công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Văn Mẫu đã cung cấp cho các sinh viên, học viên, công chức VNCH có cái nhìn khái quát về hệ thống pháp luật trên thế giới và ở Việt Nam Trong hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật của chính quyền

Trang 36

VNCH, công trình đã khái lược các loại hình văn bản luật và mối liên hệ giữa chúng Các yếu tố này giúp tác giả luận án tham khảo để nghiên cứu và phân tích sự hoàn thiện của

hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

1.2.3.2 Luận văn, luận án

Ngoài các giáo trình và sách chuyên khảo có đề cập đến pháp luật nói chung và pháp luật VNCH nói riêng, còn một số ấn phẩm, luận văn và các bài viết của chính quyền VNCH, các học viên Trường Quốc gia Hành chánh và Trường Đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH ở các góc nhìn khác nhau Nguồn tư liệu này hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Thư viện Học viện Hành chính quốc gia, Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Thư viện Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:

Luận văn Diễn trình hình thành và ban hành một o luật tại VNCH của tác giả

Trương Quang Nguyên (1973) đã phân tích thẩm quyền và thủ tục ban hành một đạo luật của chính quyền VNCH thông qua nghiên cứu các quy định trong Hiến pháp VNCH

1967 và tình hình thực tế tại Quốc hội Nghiên cứu về hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH thông qua hoạt động xây dựng Luật, tác giả nhận định

“Công tác làm luật của chính quyền VNCH quá kém” (Trương Quang Nguyên, 1973, 89) Để minh chứng cho nhận định nêu trên, tác giả đã đề cập đến những hạn chế ở quy trình ban hành, tu sửa luật; dẫn chứng và so sánh trong mối tương quan với một số nước trên thế giới và khu vực trong cùng thời điểm

Theo Trương Quang Nguyên (1973): “Nhìn qua thành tích lập pháp của Quốc hội trong 5 năm qua chúng ta thấy gì? Sau 5 năm tích cực hoạt động có đến 60 đạo luật được biểu quyết, trung bình mỗi năm chúng ta có đến 12 đạo luật Trong khi

đó, Quốc hội Hoa Kỳ trong niên khóa từ 1967 đến 1972 đã biểu quyết 6596 đạo luật Trung bình mỗi niên khóa là 1319 đạo luật, nghĩa là hơn chúng ta trên 100 lần Nhật Bản trong thời gian này đã biểu quyết 555 đạo luật Trung bình mỗi năm

là 111 đạo luật, hơn chúng ta 10 lần Nếu nhìn vào các quốc gia Đông Nam

Trang 37

đang có điều kiện kinh tế, chính trị tương tự chúng ta thì sẽ thấy tình trạng luật pháp của chúng ta quá kém Thậm chí, Campuchia cũng hơn chúng ta 4 lần” (tr.89)

Với góc nhìn của mình, tác giả Trương Quang nguyên đã cung cấp cho người đọc thêm một góc nhìn về thông tin về hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính

quyền VNCH nói chung và công tác làm luật nói riêng

Luận văn Tìm hiểu hiến pháp VNCH 1967 qua quá trình hình thành của nó (1967)

của tác giả Đào Hồng Hải, Ban Hành chánh Khóa VIII (1966-1968) đã trình bày và lý giải lịch sử hình thành, nội dung và đưa ra một số đánh giá ban đầu về Hiến pháp ban hành ngày 01 tháng 4 năm 1967

Luận văn Thẩm quyền của Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam của tác giả

Phan Văn Tám (1969), học viên Ban Cao học Hành chánh Khóa IX (1967-1969) đã trình bày, phân tích lịch sử hình thành chính quyền VNCH (1967-1975), thẩm quyền của tổng thống với tư cách quốc trưởng, thẩm quyền của tổng thống với tư cách nguyên thủ hành pháp, đánh giá thẩm quyền của tổng thống thông qua mối quan hệ với quốc hội, đề xuất

bổ sung cho Hiến pháp năm 1967 và biện pháp ngăn ngừa độc tài

Luận văn Luật số 005/72 của Lê Hồng Yến (1972) - học viên Ban Đốc sự Khóa

XVII (1969-1972) đã phân tích cơ sở pháp lý và thực tế của luật ủy quyền cũng như các ý kiến trái chiều của dân biểu, nghị sĩ và giới báo chí về nội dung của luật ủy quyền; những nội dung cơ bản và tác động của luật ủy quyền đối với việc ban hành văn bản của tổng thống

Luận văn Vấn ề kiểm hiến trong pháp chế Việt Nam của Cung Trọng Bảo (1973); luận văn Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 01/4/1967 s u 7 nă ụng (1974) Nguyễn

Văn Toàn Khóa 1972-1974;

Luận văn Hệ thống tư h Đệ nhị Cộng hòa của tác giả Nguyễn Văn Sô (1971),

luận văn cao học Ban Đốc sự 1968-1971 Tác phẩm đã phân tích cơ cấu tổ chức và nhân

sự ngành tư pháp Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975) Nội dung bài viết có viết về chức năng kiểm hiến của Tối cao Pháp viện Tuy nhiên công trình mới chỉ dừng ở việc mô tả và đưa

Trang 38

ra một vài nhận định ban đầu về vị trí cũng như chức năng của các cơ quan tư pháp của chính quyền Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975)

Luận văn Đặc khảo về thẩm quyền của Tối cao pháp viện của tác giả Cung Trọng

Thanh (1972) học viên cao học Ban Đốc sự khóa 1969-1972 Công trình đã phân tích và khảo cứu việc thực hiện thẩm quyền kiểm hiến và tài phán của Tối cao Pháp viện trên cơ

sở đó tác giả đưa ra một số nhận xét liên quan đến việc thực hiện thẩm quyền của cơ quan này

Luận văn Vấn ề bảo hiến t i Việt Nam Cộng hòa của tác giả Văn Thế Vĩnh

(1974), học viên cao học Ban Đốc sự khóa 1971-1974 Công trình đã phân tích các biện pháp bảo hiến được quy định trong hai bản hiến pháp VNCH 1956 và năm 1967 Trên cơ

sở đó, tác giả đưa ra nhận xét về các điểm tương đồng và khác biệt về vấn đề bảo hiến được quy định trong hai bản Hiến pháp VNCH Luận văn còn phân tích thêm những yếu

tố dẫn đến sự bất động của Viện Bảo hiến và các yếu tố khiến cho Tối cao Pháp viện hoạt động sôi nổi hơn Viện bảo hiến Nguyên nhân giải thích cho sự bất động của Viện Bảo hiến chính là sự độc quyền của hành pháp à nổi bật là vai trò của tổng thống; sự kém hiểu biết và thờ ơ của người dân đối với các chính sách quốc gia do ảnh hưởng từ chính sách cai trị của thời kỳ Pháp thuộc (không có quyền khiếu nại, khiếu kiện đối với nhà nước) Hoạt động có nhiều khởi sắc của Tối cao Pháp viện được tác giả giải thích là do sự cởi

mở và suy giảm quyền hành của hành pháp với đại diện là tổng thống được rút kinh nghiệm sâu sắc từ thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa; Các đảng phái hoạt động sôi nổi và bình đẳng với nhau hơn nên nhận thức của người dân về chính trị cũng ngày càng tiến bộ và

có nhu cầu phản biện chính sách quốc gia Vì vậy, nhiệm vụ bảo hiến được đặt ra và được người dân quan tâm nhiều hơn Chính vì thế, so với Viện Bảo hiến thì Tối cao Pháp viện hoạt động thường xuyên và liên tục hơn Những nội dung thông tin nêu trên hỗ trợ tác giả trong quá trình nghiên cứu, khảo sát hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL đặc biệt là hoạt động thẩm tra hệ thống VBQPPL khi triển khai vào đời sống cư dân VNCH

Luận văn Mối tương qu n giữa lập pháp và hành pháp trong lãnh vực ngo i giao

của tác giả Huỳnh Tấn Lê (1972) – học viên Ban Hành chánh (1970-1972) đã phân tích: khung cảnh pháp lý và mối tương quan biện chứng giữa lập pháp và hành pháp thông qua

Trang 39

nghiên cứu vai trò của quốc hội, tổng thống; phân tích thực tế mối quan hệ này thông qua lĩnh vực ngoại giao; sự suy yếu của quốc hội và những đề nghị tăng cường vai trò của quốc hội trong lĩnh vực ngoại giao

Luận văn Tự do công cộng trong Hiến pháp 1/4/1967 sự thực thi các quyền tự do

công cộng t i VNCH của Thạch Quấc Quan (1973) – học viên Ban Hành chánh

(1971-1973) Nội dung luận văn đã khái quát lịch sử hình thành các quyền tự do công cộng; phân tích các quyền tự do công cộng trong hiến pháp VNCH 1967 bao gồm, tự do nhân thân, tự do tinh thần, tự do kinh tế - xã hội, tự do chính trị và việc thực thi các quyền tự

do công cộng trong thực tế khi triển khai Hiến pháp năm 1967 của chính quyền VNCH

Luận văn Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH ở miền

Nam Việt Nam 1955 - 1963 của tác giả Nguyễn Văn Thỏa (2013) đã trình bày và phân

tích các quy định của chính phủ Đệ nhất Cộng hòa về ban hành văn bản quản lý Trên cơ

sở đó, tác giả đã đưa ra một số nhận xét, giá trị khoa học, thực tiễn của quá trình xây dựng pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963)

1.2.3.3 Bài báo khoa học

Quá trình xây dựng hệ thống văn bản QPPL của chính quyền VNCH đã thu hút các nhà khoa học, nhà quản lý và chính trị gia sinh sống trong trong thời gian tồn tại của chính quyền VNCH (1955-1975) tham gia tìm hiểu Các sản phẩm nghiên cứu này được công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Hành chánh, Tập san Tư pháp, Nhật báo Chính Luận,

Nhật báo Cấp tiến… Sau đây là một số bài viết tiêu biểu:

Bài viết “Quyền phúc nghị của Tổng thống theo hiến pháp VNCH 1956” của

Nguyễn Đức, công bố trên Tạp chí Nghiên c u Hành chánh năm 1962 Bài viết đã khai

thác nội dung của Điều 57 và Điều 58 Hiến pháp VNCH 1956 Quyền phúc nghị của tổng thống theo Hiến pháp VNCH 1956 được tác giả đặt trong mối tương quan so sánh với với quyền phủ quyết của Tổng thống Hoa Kỳ

Tác giả Nguyễn Đức (1956) cho rằng: “cũng như Hoa Kỳ chúng ta theo chế độ Tổng thống nhưng khác với Hoa Kỳ ở chỗ chúng ta chủ trương hai cơ quan lập pháp và hành pháp đều có quyền để khởi luật; chúng ta không áp dụng quyền phủ

Trang 40

quyết mà chỉ dự liệu quyền phúc nghị Sự thống nhất lập pháp hành pháp nhằm tới một chính quyền công bằng và hữu hiệu” (tr.09)

Bài viết “Lập pháp và hành pháp trong Hiến pháp 1967” của Nguyễn Mạnh Hùng,

công bố trên Tạp chí Nghiên c u Hành chánh, số 4 năm 1966 đã phân tích mỗi quan hệ

giữa lập pháp và hành pháp dưới góc độ nghiên cứu các quy định tại Hiến pháp 1967

“Nhân quyền trong hiến pháp năm 1967” của Nguyễn Quang Quýnh (1967) đăng

trên Tạp chí Nghiên c u Hành chánh số 4 Nội dung bài viết nhấn mạnh hai nhiệm vụ

quốc gia cần thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của Hiến pháp 1967 là quốc gia có nhiệm

vụ bảo vệ các tự do dân chủ và quốc gia có nhiệm vụ cụ thể hóa những quyền kinh tế, xã hội Không chỉ dừng lại ở việc đưa ra nhiệm vụ, tác giả còn đưa ra phương cách cụ thể hóa dân quyền từng nhiệm vụ theo Hiến pháp 1967 và những khó khăn gặp phải khi thực hiện hai nhiệm vụ trên

Bên cạnh đó, còn có các bài viết “Vấn đề kiểm soát sự tôn trọng hiến pháp của

Tổng thống” đăng trên Tạp chí Nghiên c u Hành chánh năm 1971 của Nguyễn Duy

Thanh và Phan Văn Tám; bài viết “Sự tham gia của hành pháp vào nhiệm vụ lập pháp”

của tác giả Nguyên Hữu Lành đăng trên Tạp chí Nghiên c u Hành chánh năm 1971

(3/1971); “Khảo luật về quyền yêu cầu và phúc nghị của Tổng thống VNCH” của tác giả

Trần Văn Linh, đăng trên Tậ s n Tư h số 1 năm 1970; “Những điều phải nói về hiến pháp và chế độ dân chủ này” của tác giả Trần Việt Anh đăng trên Nhật báo Chính luận,

số ra ngày 13 tháng 4 năm 1971; “Giải pháp cải tiến công tác làm luật của quốc hội” của

tác giả Đoàn Văn Cửu và Lê Văn Đồng, Nhật báo Chính luận số ra ngày 1 tháng 6 năm

1972; “Về quyền phúc nghị của Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa” của tác giả Nguyễn Ngọc

Huy đăng trên Nhật báo Cấp tiến, số ra ngày 1/6/1969

Bên cạnh đó, hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH cũng là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học và người làm công tác lưu trữ hiện nay Tiêu biểu như: “Vài nét về Luật Lưu trữ Việt Nam Cộng

hòa” của Nguyễn Xuân Hoài – Hoàng Văn Thụ đăng trên Tạp chí ăn thư Lưu trữ Việt

Nam số tháng 7 năm 2007 đã giới thiệu một cách khái quát về hoàn cảnh ra đời và nội

dung cơ bản của Luật Văn khố năm 1973; bài viết “Luật Lưu trữ của Việt Nam Cộng hòa

Ngày đăng: 18/06/2021, 10:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w