Công trình Nhìn lại một chặng đường văn học của tác giả Trần Hữu Tá, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, giúp thêm cách tiếp cận với cái tôi trữ tình của các nhà thơ trong phong trào yêu nư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VŨ THỊ HƯƠNG
HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1955 - 1965
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng, Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Những đóng góp của luận văn 6
6 Cấu trúc của luận văn 6
CHƯƠNG 1 VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ BỐI CẢNH XUẤT HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1955-1965 7
1.1 LOẠI HÌNH TRỮ TÌNH VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ 7
1.1.1 Loại hình trữ tình 7
1.1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ 9
1.2 BỐI CẢNH XUẤT HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG NỀN THƠ VIỆT NAM 1955 - 1965 11
1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội của đất nước 11
1.2.2 Thơ 1955-1965 trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam 15
CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1955 - 1965 22
2.1 CÁI TÔI TRỮ TÌNH GIÀU CẢM HỨNG NGỢI CA 22
2.1.1 Tự hào với niềm vui kháng chiến thắng lợi 22
2.1.2 Ngợi ca công cuộc dựng xây Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc 24
2.1.3 Ngợi ca Tổ quốc tươi đẹp 32
2.1.4 Ngợi ca Đảng và lãnh tụ 36
Trang 42.2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH KHÔNG NGUÔI DAY DỨT VỀ MỘT NỬA ĐẤT
NƯỚC CHƯA ĐƯỢC GIẢI PHÓNG 40
2.2.1 Nỗi đau trước tình cảnh đất nước bị chia cắt 41
2.2.2 Tâm trạng “ngày Bắc đêm Nam” của những người con miền Nam trên đất Bắc 48
2.2.3 Cổ vũ tinh thần đấu tranh bất khuất và niềm tin tất thắng 55
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1955 – 1965 62
3.1 SỰ ĐA DẠNG, PHONG PHÚ VỀ NGÔN NGỮ, HÌNH TƯỢNG THƠ VÀ THỂ LOẠI 62
3.1.1 Ngôn ngữ thơ 62
3.1.2 Hình tượng thơ 67
3.1.3 Thể loại 73
3.2 GIỌNG ĐIỆU VÀ NHỮNG PHONG CÁCH THƠ NỔI BẬT 77
3.2.1 Giọng điệu 77
3.2.2 Phong cách thơ nổi bật 85
KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu thơ từ lâu đời Cách mạng tháng
Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã mở
ra một thời đại mới cho lịch sử dân tộc và lịch sử văn học nước nhà
Nhìn lại tiến trình phát triển của nền văn học hiện đại Việt Nam, thơ ca
luôn là dòng chảy lưu giữ ký ức về cuộc sống và tâm hồn dân tộc qua từng
chặng đường lịch sử Nối tiếp truyền thống thơ ca kháng chiến chống Pháp
(1946-1954), thơ ca Việt Nam giai đoạn 1955 – 1975 đã ra đời và phát triển
trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt mà chặng đường 1955-1965 là giai đoạn
chuyển tiếp, giai đoạn “bản lề” giữa thơ ca thời kỳ chống Pháp và cao trào thơ
ca thời chống Mĩ cứu nước trên cả hai miền Nam Bắc (1965-1975), trong
công cuộc dựng xây và ra trận đấu tranh thống nhất nước nhà
Đặc trưng của thế giới nghệ thuật thi ca là sự thể hiện hình tượng nhân
vật cái tôi trữ tình Tìm hiểu hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ ca Việt Nam
giai đoạn 1955-1965 không chỉ để hiểu về bản chất của thơ ca mà còn để hiểu
thêm một chặng đường lịch sử tâm hồn của dân tộc Vì cho đến ngày nay, sau
40 năm đất nước thống nhất, thời gian hơn nửa đời người, quá khứ có thể phôi
pha, chúng ta có thể quên lãng nhiều điều nhưng không thể quên một thời kỳ
đau thương mà vô cùng cao cả - thời kì đấu tranh để non sông nối liền một
dải, Bắc - Nam sum họp một nhà Những trang thơ ấy, mỗi lần đọc lại vẫn gợi
bao xúc động, với những tình cảm thiêng liêng và sâu lắng
Do đó, việc đi sâu nghiên cứu đề tài này cũng là một dịp để hiểu thêm
vẻ đẹp đau thương mà hào hùng của đời sống dân tộc trong những năm tháng
không thể nào quên ấy Đồng thời, tiếp cận đề tài này còn có ý nghĩa thiết
thực giúp ích cho việc dạy học thơ Việt Nam hiện đại trong nhà trường hiện nay
Trang 62 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những bài viết nổi bật có liên quan gián tiếp đến đề tài
Trước hết là bộ sách Nhà văn Việt Nam (1945-1975), gồm hai tập, của
Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức do Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp ấn
hành năm 1979 Ở tập 1, khi nhìn lại Ba mươi năm phát triển của thơ ca cách
mạng 1945-1975, GS Hà Minh Đức đã nêu nhận xét về thơ Việt ở chặng
đường 1954-1964 như sau: “Cảm hứng về đất nước anh hùng, tổ quốc xã hội chủ nghĩa giàu đẹp vẫn là cảm hứng chủ đạo trong thơ ca suốt một giai đoạn mới Trong thơ ca có tiếng nói da diết nhớ thương về tình cảnh đất nước còn
bị chia cắt hai miền.”[9, tr.117]
Các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trác, Trần Hữu Tá, trong
giáo trình Văn học Việt Nam (1945-1975), Tập I, Nxb Giáo dục, 1983, khi
nhìn lại chặng đường văn học 1954 - 1964 cũng đã có những trang đề cập đến thành tựu và đặc điểm của thơ ca.[34, tr.79, 93]
Công trình Nhà thơ Việt Nam hiện đại của Viện Văn học, Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội, 1984 đã tuyển chọn và giới thiệu 32 gương mặt nhà thơ Việt Nam hiện đại Qua đó cũng có thể giúp cho người đọc nhận diện gương mặt cái tôi trữ tình qua từng chặng đường thơ Việt Nam hiện đại trong đó có nhắc đến chặng đường 1955-1965
Khi tìm hiểu Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945-1975 (Nxb
Giáo dục, 2000) của tác giả Vũ Duy Thông đã khảo sát thơ qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ từ góc nhìn mỹ học, tác giả nhận thấy: “Bàn về thơ kháng chiến Việt Nam suốt 30 năm là một vấn đề khó khăn
và đòi hỏi nhiều công sức” [tr 7] Tuy nhiên, qua cách tiếp cận của tác giả và nhất là qua phần tuyển thơ, người đọc cũng có thể cảm nhận được phần nào
về cái tôi trữ tình ở chặng đường thơ giai đoạn 1955-1965
Trang 7Công trình Nhìn lại một chặng đường văn học của tác giả Trần Hữu Tá,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, giúp thêm cách tiếp cận với cái tôi trữ tình của các nhà thơ trong phong trào yêu nước của trí thức và thanh niên, học sinh, sinh viên ở đô thị miền Nam nước ta giai đoạn 1955-1975
Năm 2001, trong cuốn Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, Mã Giang Lân đã có một chương viết riêng về đặc điểm chung của thơ Việt Nam hiện đại ở giai đoạn 1954-1964
Nguyễn Văn Long khi tìm hiểu Văn học Việt Nam trong thời đại mới,
Nxb Giáo dục, 2003, đã nêu những vấn đề chung về quan điểm tiếp cận và đánh giá; những vấn đề về thể loại; đồng thời cũng đã đề cập đến một số tác giả, tác phẩm liên quan đến thơ 1955-1965 “Thơ trong khoảng 10 năm 1955 -
1964 đã có bước phát triển mới phong phú đa dạng và vững chắc, trên cơ sở
những thành tựu và phương hướng mà thơ ca kháng chiến đã đạt được”
Quyển Một thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học, 1995, Nguyễn
Đăng Mạnh nhận định: “Văn học giai đoạn 1945 – 1975 là văn học của những
sự kiện lịch sử, của số phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng Nhân vật trung tâm của nó là những con người đại diện cho giai cấp, dân tộc, thời đại và kết tinh một cách chói lọi những phẩm chất cao quý của cộng đồng” [34, tr.22]
Những thế giới nghệ thuật thơ là một công trình nghiên cứu có giá
trị của Trần Đình Sử (Nxb Giáo dục - Hà Nội, 1997) Khi viết về thơ 1955
- 1975, tác giả đã có những nhận xét rất xác đáng về nghệ thuật thơ cách mạng: “Về mặt nghệ thuật, thơ cách mạng đã sáng tạo ra một thế giới sử thi độc đáo” [42, tr.100] Theo ông “ Thế giới sử thi cũng có tình yêu đôi
lứa, nhưng tình yêu nam nữ ấy mang nội dung Tổ quốc” [42, tr.101] Và
Trần Đình Sử khẳng định: “Một thế giới sử thi đậm đặc, các giới hạn cá
nhân bị phá vỡ để hòa chung trong cuộc sống lớn” [42, tr.102]
Trong chuyên luận Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam (1945-1995),
Trang 8Nxb Khoa học xã hội (1999), tác giả Vũ Văn Sĩ đã nhận định: “Thơ trữ tình Cách mạng Việt Nam là linh hồn của thơ Việt Nam thế kỷ XX … Nhu cầu bộc
lộ mình trong sự kiện, nhu cầu nhận thức sứ mệnh lịch sử của con người trong biến cố đã in dấu ấn vào hình thức nghệ thuật cái bóng dáng tinh thần của nhà thơ, làm thay đổi diện mạo và cấu trúc thơ trữ tình” [40, tr7,8] Thi pháp thơ trữ
tình trong văn học Cách mạng đã được tác giả nghiên cứu để làm nổi bật cái
hình thức đặc thù bộc lộ mối liên hệ lịch sử giữa thơ ca và đời sống
Và gần đây nhất năm 2015, Bùi Bích Hạnh có công trình nghiên cứu
Thơ trẻ Việt Nam 1965-1975 khuôn mặt cái tôi trữ tình, Nxb Văn học Trong
bộ sách, tác giả đã “xác định những dạng thức cái tôi trữ tình để khái quát hệ
thống quan điểm thẩm mĩ cũng như năng lực chiếm lĩnh hiện thực của người
nghệ sĩ; trên cơ sở đó khẳng định thuộc tính thơ trẻ giai đoạn này” [20, tr8]
Theo tác giả: “việc khảo sát diện mạo cái tôi trữ tình trong thơ trẻ để hướng tới luận giải một cách thỏa đáng hơn đặc điểm thơ 1965-1975; khôi phục khuôn mặt vốn đa diện của thơ Việt Nam 1945-1975” [20, tr8]
v.v…
2.2 Một số bài viết và công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài
Cái làm nên sự phong phú của cái tôi trữ tình chính là tài năng sáng
tạo của mỗi nhà thơ khi tìm hiểu và hòa nhập vào đối tượng Vì vậy, tìm hiểu
Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam 1955- 1965 không thể tách rời
việc khảo sát các công trình nghiên cứu, phê bình về các tập thơ, bài thơ của các tác giả ra đời trong giai đoạn này
Đó là những bài viết của Hoài Giang, Hà Xuân Trường, Bảo Định
Giang, Lê Đình Kỵ viết về tập Gió Lộng (1961) của Tố Hữu Các bài của Xuân Diệu, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức viết về tập thơ Ánh sáng và phù sa
(1960) của Chế Lan Viên Các bài của Phan Cự Đệ, Lê Nhuệ Giang,Vũ Đức
Trang 9Phúc viết về các tập thơ Mũi Cà Mau, Riêng chung (1960), Một khối hồng
(1964) của Xuân Diệu Các bài của Vũ Tuấn Anh, Lê Đình Kỵ, Đỗ Hữu Tấn,
Nguyễn Đình, Hoàng Minh Châu, Thiếu Mai viết về các tập thơ Lòng miền
Nam (1955), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu thương
(1963) của Tế Hanh…
Tuy nhiên những bài viết của các nhà nghiên cứu về các tập thơ thường hướng theo phân tích tác phẩm, nghiêng về khẳng định những thành công và đóng góp của tập thơ, khẳng định vị trí của tập thơ trong quá trình sáng tác của tác giả mà chưa đi sâu vào tìm hiểu về hình tượng cái tôi trữ tình Từ đó
họ khẳng định phong cách sáng tác của nhà thơ Do đó, phần lớn các bài viết
chỉ mang tính chất nhận xét, đánh giá đơn lẻ chưa tập trung làm nổi bật hình
tượng cái tôi trữ tình của thơ giai đoạn 1955 - 1965 ở cả hai miền Nam Bắc
Cũng có một số luận án tiến sĩ, luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp đại học đã làm về thơ hiện đại Việt Nam qua từng chặng đường, qua từng tác giả, tác phẩm cụ thể; nhưng qua chúng tôi tìm hiểu chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu đề tài này
Tuy vậy, những tài liệu đã điểm lại trên đây cũng như một số tài liệu khác đã trợ giúp thiết thực cho chúng tôi trong quá trình tiếp cận và nghiên cứu khoa học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam giai đoạn 1955 – 1965
3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu khảo sát các tập thơ, bài thơ nổi bật của các tác giả tiêu biểu trong giai đoạn 1955-1965 Bên cạnh đó để làm
rõ đặc điểm hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam 1955-1965, chúng tôi chọn lọc những tác phẩm thơ tiêu biểu ở các giai đoạn khác để so sánh
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống - phân loại: nhằm tìm kiếm, sắp xếp, phân loại
một cách hệ thông, từ đó giúp người viết định hướng đúng vấn đề nghiên cứu
từ đó phân tích, đánh giá một cách chính xác, tránh sự trùng lặp
- Phương pháp so sánh - lịch sử: nhằm so sánh, tìm ra những đặc điểm
tiêu biểu của thơ thời kỳ 1955 - 1965 trong tương quan với đặc điểm thơ các
giai đoạn để từ đó nhận diện gương mặt của hình tượng cái tôi trữ tình
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: giúp đi sâu phát hiện cảm nhận
từng hiện tượng thơ cụ thể kết hợp với quá trình phân tích, lý giải và tổng hợp
vấn đề thành hệ thống luận điểm, luận cứ phù hợp với sự vận động của thể loại
5 Những đóng góp của luận văn
Từ việc tìm hiểu về Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ giai đoạn
1955 - 1965, luận văn giúp nắm bắt và hiểu rõ hơn về cái tôi trữ tình biến
hóa đa dạng làm nên bản sắc riêng cho thơ ca một giai đoạn; góp phần thấy
được tiến trình phát triển của thơ Việt Nam hiện đại
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể bổ sung tài liệu tham khảo
thiết thực cho dạy học phần thơ ca Việt Nam hiện đại ở trong nhà trường
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Về cái tôi trữ tình và bối cảnh xuất hiện cái tôi trữ tình trong
thơ Việt Nam giai đoạn 1955-1965
Chương 2: Những đặc điểm của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam
giai đoạn 1955-1965
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam giai
đoạn 1955-1965
Trang 11CHƯƠNG 1
VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ BỐI CẢNH XUẤT HIỆN CÁI
TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VIỆT NAM
Ở nghĩa thứ hai để chỉ một loại tác phẩm văn học mà ở những tác phẩm này chủ yếu dùng phương thức trữ tình để miêu tả, các tác phẩm loại này được gọi
là tác phẩm trữ tình
Phạm vi các tác phẩm trữ tình rất phong phú Có tác phẩm trữ tình viết bằng văn xuôi, có tác phẩm trữ tình viết bằng văn vần, có tác phẩm thuộc loại kí, có tác phẩm thuộc loại thơ Tuy vậy, có thể chia thành ba nhóm chính
là thơ trữ tình, kí trữ tình, các thể văn chính luận nghệ thuật
Do tác phẩm trữ tình trình bày trực tiếp cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của con người, nên xúc động trữ tình bao giờ cũng mang thời điểm hiện tại Ngay
cả khi tác phẩm trữ tình nói về quá khứ, về những chuyện đã qua, xúc động trữ tình vẫn xuất hiện như một trạng thái sống động, một quá trình đang diễn
ra Nhờ những đặc điểm này mà những rung động thầm kín mang tính chất chủ quan, cá nhân, thậm chí cá biệt của tác giả dễ dàng được người đọc tiếp nhận như những rung động của chính bản than họ Đây là cơ sở tạo nên sức
Trang 12mạnh truyền cảm lớn lao của tác phẩm trữ tình Hơn thế, việc tập trung thể hiện những nỗi niềm thầm kín, chủ quan, đã cho phép tác phẩm trữ tình thâm nhập vào những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con người như sống, chết, tình yêu, lòng chung thủy, ước mơ, tương lai, hi vọng… Đây là nhân tố tạo nên sức khái quát và ý nghĩa xã hội to lớn của tác phẩm trữ tình [13, tr.255]
Nếu chia tác phẩm văn học ra các loại trữ tình, tự sự, kịch thì thơ trữ tình chiếm một vị trí quan trọng trong loại trữ tình Còn nếu chia tác phẩm văn học ra các loại thơ văn, văn xuôi, kịch, kí thì thơ trữ tình cũng giữ một vị trí quan trọng trong loại thơ “Thơ trữ tình - thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình Trong đó, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng của đời sống được thể hiện một cách
trực tiếp” [13, tr.216]
Thực ra để xác lập khái niệm thơ, chủ yếu người ta vẫn dựa trên đặc điểm của thơ trữ tình là chính Thơ tự sự (như truyện thơ) hay kịch thơ mang đặc điểm của tự sự và kịch nhiều hơn Vậy thơ trữ tình hay thơ nói chung là gì? “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” Bàn về thơ, Sóng Hồng viết: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình
tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường”
[13, tr.210] Nhà thơ Xuân Diệu từng cho rằng “Thơ là lọc lấy tinh chất, là sự
vật được phản ánh vào tâm tình”
Thơ trữ tình cũng như thơ nói chung bộc lộ cảm xúc một cách mãnh liệt, không có cảm xúc thì không có thơ Cảm xúc tạo nên chất thơ của thơ Theo giáo sư Hà Minh Đức thì “Yếu tố cảm xúc, nhất là cảm xúc ở dạng trực
Trang 13tiếp của chủ thể, là một nhân tố rất cơ bản để tạo nên chất thơ Khi cảm xúc mất dần trong cảm hứng sáng tạo thi ca, tư duy của nhà thơ nặng nề về mặt phán đoán suy tưởng thì chất thơ cũng bị hạn chế, hình tượng thơ yếu hẳn về mặt gợi cảm” [10, tr.47]
Nói tới cảm xúc là nói tới những gì riêng tư của cá nhân Cảm xúc trong tác phẩm trữ tình trước khi trở thành nỗi niềm chung của nhiều người thì trước hết phải là sự rung động thật sự từ trái tim của người nghệ sĩ -
“Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng”
Tiếng vọng tha thiết từ tâm hồn người sáng tác sẽ truyền nguồn cảm hứng, cảm xúc đến người đọc để cùng đồng cảm, sẻ chia…Thơ do vậy là tiếng nói của tri âm như Hoài Thanh đã từng nói “thích một bài thơ là thích một con
người đồng điệu”
1.1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ
Cái tôi trữ tình là hình tượng trung tâm bộc lộ tâm hồn, tình cảm của
tác giả trong thơ trữ tình Hơn bất kỳ thể loại văn học nào khác, thơ tồn tại tính chủ quan của người nghệ sĩ nhiều nhất Dù dưới dạng nào, thông qua ngôn ngữ, người đọc cũng nhận ra cái tôi chủ thể của nhà thơ Nhà thơ bằng nhiều kiểu - hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thể hiện rõ mình qua từng yếu tố tham gia cấu thành tác phẩm như: cảm xúc, tư tưởng, hình ảnh, quan niệm nghệ thuật… thông qua chất liệu ngôn ngữ
Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với
thế giới và con người thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần độc đáo mang tính thẩm mỹ nhằm truyền đạt tinh thần đến người đọc
Bản chất của thơ chính là sự hiện diện của cái tôi trữ tình Bản chất thơ trữ tình là việc thể hiện những cảm xúc, suy nghĩ, ước muốn của con người
“Thơ trữ tình là phương tiện để con người tự khẳng định bản chất tinh thần so
Trang 14với tồn tại vật chất; là phương tiện để tự đồng nhất nội tại, kiến tạo hình tượng
về bản thân Cái tôi có vai trò quan trọng trong thơ với tư cách là trung tâm để
bộc lộ tất cả suy nghĩ, tình cảm, thái độ bằng giọng điệu riêng; nhờ vậy
làm nên cái độc đáo không lẫn giữa thế giới nghệ thuật của mỗi nghệ sĩ”
[20, tr 21]
Cái tôi trữ tình bộc lộ trong thơ với nhiều dạng thức Có khi cái tôi trữ
tình thể hiện trực tiếp trong thơ bằng chữ tôi hoặc ta Khi ấy nhà thơ trực tiếp
bộc lộ một tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ… trước một câu chuyện, một sự việc,
một cảnh ngộ riêng Như lời bộc bạch, tâm sự của Tế Hanh về nỗi nhớ quê
hương và khát vọng đoàn tụ: Tôi sẽ trở lại nơi tôi hằng mơ ước/ Tôi sẽ về
sông nước của quê hương/ Tôi sẽ về sông nước của tình thương (Nhớ con
sông quê hương) Hoặc là niềm vui sướng, say mê mãnh liệt của nhà thơ Tố
Hữu khi được giác ngộ lí tưởng cộng sản: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt
trời chân lí chói qua tim (Từ ấy) Với dạng thức này cái tôi trữ tình thường là
cái tôi của tác giả; nhân vật trữ tình, hình tượng trung tâm trong tác phẩm
cũng chính là nhà thơ
Một dạng thức khác đó là trường hợp cái tôi trữ tình bộc lộ gián tiếp
qua cảnh ngộ, sự việc trong thơ mà sự việc cảnh ngộ ấy không phải là của
riêng tác giả Khi ấy nhà thơ chỉ nói lên cảm nghĩ của mình về những sự kiện,
cảnh ngộ đó Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Bài ca vở đất của Hoàng Trung
Thông, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Ta đi tới của Tố Hữu thể hiện
rõ dạng thức này Cụ thể trong bài thơ Ta đi tới của Tố Hữu: Ta đi tới không
thể gì chia cắt/ Mục Nam quan đến bãi Cà Mau/ Trời ta chỉ một trên đầu/ Bắc
Nam liền một biển/ Lòng ta không giới tuyến/ Lòng ta chung một cụ Hồ/ Lòng
ta chung một Thủ đô/ Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam Ta ở đây là dân tộc,
là nhân dân, là mỗi con người Việt Nam, là bản thân nhà thơ Trong những
vần thơ sau Chế Lan Viên cũng có cách thể hiện cái tôi trữ tình gián tiếp như
Trang 15vậy: Chúng muốn xé bản đồ ta ra làm hai tổ quốc/ Xé thân thể ta thành máu
thịt đôi miền/ Xé nhân dân ta thành hai dòng trong, đục/ Để tâm hồn ta thành khi nhớ khi quên (Đừng quên) Ta không còn là cảm xúc căm hờn của Chế
Lan Viên trước kẻ thù khi chỉ ra dã tâm chia cắt đất nước mà nó đã trở thành nỗi niềm đau xót, căm phẫn chung của mọi người dân Việt Nam
Trong các tác phẩm của mình, nhà thơ trữ tình nói bằng những tiếng nói khác nhau dường như nhân danh những con người khác nhau Đó là lúc tác giả phân thân để nhập vai vào từng số phận, đối tượng để triết luận, bình luận hoặc ngợi ca, nhằm sẻ chia, bộc lộ cảm xúc, tâm trạng Trường hợp này
là trong thơ xuất hiện nhân vật trữ tình cụ thể nào đó như: Mẹ Tơm, Mẹ Suốt,
Bà mẹ Việt Bắc trong thơ Tố Hữu, Anh chủ nhiệm của Hoàng Trung Thông… Những nhân vật này có khi là những điển hình có thật ngoài đời như chị Trần Thị Lý, anh Nguyễn Văn Trỗi, người cha anh dũng Nô-man-Mô-ri-xơn… Lúc này nhân vật trữ tình của sáng tác tồn tại bên cạnh cái tôi trữ tình của nhà thơ Cái tôi của nhà thơ không bộc lộ trực tiếp, nhưng qua sáng tác
vẫn nổi rõ cái tôi trữ tình, cái tôi trữ tình của tác giả được nghệ thuật hóa
[10, tr 89] Cái tôi trữ tình luôn biến hóa đa dạng, phong phú nhiều lúc khó nắm bắt Và chính điều này làm cho cái tôi trong thơ trữ tình trở nên lung linh, huyền ảo và quyến rũ Đây chính là tài năng sáng tạo của mỗi nhà thơ khi hòa nhập vào đối tượng, là bí quyết để làm độc đáo từng phong cách thơ, làm nên nét riêng của từng nhà thơ
1.2 BỐI CẢNH XUẤT HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG NỀN THƠ VIỆT NAM 1955 - 1965
1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội của đất nước
Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được ký kết đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đối với ba nước Việt Nam, Lào, Campuchiachia Với hiệp định Giơnevơ, Pháp và các
Trang 16nước đã công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Hiệp định Giơnevơ đã đặt cơ sở chính trị và pháp lí quan trọng cho cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn đất nước ta Từ ngày 23-9-1945 đến ngày 21-7-1954, nhân dân ta đã trải qua hơn 3000 ngày kháng chiến đầy hi sinh, gian khổ, anh dũng và vô cùng tự hào đã giành được thắng lợi vĩ đại Như lời tổng kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lần đầu tiên trong lịch
sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh Đó là thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là thắng lợi của lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế
giới” [37, tr.547]
Quân Pháp rút khỏi Việt Nam Với âm mưu thâm độc, sau khi đã gạt hết quân Pháp và tay sai của chúng ra khỏi miền Nam, đế quốc Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn miền Nam Việt Nam (tháng 10-1955) Mỹ cùng bọn tay sai đã trắng trợn từ chối và phá hoại việc thống nhất Việt Nam với mục đích độc chiếm miền Nam Việt Nam tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương Một nửa vĩ tuyến trở vào tạm thời dưới sự quản lí của chính quyền miền Nam Nước Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc
Trong tình hình đất nước tạm thời bị chia cắt, Đảng và Chính phủ đề
ra cho cách mạng mỗi miền những nhiệm vụ chiến lược phù hợp hướng tới đấu tranh thống nhất đất nước: Miền Bắc hòa bình bắt đầu cuộc sống lao động khẩn trương hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong quá trình này Mỹ, đã mở rộng hoạt động ném bom bắn phá, nên miền Bắc phải kết hợp cả với cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, nhằm bảo
vệ miền Bắc và phối hợp với cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam Xây dựng chủ nghĩa xã hội còn nhằm xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước và là hậu phương cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của
Trang 17toàn dân tộc; Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc Miền Bắc hòa bình, bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng đó là những năm tháng chúng ta phải đương đầu với muôn vàn khó khăn và thử thách bởi hậu quả của chiến tranh và chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức nặng nề Bằng nghị lực và ý chí phi thường của con người Việt Nam, nhân dân miền Bắc đã cố gắng nỗ lực từng bước khắc phục những khó khăn, thiếu thốn để ổn định cuộc sống, khôi phục kinh tế, đưa miền Bắc sang giai đoạn cách mạng mới Mùa xuân lại trở về trên đất Bắc Thế nhưng niềm vui
ấy chưa trọn vẹn khi miền Nam còn nằm trong tay giặc, một nửa đất nước bên kia vĩ tuyến mười bảy
Khi đã đứng được ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm, càng lộ rõ bộ mặt phản dân, hại nước Mĩ và chính quyền Sài Gòn ra sức thực hiện những thủ đoạn đàn áp nhân dân, chống phá cách mạng Những năm dưới thời Ngô Đình Diệm, cả miền Nam khi ấy quằn quại, đau thương trong
sự đàn áp, khủng bố cực kì dã man của quân thù Chủ nghĩa chống cộng
được coi là “Quốc sách” Thống nhất là khát vọng lịch sử của dân tộc ta,
thiêng liêng và quan trọng không kém khát vọng độc lập tự do Thế nhưng ngay từ những đầu đất nước tạm chia hai, Mĩ và Ngô Đình Diệm đã thẳng
thừng bác bỏ khát vọng thiêng liêng ấy [43tr.11] Với dã tâm phá hoại kế
hoạch thống nhất đất nước của cách mạng Việt Nam, tiêu diệt nguyện vọng tự
do dân chủ và ý chí chiến đấu của nhân dân ta, Mĩ – Diệm đã ban hành nhiều sắc lệnh đẫm máu như: Sắc lệnh số 6, thành lập trại giam người không cần xét xử; sắc lệnh số 13, bóp nghẹt mọi quyền tự do; sắc lệnh số 49, bỏ tù tất cả những ai chống lại chính quyền; luật 10/59 là đỉnh cao của chính sách chống cộng; lập 3 tòa án quân sự đặc biệt ở Huế, Buôn Mê Thuột, Sài Gòn Tòa án này chỉ có hai mức xử: tử hình và khổ sai chung thân, không kháng án
Trang 18Những chính sách tàn bạo ấy Mĩ - Diệm đã áp dụng trên toàn miền Nam,
tổ chức hàng loạt cuộc vây bắt, tàn sát những người kháng chiến cũ, những người đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước Chúng muốn dìm nhân dân ta trong biển máu Thế nhưng những hành động tàn bạo, hèn hạ của kẻ thù không thể làm lung lay được ý chí, tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào miền Nam Nhân dân miền Nam đã đứng lên hưởng ứng cuộc “Đồng khởi” (1959 - 1960) giáng những đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm
Từ trong phong trào “Đồng khởi”, Mặt trận dân tộc và giải phóng miền Nam ra đời ngày 20-12-1960 là một thắng lợi chính trị to lớn Mặt trận chủ trương đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược
và tay sai, thành lập chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam Từ 1961-1965 phát huy sức mạnh đoàn kết của dân tộc, miền Nam đã đánh thắng Chiến tranh đặc biệt, một hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ Ta đã đánh bại được âm mưu thâm độc “dùng người Việt đánh người Việt” của kẻ thù Sự kiện ấy có ý nghĩa quan trọng, là một trong những nền tảng vững chắc để tiến tới thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam năm 1969 Những sự kiện trọng đại nêu trên là những mốc son chói lọi ghi dấu từng bước đường trưởng thành của cách mạng miền Nam nói riêng và cả nước nói chung Những thành quả ấy ngày một tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho toàn dân vững bước đấu tranh giành độc lập tự do thống nhất đất nước
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc là một thử thách vô cùng ác liệt đối với con người Việt Nam,
Tổ quốc Việt Nam Lòng yêu nước, ý chí căm thù, ý chí quyết thắng, sức sáng tạo, lòng kiên nhẫn, tình thương yêu, đoàn kết, cưu mang nhau, niềm tin tưởng, chung thủy, tinh thần lạc quan được động viên tới mức chưa
Trang 19từng có Đất nước và con người Việt Nam đã sống những ngày đau thương nhất mà hào hùng nhất, đằm thắm nhất mà cao cả nhất Chủ nghĩa anh hùng cách mạng nảy nở khắp mọi nơi, từ tiền tuyến đến hậu phương, ngoài chiến trận cũng như trong sinh hoạt hàng ngày
Hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt đã tác động sâu sắc đến tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam và để lại dấu ấn rõ nét trong văn học Văn học ta vốn có truyền thống gắn bó với cuộc sống và chiến đấu của nhân dân, đã kịp thời phản ánh con người, thời đại Thơ cũng như mọi thể loại khác đã trở thành vũ khí tinh thần, thành một sức mạnh tham gia vào cuộc chiến đấu, gắn bó với vận mệnh của dân tộc, nhân dân Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí độc lập, tự do, những tình cảm lớn lao ấy đã trở thành nguồn mạch dồi dào cho cảm hứng thơ ca
1.2.2 Thơ 1955-1965 trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
Thơ là tiếng nói của cái tôi trữ tình Trong thơ Việt Nam, hình tượng cái tôi trữ tình đã không ngừng vận động tạo nên những dấu ấn riêng qua từng thời kì, từng giai đoạn
Trong văn học trung đại, thơ trữ tình Việt Nam bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến Các nhà thơ khi sáng tác luôn mang nặng quan niệm “văn dĩ tải đạo”, “thi ngôn chí”… Đến đầu thế kỷ XX, đặc biệt là những năm 1930 thơ ca Việt Nam hiện đại đã có bước đột phá đầy bất ngờ, táo bạo điển hình qua phong trào Thơ mới Thoát ra khỏi những quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày
đặc của thơ trung đại, cái tôi Thơ mới được giải phóng về tình cảm, cảm xúc, đồng thời nó trực tiếp nhìn thế giới bằng cặp mắt xanh non nên đã phát hiện ra
nhiều điều mới lạ về thiên nhiên và lòng người Thơ mới là tiếng thơ của ý thức
cá nhân - cá thể của con người được thức tỉnh Một thời đại trong thi ca đã đánh
dấu một bước tiến quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa thơ Việt, làm nên một cuộc cách mạng về phương thức biểu hiện lẫn cảm hứng
Trang 20Cách mạng và kháng chiến đã đưa đến những biến đổi rộng lớn và sâu sắc cho thơ ca, mở ra một giai đoạn mới với nhiều thành tựu và đặc điểm riêng trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam Cách mạng tháng Tám thành công đã
mở ra một thời đại mới cho thơ ca Thơ ca phát triển mạnh mẽ với một chất lượng mới về nội dung và hình thức biểu hiện Nội dung khác xa với thơ ca trước đó và hình thức cũng có những cái rất riêng, rất độc đáo mà thơ trước kia không thể nào có được
Thơ kháng chiến (1946-1954) tập trung biểu hiện những tình cảm của cộng đồng và tinh thần công dân mà bao trùm là tình yêu nước với những biểu hiện phong phú Nhiều sáng tác có giá trị đều thể hiện quan niệm thẩm mĩ của thời đại, đó là tính dân tộc và đại chúng Cũng như toàn bộ nền văn học cách mạng
từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, thơ ca nảy nở và phát triển trên nền tảng ý thức cộng đồng được trỗi dậy mãnh liệt Con người cá nhân lúc này cảm thấy
nhỏ bé, thế giới của cái tôi trở nên chật hẹp thậm chí bị coi là lạc lõng, vô nghĩa khi nó không hòa vào cái ta cộng đồng Đây là quan niệm nghệ thuật mới về
con người của thơ ca giai đoạn này Con người kháng chiến sống với những biến cố dữ dội, những sự kiện lịch sử, những rung động mạnh mẽ, mới lạ; họ chỉ thực sự thấy được sức mạnh, niềm vui và niềm tin tưởng ở trong đội ngũ đông đảo của tập thể, của giai cấp và dân tộc Đó chính là cái tôi trữ tình hòa trong cái
ta, điều này chúng ta dễ dàng thấy qua : hình ảnh những người trai làng hăng hái
ra đi theo tiếng gọi non sông Ruộng nương anh gửi bạn thân cày/ Gian nhà
không mặc kệ gió lung lay (Đồng chí - Chính Hữu); dấn thân vào cuộc đời chiến
đấu, họ thấu hiểu sự cao đẹp và sâu nặng của tình đồng chí, đồng đội; hay người
lính trong bài thơ của Nguyên Hồng nhớ những xóm làng từng đóng quân: Bờ
tre gió lộng/ Làng xuôi xóm ngược/ Mái rạ như nhau/ Có nắng chiều đột kích những hàng cau/ Có khai hội, yêu cầu, chất vấn/ Có mẹ hiền bắt rận cho những
đứa con xa (Nhớ - Hồng Nguyên)… Lòng yêu quê hương, đất nước, tình cảm
gắn bó với đồng bào là truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam đã có từ
Trang 21xưa, nay lại càng chặt chẽ và thắm thiết hơn Tình cảm ấy được biểu hiện trong
thơ thật cụ thể, đa dạng phong phú Đó là cái tôi trữ tình thiết tha với nỗi nhớ da
diết về một quê hương Kinh Bắc trù phú, tươi đẹp đang bị dày xéo dưới gót giày
của quân xâm lược (Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm), hay một Xứ Đoài mây
trắng lắm (Mắt người Sơn Tây - Quang Dũng), một mùa thu Hà Nội với hương
cốm mới và những phố dài xao xác hơi may (Đất nước - Nguyễn Đình Thi)…
Hay là cái tôi trữ tình gắn bó giữa tiền tuyến với hậu phương, quân với dân như
cá với nước rất chân thực và cảm động trong thơ Tố Hữu, Hoàng Trung Thông,
Hồng Nguyên, Hồ Vy…
Hiện thực cuộc sống thay đổi,việc mở rộng đề tài, chủ đề và cảm hứng
đi liền với sự phát triển theo hướng đa dạng và thống nhất của cái tôi trữ
tình Cái tôi trữ tình trong thơ giai đoạn 1955-1965 so với thơ thời kì
kháng chiến chống Pháp đã có b ướ c th a y đ ổ i , mở rộng và phát triển
đáng kể, mang tính đa dạng và thống nhất mà nền tảng tư tưởng của nó là
sự thống nhất riêng - chung Một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất của
sự phát triển và mở rộng ấy là sự hiện diện trở lại của cái tôi riêng tư
“Trong thơ từ 1955, cái tôi riêng của tác giả đã dần xuất hiện trở lại cùng
với nó, xu thế trữ tình hướng nội tăng lên Vẫn chủ yếu đề cập đến những
vấn đề và tình cảm mang ý nghĩa chung, như khẳng định cuộc sống mới,
tình cảm với miền Nam, ý chí thống nhất Tổ quốc, nhưng trong nhiều
trường hợp, các tác giả đã tiếp cận và cảm nhận những cái chung ấy từ
cách nhìn, sự trải nghiệm hay kỉ niệm, ấn tượng của riêng mình, gắn với
cái tôi của chủ thể trữ tình Những tình cảm chung, chân lý chung của
đời sống nhờ thế mà có thêm sức thuyết phục cảm hóa mọi người”
[32, tr.95]
Có thể nói cuộc kháng chiến chống Mỹ đã khơi dậy nguồn cảm hứng lớn
cho thơ, lôi cuốn lực lượng sáng tác ngày một đông đảo, mang đến cho thơ
chống Mỹ tiÕng nói đa dạng của mọi tầng lớp, lứa tuổi nghề nghiệp Tất cả
Trang 22đều xuất phát từ ý thức của người làm thơ trước vận mệnh của dân tộc Các thế hệ nhà thơ kế tiếp nhau như dòng chảy không bao giờ ngừng Các nhà thơ thuộc phong trào Thơ Mới đã nâng cao tầm tư tưỏng, hướng ngòi bút của mình vào sự nghiệp chung của đất nước với những bước chuyển mình rõ nét
như Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu với nhận thức X-a phù du mà nay
phù xa Các nhà thơ này đã trở về ngọn nguồn của sự sáng tạo, đó chính là
hiện thực cuộc sống gắn bó với nhân dân, với cách mạng
Diện mạo cái tôi trữ tình trong thơ của một giai đoạn, một thời kỳ phụ thuộc rất nhiều vào lực lượng sáng tác mà vấn đề căn cốt là ý thức sáng tác nghệ thuật của người nghệ sĩ trong bối cảnh của thời đại Mỗi giai đoạn văn học đều cần có một đội ngũ sáng tác riêng cho mình Thế hệ các nhà thơ tiền chiến là một trong những lực lượng chính cho thơ Việt Nam 1955-1965 Đội ngũ ấy gồm những nhà thơ đã trải qua cuộc đời nô lệ của người dân mất nước.“Tất cả, đều từ những chân trời khác nhau mà đến với cách mạng” (Lưu
Khánh Thơ ) Nhà thơ nổi tiếng nước Đức Hainê từng phát biểu: Thế giới đã
nát tan và để lại vết nứt trên mình thi sĩ - Đây cũng chính là một thực tế của
sự ảnh hưởng, tác động từ hiện thực khách quan đến văn nghệ sĩ nói chung Thơ ca Việt Nam chặng đường 1955-1965 đáng chú ý về đội ngũ tác giả là sự khẳng định trở lại của nhiều nhà thơ thuộc thế hệ thơ Mới Qua 10 năm đến với cách mạng, với nhân dân và kinh qua cuộc kháng chiến đầy gian lao thử thách, nhiều nhà thơ của thế hệ thơ này đã thực sự đổi mới tư tưởng và cảm
xúc Họ đã vượt qua khó khăn của cuộc nhận đường, lột xác, hồ hởi đến với cách mạng Như chờ vang tiếng sét giữa trời mây (Chế Lan Viên) Sự biến chuyển dễ thấy ở họ là thay đổi về quan niệm nghệ thuật “Tôi là con chim
đến từ núi lạ, ngứa cổ hót chơi”, cái quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật”
đâu chỉ là phát biểu của riêng Xuân Diệu Cho nên hành trình đi từ chân trời
của một người đến chân trời của tất cả dường như là lộ trình chung của các
nhà thơ lãng mạn Họ như từ thung lung đau thương đến cánh đồng vui, trải
Trang 23qua cuộc đấu tranh để xóa cô đơn, hòa hợp với người: Tôi cùng xương thịt
với nhân dân tôi/ Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu (Xuân Diệu) Các nhà
thơ Mới đã xác định được con đường nghệ thuật mới, tìm được tiếng nói nghệ thuật riêng của mình phù hợp với yêu cầu của thời đại Ngay từ những
ngày đầu giải phóng đất nước, nhà thơ Xuân Diệu ngợi ca hào hứng: Hội này
đây mặt trời dọi với trăng/ Cả dân tộc đứng hiên ngang nhật nguyệt/ Đất trường cửu ngắm với trời với đất/ Nói vô cùng còn mãi nước muôn năm (Hội
nghị non sông) Hay như Tế Hanh đã cùng trải lòng mình: Hỡi người bạn!
Hãy nhập vào đại chúng/ Cuộc đời riêng hòa với cuộc đời chung/ Như con sông dặm ngàn tìm lẽ sống/ Vào đại dương cho thỏa chí vô cùng/ Ta là một,
ta vừa là tất cả/ Nhập vào đời ta ấy “Tôi” hơn (Tâm sự)
Không chỉ có thế, nhiều thế hệ nhà văn trước cách mạng còn chia tay với cá tính, thậm chí với cái đã thành phong cách của họ, để hướng sang một thời đại mới mà nhiệm vụ cách mạng yêu cầu Sự chuyển hướng của nhà thơ lãng mạn sang thơ hiện thực, lấy sự gắn bó với cuộc sống, cuộc kháng chiến cứu nước làm cốt lõi của thơ, là đáp ứng một đòi hỏi có tính quy luật Con đường đi đến với cách mạng của những nhà thơ lớp trước khá vất vả, không phải một vài năm mà hàng chục năm Đó không chỉ là sự giác ngộ về lí trí mà quan trọng là ở sự rung động thực sự về tình cảm Một cuộc tìm đường “trầy trật” để đến với phương hướng mới, từ một cái tôi cá nhân cô đơn luôn ước ao
vun hết là vàng để chắn nẻo xuân sang (Chế Lan Viên) Luôn cho mình là Ta
là một, là riêng là thứ nhất (Xuân Diệu), luôn bơ vơ, rợn ngợp giữa cô đơn Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề đến với cái tôi công dân, cái ta chung rộng lớn,
hướng về những tình cảm, những ý nguyện của toàn thể cộng đồng, hướng vào khai thác những chất thơ của đời sống kháng chiến Các nhà thơ thế hệ Thơ mới phải trải qua hàng chục năm đi với cách mạng và nhân dân Đến thời
kỳ này thực sự tìm lại được cái tôi của mình trong sự hòa hợp, thống nhất với
cuộc đời chung với nhân dân và xã hội, niềm hạnh phúc trong sự hòa hợp
Trang 24giữa cái riêng và cái chung: Bốn mùa vây quanh/ Con người ở giữa/ Tôi ở
giữa người Nhờ thế, các nhà Thơ mới bước đầu đã có những đóng góp quý
vào nền thơ kháng chiến Và có thể nói từ sau hòa bình lặp lại (sau 1954), các nhà thơ mới được rèn luyện, thử thách và lột xác từ trong lò lửa của cuộc kháng chiến chín năm Giờ đây sau những ngày bám rễ vào cuộc sống thực tế,
họ càng trở nên chín chắn, đồng thời lại có điều kiện đi sâu thâm nhập vào đời sống, đã “chín” lại với thực tế đời sống chiến đấu, lao động của quần chúng -
đã “chín” lại trong một quan niệm nghệ thuật mới Các nhà Thơ mới bước vào một giai đoạn sáng tác mới với tâm thế thanh thản, tự tin, mạnh dạn tìm tòi
khám phá và sáng tạo Mảnh đất màu mở đã làm nảy nở những hạt giống mới
một cách nhiệm màu, tâm hồn các nhà thơ trẻ lại, tài năng như thực sự được
hồi sinh, họ như tìm thấy được chính mình giữa cuộc đời rộng lớn, cuộc đời cách mạng, hòa nhịp đập trái tim, nhiệt huyết của mình vào trong niềm vui xây dựng cuộc sống
Chặng đường thơ từ sau 1954, đã đem lại phong cách nghệ thuật của các nhà thơ những nét mới, những biến đổi mà nguồn gốc sâu xa là sự biến đổi trong tư tưởng và cảm xúc cùng với sự trải nghiệm đời sống của họ đã tạo nên cái nhìn và giọng điệu riêng cho mỗi nhà thơ Nhà nghiên cứu văn học Hà
Minh Đức có một lối so sánh đối chiếu thật hình tượng ví thơ với một con
sông đang chảy qua nhiều phong cảnh khác nhau của lịch sử, và mỗi thời điểm mà nó đi qua đã cho con sông thơ ấy một sắc thái riêng Phải chăng,
một trong những yếu tố làm nên sắc thái riêng của một chặng đường thơ là hiện thực cuộc sống
Cùng dòng chảy đó, lớp các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp vẫn giữ được phong thái chắc khoẻ, viết đều tay khẳng định được tài năng cả thơ mình với những gương mặt tiêu biểu như: Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Nông Quốc Chấn, Vũ Cao… Họ là một phần quan trọng tạo nên sức nặng của nền
Trang 25thơ chống Mỹ Họ như những người lớnh quen xung trận khụng chỳt bỡ ngỡ trước hiện thực mới Và chớnh hiện thực cuộc khỏng chiến chống Mỹ đó vun đắp thờm cho tài năng thơ của những cõy bỳt từ thời chống Phỏp Từ hành trang của người lớnh Điện Biờn năm xưa, nay họ lại mang ngũi bút thơ của mỡnh ra trận cựng anh giải phúng trờn mỗi b-ớc đ-ờng hành quõn
Sự bổ sung, tiếp nối cỏc thế hệ nhà thơ là quy luật tự nhiờn, tất yếu của mỗi nền thơ Giai đoạn thơ 1955-1965, cựng với hai lực lượng chủ đạo: cỏc nhà thơ trước Cỏch mạng thỏng Tỏm và cỏc nhà thơ trưởng thành trong cuộc khỏng chiến chống Phỏp đó cú sự xuất hiện của những nhà thơ trẻ: Ca Lờ Hiến (Lờ Anh Xuõn), Xuõn Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt… Họ đó thổi vào nền thơ chống một luồng giú mới, mang đến cho thơ tiếng núi đa dạng Cỏc nhà thơ trẻ dào dạt, bay bổng trong cảm hứng về cuộc sống mới, họ núi được một cỏch tự nhiờn, đằm thắm lớ tưởng mới, con người mới, họ mang đến cho thơ hơi thở nồng ấm của cuộc sống xõy dựng và chiến đấu của cả dõn tộc,
họ chớnh là đội ngũ chủ lực của thơ chống Mĩ
Sỏng tỏc thơ ca là một nhu cầu tự biểu hiện của người nghệ sĩ, một sự thụi thỳc tự bờn trong nhiều khi mónh liệt, dồn dập bởi sự tỏc động của nhiều yếu tố chủ quan cũng như khỏch quan gõy nờn Trong thơ, vấn đề chủ thể, cỏi tụi trữ tỡnh cú một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Cỏi tụi trữ tỡnh là nhõn tố vận động chịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử, xó hội và bối cảnh đời sống văn học Thơ 1955 – 1965 đó nắm bắt một cỏch sõu sỏt yờu cầu của thời đại; một mặt tiếp nối dũng chảy dạt dào của cỏi tụi trữ tỡnh thơ ca trước đú, mặt khỏc
đó tạo nờn được sắc diện riờng khú lẫn, khú phai nhũa trong tiến trỡnh thơ hiện đại Việt Nam
Trang 26
CHƯƠNG 2
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1955 - 1965
2.1 CÁI TÔI TRỮ TÌNH GIÀU CẢM HỨNG NGỢI CA
2.1.1 Tự hào với niềm vui kháng chiến thắng lợi
Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng (Tố
Hữu) Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi Những kì
tích của cuộc kháng chiến đã tạo nên những âm hưởng vang dội, lớn lao, con đường trước mắt dân tộc thật là thênh thang, rộng lớn Từ rừng núi, đồng bằng, trung du, duyên hải, đến các hải đảo xa xôi như bừng dậy trước một nguồn sinh khí mới Toàn dân phơi phới, rạo rực trước niềm vui chiến thắng,
hân hoan mừng đón trung ương Đảng và Chính phủ về tiếp quản Thủ đô:
Về đến đây rồi, Hà Nội ơi!
Người đi kháng chiến tám năm trời
Hôm nay về lại đây Hà Nội Giàn giụa vui lên ướt mắt cười!
Đường quen phố cũ đây rồi Thủ đô tươi dậy, mặt người như hoa…
Tay vui sóng vỗ dạt dào Người về kẻ đợi, mừng nào mừng hơn?
(Về lại – Tố Hữu)
Trong giây phút xúc động của ngày tháng lịch sử ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trước kia ta mới có rừng núi, có đêm; ngày nay ta có thêm sông, thêm biển, thêm cả ban ngày Đất nước ta bao la, anh em ta đông đúc”
Lời nói bất hủ của Bác được Tố Hữu đưa vào mở đầu cho tập thơ Gió lộng:
Trang 27Xưa là rừng núi là đêm Giờ thêm sông biển, lại thêm ban ngày
Ta đi trên trái đất này Dang tay bè bạn, vui vầy bốn phương
(Xưa… nay)
Lời nói của Bác hết sức ngắn gọn, giản dị nhưng ẩn chứa một sự thật mang ý nghĩa to lớn: dân tộc Việt Nam ta đã trải qua bao gian khổ, hi sinh nhưng quyết tâm, đấu tranh đến cùng để giữ vững nền độc lập tự do và một
lần nữa chúng ta đã chứng minh được điều ấy: Một vùng trời đất về tay/ Dẫu
chưa toàn vẹn đã bay cờ hồng Thiêng liêng biết bao hai tiếng Tổ quốc, trân
trọng biết bao thành quả hôm nay; trong niềm xúc động, tự hào đã xác định nhiệm vụ kiến thiết lại quê hương:
Ôi hai tiếng đồng bào Tổ quốc Đến hôm nay mới thuộc về ta Trăm năm mất nước mất nhà Hôm nay mới cất lời ca tiếng cười
Ta đã đứng nên người độc lập Cao bằng người nào thấp thua ai Tay ta, tay búa, tay cày
Tay gươm, tay bút dựng xây nước mình
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)
Hòa bình lặp lại, chính phủ và nhân dân ta mong chờ sau hai năm đất
nước sẽ toàn vẹn thế nhưng niềm mong ước non sông nối liền một dải ấy đã
không thành bởi thủ đoạn thâm độc của kẻ thù Đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa, thành căn cứ quân sự của chúng Kẻ thù trực tiếp của dân tộc ta bây giờ là tên đế quốc đầu sỏ có phương tiện vật chất khổng lồ nhưng chúng ta không hề nao núng, không hề
Trang 28khuất phục vì chúng ta là những người chiến thắng :
Ta đã lớn lên rồi trong khói lửa Chúng nó chẳng còn mong được nữa Chặn bàn chân một dân tộc anh hùng
Những bàn chân từ than bụi, lầy bùn
Đã bước dưới mặt trời cách mạng, Những bàn chân từ Hóc môn, Ba tơ, Cao - Lạng Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu
(Ta đi tới – Tố Hữu)
Từ sự kiện Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu chúng ta lại khẳng
định niềm tự hào mang tính chất toàn dân, đang làm chủ đất nước, làm chủ lịch sử, làm chủ số phận Những lời thơ tràn đầy cảm xúc, trong trẻo, ngọt
ngào của Nguyễn Đình Thi như lại ngân vang:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất…
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)
2.1.2 Ngợi ca công cuộc dựng xây Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc
Sau hiệp định Giơnevơ đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền
Cả dân tộc lại tiếp tục đấu tranh giành thống nhất trọn vẹn non sông Tổ quốc Miền Bắc hòa bình bắt đầu cuộc sống lao động khẩn trương hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội Trên nền hiện thực sôi động ấy, thơ đã nhập cuộc kịp thời và phát triển mạnh mẽ với cảm hứng
Trang 29trung tâm là yêu nước và chủ nghĩa xã hội
Nói về trách nhiệm văn học với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng chí Phạm Văn Đồng viết: “Ca ngợi chủ nghĩa xã hội, là ca ngợi lao động, ca ngợi sản xuất, ca ngợi người lao động, người anh hùng của thời đại
ngày nay” [3, tr 84] Lao động xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa là một
đề tài rộng lớn, hướng tới một nhiệm vụ nặng nề: Xây dựng miền Bắc ổn định, vững mạnh làm hậu thuẫn cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước
và thành quả lao động kiến thiết sẽ là niềm khích lệ, niềm tin cho đồng bào
miền Nam đang chiến đấu Khi nhắc đến vấn đề này, giáo sư Hoàng Như Mai
nói: “Chủ đề kiến thiết chủ nghĩa xã hội thật là chủ đề bao la trong không gian và mỗi ngày lại mở ra những chân trời mới mẻ” [33, tr.52] Chủ nghĩa
xã hội là mơ ước, là cái đích hướng tới của toàn dân tộc, là khát vọng vươn tới những tầm cao mới của cuộc sống Trong hoàn cảnh đó, cảm hứng sáng tạo trở nên rộng mở khi trực tiếp gắn chặt với hiện thực cuộc sống, hòa mình vào cuộc sống của tập thể của cộng đồng một cách tự nguyện, tự giác, cảm hứng thơ trước hết là những rung động, những cảm xúc có tính chất cộng đồng “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp Thơ không chỉ nói đến tình cảm riêng của nhà thơ mà nhiều khi thông qua tình cảm đó nói lên niềm hy vọng của một dân tộc, những ước mơ của nhân dân,
vẽ nên những nhịp đập của trái tim quần chúng và xu thế chung của lịch sử loài người”(Sóng Hồng) [3, tr.9]
Cuộc sống luôn bộc lộ những dáng vẻ phong phú và chiều sâu của nó
Từ cuộc sống, thơ nảy nở nhiều hương sắc, nhiều cách biểu hiện, đa dạng về
sự tìm tòi và định hình nhiều phong cách Tiếng thơ đã cất lên từ nhiều cung bậc tình cảm, nhiều nỗi niềm tâm sự Niềm vui đất nước hòa bình, lòng nhớ thương quê hương cách trở là nguồn cảm hứng chân thành và rất kịp thời của các nhà thơ Khi viết về cuộc sống xã hội chủ nghĩa, thơ trước hết là niềm
Trang 30reo vui trước vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên đất nước:
Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!
Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình ca…
(Ta đi tới - Tố Hữu )
Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi! Đất nước hiện lên rực rỡ, trong không khí
náo nức của những ngày đầu hòa bình, nhà thơ như không ngăn được, cảm xúc đã trào dâng…
Vui với hiện thực miền Bắc được giải phóng, ta nhanh chóng bắt tay vào kiến thiết lại mảnh đất của quê hương Bước vào công cuộc dựng xây phải đối diện với muôn vàng gian khó Thế nhưng với ý chí và nghị lực phi
thường của con từ trong khói lửa đã vùng đứng lên, đất nước đã hồi sinh:
Sướng vui thay miền Bắc của ta Cuộc sống tưng bừng đổi sắc thay da
(Trên miền Bắc mùa xuân - Tố Hữu)
Bao công trình hiện lên, màu ngói mới đỏ tươi đâu đâu ta cũng bắt gặp
thật là vui mắt và làm nức lòng người:
Ôi ngàn vạn ngói nói xôn xao Như đất ta vui bỗng vọt trào Ngói mới! Ôi ngàn muôn sức lực Trải ra thành rộng dựng thành cao
(Ngói mới – Xuân Diệu)
Đất nước được chiêm ngưỡng giữa ban ngày trong ánh sáng một ngày mới Đất nước mở ra bát ngát xuôi ngược trăm miền phơi phới Làm sao có thể giấu nỗi tự hào trước vẻ đẹp sáng rực của đất nước Việt Nam! Trong những năm kháng chiến chống Pháp thơ đã miêu tả được những vẻ đẹp của
Trang 31đồng ruộng núi rừng kháng chiến, giờ đây có thêm cảm hứng đẹp về trời biển bao la Trên những trang thơ thấm đẫm tự hào, yêu thương, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện lên thật đẹp, nét đẹp mới mẻ, diệu kỳ:
Nắng trưa xóm ngói, tường vôi mới
Phấp phới buồm dong nắng biển khơi
(Mẹ Tơm - Tố Hữu)
Với Chế Lan Viên, sự đổi thay của đất nước đã thực sự tạo nên giấc
mộng diệu huyền trong cuộc đời:
Tôi càng thấy Tổ quốc mình giàu đẹp
Và hồn tôi lâng lâng trên cánh biển Thấy ngày mai trong ánh sáng say mê Chen chúc xe đi, tấp nập tàu về
Nhà cửa mọc tận đồi xa, đảo vắng Khúc hợp tấu trong không trung văng vẳng Của sức người cùng với sức thiên nhiên Thoáng rồng bay trong giấc mộng diệu huyền
(Giấc mộng diệu huyền - Chế Lan Viên)
Hay với sự liên tưởng, trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ về một đất nước trong sự giàu có của biển, của sức người, sức của :
Thấy nước mình nhiều mỏ, nhiều than, giàu tiền, giàu của Ngỡ như đi giữa vườn ngon cứ đưa tay lên là vít quả Bỗng reo lên: Ôi! Tổ quốc mạnh giàu!
(Tàu đi - Chế Lan Viên)
Những dải than đen mang trong lòng sự giàu có vô tận đến hôm nay và ngày mai Phong cảnh nên thơ và hùng tráng của một vùng biển với cái đẹp vừa thực, vừa mộng, không khí nhộn nhịp khẩn trương của những chuyến tàu đến, tàu đi, những suối than ngày đêm tuôn chảy đã tạo nên trong thơ những
Trang 32bức tranh nhiều màu sắc Không chỉ ở vùng biển quê hương mà trên khắp Tổ quốc, đất nước con người đang đổi thay trong khuôn mặt mới Thơ không chỉ
là những ruộng lúa và cánh cò bay lượn thân quen, thơ còn là nông trường rộng lớn của chủ nghĩa xã hội đang gây nhiều cảm hứng:
Nông trường ta rộng mênh mông
Trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài
(Nông trường cà phê - Tế Hanh)
Trăng trong khung cảnh đất nước xây dựng hòa bình thật bát ngát nên thơ Tác giả đã tạo nên một không khí ấm cúng làm chủ thiên nhiên Cái bát ngát trong đêm trăng không làm choáng ngợp con người mà sức người đã tạo nên một không gian rộng lớn, mênh mông
Với Mùa thu ở nông trường thì Tế Hanh đã giúp ta cảm nhận được
một sự gần gũi, nét đặc trưng của mùa thu trên xứ Bắc, những ngày đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội:
Mùa thu đã đến nông trường
Se se gió trở, hơi sương dịu trời Nắng vàng mây lửng lờ trôi Nét xanh song lượn lung đồi uốn cong
Ngợi ca đất nước xã hội chủ nghĩa tươi đẹp, đất nước của tất cả chúng ta là nói lên niềm vui, lòng tự hào dân tộc, là tinh thần, khí thế lao động quên mình trên mọi miền đất nước:
Dân có ruộng dập dìu hợp tác Lúa mượt đồng ấm áp làng quê Chiêm mùa cờ đỏ ven đê
Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn
(Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu)
Một bức tranh vui, ấm màu sắc rộn rã tươi mới Nhạc thơ dìu dặt
Trang 33trầm bổng Nông thôn đi lên con đường hợp tác xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa mang không khí ngày hội Xa rồi tiếng trống gợi nên sầu não
chia ly của những ngày thôi thúc trống dồn – sân đình máu chảy đường
thôn lính đầy Tiếng trống đi về rộn rã trong cuộc sống và vang dội vào
thơ những niềm vui khó tả
Cuộc sống lao động không chỉ đến với nông thôn mà tưng bừng thay đổi ở từng khu công nghiệp, từng cửa hàng bách hóa Tố Hữu đã ghi lại quang cảnh tấp nập của khung cảnh xây dựng công nghiệp:
Xuân ơi xuân, em mới đến dăm năm
Mà cuộc sống đã tưng bừng ngày hội Như hôm nay giữa công trường đỏ bụi Những đoàn xe vận tải nối nhau đi
(Bài ca xuân 61)
Khí thế lao động sục sôi trong cả nước, trên mọi miền của Tổ quốc Những đoàn xe vận tải như nối dài nhịp điệu lao động không ngừng, hăng say đang bừng lên khắp nơi trên đất nước Mới có mấy năm mà đất nước
đã thay đổi quá chừng! Nói như Trần Mai Ninh:
…Tôi lim dim cặp mắt Không thấy nơi nào không đẹp Không giàu…
(Tình sông núi)
Cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận cũng không kém phần hân hoan,
say mê trước cuộc sống mới của dân tộc Đoàn thuyền đánh cá là một khúc
trường ca về tinh thần lao động mới, ca ngợi sức lao động và sự chiến thắng của con người với thiên nhiên Cảm hứng thơ hòa quyện giữa chất liệu hiện thực khỏe khoắn và lãng mạn cách mạng, đã thể hiện vẻ đẹp tráng lệ của thiên nhiên, khung cảnh lao động rất thực và cũng rất thơ mộng:
Trang 34Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẫy bạc đuôi vàng lóe rạngđông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng
Thơ ca tràn đầy cảm xúc ngợi ca đất nước tươi đẹp đang đổi thịt thay
da Nhịp điệu mới sôi nổi, náo nức của cuộc sống lao động xây dựng trên khắp miền Bắc được nói tới với niềm vui say, tự hào.Tinh thần lao động hăng say đã đem lại cho đất nước nhiều thành quả rất đáng phấn khởi:
Rực rỡ những làng vàng tươi mái rạ Gạch mới nung, đá trắng chất bên đường Khói lò bay quanh những phố phường Sắc vàng chói những bể dầu xưởng máy
Và trường học đã mọc lên từng dãy
(Trên miền Bắc mùa xuân)
Cuộc đời mới đã hiện lên trong khuôn mặt trẻ trung những ngôi
nhà, trong sắc hồng thắm của những mái ngói mới Xuân Diệu viết Ngói
mới với cảm hứng phấn chấn về thành quả của đất nước xây dựng: Muốn trùm hạnh phúc dưới trời xanh/ Có lẽ lòng tôi cũng hóa thành - ngói mới
Cứ mỗi mùa xuân, Tố Hữu lại ghi nhận những thắng lợi trong từng bước đi của Tổ quốc khi vươn lên muôn trượng đỉnh cao của mùa xuân
Trang 351961, khi băng trên đường thiên lý Khí thế xây dựng thắng lợi chủ nghĩa
xã hội như một sức mạnh đang cuồn cuộn dâng cao khắp mọi miền đất nước Ta có thể cảm nhận từ những thành quả ở khắp nơi tỏa ra, vút lên
trong sức sống đi lên của cả dân tộc:
Đã nghe nước chảy lên cao
Đã nghe đất chuyển thành con sông dài
Đã nghe gió ngày mai thổi lại
Đã nghe hồn thời đại bay cao
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)
Trong những trang thơ viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội thơ đã bỏ qua những điều riêng tư, nhỏ nhặt của cá nhân và hướng đến cuộc sống lao động, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Cuộc sống mới và con người mới trên đất nước Việt Nam trong buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đem lại những vần thơ tươi vui, đầm ấm, phơi phới lạ thường Thơ viết về cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội không chỉ là những trang thơ ca ngợi
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa tươi đẹp, cuộc sống lao động tưng bừng thay đổi khắp nơi trên đất nước, thơ còn là tiếng ca vui của nhân dân, một niềm vui
đầy sức tự hào của người chiến thắng: Ôi tiếng của cha ông thuở trước/ Xin
hát mừng non nước hôm nay
Niềm vui ấy là niềm vui của toàn dân tộc khi đất nước đang xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, khi con người sống trong tình yêu thương Tố Hữu đã nói hộ niềm vui lớn, niềm hạnh phúc tràn đầy cho hàng triệu người Việt Nam:
Quê hương ta rộn rã cuộc vui chung Người hợp tác nên lúa dày thêm đó
(Bài ca mùa xuân 1961)
Trang 36Làm sao có thể trong phút giây nói hết được niềm vui, niềm hạnh phúc to lớn của người Việt Nam trong những ngày đầu sống trong hòa bình,
tự do, làm chủ đời mình, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội: “Tập làm
chủ, tập làm người xây dựng” Niềm vui to lớn đã chắp cánh cho thơ bay
cao, bay xa Niềm vui lớn đi liền với khát vọng xây dựng cuộc sống xã hội
chủ nghĩa, khát vọng lớn với cảm hứng nồng nàn lan tỏa khắp trong thơ
Trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội chồng chất những gian khổ, khó khăn nhưng bằng đôi cánh lãng mạn, bằng cái nhìn thi vị, bằng sức mạnh của mình, thơ ca 1955 - 1965 đã thổi bùng lên ngọn lửa của niềm tin yêu, của ước mơ, của lòng lạc quan, yêu đời trong mỗi người Việt Nam Dù ít nhiều không sát với thực tế nhưng những vần thơ ấy vẫn quí biết bao! Và từ chính những vần thơ nhẹ nhàng, tươi vui đầy thi vị ấy đã giúp cho chúng ta vươn tới tương lai, trong đau khổ đã nghĩ tới ngày hạnh phúc Có lẽ điều ấy đã góp phần rất lớn giúp nhân dân Việt Nam xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
2.1.3 Ngợi ca Tổ quốc tươi đẹp
Từ kháng chiến chuyển sang hòa bình, thơ phát triển nhanh chóng, phong phú với nhiều biểu hiện, sắc thái tình cảm khác nhau Đất nước tươi đẹp, xúc động, đầy cảm hứng Đất nước đã trải qua nhiều gian khổ với một truyền thống anh hùng Hình tượng đất nước được các nhà thơ cảm nhận một cách tinh tế, sâu sắc từ chiều sâu lịch sử, văn hóa tư tưởng, từ cuộc sống thời bình và trong lửa đạn chiến tranh Tổ quốc là hình ảnh chung của dân tộc Việt Nam Vì thế Tổ quốc trở thành cảm hứng lớn của thơ ca, những trang thơ viết về Tổ quốc thật sâu lắng, dạt dào khắc ghi một tình cảm cao cả, thiêng liêng Những vần thơ ca ngợi đất nước đã lay động tâm hồn dân tộc
Các nhà thơ đã có rất nhiều cách thể hiện tình yêu đất nước trong thơ:
đi đến với thiên nhiên, chiêm ngưỡng, ca ngợi; trở về với lịch sử, tự hào trước
Trang 37những truyền thống đấu tranh oai hùng, bất khuất của dân tộc; khai thác tâm hồn, tính cách con người; trình bày những đổi thay những khát vọng đang hiện hình trước mặt… Tất cả đều cần thiết và thơ đã làm nhiệm vụ của nó như chính cuộc sống yêu cầu Nghĩa là đất nước được nhìn nhận, thấu hiểu ở nhiều bình diện, nhiều khả năng rung động của các nhà thơ Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Hoàng Trung Thông… mỗi người mỗi vẻ đã làm phong phú thêm cho dáng hình đất nước
Ý thức về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước đã mở rộng và làm sâu sắc hơn trong thơ quan niệm về đất nước, dân tộc và về sự thống nhất liền mạch giữa quá khứ và hiện tại Ta luôn bắt gặp trong thơ viết về Tổ quốc những từ ngữ và hình ảnh về thời gian lịch sử, về bốn nghìn năm đất
nước: Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận (Tố Hữu), Ta sống cùng Tổ quốc bốn
nghìn năm mà ta chưa hiểu hết (Chế Lan Viên) Và luôn vang lên trong
những trang thơ nói về Tổ quốc tên của những anh hùng giữ nước, những triều đại vẻ vang, những chiến công oai hùng Chưa bao giờ lịch sử đấu tranh của dân tộc lại được làm sống dậy với tất cả niềm tự hào và say sưa
như trong thơ lúc này, bởi vì lịch sử cần thiết và thực sự phải trở thành
động lực tinh thần, sức mạnh to lớn cho con người Việt Nam ở cuộc đối đầu với kẻ thù hung bạo trên thế giới Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã làm
mọi người Việt Nam như sống lại với truyền thống anh hùng của lịch sử dân tộc, cảm phục khí phách hào hùng của ông cha, tự hào, ngưỡng mộ những chiến công hiển hách của cha ông từ ngàn xưa Những chiến công Bạch Đằng, Xương Giang, Như Nguyệt, Đống Đa… đã trở thành truyền thống, tình cảm con người Việt Nam Đó chính là cội nguồn cho sức mạnh của dân tộc trong chiều sâu lịch sử Với Phạm Hổ, Tổ quốc hiện lên trong hình ảnh những con sóng Bạch Đằng oai hùng nghìn xưa vẫy gọi:
Trang 38Xe vừa dừng, sóng nghìn xưa vẫy gọi, nhấp nhô…
Qua dòng sông yêu kính tự bé thơ Tay vốc nước, tôi hỏi cùng bát ngát:
Những sóng nào xưa theo thuyền đi giết giặc, Qua nghìn năm còn có mặt hôm nay
… Sông bây giờ mới đáp tiếng mênh mông
Còn đủ cả và ngày càng bất tử Những con sóng đã vỗ vào lịch sử Vào lòng dân cho dân mãi anh hùng
(Qua Bạch Đằng - Phạm Hổ)
Ngưỡng vọng về đất nước là cảm hứng về cuộc đời mới, hiện thực đất nước đang từng ngày khởi sắc đổi thay:
Thơ ta ơi hãy cất cao tiếng hát
Ca ngợi trăm lần tổ quốc chúng ta!
Mùa thu đó đã bắt đầu trái ngọt
Và bắt đầu nở rộ những vườn hoa…
(Mùa thu tới - Tố Hữu)
Viết về đất nước, Tố Hữu có những khái quát lớn về tình hình nhiệm
vụ gắn liền với sự kiện tiêu biểu trong đời sống dân tộc được thể hiện bằng những hình ảnh và tâm trạng cụ thể Trước kia đất nước trước hết cần được
bảo vệ, giữ gìn Ôm đất nước những người áo vải/ Đã đứng lên thành những
anh hùng (Nguyễn Đình Thi) Nghĩ về đất nước, từ em bé đến các bà mẹ già,
từ người phụ nữ đến người thanh niên ở khắp mọi miền quê đều tự hào và hào hứng lên đường giết giặc Bởi đất nước gợi lên trong họ bao nhiêu lịch sử truyền thống thiêng liêng và cả những gì bình dị, gần gũi quen thuộc Bây giờ thêm vào đó, đất nước là đất nước xã hội chủ nghĩa đang lao động, xây dựng
Trang 39và đấu tranh thống nhất hai miền Tố Hữu đã nói lên niềm tự hào chung
của dân tộc Việt Nam trong những ngày chiến đấu oanh liệt với kẻ thù
Sẽ còn trở về trong trí nhớ sâu thẳm của ta những ngày đánh Mỹ, những ngày cả nước như cùng chung một ý chí chiến thắng, một gương mặt, một tấm lòng Sẽ còn trở lại trong ta những câu thơ viết về Tổ quốc của Chế Lan Viên đã từng lay động, thức tỉnh:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
…Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)
Những câu thơ hào hùng vang động như những nhịp sóng đập vào bờ tâm tưởng Tổ quốc chưa bao giờ hiện lên đẹp và huy hoàng, diễm lệ như thế, trong những ngày ta phải lấy máu ra mà gìn giữ từng nhành cây, ngọn
cỏ Chế Lan Viên dấy lên tự đáy lòng những câu thơ về một tình yêu lớn, cao cả, thiêng liêng:
Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng
Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông
(Sao chiến thắng)
Những câu thơ ấy bằng sức mạnh của thi ca đã gợi dậy sâu xa từ trái tim người Việt Nam tình yêu đất nước Tình yêu ấy đủ sức chiến thắng mọi quân thù Tổ quốc Việt Nam anh hùng, dân tộc Việt Nam kiên
cường, bất khuất, nhân ái, chan hòa, thật tự hào biết bao: Có nơi đâu đẹp
tuyệt vời?Như sông như núi, như người Việt Nam
Bằng xúc động chân thành, mãnh liệt của lòng mình, các nhà thơ đã
Trang 40viết nên những câu thơ thật đẹp về Tổ quốc Việt Nam Thơ ca thời kỳ này mang đậm khuynh hướng sử thi và có lẽ vì thế, Tổ quốc đã trở thành đề tài lớn, bao trùm, xuyên suốt trong thơ Nền thơ chống Mỹ có những câu thơ, bài thơ xứng đáng được xếp vào những vần thơ viết về Tổ quốc Việt Nam đẹp nhất trong thơ ca dân tộc
2.1.4 Ngợi ca Đảng và lãnh tụ
Bên cạnh những vần thơ nói về tình yêu quê hương, đất nước thơ còn hướng đến tình cảm lớn luôn có trong tâm hồn của mỗi người Việt Nam, đó là tình cảm dành cho Đảng, Bác Hồ kính yêu Nhờ có Đảng, có Bác đưa lại độc lập tự do, Việt Nam trở lại là mình, phát huy truyền thống của cha ông, khẳng định vai trò, sự ảnh hưởng của mình đối với các dân tộc tiến bộ trên thế giới
Trước 1955 đã có thơ viết về Đảng nhưng có thể nói từ sau 1955, khi được đặt trong mối quan hệ với đất nước, với nhân dân, thơ viết
về Đảng mới đạt tới chiều sâu khái quát và thật sự đạt được những rung cảm sâu sắc trong tâm thế tiếp nhận của quần chúng nhân dân
Đảng đã tái sinh dân tộc và từng cuộc đời nghệ sĩ Đảng là người tiếp tục sự nghiệp gian khổ, dũng cảm của cha ông Nhờ có Đảng, cuộc sống của nhân dân thay đổi Đảng đem lại cuộc sống vui tươi, ấm no cho mọi người Viết về Đảng là một chủ đề khó thế nhưng với tình yêu Đảng, tình yêu cách mạng tha thiết, các nhà thơ luôn tự nâng mình tìm tòi để thật chín trong cảm xúc và chiều sâu của suy nghĩ Ở giai đoạn này dường như mỗi nhà thơ
ai cũng có những vần thơ tặng Đảng Tố Hữu đã có cả bản trường ca Ba
mươi năm đời ta có Đảng, tổng kết một chặng đường dài 30 năm sinh thành,
hoạt động của Đảng Chế Lan Viên xúc động chân thành khi được Kết nạp
Đảng trên quê mẹ Xuân Diệu thì thổn thức khi tìm được hình ảnh rất đẹp để
nói lên cái vĩ đại, lạ lùng của Đảng qua thi phẩm Gánh Tế Hanh thì bộc bạch, Tâm sự từ khi có Đảng là “Một cuộc đời từ ấy mới trong tôi” Với Huy