1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách cải cách điền địa của chế độ sài gòn và hệ quả của nó đối với xã hội miền nam (1954 1975)

118 87 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách Cải Cách Điền Địa Của Chế Độ Sài Gòn Và Hệ Quả Của Nó Đối Với Xã Hội Miền Nam (1954-1975)
Tác giả Lê Thị Hồng
Người hướng dẫn TS. Lâm Quang Huyên
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách mạng ruộng đất ở miền Nam cũng như vấn đề cách mạng ruộng đất nói chung trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta, đã được Đảng ta hết sức quan tâm, xem đây là một nhiệm vụ có ý ngh

Trang 1

Lê Thị Hồng

Chính sách cải cách điền địa của chế

độ Sài Gòn và hệ quả của nó đối với

xã hội miền Nam (1954-1975)

Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam

Mã số chuyên ngành : 5.03.15

Người hướng dẫn : TS Lâm Quang Huyên

Tp Hồ Chí Minh , 2008

Trang 4

D ẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta do Đảng

ta lãnh đạo hơn hai mươi năm qua (1954-1975) là một trong những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại nhất của nhân dân Việt Nam Chiến thắng đó đã nâng nước ta lên ngang tầm của thời đại và đưa nhân dân ta đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là sự tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chống đế quốc và phong kiến, do giai cấp công nhân lãnh đạo, để giành độc lập tự do cho dân tộc và ruộng đất cho nông dân và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối liên minh công nông được củng cố, vai trò của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sự chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa và của bạn bè khắp năm châu là những yếu tố quan trọng nhất đã đưa cuộc đụng đầu lịch sử của nhân dân Việt Nam với đế quốc Mỹ thắng lợi, một đế quốc có thế lực kinh tế, quân sự hùng hậu nhất lúc bấy giờ

Cách mạng ruộng đất ở miền Nam cũng như vấn đề cách mạng ruộng đất nói chung trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta, đã được Đảng ta hết sức quan tâm, xem đây là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược cần phải luôn luôn quán triệt để củng cố khối liên minh công- nông, bảo đảm lực lượng xã hội chiếm số đông nhất trong nhân dân miền Nam là quần chúng nhân dân lao động tham gia kháng chiến chống ngoại xâm và xây dựng chế độ mới

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nông dân miền Nam đã làm chủ được một phần ruộng đất và nắm chính quyền ở nông thôn Tuy

Trang 5

nhiên sau Hiệp định Giơneve thì Mỹ đã hất cẳng Pháp và xây dựng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam Rút kinh nghiệm đánh phá và chia rẽ các phong trào nông dân ở một số nước trên thế giới, trong suốt quá trình xâm lược miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ luôn sử dụng con bài “cải cách điền địa” Để đối phó với tình hình ở miền Nam, Mỹ- Diệm đã không từ một thủ đoạn nào để đánh phá phong trào cách mạng ở nông thôn, đàn áp, lôi kéo nông dân, giành giật nông dân với cách mạng Chúng luôn coi vấn đề nông thôn và vấn đề nông dân là những vấn đề hàng đầu phải giải quyết: “cứu nông thôn là cứu chế độ” Vì vậy trong suốt hai mươi năm can thiệp và trực tiếp xâm lược miền Nam, đế quốc Mỹ thông qua nguỵ quyền Sài Gòn đã tiến hành nhiều chính sách thâm độc, tàn bạo đối với nông thôn và nông dân miền Nam nước ta Một trong những chính sách đó là chính sách ruộng đất hết sức phản động.Việc triển khai chính sách ruộng đất phản động của Mỹ- Diệm và Mỹ - Thiệu cùng với chủ trương đánh phá nông thôn về quân sự và chính trị của chúng đã gây ra rất nhiều khó khăn và tổn thất cho nhân dân miền Nam Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng ta, quân và dân ta đã giành thắng lợi

Việc nghiên cứu chính sách cải cách điền địa của chính quyền Sài Gòn và hệ quả của nó đối với xã hội miền Nam (1954-1975) sẽ góp phần vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn thâm độc và hậu quả của nó đối với nông thôn miền Nam là một việc làm cần thiết, chẳng những có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn Bởi vì việc phát triển nông thôn luôn luôn được Đảng ta rất coi trọng, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Như tình hình hiện nay ở nông thôn miền Nam vẫn còn tồn tại những khó khăn, yếu kém, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn nhiều vấn đề như: trình độ dân trí thấp, tình trạng nghèo nàn, lạc hậu trong nông thôn còn khá phổ biến Qua đó cho thấy vấn

Trang 6

đề nông thôn ở thời kỳ nào cũng cần được coi trọng trong việc phát triển kinh tế của cả nước

Tuy nhiên đây là một vấn đề lớn và phức tạp, đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu, nhiều tư liệu chính xác về tình hình ruộng đất ở miền Nam trước giải phóng Do trình độ và tư liệu có hạn, chúng tôi mới chỉ xem đây

là bước đầu tìm hiểu vấn đề này

2 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ các lý do thực tiễn và khoa học nêu trên, đề tài “Chính sách cải cách điền địa của chính quyền Sài gòn và hệ quả của nó đối với xã hội miền Nam (1954-1975)” mà chúng tôi nghiên cứu nhằm các mục đích sau đây:

- Làm rõ tính chất phản động của Mỹ -Ngụy nhằm giành giật nông thôn và nông dân với cách mạng

- Đánh giá đúng thực chất cái gọi là “cải cách điền địa” của Mỹ- Ngụy để rút ra những kết luận đúng đắn là việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay

- Nêu lên những hệ quả của chính sách cải cách điền địa của Mỹ - Ngụy đối với xã hội miền Nam

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Vấn đề ruộng đất ở nước ta và ở miền Nam từ lâu đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, cả về phía ta cũng như phía

Mỹ và chính quyền Sài Gòn Có thể phân chia các công trình nghiên cứu đó theo hai giai đoạn lớn: trước và sau 1975

a Trước 1975

* Các công trình nghiên cứu ở miền Bắc:

Trước năm 1975, hầu hết các công trình của giới nghiên cứu miền Bắc đều nghiên cứu tình hình sở hữu ruộng đất và giai cấp nông thôn miền

Trang 7

Nam nói chung, đương nhiên trong đó có đề cập đến vấn đề ruộng đất và giai cấp ở nông thôn Nam Bộ Tuy nhiên các công trình mới chỉ dừng lại ở thời điểm những năm 1960

Đáng chú ý là một số công trình chuyên khảo của các nhà nghiên cứu

như:Về cái gọi là cải cách điền địa ở miền Nam Việt Nam - Tạp chí Nghiên cứu kinh tế các số 21, 22, và 24 – 1964; Nguyễn Phong – Hoàng Linh: Vấn

đề nông dân ở miền Nam Việt Nam – Nxb Sự Thật, H 1962; Trần Hàm

Luông: Những chuyển biến kinh tế của nền nông nghiệp vùng giải phóng

miền Nam - Tạp chí NCKT, số 39 – 1967; Nguyễn Thu Sơn: Sản xuất lúa gạo ở miền Nam dưới thời Mỹ - Nguỵ - Tạp chí NCKT, số 39 – 1967; Trần

Phương (Chủ biên): Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã

hội, H 1968 v.v…Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu khác như ở

bộ sách nhiều tập: Miền nam giữ vững Thành Đồng của Giáo sư Trần Văn

Giàu (tập I, Nxb Khoa học, H 1964) Một vài nét về quá trình xâm nhập của đế quốc Mỹ vào Việt Nam của Phạm Thành Vinh (Nxb Sự thật, H

1958), Tình hình kinh tế miền Nam Việt Nam của Bộ Ngoại thương Việt

Nam Dân chủ cộng hoà (Hà Nội, 1969)

Các công trình nói trên đều tập trung phê phán chính sách ruộng đất của Ngô Đình Diệm, đồng thời làm rõ cách mạng ruộng đất dưới sự lãnh đạo của Đảng ta từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến những năm đầu của thập kỷ 60

* Các công trình nghiên cứu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn:

+ Giai đoạn 1955-1965:

Có một số công trình đáng chú ý như: Nghiên cứu về những điều

kiện sinh sống và nhu cầu của dân cư Việt Nam; Nghiên cứu về khả năng

và điều kiện phát triển của Việt Nam do Ngân hàng Quốc gia xuất bản tại

Sài Gòn, 1959 và Nghiên cứu một số yếu tố nhân văn trong cuộc phát triển

Trang 8

Việt Nam của Phái bộ “kinh tế học và chủ nghĩa nhân đạo” (Mỹ) do Ngân

hàng Quốc gia xuất bản tại Sài Gòn, 1959; Một số công trình nghiên cứu của Phái đoàn cố vấn Đại học tiểu bang Michigan Phái đoàn này hoạt động tại miền Nam trong 7 năm (1955-1962), xuất bản tới 156 công trình, trong

đó có những công trình đáng chú ý: Cuộc nghiên cứu một cộng đồng thôn

xã Việt Nam của James B Hendry, Sài Gòn, 1959; Nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam - Phần Xã hội học của Gerald Hickey, Sài Gòn,

1960; Nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam - Phần hoạt động hành chính của Lioyd W Woodruff, Sài Gòn,1960; Mỹ Thuận: Một làng thuộc

ĐBSCL ở miền Nam Việt Nam của John Donoghue, Sài Gòn, 1961; Định cư tại nông thôn Việt Nam - Một khu trù mật đang phát triển của Joneph J

Zasloff, Sài Gòn, 1962 Công trình đáng chú ý nhất đó là: Triển vọng phát

triển kinh tế ở Việt Nam do một phái đoàn gồm 22 người thực hiện dưới

danh nghĩa Liên Hợp Quốc, đứng đầu là Cater Goodrich (Mỹ), xuất bản tại New York, tháng 8 – 1956

Tất cả các công trình trong giai đoạn này đều phê phán chế độ sở hữu ruộng đất đại điền chủ và chế độ tá canh

+ Giai đoạn 1965-1975:

Đáng chú ý nhất trong hàng loạt các công trình nghiên cứu giai đoạn

này là: Điều nghiên theo mẫu về chi tiêu và thu nhập ở nông thôn (Robert

H Stroup – USOM Sài Gòn – Chi vụ hoạch định kinh tế và tài chính,

tháng 7 – 1965); Sản xuất và kinh doanh lúa gạo tại Việt Nam (Lưu Mậu Thành- Sài Gòn, Nhóm kế hoạch hậu chiến, tháng 9-1967); Cải cách ruộng

đất ở Việt Nam (Viện nghiên cứu Stanford, Manlo Park, SRI, 1968); Chương trình phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long (Công ty tài

nguyên và phát triển, Nhóm Lilienthal – Vũ Quốc Thúc Sacramento,

California, DRC, 1969); Kinh tế học về sự nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu

Trang 9

Long (Robert L Sansom, Cambridge, Mass, Tu thư đại học MIT, 1970); Phúc trình về việc điều nghiên kinh tế, xã hội ở Cái Sắn, Việt Nam (Trường

đại học Cần Thơ, 1971); Tác dụng chính trị, xã hội và kinh tế của chương

trình người cày có ruộng (C Stuart Cellison - Tập san Kinh tế, tập 2, số 1

tháng 3-1972)

Hầu hết các công trình đều phê phán tính chất nửa vời và phản động của cái gọi là “cải cách điền địa” của Ngô Đình Diệm

+ Từ năm 1975 đến nay

Trong hàng loạt các công trình nghiên cứu sau năm 1975 đã được

công bố, đáng chú ý nhất là các công trình sau đây: Một số vấn đề khoa học

xã hội về Đồng bằng sông Cửu Long của Viện Khoa học xã hội tại Thành

Phố Hồ Chí Minh (Nxb Khoa học xã hội, H 1982); Cách mạng ruộng đất

ở miền Nam Việt Nam của Lâm Quang Huyên (Nxb Khoa học xã hội, H

1985); Vài nét về cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội ở nông thôn miền Nam

trước giải phóng của Cao Văn Lượng (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2,

1981); Tầng lớp trung nông ở đồng bằng Nam Bộ trước giải phóng của Nguyễn Văn Nhật (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 1 – 1981; Về tình hình

sở hữu ruộng đất, máy móc và cơ cấu các tầng lớp xã hội ở nông thôn Nam

Bộ của Hồng Giao (Tạp chí cộng sản, số 1, 1979); Những vấn đề công tác cải tạo và xây dựng nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam của Nguyễn Trần

Trọng (Nxb Nông nghiệp H, 1980); Chủ nghĩa thực dân mới và vấn đề sở

hữu ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long của Trần Thị Bích Ngọc (Tạp

chí Nghiên cứu Lịch sử số 2 -1986); Đồng bằng sông Cửu Long của Phan Quang (Nxb Văn hoá, H 1981); Đồng bằng sông Cửu Long 40 năm của

Trần Bạch Đằng (Báo Nhân dân, số ra từ ngày 9-9-1985 đến ngày

15-9-1985); Quá trình trung nông hoá nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long

của Trần Hữu Đính (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4-1991)

Trang 10

Các công trình nghiên cứu đều đi sâu phân tích nguyên nhân và quá trình biến đổi về sở hữu ruộng đất và cơ cấu giai cấp ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), phê phán chính sách ruộng đất phản động của chính quyền Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, khẳng định kết quả của quá trình thực hiện cách mạng ruộng đất của Đảng Cộng sản Việt Nam,

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

* Phương pháp nghiên cứu:

Để nghiên cứu thành công đề tài này, luận văn được thực hiện trên cơ

sở vận dụng những quan điểm phương pháp luận Mác – Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh Các phương pháp cụ thể là: phương pháp lịch sử, phương pháp logic Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như: phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu để thực hiện đề tài

* Nguồn tài liệu:

- Luận án và sách của Giáo sư Lâm Quang Huyên.Cách mạng ruộng

đất ở miền Nam Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954-1975); Vấn

đề ruộng đất ở Việt Nam

- Sách và các bài báo của tác giả Cao Văn Lượng Nhìn lại việc

nghiên cứu vấn đề ruộng đất và nông dân ở miền Nam từ Cách mạng tháng Tám đến nay, Chính sách ruộng đất của Mỹ- Ngụy, Tìm hiểu phong trào Đồng Khởi ở miền Nam Việt Nam Nguyễn Ngọc Minh Kinh tế Việt Nam

từ Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi 1945-1954 Nxb Khoa

học 1966

- Phạm Quang Toàn Hậu quả 20 năm “bình định nông thôn” tàn

bạo và thâm độc của Mỹ – Ngụy đối với nông thôn miền Nam Việt Nam

Trang 11

- Trần Phương Về cái gọi là cải cách điền địa ở miền Nam Nghiên

cứu kinh tế, số 21,22,24

- Một số tài liệu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn: Báo cáo phúc trình

khảo sát của viện Stanford Mỹ (SRI) năm 1967, phần trích dịch của Ban

Kinh Tài miền Nam, Một số văn kiện về Vấn đề ruộng đất của Ngụy quyền Sài Gòn đăng trong “Công báo Việt Nam Cộng hòa”

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học liên quan đến chính sách cải cách điền địa của chính quyền Sài Gòn, cũng như một số công trình luận văn, luận án và một số sách, báo, bài viết liên quan đến đề tài

5 Những đóng góp của luận văn

- Qua việc lựa chọn, tổng hợp một khối lượng lớn tài liệu xuất phát

từ nhiều nguồn khác nhau, luận văn có khả năng cung cấp những thông tin khoa học lịch sử có giá trị và đáng tin cậy cho việc nghiên cứu về “chính sách cải cách điền địa của chế độ Sài Gòn”

- Luận văn đã phác họa được toàn cảnh lịch sử của “chính sách cải cách điền địa của chính quyền Sài Gòn” thời kỳ Mỹ - Diệm và Mỹ - Thiệu

ở những nét cơ bản nhất

- Những phân tích, kiến giải của luận văn đều thể hiện tính nghiêm túc, khoa học và do đó nó mang ý nghĩa nhất định về mặt khoa học và thực tiễn Với những phân tích và kiến giải đó, luận văn hy vọng sẽ đóng góp một phần nào đó vào công cuộc nghiên cứu khoa học về “chính sách cải cách điền địa của chế độ Sài Gòn và hệ quả của nó đối với xã hội miền Nam thời kỳ (1954-1975)”

6 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của đề tài

Vấn đề ruộng đất ở miền Nam là sự tiếp tục cuộc cách mạng ruộng đất được tiến hành từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) và hoàn thành trên

Trang 12

miền Bắc vào năm 1957 Cách mạng ruộng đất ở miền Nam được tiến hành trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và là một quá trình đấu tranh gay go quyết liệt, gian khổ, chống lại những chính sách ruộng đất phản động của Mỹ- Ngụy để bảo vệ những thành quả của cách mạng ruộng đất sau Cách mạng tháng Tám (1945) ở miền Nam và tiếp tục nhiệm vụ của cách mạng ruộng đất trong các vùng giải phóng và căn cứ

Trong đề tài này chúng tôi đặt ra nhiệm vụ :

- Đề tài nghiên cứu trong không gian miền Nam Việt Nam và thời gian từ 1954-1975

- Vạch trần bản chất phản động, tính chất thực dân mới của chính sách ruộng đất của Mỹ- Ngụy

- Phân tích hệ quả của nó đối với xã hội miền Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần Dẫn luận , Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục luận văn bao gồm 3 chương:

Chương I: Âm mưu, chính sách của đế quốc Mỹ và chính quyền

tay sai đối với miền Nam Việt Nam

Chương II:Chính sách ruộng đất phản động của Mỹ ngụy đối với nông thôn miền Nam Việt Nam

Chương III: Tình hình miền Nam dưới thời Mỹ - Ngụy và thắng lợi của cách mạng miền Nam

Trang 13

Nhưng chủ nghĩa thực dân mới là sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc cho nên dù có đổi mới hình thức xâm lược, dù có nguỵ trang phương pháp bóc lột nhằm chiếm đoạt lợi nhuận độc quyền cao, bản chất của chủ nghĩa thực dân mới vẫn là áp bức bóc lột nhân dân lao động các nước thuộc địa

và phụ thuộc bằng cách nô dịch các nước này về kinh tế và cả chính trị

Khi can thiệp vào miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ vấp phải một

Trang 14

thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám và chiến thắng thực dân Pháp Đại

đa số dân tộc ấy là nông dân đã được hưởng quyền làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn Do đó mà trong suốt hơn 20 năm can thiệp và xâm lược miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ và Nguỵ quyền tay sai luôn luôn thi hành chính sách “bình định nông thôn” Đây là chính sách bao trùm lên các chính sách ở nông thôn để chống lại phong trào độc lập dân tộc và xu thế đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta Đế quốc Mỹ coi chính sách “bình định nông thôn” là khâu mấu chốt để chống chiến tranh cách mạng, chống

sự nổi dậy của quần chúng Theo chúng đây là biện pháp tổng hợp các mặt hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá… nhằm rất nhiều mục tiêu, chủ yếu là “tiêu diệt cơ sở hạ tầng của cách mạng” mà chúng cho là đầu mối của mọi nguy cơ, để giành dân và khống chế chặt chẽ nhân dân mà theo chúng là nguồn gốc của mọi thành công

“Bình định nông thôn” là biểu hiện tập trung của chính sách thực dân mới, là một thủ đoạn chiến lược của Mỹ ở miền Nam nhằm đánh phá cách mạng một cách toàn diện: thực chất đó là một cuộc chiến tranh xâm lược cực kỳ tàn bạo của Mỹ ở nông thôn miền Nam

Như chúng ta đều biết thì trong ba địa bàn hoạt động ở miền Nam: thành thị, nông thôn và rừng núi, địa bàn mà chủ nghĩa thực dân mới Mỹ phải tập trung đối phó dai dẳng nhất, ác liệt nhất, khó khăn nhất đó là nông thôn

Để thực hiện biện pháp trên Mỹ đã phái những chuyên gia sừng sỏ như: Lenxdên, Latdinxki, Cômơ, Tômxơn sang miền Nam Việt Nam giúp cho ngụy quyền Sài Gòn thực hiện kế hoạch “bình định” này

Cô – mơ (Komer), trùm cố vấn của Nguyễn Văn Thiệu về “bình định

nông thôn” đã giải thích chính sách này là: “Nhằm đối phó với tình trạng

nổi loạn ở nông thôn, làm cho cuộc nổi loạn đó bị mất cơ sở quần chúng,

Trang 15

để giam lỏng nông dân xung quanh các đồn bốt, căn cứ quân sự, dọc đường giao thông, nhằm cắt đứt mọi quan hệ giữa quần chúng với cách mạng”

Báo “Cách mạng quốc gia” (số 191 năm 1959)- cơ quan ngôn luận chính thức của chính quyền Diệm – đã nhấn mạnh “an ninh nông thôn là

vấn đề sống chết của chế độ cộng hòa”, là “vấn đề khẩn thiết phải giải quyết gấp đứng đầu các công cuộc khác”

“Kiểm soát được nông thôn, ta sẽ chiến thắng cuộc chiến tranh này

Mất nông thôn, ta sẽ mất tất cả Nông thôn quyết định chiến trường”

Thủ đoạn cơ bản của Mỹ - Ngụy để tiến hành “bình định nông thôn”

là bạo lực phản cách mạng Bom đạn và chất độc hóa học của Mỹ được trút xuống nông thôn miền Nam Việt Nam với mật độ dày đặc là những phương tiện đã được dùng để phục vụ trực tiếp các chiến dịch “bình định”

Chỉ tính năm 1966 đến tháng 4/1971, theo phúc trình của Trường Đại học Cornell, người Mỹ đã dội xuống Việt Nam 3.600.000 tấn bom (cho đến chiến tranh kết thúc là 7.850.000 tấn), rải cả trăm triệu cân Anh chất độc hóa học phá hoại 5 triệu rưỡi mẫu Anh rừng rậm và đồng bằng, dù đó là nguồn sống của bao nhiêu con người và sinh vật…

Và cũng theo bản phúc trình của trường này thì trong quãng thời gian

kể trên, con số thường dân thương vong ở Việt Nam ước tính là 1.050.000 (kể cả 325.000 người thiệt mạng), đó là chưa kể đến trên 6 triệu người, tức 1/3 dân số đã trở thành những người dân “tỵ nạn” [76, tr 8] Bên cạnh những biện pháp quân sự, chính trị, Mỹ - Ngụy còn sử dụng cả những thủ đoạn về kinh tế

Trong những biện pháp kinh tế - kỹ thuật yểm trợ cho chính sách

“bình định nông thôn”, đáng chú ý trước hết là những biện pháp yểm trợ về tài chính của Ngụy quyền Sài Gòn nhằm buộc nông dân phát triển sản xuất

Trang 16

Ngày 1-4-1957, chúng ký sắc lệnh số 57 thành lập Quốc gia nông tìn cuộc

Qua 10 năm hoạt động, xét thấy Quốc gia Nông tín cuộc cho vay có tính

chất “cứu tế xã hội” hơn là phát triển sản xuất, ngày 31-1-1967, Nguyễn Văn Thiệu ký sắc lệnh bãi bỏ Quốc gia Nông tín cuộc và thành lập Ngân

hàng phát triển nông nghiệp Ngoài số vốn 200 triệu đồng có sẳn khi thành

lập, Ngân hàng phát triển nông nghiệp còn được ngụy quyền Sài Gòn giao cho một tỷ đồng để nhập phân bón, một ngân hàng Tây Đức ủy quyền một

ngân khoản 225 triệu đồng cho vay để “cơ giới hóa nông nghiệp” chưa kể

tài trợ của Ngân hàng phát triển quốc tế…

Đến cuối tháng 8-1969, hệ thống Ngân hàng nông thôn của tư nhân

được thành lập do “Ngân hàng phát triển nông nghiệp” hướng dẫn và kiểm

soát Đến năm 1973, đã có 60 Ngân hàng nông thôn ở các quận Lãi suất cho vay cao hơn “Ngân hàng phát triển nông nghiệp” (14 và 18% so với 6-12%)

Từ năm 1966, các giống lúa mới có năng suất cao được đưa vào miền Nam, đồng thời với việc nhập khẩu phân bón hóa học và máy móc nông nghiệp các loại

Năm 1971 có 61 công ty nhập cảng phân bón, 7 nhà máy pha trộn hỗn hợp và 10 công ty sản xuất hóa chất bảo vệ mùa màng Số phân nhập tăng nhanh từ 80.932 tấn năm 1958 lên 420.000 tấn năm 1973

Từ năm 1968-1974, Mỹ - Ngụy đã đưa vào nông thôn miền Nam 186.800 máy các loại với tổng công suất 1.300.000 sức ngựa Số máy cày được nhập vào khoảng 20.000 chiếc, trong đó có 12.000 máy cày tay, ngoài

ra còn một số máy gặt, máy xay, máy cắt cỏ…Đi theo máy là xăng dầu, phụ tùng thay thế, cơ sở sửa chữa

Trang 17

Các chương trình “bình định nông thôn” của Mỹ - Ngụy, dù tàn bạo

và thâm độc đến đâu, vẫn bị quần chúng nhân dân chống đối hết sức quyết liệt

Nhận xét về kết quả “bình định nông thôn”, ngay từ tháng 1 năm

1967, Pitơ Ácnét, phóng viên hãng AP của Mỹ đã vạch rõ: “Lịch sử bình

định nông thôn ở Miền Nam là một bảng kê những kế hoạch to lớn bị sụp

đổ, những nghị lực vô hạn của các cố vấn có tài năng tan thành mây khói ”

1.2 “BÌNH ĐỊNH” MỘT THỦ ĐOẠN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẾ QUỐC MỸ ĐỂ XÂM LƯỢC NÔNG THÔN MIỀN NAM

“Bình định” nông thôn là một biểu hiện tập trung của chính sách thực dân mới, là thủ đoạn chiến lược của Mỹ ở miền Nam nhằm đánh phá cách mạng một cách toàn diện, thực chất là một cuộc chiến tranh cực kỳ tàn bạo của đế quốc Mỹ trong suốt quá trình xâm lược miền Nam Việt Nam

Ngay khi hất cẳng Pháp nhảy vào Đông Dương đế quốc Mỹ đã chú trọng đến việc thực hiện chính sách “bình định” ở đây, bằng việc cử Edward Lansdale, người đã thắng lợi trong việc “bình định” ở Philippin, người dọn con đường chính trị cho Ngô Đình Diệm, một chuyên gia về chống nổi dậy đến Nam Việt Nam làm cố vấn “bình định” đầu tiên bên cạnh tổng thống ngụy quyền Nhiệm vụ của “bình định” lúc này là tranh thủ lôi kéo và tổ chức, khống chế kìm kẹp nhân dân dưới mọi hình thức, nhằm làm suy yếu lực lượng cách mạng và giữ ổn định cho chế độ tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam

Từ năm 1954 đến 1968, Mỹ đã lần lượt thực hiện cuộc chiến tranh một phía, chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến lược chiến tranh cục bộ

Mỹ liên tục thay đổi chiến lược chiến tranh để tăng cường, mở rộng và leo

Trang 18

thang chiến tranh, nhằm mục tiêu chống phá cách mạng, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam

Đầu tiên là chương trình “tố cộng, diệt cộng”, ra đời ngày 7-7-1955, khi chính quyền Ngô Đình Diệm vừa tròn một năm chấp chính Chương trình này nhằm vào : cán bộ cộng sản, cán bộ kháng chiến có tham gia chính quyền cách mạng, gia đình có người đi tập kết, gia đình có liên quan đến cách mạng Phương châm “Tố cộng” là đánh triệt để , đánh lâu dài, đánh từng bước, tiêu diệt cộng sản không thương tiếc, tiêu diệt như trong tình trạng chiến tranh, tiêu diệt cả về con người, cả về tổ chức, cả về tư tưởng, thà giết lầm còn hơn bỏ sót, tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm, đạp lên oán thù Hệ thống chỉ đạo “Tố cộng, diệt cộng” khá chặt chẽ, địch cho

tổ chức cùng lúc nhiều hoạt động như: phân loại công dân (làm ba loại: hợp pháp, nửa hợp pháp, bất hợp pháp), càn quét khủng bố lùng sục, tổ chức học tập tố cộng, tổ chức ly khai đầu thú, xé cờ, tổ chức khai báo, tố cáo, tổ chức trại cải huấn…Để tạo thuận lợi cho những hoạt động đó, chính quyền ngụy đưa ra nhiều sắc lệnh, đạo dụ, như: Đạo dụ số 06 ngày 11 tháng 1 năm 1956 cho phép bắt bất cứ ai xét thấy nguy hiểm cho an ninh quốc gia; Sắc lệnh 5/57 đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật

Kết hợp với chương trình “Tố cộng”, từ năm 1955 đến 1959 chính quyền Diệm cũng đồng thời đưa ra các chương trình về kinh tế - xã hội, như: “Cải cách điền địa” (tháng 2 năm 1955), lập khu đồn điền, trại tập trung và đặc biệt là xây dựng các “Dinh điền” (1957-1958), “Khu trù mật” (1959-1960) Bằng những hình thức đó chính quyền Diệm muốn sử dụng các vấn đề điền địa, tổ chức chính trị, khai hoang lập ấp, định cư, đồng tiến

xã hội để giành lấy người dân và đẩy lùi ảnh hưởng của cách mạng trong nhân dân ở miền Nam

Trang 19

Từ giữa năm 1961, Mỹ - Ngụy bắt đầu triển khai ở miền Nam chiến lược “Chiến tranh dưới mức hạn chế, chiến tranh lật đổ, chiến tranh đặc biệt” Kế hoạch ba giai đoạn được bắt đầu với giai đoạn một là “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng, biện pháp chủ yếu nhất là gom dân lập Ấp chiến lược, thực hiện “tát nước bắt cá”

Mỹ đã đề ra yêu cầu lập Ấp chiến lược là:

- Đưa cuộc cách mạng tiến sâu vào nông thôn: + phát triển các thành quả đã thu lượm được trong cuộc cách mạng toàn quốc và toàn diện, + Đưa cuộc cách mạng tới hạ tầng cơ sở của quốc gia, + Thực hiện mục tiêu của cách mạng ở ngay nơi mà dân chúng cư ngụ và sinh hoạt

- Tiêu diệt kẻ thù tận gốc: + Chiến thắng Cộng sản ở ngay địa bàn hoạt động chính của chúng là nông thôn; + Tiêu diệt được tình trạng lạc hậu về sinh hoạt tinh thần và vật chất ở đơn vị căn bản của cộng đồng quốc gia; + Đánh tan những độc tố tai hại do thực dân, phong kiến và cộng sản gieo rắc còn lại ở lớp người đông đảo và căn bản của quốc gia

- Hoàn thành cơ sở hạ tầng của chế độ: + Phá vỡ tập quán cũ phản tiến bộ để khai nguyên một nền nếp sinh hoạt với một nhân sinh quan, một giá trị thích hợp với thời đại mới; + Tập trung đầy đủ các điều kiện vật chất

và tinh thần để tạo cho mọi người cơ hội đồng đều phát triển tài lực, tận dụng sáng kiến trong công cuộc xây dựng và bảo vệ thành quả chung; + Làm cho người dân nhìn thấy qua các thực hiện cụ thể của xã thôn, hình ảnh các hiện thực vĩ đại trong phong vị quốc gia rộng lớn, từ đó gây cho

họ có ý thức trách nhiệm trong bảo vệ và phát triển những thành quả đã thu lượm được [68, tr 30]

Mục tiêu tối hậu của địch là vấn đề quân sự, ưu tiên và cấp bách của

Ấp chiến lược là vãn hồi và bảo đảm an ninh trật tự tại nông thôn Ấp chiến lược được hiểu là một biện pháp chủ yếu tiến hành chiến tranh tổng lực trên

Trang 20

nhiều mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý, gián điệp…Như vậy chúng xây dựng Ấp chiến lược là xây dựng một xã hội thu hẹp- tế bào của quốc gia, là xây dựng những pháo đại chống cộng Tiêu chuẩn mà địch đề ra cho một Ấp chiến lược là loại trừ được du kích, phân loại được quần chúng, hoàn thành hệ thống phòng thủ, xây dựng được lực lượng Thanh niên chiến đấu, bầu được ban trị sự ấp

Trọng điểm của Ấp chiến lược là các tỉnh quanh Sài Gòn và vùng bản lề ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trong thực tế, hệ thống Ấp chiến lược của địch được xây dựng ồ ạt

từ giữa năm 1962 Đến cuối năm 1962, trên toàn miền Nam địch đã lập được 3.225 ấp, gom được khoảng 33,3% dân Đến ngày 11/4/1963, địch đã hoàn thành 5.917 ấp chiến lược, gom giữ được 8.150.187 người dân (chiếm 59% trong tổng số 11.813.066 dân toàn miền Nam) Đây là giai đoạn phát triển nhanh nhất và khả quan nhất của toàn bộ chương trình Ấp chiến lược trong chiến tranh đặc biệt Trong giai đoạn đó ở Nam Bộ, địch đã hoàn thành 2.896 ấp (đạt 48,46% trong kế hoạch 5.976 ấp) gom được 4.912.315 người dân (chiếm 55,07% trong tổng số dân 8.920.038 người) Ngoài ra còn có 2.259 ấp đang xây dựng và sẽ hoàn thành vào khoảng tháng 8 năm

1963 So với Khu 5 và Tây Nguyên, dân số Nam Bộ đông hơn (8.920.038/4.893.028) người) nhưng số ấp dự kiến chênh lệch nhau không quá nhiều (Nam Bộ = 5.796 ấp, Khu 5 + Tây Nguyên = 5.167 ấp) Tuy vậy

số Ấp chiến lược đã hoàn thành ở Nam Bộ lại ít hơn so với vùng ngoài (2.896 ấp/3.021 ấp) Ở mười tình của miền Đông Nam Bộ địch lập được 1.809/4.206 ấp và gom giữ được 2.605.917/5.658.989 dân; ở 13 tỉnh của miền Tây Nam Bộ địch lập được 1.809/4.206 ấp và gom giữ được 2.605.917/5.658.989 dân; quanh Sài Gòn – Gia Định địch đã lập được 285/430 ấp và gom giữ 974.192/1.275.000 dân Theo đó đến cuối năm

Trang 21

1963, trên toàn miền Nam, địch đã lập được 8.544 ấp và kiểm soát 85% dân số [35, tr 27]

Sau cuộc đảo chính lật đổ Diệm – Nhu tháng 11-1963, chế độ ngụy ở miền Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng Trước tình hình mặt trận “bình định” bị bỏ ngõ, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ (người duy nhất trong số những người đứng đầu chính phủ ngụy thay lên đổi xuống giai đoạn này),

đã nhận thấy phải tiếp tục “bình định”, bằng việc cải danh chương trình “ấp chiến lược” cho bớt cảm giác thô bạo thành chương trình “Ấp tân sinh”

Tuy nhiên Ấp tân sinh không cải thiện được sự phá sản của “quốc sách Ấp chiến lược”, bởi chúng không khác Ấp chiến lược, kể cả nội dung, hình thức, biện pháp thực hiện, mục tiêu Đầu năm 1964 địch kiểm soát 4.672 ấp, cuối năm 1964 còn 3.300 ấp, đầu năm 1965 chỉ còn 2.200 ấp đến cuối năm 1963 có khoảng 4.000 ấp, đầu năm 1965 chỉ còn 2.900 ấp Số dân trong vùng địch kiểm soát tháng 8 năm 1965 tụt xuống còn 5.3000.000 người Địch thú nhận trên phạm vi toàn miền Nam có 67% đất đai nằm dưới quyền kiểm soát của Việt Cộng Chương trình Ấp tân sinh được đánh giá là “không đi đến đâu, nhất là không đề cập nhiều đến vấn đề an ninh vãn hồi, chính quyền chỉ làm cho có làm, nên chương trình bình định ngày càng trở nên suy đồi Số ấp xây được giảm nhanh chóng và dân số kiểm soát đi từ sụt giảm đến không kiểm soát được nữa” [38, tr 49]

Nửa đầu năm 1965, Mỹ ồ ạt đổ quân viễn chinh vào miền Nam, mở những cuộc phản công chiến lược nhằm ngăn chặn chiều hướng thất bại Phương châm thực hiện “bình định” được điều chỉnh ồ ạt trên toàn miền Nam chuyển sang thí điểm và mở rộng dần Từ cuối năm 1965 địch chọn bốn trọng điểm tập trung bình định là: quanh Đà Nẵng, tỉnh Bình Định, quanh Sài Gòn, tỉnh An Giang, trong đó Bình Định được ưu tiên số một Hệ thống “bình định” được hoàn thiện thêm một bước, Mỹ giao cho Ngụy tập

Trang 22

trung chủ yếu vào “bình định” Quân ngụy được tăng cường mọi mặt và được quân đội viễn chinh Mỹ, chư hầu hỗ trợ để làm lực lượng nòng cốt cho các hoạt động “bình định” Phương thức “bình định” vẫn giữ biện pháp như trước đây là mở các cuộc hành quân càn quét để đánh phá lực lượng chính trị và vũ trang của cách mạng, dồn dân, di dân tập trung về các quận

lỵ và quanh các căn cứ quân sự, các trục giao thông chiến lược

Tiếp đó vào tháng 10/1966 tại Manila (Philippin), bảy nước đồng minh của Mỹ ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đã nhóm họp, nhằm giúp cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam tìm ra phương thức “bình định” Kết quả là một chương trình “Xây dựng nông thôn mới” được áp dụng ngay từ cuối năm 1966, mở đầu việc xây dựng

“Ấp đời mới”

Dù còn sơ khởi, nhưng chương trình “Xây dựng nông thôn mới” là một bước tiến quan trọng trong vấn đề “bình định” giành dân Những mục tiêu sau đây của chương trình cho thấy Mỹ, Ngụy đang có những bước tiến trong nhận thức và hành động Chúng đề ra: “Tiêu diệt cộng sản nằm vùng – Tiêu diệt cường hào ác bá – Xóa bỏ hận thù, xây dựng một tinh thần mới

- Tổ chức các cơ sở dân chủ nhân dân và hành chánh - tổ chức nhân dân đấu tranh chống Việt Cộng – Thanh toán nạn mù chữ - Tấn công bệnh tật - Cải cách ruộng đất – Phát triển công nghiệp và tiểu công nghệ - Phát triển

hệ thống giao thông liên lạc…” Chúng đề ra bốn tư tưởng chỉ đạo, 98 bước thực hiện, bảy kỹ thuật công tác để tiến hành “bình định”, tuy rối rắm nhưng chứa đựng nhiều nội dung mới của quan niệm “bình định giành dân”

Mùa khô 1966-1967, tiếp tục phản công chiến lược ở miền Nam, Mỹ đưa “bình định” lên ngang hàng với nhiệm vụ tìm diệt, thực hiện chiến thuật “Hai gọng kìm”, để tiêu diệt Quân giải phóng và cơ quan đầu não

Trang 23

kháng chiến, vừa đẩy mạnh “bình định” tiêu diệt lực lượng cơ sở hạ tầng, củng cố hạ tầng cơ sở của chế độ ngụy

Đi đôi với thủ đoạn đó, Mỹ ngụy cũng tích cực “Tranh thủ trái tim khối óc quần chúng” ở vùng tạm chiếm bằng các biện pháp: tung tiền ra xây trường học, trạm phát điện ở nông thôn…ra sức bành trướng bộ máy chính quyền ở cơ sở, củng cố chính quyền ngụy ở trung ương Đặc biệt là công tác chiêu hồi, chiêu hàng được quan tâm với cái gọi là “chính sách hòa hợp dân tộc” Hệ thống chỉ đạo “bình định” cũng thay đổi: Hội đồng xây dựng nông thôn cải tổ thành “Hội đồng bình định phát triển trung ương”, bên cạnh hội đồng này có “Trung tâm điều hợp bình định phát triển” làm nhiệm vụ một Ủy ban trường trực của hội đồng, Bộ xây dựng nông thôn đổi thành Bộ phát triển nông thôn…Cơ quan hỗn hợp Việt - Mỹ chuyên trách về “bình định” cũng ra đời nhằm tạo sự thống nhất hành động Như vậy “bình định” đã trở thành một bộ phận quan trọng hàng đầu trong toàn bộ hoạt động chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam

2.2 CÁC CHÍNH SÁCH CỦA MỸ - DIỆM ĐỐI VỚI NÔNG DÂN MIỀN NAM

2.2.1 Chính sách “chống cộng”, “tố cộng”, đàn áp khủng bố

“Chống cộng” là quốc sách của Mỹ - Diệm Núp dưới chiêu bài

“chống cộng”, đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm âm mưu thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo đối với những người kháng chiến cũ, những người yêu nước, các đoàn thể dân chủ, những người không ăn ý với phe cánh của Diệm Thực chất của chính sách chống cộng là chống nhân dân

Ngay sau khi hòa bình lập lại (7-1954), trong thời gian chuyển quân tập kết, Mỹ - Diệm đã tiến hành các cuộc đàn áp, khủng bố đánh vào các lực lượng kháng chiến cũ Cuối năm 1954 Mỹ - Diệm tiến hành thí điểm

Trang 24

chiến dịch tố cộng, diệt cộng đầu tiên ở Quảng Nam, lấy tên là “chiến dịch

Phan Chu Trinh”, đồng thời Diệm gấp rút lập Phủ đặc ủy công dân vụ,

chuyên trách vấn đề chuẩn bị, theo dõi các chiến dịch tố cộng Bản thân Ngô Đình Diệm đứng ra làm chủ tịch danh dự “Hội đồng chỉ đạo tố cộng”,

tổ chức hơn 600 tên tâm lý chiến, gần 4000 tên cán bộ ác ôn, hơn một vạn tên ác ôn, và hơn một vạn cán bộ cơ sở ở huyện, xã để phục vụ công việc tố cộng

Từ tháng 6-1955, Mỹ - Diệm tiến hành một cách có tổ chức chiến dịch này với quy mô toàn miền Nam Từ giữa năm 1955 đến cuối 1958, qua nhiều chiến dịch tố cộng, nhân dân bị phân loại, bị khủng bố, tàn sát, bị cưỡng ép tập trung để học tập tố cộng Nhiều gia đình kháng chiến cũ, nhiều thân nhân, bè bạn của những người yêu nước, những người bị tình nghi là “có hại cho quốc gia” đều bị Mỹ - Diệm giam giữ, tra hỏi, bị nhục hình, hoặc bị giết hại Thực hiện chính sách khủng bố theo phương châm của chính quyền Diệm: “thà giết lầm còn hơn bỏ sót”, “tiêu diệt Việt cộng không thương tiếc”, “tiêu diệt như trong tình trạng chiến tranh”, bọn ác ôn

đã điên cuồng tàn sát đẫm máu nhân dân ta Chỉ kể từ tháng 7/1955 đến tháng 5/1956, chúng đã giam, giết hại 93.326 người

Trong các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, Mỹ - Diệm đã gây ra những

vụ tàn sát man rợ hàng loạt đồng bào ta Ở Chợ Được (Quảng Nam) tháng 9/1954, chính quyền Diệm đã chôn sống 21 đồng bào, ở Duy Xuyên (Quảng Nam) tháng 1/1955 địch bắt và dìm xuống sông 42 người, ở Hướng Điền (Quảng Trị) tháng 7/1955 địch gây ra vụ thảm sát lớn giết hại 92 người, ở quận Đại Lộc (1957) 5000 người bị giam giữ, đánh đập và giết hại, ở Phú Lợi (Thủ Dầu Một) tháng 12/1958, 5000 đồng bào yêu nước bị Diệm đầu độc, hơn 1000 người đã bị chết Hàng chục vạn nông dân miền Nam, trong đó có nhiều người kháng chiến cũ đã bị giam cầm, tra tấn bằng

Trang 25

những nhục hình man rợ trong các nhà tù theo kiểu phát xít, hoặc bị cưỡng bức vào các trại tập trung mà Mỹ - Diệm gọi là “trung tâm huấn chính”

Với mục đích “phát huy phong trào tố cộng, diệt cộng”, “tái lập an ninh trật tự”, chính quyền Mỹ - Diệm đã tổ chức những cuộc càn quét quy

mô của lực lượng vũ trang phối hợp với công an, cảnh sát, dân vệ vào các vùng nông thôn Từ 1955 đến 1959 có tới 30 chiến dịch càn quét lớn của quân đội ngụy và cố vấn Mỹ Trong các chiến dịch càn quét quy mô này, nhân dân đã bị khủng bố, đàn áp, bị bắt, bị giết hàng loạt

Sau đây là một vài số liệu mà Mỹ - Diệm đã công bố trong cuộc

“triển lãm” ngày 26-10-1958 ở Chợ Lớn nhân dịp “bốn năm chấp chính” của Diệm:

- Trong chiến dịch Nguyễn Huệ, từ 1-1-1956 đến 31-5-1956 ở vùng

U Minh Nam Bộ, quân đội Diệm đã giết 681 người, làm bị thương 63 người, bắt 1005 người

- Trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu, từ 6-1955 đến tháng 2-1957 ở Đồng Tháp Mười, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, địch đã giết

441 người, bắt 2117 người

- Trong chiến dịch Trương Tấn Bửu từ tháng 7/1956 đến tháng 12/1957, ở các vùng miền Đông Nam Bộ, Mỹ - Diệm đã giết 102 ngưới, bắt 882 người

Với các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, càn quét khủng bố, chính quyền Mỹ - Diệm đã gây ra những tội ác lớn đối với đồng bào nông thôn miền Nam

Từ cuối năm 1954 đến tháng 2/1959 chúng đã bắt giam 180 843 người, làm thương tật 10 185 người, giết 4 971 người

Rõ ràng chính sách chống cộng của Mỹ - Diệm là thủ đọan chính trị lừa bịp dùng để che đậy những âm mưu và hành động khủng bố, đàn áp

Trang 26

nhân dân miền Nam, những người yêu nước, những người kháng chiến cũ,

và những người tán thành hòa bình thống nhất Tổ quốc

2.2.2 Quốc sách “dinh điền”, “khu trù mật”

Cuộc phản công toàn diện của Mỹ - Diệm vào phong trào cách mạng

ở nông thôn miền Nam Việt Nam bằng các chính sách phản động đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình nông thôn miền Nam.Với chính sách “cải cách điền địa” thì ruộng đất ở miền Nam trở lại tập trung vào giai cấp địa chủ và hiển nhiên điều đó là khởi điểm của những thống khổ của nông dân Nhưng

sự khốn cùng của nông dân không phải chỉ do chính sách ruộng đất phản động nói trên gây ra, mặc dù chính sách ruộng đất đó đóng vai trò trọng yếu, mà nó còn do vô số những biện pháp khác về kinh tế cũng như về cưỡng bức và bạo lực của chính quyền Diệm đem thi hành cùng một lúc với cái gọi là “cải cách điền địa” đối với nông dân

“Dinh điền” là một loại đồn điền kiểu mới mang hai tính chất: cơ sở cho hậu cần, hay nói chính xác hơn là hệ thống cứ điểm quân sự trá hình

và đồng thời là cơ sở sản xuất cây công nghiệp cao su ki náp, cũng là một hình thức tập trung nông dân để kiểm soát và bóc lột Đó là nơi mà chủ nghĩa thực dân mới du nhập vào miền Nam và bỏ vốn vào kinh doanh Thực chất của “dinh điền” là nhằm những mục đích quân sự, chính trị, kinh

tế của chủ nghĩa thực dân mới.Từ năm 1957, Mỹ - Diệm thực hiện chính sách “dinh điền” và đặt nó lên hàng quốc sách.Theo như số liệu công khai thì từ tháng 4-1957 đến cuối năm 1960, chúng đã xây dựng được 146 địa điểm “dinh điền”, tập trung gần 20 vạn nông dân Mỹ đã viện trợ cho kế hoạch dinh điền 4 triệu đô-la và 417 triệu đồng miền Nam (đó là chưa kể số tiền mà chính quyền Diệm bỏ ra cũng khoảng thời gian đó là 750 triệu đồng miền Nam) Theo kế hoạch của Diệm, các vùng dinh điền thiết lập chủ yếu

ở Tây Nguyên , dọc biên giới Việt- Lào, Việt- Campuchia tới miền Đông

Trang 27

Nam Bộ, Đồng Tháp Mười, Cà Mau, những nơi có tầm quan trọng về chiến lược Với kế hoạch “dinh điền”, Mỹ-Ngụy âm mưu không những kiểm soát các vùng rừng núi, cao nguyên, biên giới, những căn cứ cách mạng xa xôi, vắng người, mà còn nhằm di chuyển những người kháng chiến cũ đến những địa điểm tập trung để tiện kiểm soát

Dân chúng trong “dinh điền” bị kiểm soát gắt gao Chung quanh dinh điền có hàng rào dây thép gai và công sự kiên cố

Kế hoạch “dinh điền” còn nhằm mục đích bóc lột sức lao động của nông dân và khai thác tài nguyên phong phú của miền Nam Cuối năm

1958, Công ty nông nghiệp Mỹ đã nắm 8 địa điểm dinh điền ở vùng Buôn

Mê Thuột, trực tiếp nắm quyền quản lý và điều hành trồng cao su vùng đất

tổ chức mua bán độc quyền Không những sản phẩm bị mua với giá rẻ, mà còn bị khấu trừ nhiều khoản, như trả nợ nông tín cuộc về tiền vay mua hạt giống và phân bón

Việc bắt dân rời bỏ ruộng vườn để thực hiện việc xây dựng các vùng dinh điền đã vấp phải sự phản kháng dữ dội Việc tiến hành dồn dân đến các địa điểm dinh điền trong lúc việc tước đoạt ruộng đất của nông dân đang diễn ra gay gắt Trong bầu không khí chính trị căng thẳng do chính sách cải cách điền địa gây ra thì chính quyền Diệm lại tung khẩu hiệu “tố cộng” nhằm đánh mạnh vào nông dân, và mở rộng những cuộc càn quét, đồng thời tăng cường thuế khoá tất cả những biện pháp đó nhằm mục đích

Trang 28

đẩy nông dân đến bước đường cùng, trong khi ấy thì Diệm cho nhiều đoàn

mộ phu về hoạt động ở nhiều tỉnh nhất là ở Nam Trung Bộ, để dụ nông dân đến khai thác vùng dinh điền Mặt khác đối với dân nghèo thành thị, Diệm

tổ chức đuổi nhà thậm chí đốt nhà lùa họ đi xây dựng dinh điền Kết hợp cưỡng bức, bạo lực với dụ dỗ, trong năm 1957, năm đầu tiên thiết lập các địa điểm dinh điền Diệm đã tập trung được khoảng 41.000 người vào các dinh điền, trong đó có 19.000 đồng bào ở Nam Trung Bộ vào trong 21 dinh điền Trong năm 1959 cùng với những biện pháp thâm độc nói trên Diệm bắt thêm 39.000 người và thành lập thêm 25 dinh điền Trong vòng 3 năm, chính quyền Diệm đã tập trung ngót 80.000 người vào 46 địa điểm dinh điền, trong đó có 44.000 đồng bào Nam Trung Bộ và trên 4.000 dân nghèo thành thị (Sài Gòn - Chợ Lớn) Theo báo chí ở miền Nam thì đến ngày 20-7-1961 chính quyền Diệm đã lập được 147 địa điểm với 207.472 người bị cưỡng bức đến Diện tích khai thác khoảng trên 87.000 ha, trong đó lúa chiếm 22.324ha, cao su 7.938ha, ki náp 5.944ha, sơn 1000ha, gai 1.009 ha, cây ăn quả 1.318 ha, với việc xây dựng hệ thống dinh điền thì “nặng về nhiệm vụ chiến lược chính trị”

Tại các địa điểm dinh điền, việc khai thác phần lớn tiến hành bằng cơ giới, nhất là ở vùng Tây Nguyên Với việc viện trợ của Mỹ và Pháp, Diệm

đã sử dụng 140 máy ủi đất và 232 máy kéo, do đó mà diện tích khai thác bằng cơ giới chiếm gần 2/3 diện tích khai thác ở vùng dinh điền Về lý thuyết thì chính quyền Diệm tuyên bố sẽ cấp cho mỗi người dân từ 1 đến 6

ha đất ở vùng dinh điền Tây Nguyên, ở miền Đông Nam Bộ từ 1-5 ha, nhưng việc đó đã không được giải quyết Điều ấy nói lên rằng “trực tiếp tư hữu hóa nông dân và những người vô sản khác” chỉ là một lời nói suông Nhưng sự lừa bịp đó đã không che giấu được sự bóc lột những người đến

đó canh tác Sản phẩm mà người nông dân ở dinh điền làm ra đều phải bán

Trang 29

cho hợp tác xã một tổ chức mua bán độc quyền Một điều cần chú ý nữa là, một khi bị đưa đến dinh điền thì những người nông dân không thể rời bỏ

nó được Họ bị buộc chặt vào dinh điền như những người nông dân nghèo dưới thời thuộc Pháp, nếu muốn rời bỏ dinh điền thì người dân phải bỏ ra

từ 1.500 đến 2000đ miền Nam nộp cho chính quyền Diệm Nhưng làm sao

họ có được số tiền đó khi mà nông cụ cũng như hạt giống, phân bón đều qua con đường nông tín cho vay để phát triển sản xuất Tính trong 2 năm 1959-1960 nông dân ở dinh điền đã vay số tiền lên tới 12.995.729 đồng Sài Gòn, người dân ở dinh điền với hai bàn tay trắng đã được chính quyền miền Nam “chăm lo” từ kinh tế đến quân sự như vậy thì họ chỉ có việc biến đất hoang thành ruộng đất tốt cho Mỹ- Diệm Đó là một cách để biến người nông dân từ chỗ là người chủ ruộng đất thành người nghèo khổ để được sự giúp đỡ của chính quyền Diệm Với điều kiện đó những người nông dân bị dồn vào hệ thống dinh điền, đã trở thành đội ngũ nhân lực thường trực phục

vụ các kế hoạch kinh tế, quân sự của Mỹ -Diệm

Ngoài mục tiêu trong việc thiết lập hệ thống dinh điền nhằm xây dựng cơ sở hậu cần để làm lực lượng dự trữ cho các căn cứ quân sự về nhân lực, vật lực, đồng thời tạo điều kiện cho tư bản Mỹ xâm nhập vào nông thôn miền Nam thì mục tiêu của nó là phân tán lực lượng nông dân hòng đè bẹp sự chống đối ngày càng căng thẳng của họ đối với chính sách cướp bóc đàn áp của chính quyền Diệm để dễ bề bóc lột Do đó kế hoạch dinh điền của Mỹ- Diệm dù có che giấu dưới chiêu bài: “mở mang ruộng đất bằng cách di dân, lập ấp, lập làng ở nhiều nơi đất đai còn bị bỏ hoang chưa khai phá, để tăng cường sản xuất, khuếch trương nông nghiệp” cũng không thể đánh lừa được dư luận Bởi lẽ điều đó không thể lý giải được tại sao đến năm 1960, số ruộng bỏ hoang ở miền Nam còn chiếm tỷ lệ khá lớn: 628.512 ha trong tổng diện tích trồng lúa Trong khi số ruộng đất bỏ

Trang 30

hoang ở nông thôn miền Nam đã chiếm trên ¼ diện tích trồng trọt thì việc đưa dân đi dinh điền để “khuếch trương nông nghiệp” có cần thiết không

Và việc “trực tiếp tư hữu hóa nông dân”, “khuếch trương nông nghiệp” đã không có sức hấp dẫn với nông dân Điều này được thể hiện đó là: trong cuộc đấu tranh chống bắt đi dinh điền, nông dân đưa ra khẩu hiệu: “thà chết không chịu đi dinh điền” đối với Mỹ -Diệm, và sự đấu tranh quyết liệt của phụ nữ, trẻ em nằm lăn ra đường cản xe bắt nông dân đi dinh điền đã ngăn cản và hạn chế âm mưu bắt nông dân đi dinh điền của Mỹ -Diệm Còn nông dân trong dinh điền thì luôn đấu tranh để ra khỏi dinh điền Chỉ tính năm 1958, thì thiệt hại về công cụ cơ giới, nhà cửa… do cuộc đấu tranh của những người bị cưỡng ép đến dinh điền, để thoát ra khỏi dinh điền không phải là nhỏ Có người ra khỏi dinh điền mang theo xác con về hoặc xác thân nhân bị chết vì dịch bệnh ở dinh điền đến chính quyền cấp cơ sở của Diệm lên án: “các ông nói đi dinh diền là sung sướng, đời sống ấm no là vậy đấy” Cũng như những vùng khác ở nông thôn miền Nam, tình hình chính trị ở các vùng dinh điền ngày càng không ổn định, đang làm lay chuyển hệ thống dinh điền Cuộc đấu tranh giữa nông dân và chính quyền Diệm đã và đang diễn ra rất ác liệt

3.2.3 Các tổ chức bóc lột nông dân

Hợp tác xã, Nông tín cuộc, Hiệp hội nông dân, đó là các tổ chức độc quyền kinh doanh, những tổ chức bóc lột, áp bức mới của Mỹ -Diệm đối với nông dân miền Nam

Hợp tác xã

Chính quyền Diệm chủ trương, khuyến khích việc lập các hợp tác xã

ở nông thôn miền Nam, và đặt nó ở một vị trí rất quan trọng, coi như “là nền tảng thứ ba” ở nông thôn Hợp tác xã theo sự giải thích của Diệm là nhằm để giải quyết các vấn đề tiếp tế nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, cung

Trang 31

cấp tín dụng, phân phối công bằng Nhưng trên thực tế Hợp tác xã là một tổ chức độc quyền kinh doanh của tư bản nhằm kiểm soát, bóc lột, thu mua nông, hải sản của nông dân Các thành viên ban quản trị đều do tay chân của tập đoàn tư sản mại bản nắm giữ

Hoạt động cơ bản của hợp tác xã là thu mua nông sản của nông dân theo giá độc quyền, làm đại lý phân phối hàng viện trợ Mỹ, làm đại diện cho nông tín cuộc để cho xã viên vay tiền Từ năm 1959-1960 hợp tác xã nông nghiệp Hậu Giang đã thu mua và cung cấp cho quân đội ngụy 25000 tấn lúa và 28600 tấn gạo Hợp tác xã chè Tây Nguyên năm 1959 đã bán cho quân đội ngụy 116 tấn chè

Nông dân phải bán sản phẩm cho ban quản lý hợp tác xã theo giá do chúng quy định Trong khi giá một giạ lúa từ 60-85đ thì chính quyền Diệm lại quy định giá thu mua nhất loạt chỉ từ 40-50đ một giạ, các hợp tác xã chỉ mua với giá 35đ một giạ Khi túng thiếu, giáp hạt, nông dân phải mua lại của hợp tác xã với giá 60-80đ một giạ

Cuối năm 1960, chính quyền Diệm đã cưỡng ép xây dựng ở nông thôn miền Nam 350 Hợp tác xã nông hải sản, chăn nuôi với 78000 xã viên

Nông tín cuộc

Ra đời năm 1955, Nông tín theo lời của chính quyền miền Nam là một tổ chức của quốc gia miền Nam nhằm: mục đích phát triển kinh tế nông thôn và cải thiện đời sống dân chúng bằng chính sách cho vay nhẹ lãi, giúp các tư nhân hoặc pháp nhân khuếch trương nông nghiệp, lâm nghiệp

và tiểu công nghệ nông thôn nhằm mục đích xã hội, chính sách nông tín chú trọng về người vay, nhằm mục đích kinh tế, chính sách ấy chú trọng về việc sử dụng tiền vay

Việc thành lập tổ chức nông tín đã được tiến hành song song với chính sách ruộng đất cuối năm 1955, thế nhưng đến cuối tháng 4/1957 thì

Trang 32

“quốc gia nông tín cuộc” ra đời thay thế cho “Sở bình dân nông nghiệp tín dụng”, để thống nhất các hoạt động nông tín và đặt cơ sở cho hệ thống nông tín từ cấp trung ương đến cấp xã

Qua những số liệu công khai ở miền Nam thì số vốn hoạt động từ đầu năm 1957 đến cuối tháng 9/1960 là: 860.765.085đ miền Nam Trong

đó có 450.275.930đ tiền mặt, 24.128.338đ dụng cụ và trang bị và 56.360.817đ nông súc.Với những số liệu dưới đây, có thể thấy được số lời

do kinh doanh nông tín không nhỏ Số vốn chỉ trên 800 triệu đồng miền Nam mà chỉ trong vòng 3 năm chính quyền Diệm cho vay trên 2 tỷ đồng, thu về được 86% tổng số nợ đến hạn trả, trong khi đó số nợ còn nằm trong tay người vay là 1.175.743.873 đồng (Theo bản báo cáo của Trần Ngọc Liên, Tổng ủy trưởng hợp tác xã và nông tín cuộc ngày 18-10-1960 ở Sài Gòn)1 Điều đó cho thấy lợi tức của chính quyền miền Nam là vô cùng lớn

Để thấy rõ hơn hiệu quả kinh tế do lối kinh doanh nông tín mang lại cho chính quyền miền Nam , chúng ta xem qua số tiền cho vay từ năm

Trang 33

Còn số tiền mà cơ quan nông tín đã chi phối các ngành sản xuất ở nông thôn miền Nam như sau

Trung hạn từ 18 tháng đến 5 năm: 8%/ một năm

Dài hạn từ 5 năm đến 15 năm: 6%

Hợp tác xã: 5% cho tất cả các loại nợ

Cũng quy chế đó, các hạng được vay được sắp xếp theo thứ tự như sau:

Các hợp tác xã đã chính thức thành lập và đã được công nhận

Những tá điền đã ký khế ước loại A hoặc loại C

Những tiểu điền chủ có ruộng bỏ hoang, muốn khai thác diện tích mà

họ cam kết sẽ tự mình canh tác bắt đầu trong mùa tới

Các tá điền đã ký khế ước loại A được cấp xã chứng nhận và cấp quận chấp thuận

Các tư nhân tập thể thực hiện những công tác tập thể

Nói chung các tư nhân hay pháp nhân có thực tâm canh tác cũng đều được vay

Tuy nhiên cho vay lại có điều kiện Vay trên 5.000 đồng người vay phải cầm cố bất động sản, ký thác chứng khoán, hoặc nhờ người khác bảo

Trang 34

lãnh bằng tài sản của họ Vay dài hạn phải có bảo hiểm nhân thọ Trường hợp vay dưới 5.000 đồng người vay phải cầm cố hoa màu trên cành và phải được hội đồng xã chứng nhận Nếu hợp tác xã, đoàn thể tư nhân vay thì ngắn hạn, tất cả xã viên hay đoàn viên phải cam kết chịu trách nhiệm, trung hạn phải cầm cố dụng cụ, hàng hóa tồn kho, ký thác chứng khoán, dài hạn cũng cầm cố bất động sản và ký thác chứng khoán…

Vay bảo đảm được quy định rất nghặt nghèo Với việc bảo đảm bằng tài sản thì mỗi đơn xin vay được vay 30% đến 40% giá trị tài sản bảo đảm Nếu bảo đảm bằng hoa màu thì số tiền vay không được quá 33% giá trị hoa màu bảo đảm Trên đây mới chỉ là những điều chính về quy chế cho vay Điều đó nói lên rằng không phải ai cũng được vay, và chỉ những người có tài sản thì mới được vay Thứ tự ưu tiên được vay là địa chủ và phú nông sau đó đến hợp tác xã Tuy nhiên nông dân vẫn được vay nhưng phải qua khâu trung gian, qua các giai cấp bóc lột, hoặc các tổ chức hợp tác xã, hiệp hội nông dân với lợi tức rất cao Điều này được thấy rõ qua dư luận báo chí

ở Sài Gòn xuất bản vào những ngày 23-26/11/1957 Báo “Buổi sáng” viết:

“…Hạng bần nông nghèo nàn gồm đại đa số, chỉ có hai bàn tay trắng làm phương tiện sản xuất, thì hạng bần nông gồm đại đa số đó chưa được hưởng gì về cho vay hay cho mượn của Chính phủ để làm mùa Lý do là họ không có điều kiện vật chất hoặc tài sản để đảm bảo được vay mượn” Còn

báo “Cách mạng quốc gia” khi phê bình việc cho vay đã viết: “Tôi là tiểu

địa chủ, không thiếu vốn làm ruộng, nhưng vì tín dụng nông nghiệp cho vay nhẹ nhẹ lãi thì cũng “vay chơi” để chi tiêu phung phí hay mua hoa màu, lúa non của mấy người đồng hương túng thiếu Bác là đại điền chủ thì

có thể vay được những số tiền lớn để rồi cho các tá điền vay lại với lợi suất

nặng” Năm 1960 báo Chấn hưng kinh tế viết: “Trên thực tế, không sao

Trang 35

khỏi xảy ra những vụ cho vay lệch lạc như cho vay không sản xuất, cho vay thiên vị hoặc cho vay trễ mùa”

Nhìn lại toàn bộ chính sách của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Sài Gòn đối với nông thôn miền Nam trong 20 mươi năm (1954-1975), từ chính sách “bình định” bao trùm đến “cải cách điền địa”, tài chính tín dụng, đầu tư kỹ thuật…ta thấy nổi lên ý đồ nhất quán “sợi chỉ đen xuyên suốt” toàn bộ các chính sách của Mỹ- Diệm, đó là kiểm soát nông thôn vào quỹ đạo chính trị, kinh tế của chế độ thực dân mới lệ thuộc Mỹ, và để chống phong trào độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Nam Việt Nam

Trang 36

CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT PHẢN ĐỘNG CỦA MỸ - NGỤY ĐỐI VỚI NÔNG THÔN MIỀN NAM VIỆT NAM

2.1 VỊ TRÍ CỦA VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT TRONG TOÀN BỘ

ÂM MƯU CỦA MỸ - NGỤY ĐỐI VỚI NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN MIỀN NAM

Trong toàn bộ âm mưu của đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm đối với nông thôn và nông dân miền Nam thì vấn đề ruộng đất được đặt lên hàng “quốc sách” , thành một thủ đọan có ý nghĩa chiến lược Ngay từ những năm 50 khi Mỹ có ý định hất cẳng Pháp để can thiệp vào miền Nam Việt Nam thì đế quốc Mỹ đã ý thức được vấn đề phải đối mặt với một phong trào giải phóng dân tộc thật sự lớn mạnh, một lực lượng quần chúng

đã làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn và đã kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi Với kinh nghiệm trong quá trình chống phá các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, phần lớn là những nước mà đa số dân chúng là nông dân, đế quốc Mỹ đã nhận thức được một điều: muốn thiết lập chế độ thực dân mới ở những nước nông nghiệp thì trước hết phải “tranh thủ trái tim khối óc của nông dân”, tách nông dân ra khỏi lực lượng cách mạng, tranh giành nông dân với cách mạng, là một trong những điểm nổi bật nhất của chính sách thực dân mới của Mỹ

Khi bị buộc rút khỏi Trung Quốc (1949), đế quốc Mỹ cho rằng nguyên nhân quan trọng khiến chúng thất bại là do chúng không biết sử dụng con bài “Người cày có ruộng”.Cho nên ngay sau đó chúng đã phái cố vấn sang Đài Loan giúp Tưởng Giới Thạch tiến hành “cải cách điền địa”

Qua kinh nghiệm đánh phá, chia rẽ phong trào nông dân ở một số nước khác trên thế giới, trong suốt quá trình xâm lược miền Nam Việt

Trang 37

Nam, đế quốc Mỹ đã rất chú ý sử dụng chính sách “cải cách điền địa” Sau khi thực dân Pháp thất bại thảm hại ở chiến trường Việt Nam, đế quốc Mỹ liền đưa tay sai Ngô Đình Diệm về lập ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam

để phục vụ cho chính sách thực dân mới của Mỹ

Để thực hiện “bình định nông thôn”, Mỹ – Diệm không thể không nói đến cải cách điền địa, thực hiện chỉ thị về những cải cách cần thiết ở nông thôn của tổng thống Mỹ Aixenhao Trong một bức thư gửi Ngô Đình Diệm ngày 20-10-1954, tổng thống Mỹ Aixenhao đã chỉ thị cho Diệm “một phương hướng cải cách cần thiết phải tiến hành” ở nông thôn miền Nam đặt dưới cái tên chung là “cải cách điền địa”[41, tr 12]

Sau đó chưa đầy một tháng, trong “kế hoạch 6 điểm của Côlin” (đại

sứ Mỹ ở Sài Gòn), bọn cầm đầu Nhà Trắng lại nhấn mạnh đến vấn đề “cải

cách điền địa” ở miền Nam Ngay trong bản phúc trình về “Đường lối phát

triển kinh tế của Việt Nam cộng hòa” do phái đoàn Goodrich đề ra năm

1955 thì vấn đề nông nghiệp nói chung và vấn đề “cải cách điền địa” nói riêng đều là những vấn đề mà bọn Nhà Trắng rất quan tâm Trong điều 13

của Thông cáo chung Hội nghị thượng đỉnh Manila gồm những người đứng

đầu 7 nước Châu Á và Thái Bình Dương (có ngụy quyền Sài Gòn) có ghi

“Sự cải cách điền địa cùng các luật lệ quy định về địa tô sẽ được coi là

những vấn đề ưu tiên bậc nhất”

Từ năm 1954 đến 1975, đế quốc Mỹ đã nhiều lần thay đổi tay sai trong chính quyền Sài Gòn, nhưng việc thi hành chính sách ruộng đất chủ yếu là ở hai giai đoạn: thời kỳ Ngô Đình Diệm (1955-1963) và thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975)

“Cải cách điền địa”thời Mỹ - Diệm là thủ đoạn nhằm cướp lại ruộng đất của nông dân, xóa bỏ thành quả mà chính quyền cách mạng trước đây

đã chia cho họ, âm mưu phục hồi giai cấp địa chủ làm chỗ dựa cho chính

Trang 38

quyền tay sai ở nông thôn Ngoài ra Mỹ – Diệm còn có ý định hướng một

số địa chủ đi vào con đường tư sản hóa, kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa Do đó mà thời Diệm vấn đề “cải cách điền địa” giữ một vai trò quan trọng và được nâng lên hàng quốc sách Thời Thiệu, đó là “mối quan tâm lớn nhất, ưu tư lớn nhất của chính quyền”

2.2 CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT PHẢN ĐỘNG CỦA MỸ - DIỆM Ở MIỀN NAM VIỆT NAM

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết, nước ta tạm thời bị chia làm hai miền, miền Bắc được giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tạm thời bị đặt dưới sự thống trị của Mỹ Từ tháng 6 năm 1954 đế quốc Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam chấp chính Để đối phó với địa bàn nông thôn miền Nam, ngay từ tháng 10-1954, tổng thống Mỹ Aixenhao

đã gửi thư cho Diệm đốc thúc làm cải cách điền địa Lenxđên cố vấn của Diệm cũng khuyên Diệm cần tiến hành ngay cải cách điền địa Sau đó chưa đầy một tháng Mỹ cử Colin sang làm đại sứ ở Sài Gòn với một kế hoạch nô dịch và xâm lược gồm 6 điểm, trong đó có vấn đề “cải cách điền địa” Tháng 7-1955 dưới danh nghĩa Liên Hợp Quốc, Mỹ cử một phái đoàn chuyên gia gồm 22 người do ông Caret Goodrich làm trưởng đoàn sang miền Nam Việt Nam điều tra, khảo sát tình hình Sau một thời gian làm việc, phái đòan Goodrich đã đề xuất một phương hướng và biện pháp giải

quyết vấn đề ruộng đất, nông dân và nông thôn, thể hiện trong bản Phúc

trình Triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam Nội dung cơ bản của bản

Phúc trình này là tiến hành “cải cách điền địa” nhằm mở đường cho sự xâm nhập chủ nghĩa tư bản vào nông thôn, nông nghiệp miền Nam Được Mỹ tiếp sức Ngô Đình Diệm tiến hành cái gọi là “cải cách điền địa” nhằm xóa

Trang 39

bỏ thành quả ruộng đất mà chính quyền cách mạng đã đem lại cho nông dân, khôi phục giai cấp địa chủ và chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến

Vì vậy từ đầu năm 1955, chính quyền Diệm đã ban hành và thực hiện chính sách cải cách điền địa giả hiệu và đưa nó lên hàng “quốc sách và coi đó là

“then chốt của cách mạng kinh tế ở miền Nam”.Trong hai năm: 1955-1956,

Mỹ đã cử một phái đoàn cố vấn do W.Latdinxky (một chuyên gia về cải cách điền địa” của Mỹ đã từng giúp Tưởng Giới Thạch “cải cách điền địa”

ở Đài Loan) sang miền Nam Việt Nam giúp chính quyền Sài Gòn soạn thảo chính sách ruộng đất Mỹ còn viện trợ chương trình “cải cách điền địa” 225 triệu đồng miền Nam2, đi đôi với việc đẩy mạnh các chiến dịch “tố cộng”,

“diệt cộng”, triệt phá cơ sở cách mạng ở nông thôn, thiết lập bộ máy nguỵ quyền ở xã ấp

Tại sao Mỹ quá quan tâm đến vấn đề “cải cách điền địa”, và Mỹ có thật sự muốn cho người cày có ruộng không?

Như chúng ta đã biết là Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại thắng lợi (1917) đã mở ra một thời đại mới Khẩu hiệu “Hòa bình, ruộng đất và bánh mì” vang lên từ trong Cách mạng dân chủ Tháng Hai (1917), đã được Cách mạng tháng Mười (1917) giải quyết bằng Sắc lệnh Ruộng đất ngay sau khi cách mạng thắng lợi Sau Chiến tranh thế giới thứ II, hàng loạt nước thuộc địa đã giành được độc lập và tiến lên chủ nghĩa xã hội Ngay trong quá trình giải phóng dân tộc, các nước này đã tiến hành nhiều cuộc cải cách ruộng đất (Trung Quốc, Hung – gari, Ba Lan, Tiệp Khắc) Đứng trước tình hình đó, chủ nghĩa đế quốc và nhất là chủ nghĩa thực dân mới, một nội dung phản kích trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ

mà mũi nhọn chủ yếu nhằm vào phong trào giải phóng dân tộc., không thể

2 Báo Công luận Sài Gòn số ra ngày 7-7-1969 cho biết từ 1955-1960 Mỹ viện trợ 12triệu đôla cho chính

Trang 40

không chú ý đến “tiếng kêu gào đòi hỏi ruộng” của nông dân nếu muốn

“tranh thủ trái tim và khối óc” của họ, biến họ thành “thành lũy chống cộng” Rõ ràng “cải cách điền địa” được chúng xem như là vũ khí lợi hại

“để chiến thắng cộng sản” Đó chính là cội rễ sâu xa của các chương trình

“cải cách điền địa” mà chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới tiến hành khắp nơi nhất là ở châu Á: Ma lai-xia, Nhật Bản, Inđonêxia, Ấn Độ, Nam Triều Tiên, Đài Loan Và đó cũng là nguyên nhân sâu xa của chương trình “cải cách điền địa” mà Mỹ đã tiến hành ở miền Nam Việt Nam

Khi nhảy vào Việt Nam nơi mà phong trào cách mạng đang sôi sục tiêu biểu cho thời đại giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Mỹ không thể nào biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới để vơ vét lợi nhuận cao nhất cho chủ nghĩa tư bản dộc quyền nhà nước Mỹ, cũng như không thể nào biến nơi đây thành “con đê” ngăn chặn làn sóng cộng sản ở Đông Nam Á, nếu như chúng không tiến hành chiến tranh thực dân mới tàn bạo và hiểm độc để đè bẹp phong trào cách mạng ở đây Chính vì thế trong cuộc chiến tranh này thì vấn đề “cải cách điền địa” phải được coi là một bộ phận hợp thành có ý nghĩa chiến lược Hơn nữa ở miền Nam tuy cuộc cách mạng dân tộc dân chủ chưa hoàn thành nhưng cùng với việc đánh đổ thực dân Pháp, nhân dân ta đã phá bỏ về cơ bản chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến, phần lớn ruộng đất đã về tay nông dân Do đó Mỹ phải gấp rút tiến hành “cải cách điền địa” để ổn định nông thôn và giành lấy lòng trung thành của tá điền bằng cách cho họ những viễn cảnh về sự cải thiện kinh tế trong hoàn cảnh thanh bình Mặt khác , việc giai cấp địa chủ

bị xóa bỏ về cơ bản đã làm cho chính quyền Diệm mất đi một cơ sở xã hội rất quan trọng Trong điều kiện giai cấp tư sản ở miền Nam còn nhỏ bé thì

Mỹ không thể làm ngơ, mà buộc phải tìm mọi cách khôi phục lại giai cấp địa chủ Nhưng do ảnh hưởng của phong trào cách mạng và hơn nữa là do

Ngày đăng: 10/08/2021, 15:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban thư ký ngành Sử các trường đại học (1977), Thông báo Sử học số 1/1977, Nxb Bộ đại học và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo Sử học số 1/1977, "Nxb Bộ đại học" và THCN
Tác giả: Ban thư ký ngành Sử các trường đại học
Nhà XB: Nxb Bộ đại học" và THCN"
Năm: 1977
2. Bộ Cải cách Điền địa và Canh nông (1696), Tầm quan trọng của cải cách điền địa, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm quan trọng của cải cách điền địa
3. Bộ Cải cách Điền địa và Canh nông (1969), Cải cách điền địa tại Việt Nam, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách điền địa tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Cải cách Điền địa và Canh nông
Năm: 1969
4. Bộ Điền thổ và Cải cách điền địa (1960), Luật lệ cải cách điền địa (cập nhật hóa đến 15-6-1960), Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật lệ cải cách điền địa
Tác giả: Bộ Điền thổ và Cải cách điền địa
Năm: 1960
5. Cao Văn Lượng, Phạm Quang Toàn, Quỳnh Cư (1981), Tìm hiểu phong trào Đồng Khởi ở miền Nam Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong trào Đồng Khởi ở miền Nam Việt Nam
Tác giả: Cao Văn Lượng, Phạm Quang Toàn, Quỳnh Cư
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1981
6. Chính sách dinh điền, “cải cách điền địa” (1959), Nông tín. Nxb văn hóa Á Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dinh điền, “cải cách điền địa
Tác giả: Chính sách dinh điền, “cải cách điền địa”
Nhà XB: Nxb văn hóa Á Châu
Năm: 1959
8. Đặng Ngọc Vân (1968), Vấn đề cải cách điền địa tại Việt Nam cộng hòa, Luân văn Cao học hành chính, Học viện quốc gia hành chính, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cải cách điền địa tại Việt Nam cộng hòa
Tác giả: Đặng Ngọc Vân
Năm: 1968
9. Đặng Phong (2005), Kinh tế Việt Nam 1945-2000, Tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 1945-2000
Tác giả: Đặng Phong
Năm: 2005
10. Đinh Xuân Lâm (1998), Lịch sử cận đại Việt Nam - Một số vấn đề nghiên cứu, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cận đại Việt Nam - Một số vấn đề nghiên cứu
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1998
11. Dụ qui định về cải cách điền địa. Kho Lưu trữ Trung ương 2, HS, 309, sc:1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụ qui định về cải cách điền địa
12. Hà Minh Hồng (2000), Phong trào chống phá bình định nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969-1972).Nxb Quân đội nhân dân Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào chống phá bình định nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Tác giả: Hà Minh Hồng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm: 2000
13. Hồ Chí Minh tuyển tập (1980), Văn kiện đề cập vấn đề giảm tô, cải cách ruộng đất và đổi công hợp tác, Tập I,II, Nxb Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đề cập vấn đề giảm tô, cải cách ruộng đất và đổi công hợp tác
Tác giả: Hồ Chí Minh tuyển tập
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1980
15. Hoàng Ước, Lê Đức Bình, Trần Phương (1968), Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Ước, Lê Đức Bình, Trần Phương
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1968
16. Lâm Quang Huyên (1983), Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ 1954-1975, Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ 1954-1975
Tác giả: Lâm Quang Huyên
Năm: 1983
17. Lâm Quang Huyên (2002), Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam
Tác giả: Lâm Quang Huyên
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2002
18. Lê Duẩn (1965), Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam, Nxb Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1965
19. Lê Duẩn (1976), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành thắng lợi mới, Nxb Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
20. Lê Khoa (1977), Tình hình kinh tế miền Nam 1955-1975, qua các chỉ tiêu thống kê, Tp HCM (Tài liệu ronéo của Ban Kinh tế Viện Khoa học Xã hội tại Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế miền Nam 1955-1975, qua các chỉ tiêu thống kê, Tp HCM
Tác giả: Lê Khoa
Năm: 1977
22. Nguyễn Kiến Giang, (1969), Phác họa tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước cách mạng tháng Tám, Nxb Sự thât, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phác họa tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước cách mạng tháng Tám
Tác giả: Nguyễn Kiến Giang
Nhà XB: Nxb Sự thât
Năm: 1969
23. Nguyễn Ngọc Minh (1966), Kinh tế Việt Nam từ cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi 1945-1954, Nxb Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam từ cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi 1945-1954
Tác giả: Nguyễn Ngọc Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1966

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w