Ít nhiều liên quan đến đề tài này có một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong những năm gần đây: Phó Giáo sư Vương Đình Quyền có công trình Văn bản quản lý nhà nước và công tá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-NGUYỄN VĂN THỎA
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA
Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1955-1963)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
TP HỒ CHÍ MINH, 6 - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN VĂN THỎA
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.54
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM THỊ NGỌC THU
TP HỒ CHÍ MINH, 6 - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các trích dẫn, số liệu sử dụng trong luận văn đảm bảo trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Những kết luận khoa học chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 6 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Văn Thoả
Trang 4BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1 VNCH: Việt Nam Cộng hoà
2 CPVNCH: Chính phủ Việt Nam Cộng hoà
3 HPVNCH: Hiến Pháp Việt Nam Cộng hoà
4 VBQLNN: Văn bản quản lý nhà nước
5 MSU: Michigan State University (Đại học Tiểu bang Michigan)
6 MSUG: Michigan State University Vietnam Advisory Group (Phái
bộ cố vấn cho Việt Nam của Đại học Tiểu bang Michigan)
-I-
Trang 5MỤC LỤC PHẦN DẪN LUẬN 1
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HOÀ (1955-1963) 10
1.1 Lí luận chung về VBQLNN và vai trò, vị trí của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN trong hoạt động quản lý nhà nước 10
1.1.1 Lí luận chung về văn bản quản lý nhà nước 10 1.1.2 Vai trò, vị trí của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN trong hoạt động quản lý nhà nước 12
1.2 Khái quát những quy định pháp luật về ban hành văn bản ở Việt Nam
từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước 1955 16
1.2.1 Khái quát những quy định pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn thời Pháp thuộc (1862-1945) 16
1.2.2 Sơ lược hệ thống pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền Bảo Đại
ở miền Nam Việt Nam (1948-1955) 22
1.2.3 Một số nhận xét những quy định pháp luật về ban hành văn bản ở Việt Nam từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước 1955 30
1.3 Quá trình hình thành chế độ VNCH và hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH ở miền Nam Việt Nam (1955-1963) 32
1.3.1 Khái quát quá trình hình thành chế độ VNCH ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1963 32
1.3.2 Sự hình thành hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) 36
1.3.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) 36
1.3.2.2 Sự hình thành hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) 39
-II-
Trang 61.3.2.3 Cơ sở xác định hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính
phủ VNCH (1955-1963) 42
Chương 2 HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HOÀ (1955-1963) 45
2.1 Hệ thống chính quyền VNCH - chủ thể và cơ sở xác lập hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của CPVNCH (1955-1963) 45
2.1.1 Tổ chức cơ quan lập pháp 46
2.1.2 Tổ chức cơ quan hành pháp 47
2.1.3 Tổ chức cơ quan tư pháp 58
2.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) 59
2.3 Những quy định pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) 72
2.3.1 Hệ thống, thẩm quyền và thủ tục ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) 72
2.3.2 Quy định về thể thức và mẫu trình bày VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) 85
2.3.3 Quy định về quản lý, kiểm soát hệ thống VBQLNN của Chính phủ VNCH trong giai đoạn 1955-1963 90
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ KHOA HỌC - THỰC TIỄN RÚT RA TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH PHỦ VNCH (1955-1963) 93
3.1 Hiệu lực, hiệu quả áp dụng của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) 93
3.1.1 Hiệu lực của hệ thống pháp luật về ban hành văn bản quản lý nhà nước của Chính phủ VNCH (1955-1963) 93
3.1.2 Hiệu quả áp dụng của hệ thống pháp luật về ban hành văn bản quản lý nhà nước của Chính phủ VNCH (1955-1963) 102
-III-
Trang 73.2 Một số nhận xét và đánh giá chung hệ thống pháp luật về ban hành
VBQLNN của CPVNCH (1955-1963) 112
3.3 Những giá trị khoa học và thực tiễn rút ra từ thực tiễn hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của CPVNCH (1955-1963) 122
3.3.1 Ý nghĩa nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của CPVNCH (1955-1963) đối với việc nghiên cứu lịch sử hành chính và lịch sử văn bản ở miền Nam Việt Nam 122
3.3.2 Nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH góp phần làm rõ những chính sách và phương pháp quản lý của chính quyền VNCH ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1955-1963 125
3.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) 126
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
PHỤ LỤC 142
-IV-
Trang 8PHẦN DẪN LUẬN
I Lý do chọn đề tài
Bất kỳ nhà nước nào trong quá trình xây dựng hệ thống luật pháp đều phải dựa trên một nền tảng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và điều kiện lịch sử nhất định Pháp luật là công cụ thiết yếu để duy trì hoạt động quản lý của nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội Việc xây dựng một hệ thống luật pháp chặt chẽ, thống nhất, khoa học là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt đối với Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay Yêu cầu kiện toàn và nâng cao chất lượng của thể chế hành chính nhà nước, trong đó có pháp luật về ban hành VBQLNN là một vấn đề cấp thiết được đặt ra
Trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung, văn bản vừa là phương tiện, vừa
là sản phẩm của quá trình quản lý của Nhà nước trong mọi thời kỳ lịch sử VBQLNN
có vai trò hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo thông tin cho quá trình quản lý, ban hành và truyền đạt các quyết định quản lý, góp phần kiến tạo nên hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Với chức năng cơ bản đó, VBQLNN đảm bảo cho hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước được nhịp nhàng, thông suốt Mặt khác, nó cũng tạo ra cơ sở pháp lý, nguồn dữ liệu quan trọng làm cơ sở cho sự vận hành chung của nền hành chính quốc gia Chính vì vậy, việc ban hành VBQLNN là một hoạt động có tính chất quan trọng, cần phải được thực hiện một cách khoa học và nghiêm túc Để đạt được yêu cầu đó, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng một hệ thống luật pháp về ban hành VBQLNN mang tính thống nhất, khoa học, hiệu quả và phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của hệ thống bộ máy quản lý nhà nước
Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN là yếu tố luôn gắn liền với thiết chế
tổ chức bộ máy nhà nước, nó phản ánh một cách trung thực về trình độ tổ chức quản
lý, điều hành của nền hành chính công quyền Nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN ở mỗi thời kỳ lịch sử sẽ giúp chúng ta đánh giá một cách đúng đắn về đặc điểm, bản chất và thực tiễn hoạt động của một chế độ nhà nước Qua đó giúp nhà nghiên cứu rút ra những bài học kinh nghiệm để vận dụng trong thực tiễn cải cách thể chế nhà nước, đặc biệt là việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN ở Việt Nam hiện nay
Trang 9Trong lịch sử dân tộc giai đoạn 1955-1975, do hoàn cảnh lịch sử trên đất nước
ta tồn tại cùng một lúc hai thực thể chính quyền là Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và Chính quyền VNCH ở miền Nam Việt Nam do Mỹ dựng lên Sự tồn tại song song của hai chính quyền trên cùng một đất nước, đã đặt ra những yêu cầu đặc biệt cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam, đó là nhiệm vụ đấu tranh đánh đuổi kẻ thù xâm lược, thống nhất đất nước Ngày nay, khi nghiên cứu những vấn đề của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1955-1975, bên cạnh việc nghiên cứu về lịch sử của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, sự tồn tại của chính quyền VNCH ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn này cũng đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu
Việt Nam cộng hòa là một chính quyền do Mỹ dựng lên ở miền Nam Việt Nam, trên thực tế nó đã tồn tại và cai quản một vùng lãnh thổ ở miền Nam Việt Nam trong suốt giai đoạn 1955-1975 Để tiến hành quản lý hoạt động của bộ máy chính quyền và quản lý xã hội ở miền Nam Việt Nam, chính quyền VNCH đã xây dựng một hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN làm cơ sở pháp lý cho hoạt động lập pháp, hành pháp
và tư pháp Đó là một công cụ đắc lực phục vụ cho mục đích chính trị của chế độ VNCH
Chính quyền VNCH được tổ chức theo một thể chế hoàn toàn mới so với những thể chế nhà nước khác ở Việt Nam trước đó Việc nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) - một phần của lịch sử nền hành chính VNCH sẽ góp phần làm rõ hơn bản chất của chế độ VNCH, làm rõ đặc điểm về tổ chức và phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền VNCH Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn lịch sử văn bản của chính quyền này ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1963 Đồng thời bước đầu rút ra bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Dưới góc độ khoa học lịch sử, việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chính quyền VNCH là đề tài đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của chính quyền VNCH vẫn còn là một đề tài mới, chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ Để góp phần nghiên cứu về tổ chức và hoạt động quản lý
hành chính của chính quyền VNCH, tác giả luận văn chọn đề tài “Hệ thống pháp luật
Trang 10về ban hành VBQLNN của Chính phủ Việt Nam cộng hòa ở miền Nam Việt Nam (1955-1963)” làm luận văn thạc sĩ của mình
II Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài “Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ Việt Nam cộng hòa ở miền Nam Việt Nam (1955-1963)” là một vấn đề mới, mặc dù trong những năm qua, việc nghiên cứu về chính quyền VNCH đã được nhiều tác giả quan tâm Các
đề tài đã đi sâu nghiên cứu về từng lĩnh vực khác nhau như:
Tác giả Mai Thanh Xuân với đề tài luận văn thạc sĩ “Quá trình phát triển của
chính phủ Sài Gòn (1965-1975)” đã làm rõ quá trình hoạt động của chính quyền Sài Gòn, cũng như đặc điểm của tổ chức bộ máy chính quyền VNCH trong giai đoạn 1965-1975
Luận văn thạc sĩ “Quá trình sụp đổ chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm 1960 -
1963” của tác giả Dương Thị Ngọc Hiền năm 2008
Luận văn thạc sĩ “Cuộc khủng hoảng chính trị của chính quyền Sài Gòn (1963 -
1965)” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung năm 2009
Luận án tiến sĩ năm 2011 “Chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam
giai đoạn 1955-1963” của tác giả Nguyễn Xuân Hoài đã khái quát toàn bộ hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền VNCH và những đặc điểm cơ bản của thể chế chính quyền VNCH trong giai đoạn 1955-1963
Các đề tài nghiên cứu trên đã dựng lại được một cách khái quát, toàn diện về các mặt chính trị, tổ chức chính quyền, bộ máy quản lý hành chính… của chính quyền VNCH Để làm rõ cách thức tổ chức và hoạt động quản lý của một chính quyền, nghiên cứu về hệ thống luật pháp là một lĩnh vực cơ bản nhất để đạt được mục tiêu đặt
ra, đặc biệt là pháp luật về ban hành VBQLNN Ít nhiều liên quan đến đề tài này có một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong những năm gần đây:
Phó Giáo sư Vương Đình Quyền có công trình Văn bản quản lý nhà nước và
công tác công văn giấy tờ thời Phong kiến Việt Nam, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành là một công trình nghiên cứu một cách hệ thống về VBQLNN của thời kỳ phong kiến Việt Nam từ giai đoạn hình thành nhà nước đến thời kỳ Pháp thuộc
Trang 11Luận văn thạc sĩ “Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống văn bản hành
chính Việt Nam thời Pháp thuộc (1862-1945)” của tác giả Nguyễn Văn Kết đã làm rõ hệ thống văn bản quản lý hành chính của chính quyền thực dân Pháp và của triều đình Nhà Nguyễn ở Việt Nam trong thời kỳ 1862-1945
Các đề tài nghiên cứu về chính quyền Việt Nam cộng hòa và thể chế nhà nước, cũng như lịch sử văn bản trên đây là cơ sở quan trọng để tác giả có thể tiếp thu, kế thừa và phát triển đề tài mới Có thể nói pháp luật về ban hành VBQLNN của chính quyền VNCH là một đề tài mới, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống Để tiếp tục làm rõ các vấn đề liên quan đến chính quyền VNCH và rút ra được những bài học kinh nghiệm cho hoạt động quản lý nhà nước hiện nay, việc tiếp tục đi
sâu nghiên cứu đề tài “Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ Việt Nam cộng hoà ở miền Nam Việt Nam (1955-1963)” là điều cần thiết
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về thẩm quyền, hình thức, thủ tục và thể thức ban hành các loại VBQLNN của Chính phủ VNCH trong giai đoạn 1955-1963
Phạm vi nghiên cứu:
Chế độ Việt Nam cộng hòa ở miền Nam Việt Nam tồn tại trong giai đoạn
1955-1975, sự tồn tại của chính quyền VNCH có thể chia thành các giai đoạn: giai đoạn Đệ nhất Cộng hoà (1955-1963), giai đoạn Quân quản (1964-1967) và giai đoạn Đệ nhị Cộng hoà (1967-1975) Trong phạm vi của đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH trong thời kỳ Đệ nhất cộng hoà (1955-1963) Đó là một thực thể chính quyền có hiến pháp, có bộ máy chính quyền quản lý một vùng lãnh thổ ở miền Nam Việt Nam trên thực tế Chính quyền đó trong quá trình tồn tại cũng đã xây dựng một hệ thống pháp luật về ban hành văn bản quản lý nhà nước Việc nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH góp phần làm rõ về đặc điểm và bản chất của chế độ VNCH (1955-
1963)
Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH - hệ thống cơ quan hành pháp của chính quyền VNCH;
Trang 12Phạm vi thời gian: hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH được nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ 1955-1963
Ngoài ra để có cái nhìn mang tính hệ thống và hiểu một cách sâu sắc, đầy đủ hơn về vấn đề mà đề tài đặt ra, tác giả cũng dành một phần nội dung để khái quát về những quy định pháp luật về ban hành VBQLNN ở Việt Nam từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước năm 1955
IV Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm rõ những tiền đề, cơ sở hình thành
và quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963); hệ thống hoá những văn bản quy phạm pháp luật và làm rõ những quy định cụ thể về ban hành các loại VBQLNN của CPVNCH; đánh giá hiệu lực - hiệu quả áp dụng của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN trong thực tiễn quản lý điều hành của CPVNCH giai đoạn 1955-1963; trên cơ sở đó tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp về ban hành VBQLNN của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả nhận thấy cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp những cơ sở lý luận liên quan đến văn bản quản lý nhà nước và pháp luật về ban hành VBQLNN;
- Trình bày khái quát những quy định pháp luật về ban hành VBQLNN ở Việt Nam từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước năm 1955;
- phân tích những cơ sở, tiền đề hình thành hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH trong thời kỳ 1955-1963;
- Làm rõ tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống chính quyền VNCH trong giai đoạn 1955-1963;
- Sưu tầm tài liệu lưu trữ và phân tích, làm rõ những quy định pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH trong thời kỳ 1955-1963 Phân tích, đánh giá
Trang 13quá trình củng cố, kiện toàn pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH giai đoạn 1955-1963;
- Đánh giá về hiệu lực và hiệu quả áp dụng của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH giai đoạn 1955-1963;
- Rút ra những giá trị khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc xây dựng pháp
luật về ban hành VBQLNN của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
V Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu nghiên cứu
V.1 Phương pháp nghiên cứu: Đối với một đề tài khoa học, việc vận dụng
những phương pháp nghiên cứu phù hợp là cơ sở để đạt được mục đích nghiên cứu, trong đó phải dựa trên một phương pháp luận đúng đắn Đề tài được nghiên cứu dựa trên sự kết hợp hệ thống các phương pháp:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin (phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử) về nhận thức khoa học Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có sự đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn một cách biện chứng, từ đó
sẽ có cách nhìn về vấn đề một cách toàn diện, là cơ sở cho những đánh giá cũng như những kết quả mà đề tài đưa ra
- Phương pháp nghiên cứu cơ bản
Thông qua phương pháp biện chứng, lịch sử và phương pháp logic, tác giả đề tài sẽ khai thác trực tiếp những tư liệu gốc được hình thành trong quá trình tồn tại và hoạt động của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng như những công trình nghiên cứu
có nội dung liên quan đến đề tài “Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ Việt Nam cộng hòa ở miền Nam Việt Nam (1955-1963)”… Đặt đối tượng nghiên cứu vào đúng diễn tiến và hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong giai đoạn nó tồn tại và phát triển để đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, khoa học Từ đó lấy những kết quả thu được đặt trong sự tương tác với điều kiện cụ thể hiện nay nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho thực tiễn
Để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu, tác giả cũng vận dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành của các khoa học khác như:
- Phương pháp so sánh và đối chiếu, được vận dụng để có những so sánh
pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền VNCH với chính quyền Bảo Đại
Trang 14(1948-1955) để làm rõ những sự kế thừa, những cái mới của hệ thống pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền VNCH trong giai đoạn 1955-1963
- Phương pháp hệ thống được vận dụng nhằm hệ thống toàn bộ các văn bản,
tài liệu của chính quyền Việt Nam cộng hòa quy định về ban hành VBQLNN Tập hợp, hệ thống hóa các văn bản, tài liệu được ban hành trong quá trình tổ chức hoạt động, điều hành của chính quyền VNCH để làm cơ sở xác định những quy định pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963)
Ngoài ra các phương pháp nghiên cứu của luật học, khoa học hành chính cũng được tác giả vận dụng để phân tích, đánh giá hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật
về ban hành VBQLNN của chính quyền VNCH trong giai đoạn 1955-1963
V.2 Nguồn tư liệu nghiên cứu
Nguồn tư liệu nghiên cứu đề tài hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của
Chính phủ VNCH giai đoạn 1955-1963 được khai thác từ các phông lưu trữ: phông Chính quyền Quốc gia Việt Nam, Phông Phủ Thủ tướng VNCH, phông Phủ Tổng thống Đệ nhất VNCH và hệ thống tư liệu phong phú đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Hệ thống tư liệu nghiên cứu về cơ bản bao gồm:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp, luật (dụ) và các văn bản dưới luật quy định về ban hành văn bản của chính quyền VNCH
- Công báo VNCH: Công báo VNCH là tờ báo chính thức của chính quyền VNCH công bố các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan thuộc chính quyền VNCH ban hành
Công báo VNCH hình thành cùng với sự ra đời của chính quyền VNCH Là loại tài liệu ghi nhận những văn bản pháp quy đã được ban hành của Chính phủ VNCH trong suốt quá trình tồn tại của hệ thống chính quyền này Các loại văn bản pháp quy sau khi được ký ban hành sẽ được đăng Công báo VNCH để công bố cho toàn bộ hệ thống bộ máy chính quyền và dân chúng trên lãnh thổ VNCH biết và tuân thủ, thi hành
- Quy pháp vựng tập: Một loại tài liệu tập hợp các văn bản lập pháp và lập quy
do các cơ quan có thẩm quyền của Chính quyền VNCH ban hành
Trang 15Quy pháp vựng tập ở thời kỳ Đệ nhất VNCH gồm 6 tập, do Toà Tổng thư ký tại Phủ Tổng thống VNCH ấn hành, tài liệu này được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
- Hệ thống các loại VBQLNN (Tập lưu luật, sắc luật, dụ, sắc lệnh, nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị, sự vụ văn thư…): Các loại văn bản này được hình thành trong quá trình tổ chức quản lý và hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc Chính phủ VNCH Việc hệ thống hóa và phân tích, đánh giá những tập văn bản này sẽ làm rõ được thẩm quyền ban hành, giá trị, thể loại, cộng dụng và thể thức trình bày của các loại VBQLNN của Chính phủ VNCH trong giai đoạn 1955-1963
Hệ thống tư liệu nghiên cứu về tổ chức bộ máy chính quyền, nền hành chính công quyền VNCH, và thẩm quyền lập pháp, lập quy của chính quyền VNCH… đang được lưu trữ trong kho tư liệu của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
Ngoài ra, còn có các tài liệu nghiên cứu về văn bản, soạn thảo văn bản của chính quyền VNCH; các đề tài nghiên cứu lịch sử hệ thống văn bản hành chính thời Pháp thuộc; các tài liệu, đề tài nghiên cứu về chế độ VNCH thời kỳ 1955-1963; và những tài liệu có liên quan đến đề tài… là những nguồn tài liệu tham khảo của đề tài
VI Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
VI.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài “Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ Việt Nam cộng hòa ở miền Nam Việt Nam (1955-1963)” góp phần làm rõ vấn đề lịch sử trong hoạt động quản lý hành chính, cụ thể là quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963) Qua
đó góp phần cho chúng ta hiểu rõ hơn lịch sử hệ thống văn bản của chính quyền VNCH ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1955-1963
Từ kết quả nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của CPVNCH (1955-1963), tác giả khẳng định thể chế nhà nước (tổ chức bộ máy chính quyền và hệ thống pháp luật) quyết định hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN và
hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN là yếu tố phản ánh bản chất của chế độ VNCH (1955-1963)
Trang 16VI.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài sẽ làm rõ những đặc điểm cơ bản của hệ thống pháp luật ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH ở miền Nam Việt Nam (1955-1963) Qua
đó giúp chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng trong xây dựng pháp luật
về ban hành VBQLNN, điều này có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
VII Đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có những đóng góp mới như sau:
- Hệ thống hoá nguồn tài liệu của đề tài hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963);
- Tái hiện lại bức tranh lịch sử của quá trình xây dựng pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH là đóng góp mới của đề tài trong việc nghiên cứu về chế độ VNCH giai đoạn 1955-1963, góp một phần vào nghiên cứu lịch sử văn bản ở miền Nam Việt Nam;
- Thông qua kết quả nghiên cứu, cũng như những nhận xét, đánh giá hệ thống luật pháp về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963), tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị cho thực tiễn
VIII Kết cấu của đề tài
Ngoài phần dẫn luận, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương chính: Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VBQLNN CỦA CPVNCH (1955-1963)
Chương 2 HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VBQLNN CỦA CPVNCH (1955-1963)
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ KHOA HỌC - THỰC TIỄN RÚT RA TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VBQLNN CỦA CPVNCH (1955-1963)
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HOÀ (1955-1963)
1.1 Lí luận chung về VBQLNN và vai trò, vị trí của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN trong hoạt động quản lý nhà nước
1.1.1 Lí luận chung về văn bản quản lý nhà nước
Trước khi đi sâu nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành văn bản quản lý nhà nước, chúng ta cần làm rõ các khái niệm văn bản và văn bản quản lý nhà nước
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về văn bản:
Văn bản theo nghĩa rộng được hiểu là vật mang tin được ghi bằng ngôn ngữ hoặc
ký hiệu nhất định, nghĩa là bất cứ vật mang tin nào dùng để ghi nhận và truyền đạt thông tin từ chủ thể này đến chủ thể khác Khái niệm này được sử dụng một cách phổ biến trong giới nghiên cứu về văn bản học, ngôn ngữ học, văn học, sử học ở nước ta từ trước tới nay
Theo Từ điển giải thích thích nghiệp vụ văn thư và lưu trữ Việt Nam của tác giả
Dương Văn Khảm thì văn bản là vật mang thông tin thành văn được truyền đạt bằng ngôn ngữ hoặc ký hiệu, hình thành trong hoạt động xã hội, được trình bày theo thể thức nhất định [75, tr.423] Văn bản được hình thành trong hoạt động của các cơ quan,
tổ chức, đồng thời là phương tiện làm việc của tất cả các lĩnh vực xã hội trong đó có hoạt động của lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp
Các văn bản hình thành trong hoạt động quản lý và lãnh đạo nói chung là phương tiện quan trọng để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý hoặc các thông tin cần thiết hình thành trong quá trình quản lý của các cơ quan Các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương đều sử dụng văn bản như là cơ sở pháp lý quan trọng và đều sản sinh ra các văn bản với các thể loại thích hợp để phục vụ cho hoạt động của cơ quan mình Nói cách khác, văn bản là phương tiện quan trọng để đảm bảo thông tin cho quản lý, nó phản ánh kết quả của hoạt động quản lý của cơ quan, giúp ta thấy được sản phẩm của loại hoạt động đặc thù này [150, tr.34]
Theo tác giả Lê Văn In trong cuốn Soạn thảo văn bản và các mẫu tham khảo
trong hoạt động quản lý và kinh doanh: dưới góc độ quản lý, văn bản là quyết định quản lý để truyền đạt mệnh lệnh hoặc các thông tin cần thiết đến đối tượng quản lý, do
Trang 18chủ thể quản lý ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trong quá trình quản lý [73, tr.8]
Từ khái niệm văn bản dưới góc độ quản lý nói trên, có thể làm rõ khái niệm văn
bản quản lý nhà nước:
VBQLNN là những quyết định và thông tin quản lý, do các cơ quan nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định nhằm
điều chỉnh các quan hệ trong quá trình quản lý nhà nước Nói cách khác, VBQLNN là
phương tiện để xác định và vận dụng các chuẩn mực pháp lý vào quá trình quản lý nhà nước [73, tr.8]
VBQLNN thể hiện ý chí, mệnh lệnh của các cơ quan nhà nước đối với cấp dưới
Đó là hình thức để chuyển tải các quy định pháp luật vào đời sống; là phương tiện để điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lý nhà nước VBQLNN do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục nhất định và sửa đổi theo luật
định [150, tr.34]
VBQLNN có các đặc điểm sau:
Chứa đựng các quy phạm pháp luật, thẩm quyền và hiệu lực thi hành;
Là nguồn thông tin quy phạm, là sản phẩm của hoạt động quản lý và công cụ điều hành các cơ quan, và các nhà lãnh đạo, quản lý
Nhìn chung VBQLNN thường mang một số yếu tố nổi bật như sau: yếu tố pháp lý; yếu tố quản lý - lãnh đạo; yếu tố kinh tế - xã hội; yếu tố văn hóa - lịch sử
Hệ thống văn bản quản lý nhà nước bao gồm:
Văn bản quy phạm pháp luật: Loại văn bản này có những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được điều chỉnh bởi các đạo luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Chứa đựng các quy tắc xử sự chung của cộng đồng, xác lập, điều chỉnh các quan hệ xã hội
- Được nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp cần thiết
- Được áp dụng nhiều lần
Trang 19Cần phân biệt VBQLNN và văn bản quy phạm pháp luật: VBQLNN không đồng nhất với văn bản quy phạm pháp luật, tuy rằng văn bản quy phạm pháp luật là VBQLNN VBQLNN có phạm vi rộng hơn văn bản quy phạm pháp luật Chẳng hạn như Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước không được ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhưng được ban hành văn bản quản lý vì là cơ quan quản lý nhà nước về công tác văn thư lưu trữ giúp cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Căn cứ Điều 16 của Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08-4-2004 về công tác văn thư của Chính phủ và các căn cứ khác về thẩm quyền quản lý, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước ban hành Công văn hướng dẫn số 425/VTLTNN-NVTW ngày 18-7-2005 hướng dẫn quản lý văn bản đi, văn bản đến Đây là văn bản quản lý nhà nước
Ngoài các loại văn bản trên, trong các cơ quan nhà nước còn ban hành một số loại văn bản chỉ chứa đựng các quy tắc xử sự riêng, thuộc thẩm quyền cụ thể của một loại cơ quan nhất định Cụ thể như thẩm quyền bổ nhiệm một viên chức lãnh đạo, quyết định khen thưởng, nâng bậc lương cho cán bộ… Những văn bản như vậy được
gọi là văn bản cá biệt
Có một số loại văn bản khác thường đòi hỏi phải có một văn bản quy phạm pháp luật để quy định phạm vi áp dụng và các chế tài ràng buộc đối với chúng Các văn bản như vậy được gọi là văn bản chuyển đổi Chẳng hạn như: điều lệ, quy chế, nội quy, quy trình, quy định, hướng dẫn…
Nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH trong giai đoạn 1955-1963, tác giả sẽ tập trung làm rõ hệ thống VBQLNN của CPVNCH theo cách phân loại thành các nhóm: văn bản có tính cách lập pháp, lập quy
và văn bản có tính cách quản lý nhà nước
1.1.2 Vai trò, vị trí của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN trong hoạt động quản lý nhà nước
Khi nói đến lịch sử của một dân tộc là nói đến quá trình hình thành dân tộc từ thuở sơ khai đến hiện tại Quá trình ấy được xem xét, nhận diện từ nhiều lĩnh vực khác nhau cấu tạo thành đời sống xã hội đến những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc ấy Nghiên cứu lịch sử của dân tộc hay lịch sử của một nhà nước, một chế độ có thể nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau để làm rõ đặc điểm, bản chất và quy luật hình thành, phát triển của nó Trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử Việt Nam, có một lĩnh vực, một hoạt động khá quan trọng, phản ánh một cách chân thực trình độ tổ chức quản lý, điều hành hoạt động của bộ máy nhà nước và
Trang 20quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội Đó là hoạt động của nền hành chính công quyền thông qua hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN - công cụ thiết yếu của một nhà nước, một bộ phận quan trọng của thể chế nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử
Nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN là nghiên cứu về tổ chức
và hoạt động quản lý nhà nước, nghiên cứu về đặc điểm của thể chế nhà nước và chế
độ chính trị của một quốc gia Pháp luật về ban hành VBQLNN là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật của một quốc gia, thể hiện quyền lực nhà nước và nó có mối quan hệ với nhiều chế định khác, đặc biệt là đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền
Theo Từ điển thuật ngữ lý luận nhà nước và pháp luật của tác giả Thái Vĩnh Thắng, hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại
thống nhất với nhau, được phân định thành các ngành luật, các chế định pháp luật và
được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành theo
bị quản lý trong mối quan hệ pháp luật hành chính
Cụ thể hơn, hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN là tổng thể những quy định của nhà nước về thẩm quyền, thủ tục ban hành, giá trị pháp lý, công dụng, thể
loại, thể thức trình bày các loại VBQLNN hình thành trong hoạt động quản lý của các
cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước ở các cấp từ trung ương đến cơ sở
Phạm vi bao quát của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN bao gồm: những văn bản pháp luật quy định về thể chế chính trị; tổ chức, chức năng, quyền hạn
hệ thống bộ máy nhà nước trung ương và địa phương; các văn bản luật và dưới luật quy định cụ thể về ban hành VBQLNN của các cơ quan, đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống bộ máy nhà nước Cụ thể một hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN bao gồm: Hiến pháp, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức bộ máy chính quyền địa phương và các văn bản dưới luật khác có liên quan đến việc ban hành VBQLNN
Trang 21Vai trò, vị trí của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của một nhà nước, một chính quyền có thể xem xét, đánh giá thông qua những vấn đề cơ bản sau:
Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN là yếu tố được hình thành, tồn tại cùng với hệ thống chính quyền của một quốc gia, phản ánh trình độ phát triển về mặt
tổ chức và hoạt động của thể chế nhà nước. Trong các thời kỳ phát triển của lịch sử dân tộc, các nhà nước ở Việt Nam đều xây dựng một hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN, quy định về quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN cũng gắn liền với lịch sử nhà nước và pháp luật ở Việt Nam Ở mỗi thời kỳ khác nhau, hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của mỗi chính quyền đều phản ánh đặc điểm của chế độ nhà nước, đặc biệt là thể hiện qua quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Cụ thể như ở Việt Nam thời
kỳ phong kiến, các quyền này đều thuộc thẩm quyền của người đứng đầu nhà nước - vua hay hoàng đế; đến thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và cai trị ở Việt Nam hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN đã có những thay đổi cơ bản so với thời kỳ trước đó
Đó là một hệ thống pháp luật mang đặc điểm của nền cộng hòa được xuất phát từ hệ thống pháp luật từ "chính quốc", tồn tại đan xen với hệ thống pháp luật về ban hành văn bản của triều đình phong kiến nhà Nguyễn ở Việt Nam…
Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN là công cụ quản lý và điều hành hoạt
động của nhà nước và xã hội Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN có vai trò
đặc biệt quan trọng trong quản lý, điều hành hoạt động của bộ máy nhà nước và quản
lý các lĩnh vực của đời sống xã hội Nó là phương tiện, công cụ quan trọng của một chính quyền để thực hiện quyền lực nhà nước Khi nhà nước hình thành và tồn tại, để thực hiện quyền lực của bộ máy quản lý nhà nước, để bộ máy đó hoạt động có hiệu quả, đúng với chức năng, quyền hạn thì chính phủ hay người đứng đầu nhà nước phải đặt ra những quy định về chức năng, nhiệm vụ và quy định về thẩm quyền, thủ tục ban hành các VBQLNN của các cơ quan trong hệ thống bộ máy tổ chức Vì vậy, hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của một chính quyền là cơ sở để tổ chức điều hành
có hiệu quả hệ thống bộ máy quản lý nhà nước và xã hội
Trong hoạt động quản lý nhà nước, những quy định về thẩm quyền ban hành VBQLNN phản ánh và thể hiện quyền lực của bộ máy chính quyền hay của nhà lãnh đạo, quản lý Nhà quản lý với thẩm quyền ban hành các loại VBQLNN để điều hành hoạt động của bộ máy nhà nước và của toàn xã hội Vì vậy hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN liên quan mật thiết đến mọi ngành hoạt động của quốc gia Do đó nói
Trang 22đến hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN là nói đến sinh hoạt hành chính của một quốc gia ở khía cạnh văn bản quản lý và quyền lực nhà nước
Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN phản ánh bản chất của chế độ nhà
nước: Hệ thống VBQLNN được ban hành luôn gắn liền với thẩm quyền và quyền lực của nhà nước Sự phân quyền một cách rõ ràng và khoa học trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp của các cơ quan nhà nước là yếu tố thể hiện bản chất của nhà nước, của chế độ về khía cạnh dân chủ Trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc Việt Nam, nếu xét về góc độ nhà nước và luật pháp về ban hành văn bản, cũng như thực tiễn của hệ thống VBQLNN (thành văn) hình thành trong quá trình hoạt động của các nhà nước thông qua hình thức phân quyền của hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp có thể phân chia sự phát triển của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN ra thành các thời kỳ:
Thời kỳ nhà nước phong kiến (938-1884), hệ thống pháp luật về ban hành văn bản với việc quy định về thẩm quyền, thể thức và vai trò, giá trị của các loại VBQLNN mang đặc trưng của chế độ phong kiến trung ương tập quyền Quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp đều tập trung vào tay người đứng đầu nhà nước - vua, ngôn ngữ được
sử dụng trong văn bản là chữ Hán và chữ Nôm
Thời kỳ tổ chức bộ máy nhà nước của chính quyền thực dân Pháp (1884-1945)
là hệ thống pháp luật về ban hành văn bản mang đặc điểm của nền hành chính kiểu cộng hòa lập hiến, với thể thức và thể loại văn bản theo khuôn mẫu của hệ thống văn bản ở "chính quốc", sử dụng chữ Pháp và chữ quốc ngữ Latinh
Thời kỳ nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân (từ 1945) là hệ thống pháp luật
về ban hành văn bản khẳng định vai trò và đặc điểm của chế độ mới trên cơ sở tiếp thu những tiến bộ của hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của nhà nước xã hội chủ nghĩa và ít nhiều có những ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của phương Tây (trong
đó có Pháp) về thể loại, thể thức và công dụng của hệ thống văn bản quản lý nhà nước, một hệ thống văn bản sử dụng chữ quốc ngữ Latinh - ngôn ngữ viết chính thức của dân tộc Việt Nam sau này
Chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1963 được
Mỹ dựng lên theo một thiết chế của chính thể Cộng hoà Tổng thống Hệ thống pháp luật về ban hành văn bản quản lý của chính quyền này là sản phẩm có sự kế thừa từ những quy định của cả Pháp và Mỹ được vận dụng vào tổ chức quản lý điều hành theo nền hành chính Việt Nam cộng hòa ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1955-1963
Trang 23Các giai đoạn tiếp theo của chính quyền VNCH (1964-1967) và (1967-1975) hay còn gọi là nền Đệ nhị cộng hoà, chính quyền Sài Gòn cũng có những thay đổi cơ bản cho phù hợp với yêu cầu vì mục tiêu của quản lý
Từ những phân tích trên đây có cho thấy, hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN là phương tiện, công cụ quan trọng của một chính quyền trong hoạt động quản lý và điều hành hệ thống bộ máy tổ chức và quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội; là yếu tố phản ánh trình độ phát triển về mặt tổ chức và điều hành hoạt động của chế độ nhà nước, thông qua những quy định về thẩm quyền, thủ tục và thể thức của các loại VBQLNN được ban hành trong quá trình hoạt động Do đó, để nghiên cứu nền hành chính của một nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể thì nghiên cứu hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN là lĩnh vực quan trọng hàng đầu để đánh giá về trình
độ tổ chức và quản lý của nhà nước đó Thông qua hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN, những quy định về thẩm quyền ban hành văn bản của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong hệ thống bộ máy chính quyền sẽ được thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng và đầy đủ Từ việc làm rõ hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN ở nhiều khía cạnh khác nhau có thể rút ra đặc điểm và bản chất của một hình thái nhà nước ở một thời kỳ nhất định Việc phân tích, đánh giá hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của một quốc gia có thể thấy rõ sự tiến bộ hay lạc hậu của hoạt động tổ chức hành chính, quản lý nhà nước và hệ thống VBQLNN của một quốc gia
1.2 Khái quát những quy định pháp luật về ban hành văn bản ở Việt Nam
từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước 1955
Để có cái nhìn đầy đủ và hệ thống về lịch sử pháp luật ban hành văn bản của Chính phủ VNCH ở miền Nam Việt Nam (1955-1963), việc tìm hiểu sơ lược những quy định pháp luật về ban hành văn bản ở Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc (1862-1945)
và thời kỳ chính quyền Bảo Đại ở miền Nam Việt Nam (1948-1955) là điều cần thiết
1.2.1 Khái quát những quy định pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn dưới thời Pháp thuộc (1862-1945)
Năm 1862, thực dân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ, tiếp đến 1867 chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây còn lại, thiết lập một nền đô hộ lên một phần đất nước ta Khi lãnh thổ và chủ quyền quản lý nhà nước dần dần rơi vào tay thực dân Pháp, Việt Nam bị chia cắt thành ba kỳ và bị xóa tên trên bản đồ thế giới Một chính quyền thuộc
Trang 24địa được thiết lập với cơ cấu, chức năng hành pháp, lập pháp hoàn toàn mới so với chính quyền phong kiến của Việt Nam trước đó
Để phục vụ cho việc cai trị được hiệu quả, chính quyền thực dân chủ trương dùng chữ quốc ngữ để ban hành văn bản Ngày 06-4-1878, Thống đốc Nam kỳ J Lafont đã ký nghị định quy định rằng từ ngày 01 tháng 01 năm 1882, các công văn, nghị định, quyết định, bản án… của chính quyền ban hành đều phải viết bằng tiếng Việt Tuy nhiên, đến ngày 30 tháng 1 năm 1881, Thống đốc Nam kỳ lại ra nghị định bắt buộc mọi công văn giấy tờ chính thức đều phải được viết bằng chữ Pháp, nếu viết bằng chữ quốc ngữ phải có bản dịch kèm theo [105, tr.56] Tuy vậy, trên thực tế, các văn bản do chính quyền thực dân ban hành đều viết bằng chữ Pháp
1.2.1.1 Khái quát những quy định pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền thực dân Pháp (1862-1945)
Trên cơ sở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của "chính quốc" trong cùng một thời kỳ lịch sử, chính quyền thực dân ở thuộc địa cũng xác lập một hệ thống văn bản để phục vụ cho việc cai trị tại Việt Nam Có thể phác họa sơ lược hệ thống pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền thực dân được áp dụng tại Việt Nam như sau:
Hệ thống văn bản pháp quy sử dụng trong hoạt động lập pháp và lập quy của
chính quyền thuộc địa tại Việt Nam, về cơ bản hệ thống này bao gồm: Nghị định Arrêté), Quyết định (Décision), Chỉ thị (Instruction), Thông tư (Circulaire)
Các văn bản này đều bị hạn chế bởi các chế tài từ hệ thống văn bản ở chính quốc, nên văn bản có giá trị pháp lý cao nhất tại thuộc địa chỉ là Nghị định (Arrêté) được sử dụng như một đạo luật - có tính lập pháp tại thuộc địa (khi Thống đốc Nam kỳ thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa (từ 1862-1887), và như một văn bản lập quy sau này khi Thống đốc Nam kỳ, Thống sứ Bắc kỳ và Khâm sứ Trung kỳ trực thuộc Toàn quyền Đông Dương (từ 1887-1945)
Theo Sắc lệnh ngày 20-11-1911 của Tổng thống Pháp, Toàn quyền Đông Dương là người được "ủy nhiệm thi hành quyền lực của nước Cộng hòa Pháp tại Đông Dương" Trên cơ sở đó, Toàn quyền Đông Dương có quyền lập pháp, lập quy, quyền hành pháp và tư pháp tại xứ thuộc địa này trên nguyên tắc về tính trách nhiệm và nguyên tắc về quyền lực đẳng cấp Vì vậy các văn bản có tính lập pháp của Toàn quyền Đông Dương (Nghị định - Arrêté) đều phải được sự phê duyệt của Bộ trưởng
Bộ thuộc địa (approuver) mới được thi hành Nếu Bộ trưởng không phê duyệt sẽ phải
Trang 25dự thảo một văn bản mới trình Tổng thống ban hành dưới hình thức sắc lệnh - văn bản
có tính lập pháp cuả thuộc địa như quy định của bản Sénatus - Consulte do Quốc hội lập hiến Cộng hòa Pháp thông qua ngày 03-5-1854 [74, tr.56]
Nghị định - Arrêté: Là văn bản có tính lập pháp và lập quy, có giá trị pháp lý cao nhất tại Nam kỳ (1862-1887) và Liên bang Đông Dương (1887-1945) Nghị định dùng để ban hành những quy định có tính chất lập pháp và quy của cấp liên bang Thẩm quyền ban hành: Toàn quyền Đông Dương (lập pháp, lập quy, hành pháp và tư pháp) trên toàn liên bang; Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ (lập quy và hành pháp) trong phạm vi kỳ (xứ) mình quản lý
Quyết định - Décision: Là một loại văn bản dưới luật, có tính lập quy [106, tr.269], dùng để thi hành luật hay nghị quyết hoặc quy định một vấn đề cá biệt (để quyết định về một việc hay một vấn đề thuộc thẩm quyền theo luật định) Thẩm quyền ban hành: Toàn quyền Đông Dương (lập quy, hành pháp và tư pháp) trên toàn liên bang; Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ (lập quy và hành pháp) trong phạm vi kỳ (xứ) mình quản lý; Công xứ ở các tỉnh Bắc kỳ và Trung kỳ, quan Chủ tỉnh ở Nam kỳ (lập quy) trong phạm vi địa hạt quản lý
Chỉ thị - Instruction: là loại văn bản dùng để ban hành mệnh lệnh và chỉ dẫn cho một phái viên, một đại sứ [74, tr.84], là loại văn bản của cấp trên gửi cho nhiều người tiếp nhận ở cấp dưới Thẩm quyền ban hành: Toàn quyền Đông Dương; Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ; Công xứ ở các tỉnh Bắc kỳ và Trung kỳ, quan Chủ tỉnh ở Nam kỳ
Thông tư - Circulaire: Là văn bản dùng để hướng dẫn thi hành các quy định có tính chất pháp quy (trên cơ sở một văn bản quy phạm pháp luật), là văn bản của cấp
trên gửi cho cấp dưới Thẩm quyền ban hành: Toàn quyền Đông Dương; Thống đốc
Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ; Công xứ ở các tỉnh Bắc kỳ và Trung
kỳ, quan Chủ tỉnh ở Nam kỳ
Đối với những văn bản có tính lập pháp, lập quy trên về thể loại cũng giống như các văn bản được ban hành và sử dụng tại “chính quốc”, song do những văn bản này được ban hành tại thuộc địa, gắn liền với thẩm quyền về pháp lý của cấp chính quyền thuộc địa nên về giá trị pháp lý thấp hơn so với các văn bản cùng loại được ban hành ở chính quốc và chỉ được áp dụng ở thuộc địa
Hệ thống văn bản hành chính (không có tác dụng lập pháp hay lập quy)
Dùng trong hoạt động hành chính thông thường như trao đổi thông tin, truyền đạt
Trang 26mệnh lệnh hành chính giữa các cấp của chính quyền thuộc địa: Công văn – Note; Biên
bản - Procès-verbal; Báo cáo – Rapport; Thư công…
* Quy định về thể thức và mẫu trình bày của hệ thống văn bản của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam thời Pháp thuộc
Các thành phần thể thức của văn bản bao gồm: Quốc hiệu (tiêu đề); Tác giả - tên cơ quan ban hành văn bản; Địa danh, ngày tháng năm ban hành văn bản; Số, ký hiệu văn bản; Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản; Nội dung của văn bản; Nơi nhận văn bản; Thể thức ký và thẩm quyền ký văn bản - dấu hiệu thể hiện hiệu lực thi hành văn bản; Dấu - dấu hiệu xác nhận tính hợp pháp của chữ ký và nội dung của văn bản
Những thành phần trên đây là những thành phần bắt buộc của thể thức văn bản của chính quyền thực dân Pháp Đây là thể thức văn bản có ảnh hưởng khá lớn đến thể thức văn bản hành chính của Việt Nam sau này
Thông qua thể thức văn bản như trên để hiểu rõ những vấn đề có liên quan đến các quy tắc hành chính, thứ bậc của các cấp chính quyền có thể làm rõ các vấn đề nổi bật của thể thức văn bản hành chính thời Pháp thuộc sau đây:
Thành phần Quốc hiệu: đây là thành phần có tính quy ước của văn bản hành chính
Thành phần tác giả văn bản: thành phần này trong hệ thống văn bản thời Pháp thuộc trình bày khá thống nhất, phản ánh rõ ràng thứ bậc của hệ thống chính quyền thực dân thời Pháp thuộc
Thành phần số và ký hiệu: trong thành phần này, tính khoa học của nghiệp vụ hành chính được thực hiện như sau: Sau số văn thư là phần ký hiệu cho biết nội dung
và dấu hiệu "khẩn", "mật" của văn bản Chẳng hạn đối với văn bản mật sẽ được đánh
số như sau: No 156-C (C - CONFIDENTIEL - MẬT); hay một văn bản có thể có 03
ký hiệu: ví dụ: N0 523-C-AE (C - CONFIDENTIEL, AE - Affaires économique)…
Thành phần thể thức ký: Những quy định về thành phần thể thức ký có những điểm không chỉ về kỹ thuật hành chính mà cả về phương diện khoa học quản lý nhà nước Với những văn bản quan trọng có tính lập pháp hay lập quy, trên những văn bản này ngoài chữ ký của người có thẩm quyền ban hành văn bản còn có chữ ký của những người có trách nhiệm thực hiện các văn bản đó bên dưới
Trang 27Trên đây là vài nét khái quát những quy định về ban hành văn bản của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp Trong thời kỳ này, song song với quy định pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền thực dân là quy định pháp luật về ban hành văn bản của triều đình nhà Nguyễn ở Việt Nam
1.2.1.2 Khái quát những quy định về ban hành văn bản của triều đình nhà Nguyễn ở Việt Nam thời Pháp thuộc (1862-1945)
Hệ thống văn bản của triều đình nhà Nguyễn được xác định theo trật tự giá trị pháp lý sau:
Văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất dưới triều Nguyễn là Hoàng Việt luật lệ
(Luật Gia Long) do vua Gia Long ban hành năm 1815, gồm có 398 điều, chia thành 22 quyển, được soạn thảo trên cơ sở tham khảo luật lệ của các triều đại nước ta và luật của nhà Thanh (Trung Quốc) Bộ luật này đề cập đến nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước,
có thể coi đó là bộ luật tổng hợp, dùng làm cơ sở để ban hành các loại VBQLNN “có tính pháp quy” của triều đình nhà Nguyễn như: chiếu (chiếu thư), thượng (dụ), sắc, chỉ (chỉ dụ)…
Các văn bản nói trên thường chứa đựng những quy định "có tính quy phạm" của Vua - người đứng đầu triều đình - đảm nhận cả ba vai trò lập pháp, hành pháp, tư pháp Còn các văn bản khác thường được sử dụng trong hoạt động giao dịch, truyền đạt mệnh lệnh gồm: tấu (sớ), truyền, sai, phó, khải (khải sự, thư khải), kê, thân, tư trình…
Đến năm 1933, ngoài các loại văn bản như trên, trong hoạt động của mình, triều đình nhà Nguyễn còn ban hành các loại văn bản giống như hệ thống văn bản của chính quyền thực dân pháp tại Việt Nam như: nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư Và các loại văn bản hành chính văn thư: công văn, biên bản, phiến, châu tri
Hệ thống VBQLNN có tính pháp quy của triều đình nhà Nguyễn bao gồm: chiếu (chiếu thư), thượng (dụ), sắc, chỉ (chỉ dụ): Do vua ban hành, sau này còn có các loại văn bản mới tiếp thu thể thức của Pháp như: nghị định; quyết định; chỉ thị; thông tư
Nghị định: Về thể loại và công dụng, nghị định của các cấp chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, cũng như Nghị định của chính quyền thực dân Pháp, dùng để thi hành các quy định có tính quy phạm (lập quy) của hệ thống pháp luật tại Pháp và thuộc địa Đông Dương Song do tất cả các quyền lập pháp tối cao thuộc về chính quyền thực dân nên Nghị định của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn chỉ là những văn bản
Trang 28mang tính "hợp thức hóa lập quy", dùng để cụ thể hóa các quy phạm pháp luật đã được ban hành từ các văn bản cùng loại của chính quyền thực dân - một công cụ trực trị tại các tỉnh của Trung kỳ
Về thẩm quyền ban hành: Cấp Bộ ở triều đình; cấp tỉnh ở đại phương (Tổng đốc)
Quyết định, chỉ thị, thông tư: những loại văn bản này về ý nghĩa và công dụng cũng như những văn bản cùng loại trong hệ thống văn bản của chính quyền thực dân Tuy nhiên về giá trị pháp lý thường chỉ dùng để hợp thức hóa, thi hành các quyết định của chính quyền thực dân khi có liên quan đến những lĩnh vực lập quy Còn những trường hợp cá biệt chủ yếu sử dụng trong những trường hợp mang tính chất nội bộ của triều đình nhà Nguyễn Về thẩm quyền ban hành, các loại văn bản nói trên thuộc thẩm quyền ban hành của các Bộ trong triều đình
Hệ thống văn bản hành chính không có tính pháp quy
Tấu: Là văn bản do các quan lại địa phương trình bày với nhà vua về những vấn
đề mà vua hỏi hoặc yêu cầu Ngoài ra, nó cũng được sử dụng để phản ánh, báo cáo tình hình cụ thể để đề nghị nhà vua xem xét, giải quyết một công việc nào đó
Sớ: Là văn bản do các quan lại ở địa phương trình lên vua để báo cáo hoặc trình bày một vấn đề mang tính chất định kỳ hoặc đột xuất (công dụng của loại này gần giống Tấu và giữa hai loại đó chưa phân biệt rõ ràng)
Truyền: Là loại văn bản dùng để truyền đạt mệnh lệnh của vua
Phó: Thông cáo, cáo phó những việc tang quyến
Khải (khải sự, thư khải): Văn bản dùng để tường trình, giãi bày công việc
Kê: Văn bản dùng để khảo sát, thẩm tra về một vấn đề, sự việc
Thân: Là loại văn thư hàng đầu của quan lại
Tư trình (tư văn): là loại văn thư trao đổi của quan lại
Trong hệ thống văn bản hành chính cũ của chính quyền phong kiến cũng có những văn bản tương tự công văn, biên bản, song với tên loại khác: công văn - văn thư, biên bản - ký lục
Phiến (tờ trình): là văn bản dùng để trình bày một vụ việc khác kèm theo sớ tấu [28]
Châu tri: là văn bản dùng để phổ biến thi hành một vấn đề do cấp trên ban hành
Trang 29* Quy định về thể thức và mẫu trình bày của hệ thống văn bản của triều đình Nhà Nguyễn thời Pháp thuộc:
Những quy định về thể thức trình bày văn bản của triều đình nhà Nguyễn cũng
có hai hình thức trình bày khác nhau Hình thức thứ nhất giữ nguyên thể thức văn bản của chính quyền quân chủ chuyên chế phong kiến theo kiểu Trung Hoa và hình thức thứ hai là quá trình biến đổi thể thức theo kiểu cộng hòa lập hiến của chính quyền thực dân Pháp đã thực hiện tại Việt Nam Điều này được thể hiện theo ba dạng:
- Thể loại văn bản kiểu cũ, cách trình bày thể thức theo kiểu mới;
- Thể loại văn bản kiểu mới, cách trình bày thể thức theo kiểu cũ;
- Thể thức trình bày một phần theo kiểu cũ , một phần theo kiểu mới
Bên cạnh những điểm trên cần chú ý đến sự "giao thoa" giữa thể thức trình bày thể loại văn bản kiểu cũ của chính quyền phong kiến Việt Nam và các trình bày mới như văn bản của chính quyền thực dân Thể thức của hai hệ thống văn bản này có sự giao thoa lẫn nhau trong cách trình bày thể hiện các thành phần văn bản Có thể xem xét sự giao thoa này trong một số trường hợp về con dấu, cấu trúc nội dung của văn bản và cách thể hiện thể thức ký [74, tr.99]
1.2.2 Sơ lược hệ thống pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền Bảo Đại ở miền Nam Việt Nam (1948-1955)
Quốc gia Việt Nam (tiếng Pháp: l’État du Viet Nam) là một chính thể thuộc
Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp, tồn tại trong giai đoạn từ giữa năm
1948 đến tháng 10 năm 1955 Quốc gia Việt Nam được dựng lên với Quốc trưởng là Cựu hoàng Bảo Đại và một Chính phủ có Thủ tướng đứng đầu, Chính phủ được tổ chức gồm 13 Bộ Trong khi đó, Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát tài chính, thương mại
và chính sách đối ngoại, quân sự của chính quyền này
Từ năm 1954, theo tinh thần của Hiệp định Genève 1954, chính quyền và các lực lượng quân sự của Quốc gia Việt Nam theo quân đội Pháp tập kết vào miền Nam Việt Nam Sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1955, Thủ tướng cuối cùng của Quốc gia Việt Nam là Ngô Đình Diệm đã tuyên bố phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và thành lập một chính thể mới với tên gọi Việt Nam Cộng hòa
Trong quá trình tồn tại (1948-1955) dưới sự viện trợ của Pháp và Mỹ, nền hành chính Quốc gia Việt Nam đã hình thành và hoạt động trong thực tiễn Đó là một nền
Trang 30hành chính tổ chức theo kiểu Pháp Bộ máy chính quyền được tổ chức theo kiểu nguyên thủ quốc gia do Bảo Đại làm Quốc trưởng, Chính phủ do một Thủ tướng đứng đầu, các cơ quan trung ương gồm 13 Bộ, đứng đầu mỗi Bộ là một Tổng trưởng
Hệ thống các văn bản quy định về ban hành văn bản của chính quyền Quốc gia Việt Nam
Các văn bản pháp lý quan trọng nhất của Quốc gia Việt Nam điều chỉnh về ban hành văn bản quản lý gồm:
Dụ số 1 ngày 1-7-1949 tổ chức và điều hành các cơ quan công quyền [21];
Dụ số 2 ngày 1-7-1949 tổ chức các quy chế công sở [22];
Dụ số 21 ngày 4-8-1954 sửa đổi Dụ số 2 ngày 1-7-1949 về tổ chức các quy chế công sở [127];
Dụ số 15 ngày 19-6-1954 bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng Chính phủ
và uỷ nhiệm toàn quyền về dân sự và quân sự [18], [45];
Sắc lệnh số 38-QT ngày 16-6-1954 chỉ định Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng để lập tân Chính phủ [45];
Sắc lệnh 94-CP ngày 24-9-1954 ấn định thành phần Chính phủ và Sắc lệnh
155-CP ngày 17-12-1954 sửa đổi thành phần Chính phủ [139]…
Đây chính là những căn cứ pháp lý để xác định thẩm quyền ban hành các loại văn bản lập pháp và lập quy, quy định chức năng, thẩm quyền của nguyên thủ quốc gia
và những người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu các Bộ, Phần
Tổ chức bộ máy chính quyền Quốc gia Việt Nam (1948-1955)
Bộ máy chính quyền Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn 1948-1955 có thể phác
họa theo sơ đồ tại SƠ ĐỒ 1 và SƠ ĐỒ 2 ở phần Phụ lục
Theo quy định tại Dụ số 1 ngày 1-7-1949 [21], tổ chức các cơ quan công quyền của Quốc gia Việt Nam gồm:
* Tổ chức chính quyền trung ương
Quốc trưởng đứng đầu “nhà nước”, với vai trò là nguyên thủ quốc gia
Trang 31Chính phủ: Do một Thủ tướng đứng đầu và bao gồm Quốc vụ khanh (từ Sắc lệnh 94-CP ngày 24-9-1954 ấn định thành phần Chính phủ, chức vụ Quốc vụ khanh không còn trong bộ máy Chính phủ), một Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng và 13 Tổng trưởng phụ trách 13 bộ Các Bộ trong Chính phủ Quốc gia Việt Nam được tổ chức theo kiểu Phương Tây, trong giai đoạn đầu tổ chức Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng, đã có Sắc lệnh số 2 của Quốc trưởng Bảo Đại ngày 23-5-1948 được ban hành để tổ chức bộ máy Chính phủ theo mô hình phương Tây Đứng đầu mỗi bộ có Tổng trưởng hoặc Quốc vụ khanh, có Thứ trưởng phụ tá Tuy nhiên, trên thực tế, Sắc lệnh này không được thi hành triệt để Phải đến Dụ số 1 ngày 1-7-1949 tổ chức và điều hành các cơ quan công quyền, tổ chức các Bộ mới được áp dụng trên thực tế Đứng đầu mỗi bộ có Tổng trưởng hoặc Bộ trưởng có Thứ trưởng phụ tá
Tồn tại từ tháng 5 năm 1948 đến tháng 10 năm 1955, Quốc gia Việt Nam đã có
7 đời Thủ tướng Ngày 16 tháng 6 năm 1954, Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng Sang đầu tháng Bảy danh sách Nội các của chính quyền Quốc gia Việt Nam được ấn định, trong đó Ngô Đình Diệm đảm nhiệm chức Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ và Quốc phòng [160, tr.2686]
* Tổ chức chính quyền địa phương
Thủ Hiến
Trong thời kỳ chính quyền Bảo Đại, nền hành chính cấp kỳ địa phương được đặt dưới sự quản lý của một Thủ hiến, tiêu biểu chế độ phân quyền hành chính với quyền hành rộng rãi Theo Dụ số 2 ngày 1-7-1949 tổ chức các quy chế công sở:
Thủ hiến là đại diện chính quyền tại địa phương với các nhiệm vụ: Phụ trách việc thi hành các Dụ, Sắc lệnh, Nghị định, kiểm soát sự điều hành các sở quốc gia tại địa phương; liên lạc thẳng với Bộ trưởng; Phó chủ chi (sous- odonnateur) ngân sách quốc gia; chịu trách nhiệm trước Quốc trưởng
Thủ hiến cai quản nền hành chính địa phương: Có quyền tổ chức và điều hành các cơ quan địa phương; bổ nhiệm các nhân viên cơ quan địa phương; có quyền lập quy tổng quát để thi hành luật lệ trong phạm vi địa phương bằng nghị định; kiểm soát nền hành chính tỉnh, thị xã, quận và xã; liên lạc thẳng với Thủ tướng Chính phủ (trừ
Trang 32trường hợp thi hành nhiệm vụ giữ gìn trật tự và an ninh thì tường trình Bộ trưởng Nội vụ); có thể triệu tập quân đội
Thủ hiến chánh chuẩn chi ngân sách địa phương: Về mặt tài chính, đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ trưởng Tài chính
Sau năm 1954, Dụ số 21 ngày 4-8-1954 sửa đổi Dụ số 2 ngày 1-7-1949 về tổ chức các quy chế công sở Thẩm quyền cơ quan Phần có sự thay đổi Các Phần trở thành một quản hạt hành chính đặt dưới quyền cai trị của một Uỷ ban (thay vì một Thủ Hiến) gồm có một Chủ tịch, một uỷ viên chính trị, một uỷ viên quân sự có thẩm quyền như sau:
Đại diện chính quyền trung ương; có quyền lập quy để thi hành dụ, sắc lệnh và nghị định của cấp trên; trông coi sự điều hành các công sở trong địa hạt; giao thiệp với các Bộ trưởng qua sự chuyển đạt của Bộ trưởng Nội vụ [122]
Như vậy tổ chức các Phần dưới chế độ Quốc gia Việt Nam là một cấp hành chính có vai trò quan trọng
Cấp Tỉnh: Dưới chế độ Quốc gia Việt Nam, khi chức Thủ hiến và Đại biểu Chính phủ tại Phần xuất hiện thì tổ chức hành chính cấp tỉnh thuộc sự kiểm soát, điều hành của các cơ quan này Đứng đầu một tỉnh là Tỉnh trưởng
Ở cấp tỉnh được chia thành nhiều tỉnh, Sài Gòn được chọn là “Đô thành” của Quốc gia Việt Nam được lập do Nghị định số 311-Cab/SG ngày 30-6-1951, đứng đầu
Đô thành gồm có Đô trưởng
Cấp quận - Quận trưởng: là cấp hành chính trung gian, không có tư cách pháp nhân và không có quyền lập quy Có nhiệm vụ phụ tá cho Tỉnh trưởng/ Đô trưởng về các nhiệm vụ được giao phó
Cấp xã dưới chế độ Quốc gia Việt Nam trực thuộc Tỉnh trưởng
Hình thức, thẩm quyền ban hành các loại văn bản của chính quyền Quốc gia Việt Nam
Thẩm quyền ban hành văn bản của Quốc trưởng:
Điều thứ 2 Dụ số 1 ngày 1-7-1949 quy định:
Trang 33Quốc trưởng ký và phê chuẩn các Hiệp ước; Quốc trưởng chủ toạ Hội đồng Tổng trưởng, ấn định chính sách của Chính phủ và chỉ thị về sự hoạt động của Chính phủ trong tất cả các ngành; Quốc trưởng giữ chức Tổng tư lệnh tối cao quân đội; Quốc trưởng có quyền ân xá
Điều 3 của Dụ số 1 quy định: Các điều quyết định của Quốc trưởng ban bố bằng dụ, sắc lệnh [21]
Các vấn đề có tính cách lập pháp được ấn định bằng dụ Đạo dụ sẽ đem ra quyết định tại Hội đồng Tổng trưởng, sẽ do Quốc trưởng ký và do Thủ tướng phó thự, nếu trong trường hợp Quốc trưởng không trực tiếp kiêm nhiệm Thủ tướng
Các quyết định có tính cách thể lệ đặt ra để thi hành một đạo dụ sẽ ban bố bằng một sắc lệnh do Quốc trưởng ký, Thủ tướng và các Tổng trưởng, Bộ trưởng phó thự
Các sắc lệnh quyết định tại Hội đồng Tổng trưởng đều do Tổng trưởng hay Bộ trưởng sở quan khởi nghị Những sắc lệnh liên quan đến chính sách đại cương của Chính phủ, việc tuyển bổ các viên chức cao cấp, các tướng lĩnh quân đội và các trưởng phái đoàn tại ngoại quốc, nhất thiết phải là những sắc lệnh quyết định tại Hội đồng Tổng trưởng
Điều 9 Dụ số 1 ngày 01-7-1949 quy định: Một sắc lệnh sẽ ấn định những thể thức theo đó các dự án ban hành dụ và sắc lệnh sẽ đưa ra thảo luận tại Hội đồng Tổng trưởng Cũng trong sắc lệnh ấy sẽ ấn định những thể thức theo đó các sắc lệnh đơn quyết sẽ đệ trình Quốc trưởng chuẩn ký
Như vậy, trong hệ thống văn bản của chính quyền Quốc gia Việt Nam, Dụ là
văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, dùng để lập pháp và quy định những vấn đề mang tính tổng quát, quan trọng nhất Cụ thể như Dụ số 1 ngày 1-7-1949 tổ chức các cơ quan công quyền [21]
Sắc lệnh: Là văn bản pháp lý có giá trị cao thứ hai sau dụ, dùng để quy định chi tiết, cụ thể hoá những vấn đề được quy định trong dụ Cụ thể như Sắc lệnh số 11-CP ngày 21-2-1951 ấn định thành phần chính phủ…
Thẩm quyền ban hành văn bản của Thủ tướng:
Trang 34Thủ tướng Chính phủ, các Tổng trưởng, Bộ trưởng và Thứ trưởng đều do Quốc trưởng bổ nhiệm hay cách chức Các thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc trưởng Quyền hạn của các thành viên Chính phủ do Quốc trưởng ấn định bằng sắc lệnh
Thủ tướng Chính phủ điều khiển sự hoạt động của Chính phủ theo chỉ thị của Quốc trưởng, chịu trách nhiệm kiểm soát và thi hành các dụ và sắc lệnh
Thủ tướng hay Phó thủ tướng có thể được Quốc trưởng uỷ nhiệm ký các sắc lệnh Thủ tướng có thẩm quyền ban hành nghị định
Thẩm quyền ban hành văn bản của Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng
Trong tổ chức Phủ Thủ tướng cũng có một Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng, đây là một hình thức tổ chức Phủ Thủ tướng theo kiểu Pháp Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng chuyên xét những thường vụ đệ lên Thủ tướng Chính phủ, đảm trách điều khiển các cơ quan ở văn phòng Phủ Thủ tướng
Với chức năng đảm trách những công việc quan trọng có liên quan đến chính
trị, kinh tế, tài chính do Thủ tướng giao phó, Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng có thẩm quyền ban hành nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư để điều hành công việc tại Phủ Thủ tướng Cụ thể như Nghị định của Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng về tổ chức các cơ quan thuộc Bộ Phủ Thủ tướng; Chỉ thị ngày 28 tháng 12 năm 1954 về tổ chức và phân công trong Văn phòng Bộ Đặc nhiệm Phủ Thủ tướng; Thông tư số 188-BPTT của Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng ngày 23-2-1955 về việc phổ biến tài liệu [156]…
Thẩm quyền ban hành văn bản của Tổng trưởng (Bộ trưởng) các Bộ:
Về thẩm quyền ban hành các loại văn bản lập quy của Tổng trưởng (Bộ trưởng) các Bộ cũng giống như thẩm quyền ban hành văn bản của Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng: Tổng trưởng (Bộ trưởng) được ban hành nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư… để điều chỉnh hoạt động của Bộ trong phạm vi quyền hạn
Tuy nhiên, trong nguyên tắc hành chính Quốc gia Việt Nam, nghị định và thông
tư về các vấn đề thuộc thẩm quyền các bộ, thì do mỗi Bộ soạn thảo và phải đệ trình lên Quốc trưởng hoặc Thủ tướng phê duyệt, rồi phổ biến cho các Bộ và cơ quan khác của Chính phủ [156]
Trang 35Bảng 1.1 Thẩm quyền ban hành văn bản của chính quyền Quốc gia Việt Nam
Thẩm quyền ban hành Tên loại văn bản Giá trị pháp lý và áp dụng
Sắc lệnh Lập quy, cá biệt, hành pháp
Thủ tướng Nghị định Lập quy, cá biệt, hành pháp
Quyết định Lập quy, cá biệt, hành pháp Thông tư/ Châu tri Lập quy, hành pháp
Tổng trưởng/ Bộ trưởng Nghị định Lập quy, cá biệt, hành pháp
Quyết định Lập quy, cá biệt, hành pháp Thông tư Lập quy, hành pháp
Thủ hiến cấp Phần Nghị định Lập quy, cá biệt, hành pháp
Quyết định Lập quy, cá biệt, hành pháp Thông tư hành pháp, hướng dẫn thi
hành văn bản của Quốc trưởng Thủ tưởng
Tỉnh trưởng/Đô trưởng Quyết định Lập quy, hành pháp trong
về việc thi hành pháp luật ở các Phần
Trang 36* Quy định về thể thức trình bày văn bản của Chính quyền Quốc gia Việt Nam
Ở giai đoạn đầu của chế độ Quốc gia Việt Nam, do phụ thuộc vào Pháp, nên các loại văn bản được ban hành từ cấp trung ương đến cấp cơ sở vẫn chủ yếu được trình bày bằng Pháp ngữ
Đến đầu năm 1954, Châu tri số 3-Cir/Cab/Prés ngày 23-1-1954 quy định về việc dùng Việt ngữ trong công văn [11] Kể từ đây các loại văn bản chủ yếu được trình bày bằng chữ Việt
Các thành phần thể thức của văn bản của chính quyền Quốc gia Việt Nam về cơ bản cũng bao gồm những yếu tố thể thức như văn bản ở thời Pháp thuộc, trong đó có một vài yếu tố đáng chú ý:
- Về ký hiệu của văn bản thời kỳ này được quy định như sau:
Văn bản tại Phủ Thủ tướng ký hiệu được chia theo hai loại: công văn thường và công văn mật
Đối với công văn thường, cách ghi ký hiệu được trinh bày như sau:
Số…-PTT/VP (Phủ Thủ tướng Văn phòng); Số…-PTT/DL (Phủ Thủ tướng Đổng lý); Số…-PTT/PDL (Phủ Thủ tướng Phó Đổng lý)…
Đối với các ghi số, ký hiệu công văn mật: Dùng những chữ tắt như trên và ghi chữ M (là mật) Cụ thể như:
Số…-PTT/VP/M (Phủ Thủ tướng Văn phòng - Mật)
- Công văn của các Bộ:
Công văn thường của các Bộ: Số … - CN (Bộ Canh Nông); Số … - DCH (Bộ Dân chủ hoá); Số … - QP (Bộ Quốc phòng); Số … - NG (Bộ Ngoại giao); Số … - TC (Bộ Tài chính)…
Công văn mật của các Bộ: Dùng chữ tắt như trên và thêm chữ M (mật) ở phía sau Cụ thể như: Số … - CN/M (Bộ Canh Nông - Mật)
Dưới chính quyền Quốc gia Việt Nam, thể thức trình bày văn bản quản lý hành chính đã được quy định thành phần số và ký hiệu khá rõ ràng, căn cứ vào đó có thể biết chính xác được đơn vị soạn thảo văn bản và tính chất mật hay thường của văn bản
Trang 37- Về quy định sử dụng “chính thể” để chỉ Chính phủ Quốc gia Việt Nam trong ban hành văn bản cũng được đặc biệt quan tâm Toàn bộ văn bản được ban hành sử dụng chính thể thể thống nhất:
Quốc Gia Việt Nam
Cơ quan ban hành văn bản: Cụ thể như:
Quốc Gia Việt Nam Phủ Thủ tướng Như vậy, thể thức trình bày các loại văn bản của chính quyền Quốc gia Việt Nam đã đạt được tiến bộ nhất đinh, với đầy đủ những thành phần thể thức quan trọng của một văn bản
1.2.3 Một số nhận xét những quy định pháp luật về ban hành văn bản ở Việt Nam từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước 1955
Từ thời kỳ Pháp thuộc đến trước năm 1955, ở miền Nam Việt Nam đã trải qua hai thời kỳ đặt dưới sự cai trị của hai chính quyền khác nhau: Chính quyền thực dân Pháp (1862-1945) và sau đó là chính quyền Quốc gia Việt Nam (1948-1955) Đây là hai thời kỳ nối tiếp nhau đều có sự xuất hiện và can thiệp của Pháp trong quá trình xâm lược và cai trị ở Việt Nam Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp đã thiết lập một chính quyền thuộc địa để cai trị ở Việt Nam và Đông Dương đồng thời duy trì sự tồn tại của triều đình phong kiến nhà Nguyễn Chính quyền thực dân đã tạo lập một hệ thống pháp luật quy định về ban hành các loại văn bản phục vụ cho yêu cầu quản lý ở Việt Nam Sau thất bại trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, chế độ thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn sụp đổ hoàn toàn Nhưng thực dân Pháp vẫn chưa từ bỏ
đồ xâm lược Việt Nam, tiếp tục tiến hành chiến tranh chống nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và cho thiết lập chế độ Quốc gia Việt Nam ở miền Nam Việt Nam (tồn tại từ tháng 5 năm 1948 đến 26-10-1955) Chính quyền Quốc gia Việt Nam là “sản phẩm còn sót lại” của thực dân Pháp và nó cũng chính là cơ sở, tiền đề của chế độ Việt Nam cộng hoà ở miền Nam Việt Nam sau này
Ở Việt Nam thời Pháp thuộc là thời kỳ đầu tiên mà văn bản được sử dụng chữ quốc ngữ, có sự giao thoa, tiếp thu những thể loại, thể thức văn bản của nền hành chính cộng hòa Vì vậy, những quy định về ban hành văn bản của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam thời Pháp thuộc có sự ảnh hưởng lớn đến các thời kỳ sau này, đặc biệt là chính quyền Quốc gia Việt Nam (1948-1955) và chính quyền VNCH (1955-1963) Qua kết quả nghiên cứu trên đây, chúng ta có thể đưa ra những nhận
Trang 38định cơ bản quy định pháp luật về ban hành văn bản ở Việt Nam thời Pháp thuộc như sau:
Những quy định về ban hành hệ thống văn bản hành chính thời Pháp thuộc có nhiều điểm mới về định chế pháp lý, quy định về những thể loại và công dụng, hình thức của các loại văn bản Một hệ thống văn bản hoàn toàn mới về ngôn ngữ viết - chữ quốc ngữ Latinh
Những quy định về ban hành văn bản gắn liền với một thể chế chính quyền của chế độ thực dân thuộc địa
Như vậy, xét dưới góc độ lịch sử, những quy định về ban hành văn bản ở Việt Nam thời Pháp thuộc có những thay đổi cơ bản so với những gì đã tồn tại trong lịch sử của hệ thống pháp luật về ban hành văn bản ở Việt Nam thời phong kiến
Hệ thống pháp luật quy định về ban hành văn bản Việt Nam thời Pháp thuộc là sản phẩm của hình thái chế độ thực dân nửa phong kiến, bao gồm hệ thống pháp luật
về ban hành văn bản của chính quyền thực dân và của triều đình phong kiến Việt Nam,
bị chi phối bởi quan hệ quản lý nhà nước từ "chính quốc" và chi phối cả hệ thống pháp luật ban hành văn bản của triều đình phong kiến nhà Nguyễn Tuy nhiên, trong phạm
vi quản lý hành chính ở thuộc địa, quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vẫn được đảm bảo được thực hiện đầy đủ
Chính quyền thực dân Pháp trong quá trình cai trị tại Việt Nam đã sử dụng hệ thống văn bản mang những đặc điểm của hệ thống văn bản của "chính quốc" Trong thời kỳ Pháp thuộc, hệ thống văn bản của chính quyền thực dân pháp đã thể hiện vai trò của nó trong quá trình xâm lược và cai trị ở Việt Nam, một hệ thống văn bản quản
lý của một chính quyền tư bản đã được quy chuẩn hoá chặt chẽ từ trung ương đến địa phương Hệ thống pháp luật quy định về ban hành văn bản thời Pháp thuộc (1862-1945) có ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền Quốc gia Việt Nam (1948-1955) - một chính quyền tiền thân của chính quyền VNCH (1955-1963)
Thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam lần thứ hai, thực dân Pháp thiết lập chính quyền Quốc gia Việt Nam ở miền Nam Việt Nam Về thiết chế tổ chức, Quốc gia Việt Nam vừa mang những đặc điểm của chế độ phong kiến, vừa mang những yếu
tố ảnh hưởng của nền hành chính cộng hoà Pháp Bộ máy chính quyền gồm nguyên thủ quốc gia là Quốc trưởng Bảo Đại và đứng đầu Chính phủ có Thủ tướng và các
Trang 39Tổng trưởng các Bộ Chính vì vậy trong hệ thống văn bản quản lý hành chính do chính quyền Quốc gia Việt Nam ban hành vừa có những loại văn bản của chế độ phong kiến, vừa có những loại văn bản tiếp thu của nền cộng hoà Pháp Những quy định pháp luật
về ban hành văn bản của chính quyền Quốc gia Việt Nam là sự tổng hợp và kế thừa, chọn lọc từ thời kỳ pháp thuộc và có những ảnh hưởng từ hệ thống văn bản theo kiểu Pháp
Những quy định về ban hành văn bản của chính quyền Quốc gia Việt Nam nói trên là cơ sở, nền tảng cho sự kế thừa và chọn lọc để tạo cơ sở cho sự hình thành hệ thống pháp luật về ban hành văn bản của chính quyền VNCH trong giai đoạn 1955-
Từ 1950 đến cuối 1951, với việc ký một số Hiệp định với Pháp về Đông Dương như: "Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương", "Kế hoạch hợp tác kinh tế", "Kế hoạch an ninh chung"… Hoa Kỳ từng bước đặt Đông Dương trong cái ô bảo hộ của mình, trong lúc chưa thể loại bỏ Pháp, Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ cho Pháp để duy trì cuộc chiến tranh ở Đông Dương Những kế hoạch trong cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương như "Kế hoạch Rever", "Kế hoạch De lattre de Tassigny", "Kế hoạch Salan", "Kế hoạch Navarre"… đều được Hoa Kỳ chuẩn y trước khi tài trợ
Ngày 7-2-1950, Hoa Kỳ nhanh chóng công nhận và lôi kéo một số quốc gia thân Hoa Kỳ công nhận sự ra đời của Quốc gia Việt Nam cùng với Campuchia và Lào
Trang 40Ngày 23-12-1950, Hiệp ước viện trợ phòng thủ chung Đông Dương được ký kết giữa đại diện của Mỹ, Pháp, Quốc gia Việt Nam, Campuchia, Lào Nội dung cụ thể của Hiệp ước nhằm quy định và thực hiện "Viện trợ quân sự" đối với Đông Dương nói chung và Quốc gia Việt Nam nói riêng Bằng Hiệp ước này, Hoa Kỳ đã tiến một bước quan trọng trong quá trình can thiệp vào Việt Nam và Đông Dương
Ngày 7-9-1951, Hiệp nghị hợp tác kinh tế giữa Hoa Kỳ và chính quyền Bảo Đại được ký kết
Tháng 3-1954, khi thực dân Pháp đang bị sa lầy ở Điện Biên Phủ, Hoa Kỳ đã gấp rút viện trợ về quân sự, vũ khí chiến thuật để cứu vãn cho quân Pháp tại đây Hoa
Kỳ cho rằng từ nay Đông Dương nằm trong khu vực bất khả xâm phạm của chiến lược
Mỹ Tiếp đó, ngày 16-4-1954, Phó Tổng thống Hoa Kỳ Nicxon tuyên bố: "Dù Pháp có
ký kết đình chiến ở Đông Dương, chính phủ Hoa Kỳ sẽ đưa quân vào Đông Dương bất chấp dư luận thế nào"[88, tr.8]
Tóm lại, từ năm 1950 - 1954, Hoa Kỳ sử dụng chính sách "viện trợ", "phòng thủ chung", "hợp tác kinh tế"… với những phương thức mới, từng bước can thiệp vào Đông Dương, trong đó chủ yếu là Việt Nam
Ngày 8-5-1954, một ngày sau khi quân Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ, Hội nghị Genève về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương được khai mạc Đối với vấn đề Đông Dương, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Hoa Kỳ Dulles tuyên bố: "Tốt nhất là để người Pháp rút ra, sau đó chúng ta sẽ lập một nền tảng mới" [15, tr.103]
Việc làm đầu tiên của Hoa Kỳ là trong tháng 6-1954 dùng viện trợ gây sức ép với Pháp và Bảo Đại để đưa Ngô Đình Diệm (đang sống lưu vong) về làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Tháng 6-1954, theo tinh thần của Hiệp định Genève, Việt Nam sẽ tạm thời chia thành 2 vùng tập kết quân, Hoa Kỳ lợi dụng lúc Pháp đang rơi vào tình trạng khủng hoảng nội các (Chính phủ của Thủ tướng Lanien bị đổ ngày 12-6-1954, trong khi Pirre Mèndes Phranke mãi tới 19-6 mới lập xong Chính phủ mới) gây sức ép với Pháp, buộc Bảo Đại phải bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng thay Bửu Lộc (một người trung thành với Pháp) Ngày 16-6-1954, Bảo Đại lấy tư cách là Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam, ký sắc lệnh số 38-QT bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng Ba ngày sau Bảo Đại ký tiếp Dụ số 15 trao cho Diệm toàn quyền cả về dân sự lẫn quân sự