Tiếp theo là các bài viết tìm hiểu, phân tích việc vận dụng lý thuyết liên văn bản vào các sáng tác văn học như Các hình thức liên văn bản trong tiểu thuyết Paul Auster của Nguyễn Thị T
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS BÙI THANH TRUYỀN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tiêng tôi, do PGS TS Bùi Thanh Truyền – giảng viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Lê Thị Xiêm
Trang 4Xin cảm ơn nhà văn Nguyễn Đình Tú đã nhiệt tình hỗ trợ tư liệu để tôi thực hiện luận văn
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo cùng các đồng nghiệp ở Trung tâm GDTX tỉnh Bình Dương đã luôn động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt khóa học
Xin cảm tạ bố mẹ, chồng và những người thân trong gia đình, bạn bè,… đã động viên và chia sẻ cùng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Lê Thị Xiêm
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục Lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN VÀ VĂN CHƯƠNG NGUYỄN ĐÌNH TÚ 12
1.1 Khái lược về lý thuyết liên văn bản 12
1.1.1 Lịch sử lý thuyết liên văn bản 12
1.1.2 Những khái niệm về liên văn bản 19
1.2 Tình hình tiếp nhận và vận dụng lý thuyết liên văn bản ở Việt Nam 25
1.2.1 Tiếp nhận lý thuyết liên văn bản 25
1.2.2 Vận dụng lý thuyết liên văn bản trong sáng tác và nghiên cứu văn học 29
1.3 Văn chương Nguyễn Đình Tú trong dòng chảy văn xuôi đương đại Việt Nam 31
1.3.1 Cuộc đời và sáng tác Nguyễn Đình Tú 31
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Đình Tú 33
1.3.3 Dấu ấn Nguyễn Đình Tú trong văn xuôi Việt Nam đương đại 37
Tiểu kết Chương 1 40
Chương 2 LIÊN VĂN BẢN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN THỂ LOẠI 41
2.1 Thể loại và đặc trưng loại thể của tiểu thuyết 41
2.1.1 Thể loại văn học 41
2.1.2 Đặc trưng loại thể của tiểu thuyết 43
2.2 Biểu hiện của sự dung hợp thể loại trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú 46
2.2.1 Hòa kết các thể loại văn học 47
2.2.2 Dung nhận các thể loại phi văn học 55
2.2.3 Tiếp biến các tri thức khoa học xã hội 60
2.3 Hiệu quả thẩm mĩ của sự tương tác thể loại trong tiểu thuyết Nguyễn ĐìnhTú 68
2.3.1 Mở rộng biên độ tiếp cận, phản ánh hiện thực cuộc sống, con người 68
2.3.2 Đa dạng hóa, sinh động hóa nghệ thuật trần thuật 72
Tiểu kết Chương 2 78
Chương 3 LIÊN VĂN BẢN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA 80
3.1 Văn hóa và mối quan hệ văn hóa - văn học 80
3.1.1 Khái lược về văn hóa 80
3.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 82
3.2 Biểu hiện của sự dung hợp văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú 84
3.2.1 Văn hóa truyền thống của dân tộc 85
Trang 63.2.2 Văn hóa tín ngưỡng, tâm linh 89
3.2.3 Văn hóa thời kinh tế thị trường và công nghệ hiện đại 99
3.3.2 Khát vọng đến hiện đại từ truyền thống của văn xuôi đương đại 116
Tiểu kết Chương 3 119
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 1
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học Việt Nam đương đại đang chứng kiến sự đổi mình mạnh mẽ của các cây bút trẻ thuộc thế hệ 7X, 8X Đây là một thế hệ trưởng thành trong thời bình, được thừa hưởng những thành tựu của công cuộc Đổi mới và hội nhập của đất nước nên rất thuận tiện trong việc tiếp biến những lý thuyết văn học hiện đại của thế giới Với ý thức tìm tòi, học hỏi, sáng tạo, đội ngũ những nhà văn trẻ đã không ngừng làm mới mình, góp phần làm đa dạng nền văn học đương đại cả về nội dung phản ánh và hình thức biểu hiện Trong những năm gần đây, văn đàn xuất hiện hàng loạt các cây bút sung sức như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam, Di Li, Phong Điệp, Nguyễn Đình Tú, Trần Nhã Thụy, Đỗ Bích Thúy, Vũ Đình Giang, Võ Diệu Thanh, Trương Anh Quốc, Trong đó, Nguyễn Đình Tú là nhà văn có sức viết dồi dào nhất bởi chỉ trong hơn mười năm mà ông đã cho ra đời tám tiểu thuyết Không chỉ vậy, có những tác phẩm nhà văn viết rất nhanh và có những năm ông ra mắt liên tục các tiểu thuyết
như Nháp (2008), Phiên bản (2009), Kín (2010) và Hoang tâm (2013), Xác phàm
(2014), Cô Mặc Sầu (2015) Độc giả cũng như giới phê bình nghiên cứu biết đến nhà
văn quân đội này không chỉ vì sức viết mà còn vì sức hấp dẫn trong lối viết Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú là ở chỗ nhà văn đã đưa hơi thở của cuộc sống đương đại, đặc biệt là đời sống của giới trẻ vào trong tác phẩm Mỗi tác phẩm là một hiện thực và không gian nghệ thuật riêng với một cách xử lí riêng, một giọng điệu riêng, một văn phong riêng Vì thế, tác phẩm của ông không chỉ được giới độc giả trẻ quan tâm mà còn thu hút độc giả ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ Đó là một trong những thành công đáng ghi nhận trong quá trình sáng tác của nhà văn Hải Thành này
1.2 Thế giới luôn luôn vận động và phát triển, sáng tác văn chương cũng như nghiên cứu phê bình văn học cũng không nằm ngoài dòng chảy đó Ở thế kỉ XX, người
ta chứng kiến sự ra đời, phát triển của nhiều trường phái văn học, chúng tiếp biến, ảnh hưởng và phủ nhận nhau khiến đời sống văn học trở nên sôi động, đa dạng, phức tạp Một trong những phương diện đáng quan tâm và làm nên đặc trưng của văn học hậu
Trang 8hiện đại là lý thuyết về liên văn bản (intertext) như Đào Tuấn Ảnh đã nhận định: “Đối
với văn học hậu hiện đại, liên văn bản, tức sự tương quan của văn bản chính với các văn bản văn học, nghệ thuật khác, trở thành nguyên tắc trung tâm trong việc mô hình hóa thế giới” [4, tr 55] Như một xu hướng tất yếu của thời đại, văn học Việt Nam
đương đại đã từng bước tiếp nhận và có những thể nghiệm lý thuyết liên văn bản vào trong sáng tác cũng như nghiên cứu, phê bình văn học Tiếp bước những bậc đàn anh, đàn chị như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo,… Nguyễn Đình Tú đã có nhiều dụng công trong việc vận dụng thủ pháp liên văn bản trong sáng tác của mình
1.3 Việc tìm hiểu tính liên văn bản trong sáng tác của các nhà văn hiện đại Việt Nam là một vấn đề không mới Đã có nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về liên văn bản trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, của Hồ Anh Thái,
Võ Thị Hảo,… Với sáng tác của Nguyễn Đình Tú, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào tiếp cận một cách hệ thống tính liên văn bản trong tiểu thuyết của ông Để thấy được nỗ lực cách tân trong bút pháp cũng như dấu ấn hậu hiện đại trong sáng tác của nhà văn quân đội này, chúng tôi quyết định lựa chọn thực hiện
đề tài Liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyễn Đình Tú là một cây bút trẻ đầy nội lực, trở thành một hiện tượng của văn học đương đại Việt Nam không chỉ về số lượng tiểu thuyết mà còn về sức hút với độc giả Những sáng tác của ông mang dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại và một trong những biểu hiện của dấu ấn đó chính là yếu tố liên văn bản Để có một cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu, chúng tôi tạm chia các công trình gián tiếp hoặc trực tiếp liên quan đến đề tài thành ba nhóm sau:
2.1 Nghiên cứu về lý thuyết liên văn bản
Trước hết là các bản dịch, các bài báo nghiên cứu về lý thuyết liên văn bản
đăng trên các tạp chí như Liên văn bản - sự xuất hiện của khái niệm về lịch sử và lý
thuyết của vấn đề của L.P.Rjanskaya (Ngân Xuyên dịch) [70]; Văn bản – Liên văn vản – Lý thuyết liên văn bản của G.K.Kosikov (Lã Nguyên dịch) [36] Nếu như bài báo
của L.P.Rjanskaya cho thấy các cách hiểu về liên văn bản qua việc phân tích các khái
Trang 9niệm và ứng dụng vào phân tích các tác phẩm thì bài viết của G.K.Kosikov đã lược sử lại những luận điểm về liên văn bản từ M.M Bakhtin đến J Kristeva, J Derrida, R Barthes Để có một cái nhìn tổng quát về lịch sử, khái niệm, các hướng tiếp cận liên
văn bản phải kể đến các bài báo Liên văn bản – sự triển hạn đến vô cùng của tác phẩm
văn học của Nguyễn Minh Quân [86]; Người đọc am tường, liên tưởng mở rộng: Điểm qua mấy hướng tiếp cận liên văn bản ngoài nước của Nguyễn Nam [75]; Về việc vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông của Phan Huy
Dũng [23] Các bài viết Sự lên ngôi của văn bản và sự khai sinh của độc giả của Thu
An [1]; Nhà phê bình trong thời đại “Tác giả đã chết” [124] và Khởi sự của cái chết: văn bản nhấn chìm chủ thể [123] của Nguyễn Văn Thuấn đã giới thiệu, phân tích một
luận điểm quan trọng của M Bakhtin là Cái chết của tác giả Bài viết Liên văn bản và
vấn đề đối thoại tư tưởng trong văn xuôi đương đại Việt Nam của Phùng Phương Nga
[83] sau khi điểm lại các cách hiểu về liên văn bản đã đi vận dụng luận điểm tính đối
thoại của M Bakhtin để sâu vào phân tích vấn đề đối thoại tư tưởng trong văn xuôi
đương đại Việt Nam
Tiếp theo là các bài viết tìm hiểu, phân tích việc vận dụng lý thuyết liên văn bản
vào các sáng tác văn học như Các hình thức liên văn bản trong tiểu thuyết Paul Auster
của Nguyễn Thị Thanh Hiếu [44]; "Đàn ghi ta của Lorca" của Thanh Thảo dưới góc nhìn liên văn bản của Phan Huy Dũng [22]; Sự dung hợp thể loại trong truyện ngắn
Hồ Anh Thái nhìn từ những vỉa tầng văn hóa của Trần Thị Ty [137]; Mã lịch sử và mã văn hóa trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 (một tiếp cận từ lí thuyết liên văn bản) [53]; Yếu tố liên văn bản trong tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu của Võ Thị Hảo [54]
của Nguyễn Văn Hùng; Truyện ngắn Hồ Anh Thái từ góc nhìn liên văn bản [51]; Tiềm
tàng một cuộc đối thoại [52] của Nguyễn Thị Huế; Liên văn bản (intertext) trong "Đàn ghi-ta của Lorca” của Lê Huy Bắc [9] Các bài viết này đã góp phần soi rõ lý thuyết
liên văn bản trong các sáng tác văn học, giúp người đọc hiểu rõ hơn những lý thuyết trừu tượng cũng như làm cho hoạt động nghiên cứu phê bình văn học trở nên sôi động hơn Một trong những luận điểm quan trọng của lý thuyết liên văn bản là sự pha trộn
thể loại nên bài viết Vấn đề thể loại và ranh giới thể loại trong một số tiểu thuyết Việt
Nam đầu thế kỉ XXI của Hoàng Cẩm Giang [32] đã góp phần làm rõ vấn đề giao thoa
Trang 10thể loại, một biểu hiện của liên văn bản trong một số tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI
Ngoài ra, chúng ta phải kể đến các công trình chuyên sâu như luận án Tiến sĩ
Văn học, Liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp của Nguyễn Văn Thuấn
[127] đã có những đóng góp đáng kể trong việc tổng quan lịch sử nghiên cứu lý thuyết liên văn bản trên thế giới và Việt Nam cũng như đi sâu nghiên cứu tính đối thoại và các hình thức liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp Khóa luận tốt nghiệp
của Trần Phượng Linh, sinh viên trường Đại học KHXH&NV TP.HCM, Khảo sát hiện
tượng liên văn bản trong tập truyện “Lời tiên tri của giọt sương” của Nhật Chiêu [65]
và luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục, Vận dụng kĩ thuật liên văn bản trong dạy đọc
hiểu văn bản văn học ở trường trung học phổ thông của Nguyễn Thị Hoa [47] đã góp
phần tổng quát lý thuyết liên văn bản trong chương một của luận văn Hai luận văn
thạc sĩ, Tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc nhìn liên văn bản của Nguyễn Văn Thành
[107] và Sự dung hợp thể loại trong truyện ngắn Hồ Anh Thái của Trần Thị Ty [138]
đã chỉ ra những biểu hiện của tính liên văn bản trong các sáng tác của Hồ Anh Thái cả
về phương diện nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện
Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu quý báu giúp chúng tôi có một cơ sở lý thuyết vững chắc để thực hiện đề tài
2.2 Nghiên cứu về văn chương Nguyễn Đình Tú
Trong những năm gần đây, Nguyễn Đình Tú nổi lên như một hiện tượng văn học với bút pháp ngày càng trưởng thành Có thể nói, văn chương của ông làm tốn rất nhiều bút mực của độc giả cũng như giới phê bình nghiên cứu Những bài viết giới thiệu, phân tích, bình luận tác phẩm cũng như nhận xét, đánh giá về văn phong của nhà văn này được đăng nhiều trên các báo điện tử cũng như báo in Là một cây bút có sức hút nên sáng tác của ông cũng là “mảnh đất màu mỡ” được nhiều sinh viên, học viên cao học quan tâm, khai thác trong các khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ Sau đây, chúng tôi xin tóm lược lại những công trình nghiên cứu tiêu biểu
Trước hết là những bài viết có những nhận định khái quát về quá trình sáng tác
của Nguyễn Đình Tú như Từ Hồ sơ một tử tù đến Nháp - một chặng đường tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú của Đoàn Minh Tâm đăng trên Tạp chí Non nước số 139 – 140 năm
Trang 112010 [101] đã khái quát những đặc trưng trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú là Chất
luật và chất lính; Tính mạch lạc, rõ ràng dễ dựng thành phim; Hệ thống những hình tượng tôn giáo có ý nghĩa cứu rỗi linh hồn con người và Những thử nghiệm bút pháp huyền ảo Ngoài ra, Đoàn Minh Tâm còn chỉ ra những đổi mới trong tiểu thuyết Nháp
về ngôn ngữ, độ "mở" của tiểu thuyết, xây dựng nhân vật và tính hướng tới thị trường
Bài viết Điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú của Trần Tố Loan
đăng tải trên báo điện tử http://evan.vnexpress.net năm 2010 [66] đã khái quát những đặc điểm về điểm nhìn trần thuật trong sáng tác của nhà văn này Theo Trần Tố Loan, tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú có sự dịch chuyển không gian và sự thay đổi không gian của nhân vật gắn với sự thay đổi tính cách, số phận của họ; trục thời gian trong tiểu thuyết của ông thường là hiện tại - quá khứ hoàn thành - quá khứ - hiện tại tiếp diễn,
đó là kiểu thời gian đồng hiện song song xen lẫn quá khứ; nhà văn khước từ lối kể chuyện tuyến tính và thường sử dụng phối hợp điểm nhìn người kể chuyện và điểm
nhìn nhân vật Tác giả nhận định: “Nguyễn Đình Tú rất ý thức trong việc đặt điểm
nhìn không, thời gian, nhưng có thể nói điểm nhìn tác giả và nhân vật mới là điểm nhấn đáng chú ý nhất trong nghệ thuật kể chuyện của ông” [66] Bài viết Hình tượng không gian trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú của Phan Thị Trang Nhung đăng trên
http://vannghequandoi.com.vn năm 2012 [82] đã chỉ ra những dạng không gian trong
tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú là Không gian hiện thực - "khuôn mặt nhìn nghiêng" của
cuộc đời; Không gian trải nghiệm - thế giới chênh vênh của con người giữa đôi bờ Thiện – Ác; Không gian tâm linh - miền cứu rỗi những kiếp đời lầm lạc Trong bài viết Nguyễn Đình Tú - nhà văn hai trong một đăng trên Báo Văn nghệ Trẻ năm 2010 [113],
Bùi Việt Thắng đã điểm lại chặng đường sáng tác của ông, dẫn lại một số nhận định của những cây bút có tên tuổi trong quân đội như Lê Lựu, Chu Lai, Khuất Quang Thụy
và gọi Nguyễn Đình Tú là nhà văn hai trong một vì “Nguyễn Đình Tú trong văn xuôi,
đặc biệt trong tiểu thuyết, thường chan hòa cả hai tố chất của người viết: vừa đắm đuối vừa tỉnh táo, vừa chân phương vừa sắc lẹm, vừa nhập thân vừa biết tiết chế, vừa
rõ ràng khúc chiết vừa cố ý rối ren ” [113]
Mỗi sáng tác của Nguyễn Đình Tú khi ra đời đều tạo nên nhiều dư luận và được
đông đảo bạn đọc đón đợi Ngay từ tiểu thuyết đầu tay Hồ sơ một tử tù (2002), nhà văn
Trang 12đã tạo được sự chú ý của độc giả Đến Nháp, nhà văn quân đội này đã thực sự tạo nên
một cơn sốt văn chương với nhiều ý kiến trái chiều Đa phần các ý kiến đều xoay
quanh vấn đề nhạy cảm và nóng bỏng là sex Có ý kiến cho rằng sex trong Nháp là bệnh hoạn, vô luân nhưng đa phần các ý kiến trong các bài viết như Phản biện sex
trong 'Nháp' của Nguyễn Đình Tú của Lê Nhật Tăng [99], Một bút pháp táo tợn và dịu dàng của Chu Lai [64], Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết ‘Nháp’ của Đoàn Minh Tâm [100], Nguyễn Đình Tú và những ám ảnh mang tên “Nháp” của
Itaexpress [58], Dịch chuyển tiêu cực trong tiểu thuyết 'Nháp' của Nguyễn Chí Hoan
[49], Nháp: Từ cuộc sống phàm phũ đến dự cảm văn chương của Đình Khôi [63] và
nhiều bài viết khác đều khẳng định sex trong Nháp không phải là thuần túy sex mà nó mang những dự cảm văn chương Nháp không né tránh chuyện chăn gối, xác thịt nhưng khi đọc “không thấy phản cảm, không thấy ghê ghê” (Chu Lai), Nháp mang một ẩn ức tính dục, một ẩn ức thời đại và nó thể hiện những thân phận người của một thế hệ đang sống nháp Ở tiểu thuyết Phiên bản, các bài viết “Phiên bản” hay tính
thiện và tính ác của con người của Ma Văn Kháng [60], Thế giới tội phạm trong tiểu thuyết Phiên bản của Nguyễn Đình Tú của Nguyễn Hữu Quý [89], “Phiên bản” hay
hồ sơ một thanh tẩy? của Đoàn Ánh Dương [24] đều tập trung khai thác thế giới nhân
vật và ý nghĩa nhân văn mà tiểu thuyết muốn hướng tới Đến tiểu thuyết Kín, hầu hết các bài viết như “Kín” - một dòng tiểu thuyết miên man của Nguyễn Thị Minh Thái [108], “Kín” của Nguyễn Đình Tú của Nguyễn Xuân Diện [16], “Kín” - cảm thức về thân phận lạc loài, hoang hoải của Nguyễn Đình Tú của Lê Quốc Hiếu [43], “Kín” của Nguyễn Đình Tú và “câu hỏi lớn về cái gọi là kiếp người của Hoàng Đăng Khoa
[62], “Kín” và nỗi hoang mang thời đại của Dương Tử Thành [105], “Kín” – Những vòng tròn mồ côi của Tiểu Quyên [90] và nhiều bài viết khác đều nhận thấy ở Kín
“một giới trẻ hoang hoải, lạc loài, hoài nghi và vỡ mộng” (Nguyễn Xuân Diện), một
lối kết cấu mở gợi nhiều suy tư về thân phận con người trong đời sống hiện đại
Nếu ở bốn tiểu thuyết trên, độc giả và các nhà phê bình đều quan tâm đến yếu
tố sex, hiện thực cuộc sống cũng như những thân phận người thì đến Hoang tâm và
Xác phàm, người ta lại đề cập nhiều hơn đến đề tài chiến tranh, người lính và kết cấu
tác phẩm Các bài viết “Hoang tâm” hay một cuộc trở về với căn tính văn hóa của
Trang 13Inrasara [56], Nhà văn Nguyễn Đình Tú: "Hoang tâm" - Nỗi lòng người lính chiến của
Việt Quỳnh [92], “Hoang tâm” – một cách lí giải về thân phận người sau chiến tranh
của Triệu Xuân [141], "Hoang tâm và cái logic của thực tại phi lý của Ngô Hương
Giang [34], Những nghịch lý trong "Hoang tâm" của Hồ Tấn Nguyên Minh [72],
“Hoang tâm”– tiểu thuyết “song trùng” của Đoàn Minh Tâm [102], Nguyễn Đình Tú: Lao vào vùng cấm với “Xác phàm” của Phạm Quỳnh [91], “Xác phàm” của Nguyễn Đình Tú: Pha trộn tinh tế hai màu đen trắng của Nguyễn Thị Minh Thái [109], Tiểu thuyết “Xác phàm” của Nguyễn Đình Tú – nén hương thơm tưởng nhớ liệt sĩ của Trần
Đình Sử [98], “Xác phàm” - Bước ngoặt tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú của Ngô
Hương Giang [35] và nhiều bài viết khác đều ca ngợi sự đổi mới trong bút pháp và ghi nhận những đóng góp của Nguyễn Đình Tú trong việc khai thác đề tài chiến tranh biên giới, mảng đề tài nhạy cảm, ít người đề cập đến Đến tháng 8 năm 2015, nhà văn lại
trình làng cuốn tiểu thuyết Cô Mặc Sầu, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ trong sự
nghiệp sáng tác Trước khi xuất bản tiểu thuyết, ông đã đưa cho một số bạn đọc chuyên nghiệp là những nhà phê bình và đã nhận được những phản hồi tích cực Tiêu
biểu là hai bài viết được in trong cuốn sách là Tiểu thuyết “Cô Mặc Sầu” – Nơi tìm lại
hay đánh mất chính mình của Hà Thanh Vân [139], Truy tìm căn cước tộc người – diễn ngôn tiểu thuyết “Cô Mặc Sầu” của Nguyễn Đình Tú của Yến Thanh [104]
Ngoài ra còn một số bài viết khác như “Cô Mặc Sầu” - chuyên án ly kỳ vùng sơn cước
của Quỳnh Anh, “Cô mặc sầu - Một chuyến đi xa của Nguyễn Đình Tú của Trịnh Sơn [93],
“Tiểu thuyết “Cô Mặc Sầu” của nhà văn Nguyễn Đình Tú: “Kịch bản mới” về hành trình tìm cách sống của Dương Xuân [140] Các bài viết đều đi sâu phân tích cảm
hứng chủ đạo của tác phẩm là nỗi cô đơn và hành trình tìm lại mình của giới trẻ và đề cập đến tính ly kỳ, hấp dẫn của cốt truyện
Chính vì sức hấp dẫn của văn chương Nguyễn Đình Tú nên những bài viết về sáng tác của ông không chỉ dừng lại ở phạm vi những bài báo nhỏ mà còn được nghiên
cứu nhiều ở các công trình chuyên sâu Đó là các luận văn thạc sĩ như Đặc điểm tiểu
thuyết Nguyễn Đình Tú (2011) của Hoàng Thị Thêu [118], Thi pháp tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú (2011) của Phạm Thị Năm Thắng [109], Hiện thực đương đại trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú (2011) của Phạm Anh Hào [37], Yếu tố tính dục trong
Trang 14tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú (2012) của Nguyễn Thị Phương Nhi [79], Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú (2012) của Cao Thị Gái [31], Hình tượng không gian trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú (2012) của Phan Thị Trang Nhung [82], Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua Hoang tâm và Xác phàm (2015) của Trần Thị Kim
Thanh [103], Hệ chủ đề trong tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm của Nguyễn Đình
Tú (2015) của Nguyễn Thị Minh Tuyền [136], Cảm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú (2015) của Huỳnh Phượng Lynh [69],…
Như vậy, mặc dù là một cây bút trẻ, chặng đường sáng tác mới chỉ hơn mười năm nhưng Nguyễn Đình Tú đã được đông đảo bạn đọc biết tới Số lượng bài viết về văn chương của nhà văn này trên các báo điện tử, báo in rất nhiều nhưng ở đây chúng tôi dừng lại ở việc khái quát lại những bài viết và những công trình có giá trị nhằm góp phần bao quát tài liệu, tạo cơ sở vững chắc để thực hiện đề tài
2.3 Nghiên cứu về liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
Các tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú đều ít nhiều có yếu tố liên văn bản nhưng nghiên cứu về vấn đề này thì chỉ mới có một vài công trình đề cập đến Trong luận văn
thạc sĩ Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú (2011) của Hoàng Thị Thêu [118], ở chương 2: Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú - từ bình diện kết cấu có mục 2.2
Kết cấu liên văn bản, tác giả luận văn triển khai thành hai ý là liên văn bản từ sự tương
tác thể loại và liên văn bản từ cấp độ diễn ngôn Luận văn thạc sĩ Cảm thức hậu hiện
đại trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú (2015) của Huỳnh Phượng Lynh [69] đã đề cập
đến kết cấu liên văn bản như một biểu hiện nghệ thuật hậu hiện đại trong sáng tác của
nhà văn Bài viết Truy tìm căn cước tộc người – diễn ngôn tiểu thuyết Cô Mặc Sầu của
Nguyễn Đình Tú của Yến Thanh [104] có nhắc đến tính điện ảnh như một biểu hiện
của liên văn bản Như vậy, các công trình trên đã dành sự quan tâm nhất định đến thủ pháp liên văn bản trong sáng tác của Nguyễn Đình Tú nhưng chưa chuyên sâu và chưa
có tính hệ thống Song đó cũng là những gợi dẫn quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài này
Qua trên, chúng tôi nhận thấy, các bài viết và những công trình trên mới chỉ tập trung khai thác một tác phẩm riêng lẻ hoặc một nhóm tác phẩm mà chưa nghiên cứu toàn diện, hệ thống tám tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú Đó là một vấn đề còn bỏ ngỏ để
Trang 15ở đề tài này, chúng tôi sẽ tìm hiểu, khảo sát toàn bộ tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú từ góc nhìn liên văn bản
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, cụ thể, đề tài tập trung vào 8 tiểu thuyết:
- Hồ sơ một tử tù (NXB Văn học, 2011, tái bản lần thứ 5)
- Bên dòng Sầu Diện (NXB Trẻ, 2015, tái bản lần thứ 2)
4 Phương pháp nghiên cứu
4 1 Vận dụng lý thuyết liên văn bản
Vận dụng lý thuyết liên văn bản để tìm hiểu, khảo sát và chỉ ra các biểu hiện của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
4 2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Trước hết, chúng tôi dùng phương pháp này trong việc tìm hiểu lý thuyết liên văn bản Sau đó, nó được dùng thường xuyên để nghiên cứu biểu hiện liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú: xem các sáng tác như một hệ thống, xem mỗi văn bản/các sáng tác như một liên văn bản, đặt nó trong mạng lưới quan hệ với các văn bản khác, xem xét nó qua những quan hệ và đối thoại liên văn bản (intertextual relationship/dialogues), từ đó có những đánh giá, kết luận cần thiết
Trang 16Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp này để xây dựng hệ thống luận điểm về liên văn bản trên cơ sở tìm hiểu tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú và các văn bản khác có liên quan
4.3 Phương pháp liên ngành
Vận dụng kiến thức các lĩnh vực khoa học khác như: văn hóa, lịch sử, triết học, đạo đức, tôn giáo, tâm lý,… để có thể thấy được những vỉa tầng văn hóa và tính đối thoại ẩn chứa trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
4.4 Phương pháp thi pháp học
Vận dụng phương pháp này để tìm hiểu thế giới nhân vật, kết cấu tác phẩm và hình tượng tượng không gian, thời gian trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
4.5 Các phương pháp khác
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng một số thao tác như thống
kê, phân tích, tổng hợp, so sánh,… để đi sâu khai thác các yếu tố liên văn bản, khái quát những vấn đề thuộc về nội dung tư tưởng cũng như thủ pháp nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú từ góc nhìn liên văn bản
5 Đóng góp của luận văn
Theo chủ quan của chúng tôi, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về biểu hiện và hiệu quả của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú Thực hiện thành công đề tài này, luận văn có những đóng góp cơ bản sau đây:
5.1 Nghiên cứu hệ thống những biểu hiện của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú nhằm soi rõ biểu hiểu hiện của lý thuyết liên văn bản trong các sáng tác của ông, từ đó thấy được sự ảnh hưởng của lý thuyết liên văn bản trong sáng tác của nhà văn này nói riêng và trong văn học đương đại Việt Nam nói chung
5.2 Phân tích những biểu hiện của tính tính liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú nhìn từ phương diện thể loại và phương diện văn hóa để từ đó làm nổi bật đặc trưng tiểu thuyết của nhà văn quân đội này
5.3 Khẳng định những đóng góp cũng như vai trò, vị trí của Nguyễn Đình Tú trong dòng văn xuôi đương đại Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
Trang 176 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu (11 trang), Kết luận (3 trang), Tài liệu tham khảo (10 trang)
và 5 Phụ lục, Nội dung của luận văn (106 trang) được triển khai theo 3 chương:
Chương 1: Khái lược về lý thuyết liên văn bản và văn chương Nguyễn Đình Tú (28 trang)
Ở chương này, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu những khái niệm về liên văn bản; lược
sử về lý thuyết liên văn bản; tìm hiểu về việc tiếp nhận và vận dụng lý thuyết liên văn bản ở Việt Nam Bên cạnh đó, chúng tôi còn tìm hiểu cuộc đời, sáng tác văn chương cũng như quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Đình Tú
Chương 2: Liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú nhìn từ phương diện thể loại (38 trang)
Ở chương này, sau khi trình bày lý thuyết về thể loại và đặc trưng loại thể của
tiểu thuyết, chúng tôi tiến hành phân tích những biểu hiện của sự dung hợp thể loại và
hiệu quả thẩm mĩ của sự tương tác thể loại trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
Chương 3: Liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú nhìn từ phương diện văn hóa (40 trang)
Sau khi khái lược về văn hóa và trình bày mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, chương này sẽ hướng trọng tâm vào việc minh giải các biểu hiện của sự dung hợp văn hóa và hiệu quả thẩm mĩ của sự hòa phối văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
Trang 18Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN
VÀ VĂN CHƯƠNG NGUYỄN ĐÌNH TÚ
1.1 Khái lược về lý thuyết liên văn bản
Kể từ khi ra đời đến nay, liên văn bản đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu và có nhiều ý kiến xoay quanh khái niệm của thuật ngữ này Để có một cái nhìn tổng quát và đi đến hiểu đúng bản chất của khái niệm liên văn bản, tạo tiền đề cho việc vận dụng lý thuyết vào nghiên cứu tác phẩm văn học, trong phần này, chúng tôi
sẽ trình bày những khái niệm và lịch sử hình thành, phát triển của lý thuyết liên văn bản Trong đó, chúng tôi sẽ nhấn mạnh những quan điểm, những cách hiểu khác nhau của các nhà lập thuyết về thuật ngữ liên văn bản
1.1.1 Lịch sử lý thuyết liên văn bản
Ở thế kỉ XX, nền khoa học xã hội đã có nhiều bước tiến trong việc hình thành những lý thuyết mới ở các lĩnh vực ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, tâm lí học,… Sự ra
đời của cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (1916) [30] mà cha đẻ của nó là
Ferdinand de Saussure,nhà ngôn ngữ học lỗi lạc của thế kỉ XX, cùng với sự ra đời của học thuyết Phân tâm học của S Freud đã tạo tiền đề cho nhiều lý thuyết mới ra đời, trong đó có lý thuyết về tính liên văn bản
Trong quá trình sinh sống và lao động, con người đã sáng tạo ra ngôn ngữ như một phương tiện để giao tiếp Nhờ ngôn ngữ, con người đã ghi chép lại những kinh nghiệm sống, những hiểu biết của mình và những ghi chép đó trở thành tri thức cho thế hệ sau Tri thức của nhân loại được mã hóa trong ngôn ngữ, trở thành những biểu tượng, ăn sâu vào tiềm thức của con người, là “vô thức tập thể” chi phối toàn bộ hành
vi giao tiếp của nhân loại Như thế, cách con người sử dụng ngôn ngữ hay hệ thống kí hiệu trong giao tiếp đó chính là biểu hiện của liên văn bản trong hành ngôn Điều đó cho thấy, thực chất “ý thức liên văn bản” và “tính liên văn bản” đã có từ xa xưa trong đời sống cũng như trong sáng tác văn học Nói như thế để thấy rõ một điều là liên văn bản như một hình ảnh thế giới Nó vốn là thuộc tính của thế giới Song vấn đề quan
Trang 19trọng là mãi đến giữa thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu mới quan tâm và nâng nó lên thành một lý thuyết văn học Và ngay khi ra đời, nó đã nhận được sự hưởng ứng của nhiều lý thuyết gia
Thuật ngữ tính liên văn bản (intertextuality) được Julia Kristeva, nhà nghiên cứu người Pháp gốc Bulgari, gọi tên vào khoảng năm 1966 – 1967 và cho đến nay đã
có một lịch sử đúng nửa thế kỷ Kristeva cùng những đồng nghiệp của bà tại tạp chí Tel Quel như Jacques Derrida, Roland Barthes, Micheal Foucault, Philippe Sollers chính là những người tiên phong trong việc hình thành lý thuyết liên văn bản
Nguồn gốc của khái niệm tính liên văn bản được đa số các nhà nghiên cứu thống nhất tính từ thời điểm khai sinh của ngôn ngữ học hiện đại gắn liền với tên tuổi của nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ, F Saussure Chính tư tưởng của Saussure đến các nhà hình thức Nga và sau đó là chủ nghĩa cấu trúc đã đặt những nền móng
quan trọng cho lí thuyết về tính liên văn bản Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại
cương, công trình được in sau khi ông mất, Saussure viết: “giá trị của bất cứ một yếu
tố nào cũng đều do những yếu tố ở xung quanh quy định” và “tất cả đều dựa trên những mối quan hệ” [30, tr.202] Nghĩa là không một kí hiệu nào có giá trị tự thân
Mọi kí hiệu chỉ có giá trị trong mối quan hệ giữa nó với các kí hiệu khác trong hệ thống Tư tưởng này của Saussure đã ảnh hưởng đến các nhà Hình thức luận Nga Giống như Saussure, họ nhìn nhận văn học trong tính hệ thống và thông qua các mối
quan hệ Shklovski khẳng định: “Tác phẩm nghệ thuật được tri giác trong mối liên hệ
với những tác phẩm nghệ thuật khác, và những sự kết hợp mà người ta tiến hành với chúng… Không chỉ có bức tranh mới mô phỏng, mà tất cả các tác phẩm nghệ thuật đều song song và đối lập với một khuôn mẫu nào đó” [129, tr.102] Với Shklovski,
“t ác phẩm nghệ thuật không phải được tri giác như một sự kiện cô lập, mà hình thức của nó được cảm nhận trong mối liên hệ với những tác phẩm khác chứ không phải ở bản thân nó”; “tất cả mọi ảnh hưởng được phát huy tác dụng trong lịch sử văn học, ảnh hưởng chủ yếu là ảnh hưởng từ tác phẩm này đến tác phẩm khác” [129, tr.102]
Như vậy, không nên xem tác phẩm văn học như một cấu trúc tự trị, ổn định, chỉ biết đến chính nó mà để khám phá một tác phẩm văn học cụ thể cần đưa nó vào mạng lưới các tác phẩm văn học khác mà chúng có liên hệ Theo các nhà hình thức Nga, mỗi tác
Trang 20phẩm văn học cụ thể đều có tiềm năng là chất liệu cho những tác phẩm văn học khác,
ra đời sau nó Điều này có nghĩa là văn học không chỉ lấy chất liệu từ hiện thực đời sống mà chất liệu của văn học còn có thể lấy từ chính các tác phẩm văn học Đó có thể
là nhân vật, ngôn ngữ, chi tiết, sự kiện nghệ thuật,… ở các tác phẩm văn học ra đời trước đó trong hệ thống văn học, được nhà văn vay mượn, mô phỏng, tái tạo Lúc đó, tác phẩm văn học trước đó có mối quan hệ liên văn bản với tác phẩm văn học hiện thời Và Theo Andrea Lesic – Thomas, những quan điểm trên đây của các nhà Hình
thức luận đã gợi hứng cho Kristeva sáng tạo ra thuật ngữ tính liên văn bản
Nếu như chủ nghĩa hình thức Nga kế thừa hoàn toàn lý thuyết về ngôn ngữ của Saussure thì Mikhail Bakhtin – nhà triết học, mỹ học và lí luận văn học xuất sắc thế giới thế kỷ XX lại phê phán, và hơn nữa phát triển lí thuyết về ngôn ngữ của Saussure theo một hướng mới Trong khi Saussure chỉ tập trung vào khía cạnh đồng đại của ngôn ngữ, xem xét nó trong tư thế tĩnh tại, ổn định, mang tính tự trị, không chịu ảnh hưởng của các yếu tố sản sinh ra nó (con người, xã hội) thì Bakhtin lại chú ý ngôn ngữ ở khía cạnh lịch đại Tư tưởng cốt lõi trong việc phê phán lý thuyết về ngôn ngữ của Saussure của Bakhtin là nếu Saussure đặt ngôn ngữ trong quan hệ giữa các kí
hiệu thì Bakhtin đặt ngôn ngữ trong quan hệ với các tình huống xã hội cụ thể Bakhtin cho rằng “ngôn ngữ nào cũng gắn liền với một quan điểm, một ngữ cảnh và một đối
tượng nhất định - ngôn ngữ là những gì đang được hành dụng trong cuộc sống chứ không phải “nằm chết” trong từ điển” [126, tr.173] Như vậy, từ quan điểm của
Bakhtin, chúng tôi nhận thấy, ngôn ngữ cũng như văn bản là hệ thống kí hiệu không tồn tại biệt lập mà luôn có những mối quan hệ giằng chéo giữa chúng với nhau và giữa chúng với bối cảnh văn hóa, xã hội cũng như những thiết chế tư tưởng, diễn ngôn chính trị Và với những tư tưởng trên đây, Allen cho rằng, chính Bakhtin đã là một nhà lập thuyết về tính liên văn bản
Ảnh hưởng trực tiếp từ tư tưởng của Saussure về lý thuyết ngôn ngữ, cũng như
chủ nghĩa hình thức Nga, các nhà Cấu trúc luận chỉ quan tâm đến các yếu tố nội tại của ngôn ngữ và văn bản Họ bỏ qua các yếu tố bên ngoài văn bản như hoàn cảnh xã hội, văn hóa, tác giả mà chỉ quan tâm đến những yếu tố cấu thành nên văn bản, đó chính là ngôn ngữ và cấu trúc văn bản Họ chủ trương khai phá nội dung, ý nghĩa từ hình thức,
Trang 21nghệ thuật của văn bản Với phương châm đó, chủ nghĩa cấu trúc đã có những đóng góp không nhỏ trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Song với tính cực đoan, phiến diện, những hạn chế của chủ nghĩa cấu trúc đã tạo tiền đề cho sự ra đời của trào lưu giải cấu trúc Và trong lòng của trào lưu giải cấu trúc, lý thuyết liên văn bản đã thực sự ra đời
Có thể nói, người có công khai phá, khởi xướng cho lý thuyết liên văn bản là một nhà
giải cấu trúc, J Derrida Với quan niệm “không có cái gì tồn tại bên ngoài văn bản”, J
Derrida muốn nói rằng, toàn bộ thế giới là một văn bản lớn được cấu thành bởi những mạng lưới văn bản chằng chịt, đan dệt, xuyên thấm vào nhau
Từ tư tưởng khởi phát của J Derrida và từ việc nghiên cứu kĩ lưỡng công trình của
M Bakhtin: Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong nghệ thuật sáng tác ngôn từ
(1924), Julia Kristeva, nhà ký hiệu học, nhà phê bình chủ nghĩa nữ quyền người Pháp
đã đề xuất thuật ngữ liên văn bản Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1967
trong bài tiểu luận “Bakkhtin, từ, đối thoại và tiểu thuyết” của bà được đọc trong buổi cimenar về Bakhtin do R Barthes chủ trì Tư tưởng của Bakhtin lúc bấy giờ là bước đột phá mới trong lĩnh vực nghiên cứu văn học nhưng nó lại không được biết đến nhiều ở phương Tây và chính J Kristeva là người có công đưa tư tưởng của Bakhtin
đến với phương Tây Bakhtin và các nhà Hình thức Nga cho rằng: “Những từ mà
chúng ta dùng ngày hôm nay đều chứa đựng tiếng nói của những người khác” [46,
tr.1740] Hơn nữa, tác phẩm văn chương dùng ngôn từ để sáng tác nên với tư cách là
một kiểu lời nói, “nó tất yếu có quan hệ đối thoại với những tác phẩm khác ra đời
trước đó và mời gọi sự đối thoại ở những tác phẩm ra đời sau nó Đây là bản chất đối thoại của ngôn ngữ và tồn tại xã hội” [126, tr.175] Từ đó, chúng ta thấy rằng khi sáng
tác, nhà văn sẽ đứng giữa vô vàn những tiếng nói khác nhau Mỗi tiếng nói là một diễn ngôn trong đời sống bị chi phối bởi hoàn cảnh, địa vị, giới tính của chủ thể phát ngôn Công việc của nhà văn là đưa những tiếng nói đó vào trong tác phẩm, tạo thành những đối thoại của các chủ thể diễn ngôn Với Bakhtin, tính đối thoại trong tác phẩm văn học không chỉ là những đối thoại của các chủ thể trong tác phẩm mà còn đối thoại giữa các chủ thể trong tác phẩm với các chủ thể ở các tác phẩm khác và cả bên ngoài tác
phẩm như hiện thực xã hội, bối cảnh văn hóa, tri thức, khoa học,… Đó chính là tính
Trang 22liên chủ thể Như vậy, đồng thời với tính chủ thể, Bakhtin nhận ra tính liên chủ thể trong hành vi sử dụng ngôn ngữ của con người
Từ nguyên tắc đối thoại trong giao tiếp ngôn ngữ của Bakhtin, J Kristeva đã liên tưởng tới sự “đối thoại” giữa các văn bản trong một văn bản Và Kristeva đã sáng tạo
ra thuật ngữ tính liên văn bản để thay thế cho quan niệm về tính đối thoại/tính liên
chủ thể của Bakhtin Song nguyên tắc đối thoại của Bakhtin và định nghĩa về tính
liên văn bản của J Kristeva có sự khác biệt Đó là, nếu “nguyên tắc đối thoại của
Bakhtin đòi hỏi sự đối thoại của các chủ thể, sự đối thoại của các tâm thức hành ngôn,
và ở mỗi phát ngôn có tác giả của mình” thì theo quan niệm của Kristeva liên văn bản
là “chỗ giao cắt của các mặt phẳng văn bản khác nhau”, là “sự đối thoại của các kiểu viết khác nhau” [70] Như vậy, nếu Bakhtin quan tâm đến tính đối thoại của các chủ
thể/tính liên chủ thể trong văn bản thì Kristeva lại quan tâm đến tính liên văn bản giữa các văn bản, “mỗi văn bản là giao tuyến của các văn bản, là sự xếp chồng lên nhau
của các văn bản” [127, tr.48] Theo Kristeva, “văn bản không được hình thành từ những ý đồ sáng tác riêng tây của người cầm bút mà chủ yếu là từ những văn bản khác đã hiện hữu trước đó: mỗi văn bản là một sự hoán vị của các văn bản, nơi lời nói
từ các văn bản khác gặp gỡ nhau, tan loãng vào nhau và trung hoà sắc độ của nhau”
Bà cũng cho rằng: “Ngoài cái thực tồn tại bên cạnh nhà nghệ sĩ, anh ta còn có quan hệ
với văn học trước đó và văn học cùng thời với mình, văn học mà anh ta luôn cùng nó đối thoại, và cuộc “đối thoại” này được hiểu như cuộc đấu tranh của nhà văn với những hình thức văn học hiện tồn” [3, tr.422] Nói cách khác, không có văn bản nào
thực sự cô lập, một mình một cõi, như một sự sáng tạo tuyệt đối; văn bản nào cũng chịu sự tác động của văn bản văn hóa, cũng chứa đựng ít nhiều những cấu trúc ý thức
hệ quyền lực thể hiện qua các hình thức diễn ngôn khác nhau trong xã hội Hậu quả là
từ hay văn bản nào cũng là một giao điểm với ít nhất là một từ hay một văn bản khác
được đọc Và vì thế, liên văn bản là bản chất đối thoại của ngôn ngữ văn học Quan
niệm này của Kristeva đã cho thấy sự tiếp thu có sáng tạo của bà đối với lý thuyết về nguyên tắc đối thoại của Bakhtin Đây thực sự là bước chuyển và đóng góp lớn của Kristeva cho trào lưu giải cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại nói riêng và cho nền lí luận phê bình văn học nhân loại nói chung
Trang 23Nếu Julia Kristeva là người có công hình thành thuật ngữ liên văn bản thì chính Roland Barthes mới là người thành công hơn cả trong việc phát triển lý thuyết liên văn
bản Hai năm sau tiểu luận của J.Kristeva, Roland Barthes, trong bài viết Cái chết của
tác giả, đã khai triển khái niệm liên văn bản một cách hệ thống và đầy đặn hơn Ông
không chỉ ủng hộ khái niệm liên văn bản của Kristeva mà còn xây dựng những luận điểm quan trọng làm cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ, vững bền và ngoạn mục của lý
thuyết liên văn bản Theo R Barthes, “bất kỳ văn bản nào cũng được hiểu như một
không gian đa chiều, nơi có rất nhiều văn bản va đập và xáo trộn vào nhau mà không một cái nào là gốc cả Lúc đó, vai trò của tác giả không còn nữa, thuật ngữ tác giả sẽ được thay thế bằng người viết hiện đại Anh ta chỉ là “người biên chép” – sinh thành cùng với văn bản của mình, không tồn tại trước hoặc vượt ra ngoải bản thân sự viết”
[126] Như vậy, với R Barthes, Tác giả – Thượng đế (Author – God) đã chết, văn bản
đã không còn là phát ngôn, là tiếng nói của riêng tác giả mà là một không gian đa chiều kích, hội tụ nhiều tiếng nói khác nhau, dung chứa nhiều luồng diễn ngôn đan xen, đối thoại với nhau nhưng cũng có khi tan loãng vào nhau Văn bản giống như một tấm vải dệt, được dệt từ vô số sợi chỉ “trích dẫn” mà không rõ nguồn gốc, “bản thân cuốn sách cũng chỉ là một tấm dệt từ các kí hiệu” Một đóng góp quan trọng của
Barthes cho lý thuyết liên văn bản nữa là ông đã đưa ra thuật ngữ tính đa bội Tính đa bội của Barthes được hiểu “không phải là tính có nhiều ý nghĩa mà là vô số ý nghĩa
Tính đa bội này luôn liên quan đến sự tương tác giữa người đọc với tác giả và giữa văn bản này với các văn bản khác Đây chính là tính liên văn bản của mọi văn bản theo quan niệm của Barthes” [126, tr.176]
Sau này, khái niệm liên văn bản được đi vào thực tiễn nghiên cứu trong lý thuyết của các nhà hậu cấu trúc luận (post-structuaralist) của Pháp như Jacques Derrida, Jacques Lacan, Michel Foucault, Jean-Francois,… cũng như được các nhà giải cấu trúc luận (deconstructivist) của Mỹ như Paul de Man, Harold Bloom, Geoffrey Hartman,… sử dụng phổ biến Chẳng hạn, M Foucault, cha đẻ của một trong những trường phái Tân Lịch Sử (New Historicism) thuộc trào lưu hậu hiện đại quan niệm:
Trang 24Những biên thuỳ của một cuốn sách không bao giờ rõ ràng: bên kia trang bìa ghi ra tựa đề cuốn sách, bắt đầu từ những dòng đầu tiên cho đến khi cuốn sách ngưng lại ở dấu chấm cuối cùng; vượt ra ngoài cấu trúc nội tại
và hình thức tự thân của cuốn sách ấy; thực chất, cuốn sách bị trói chặt vào một mạng nhện các trích dẫn từ nhiều cuốn sách khác, những văn bản khác, hay những dòng văn lắng lại trong ký ức thu nhận được trong nhiều quá trình đọc trước đây [86]
Trong khi đó, M.Riffattere, một nhà lí luận có vai trò lớn trong việc phát triển
lí thuyết liên văn bản, đặc biệt quan tâm đến quá trình tiếp nhận của người đọc đối với tác phẩm thơ và đã vận dụng lý thuyết liên văn bản trong việc phân tích thơ ca và quá trình đọc ngôn ngữ Với Riffaterre, liên văn bản là sự nhận thức của người đọc về các
mối quan hệ giữa một tác phẩm với các tác phẩm khác xuất hiện trước nó hay sau nó
Còn H.Bloom đã đưa ra lý thuyết ảnh hưởng là đọc sai Theo H.Bloom: “Ảnh hưởng
có nghĩa là căn nguyên của nó không phải ở trong văn bản, mà là ở trong quan hệ giữa các văn bản với nhau” [68, tr.155] Như vậy, H.Bloom đã dùng khái niệm “liên
văn bản” của chủ nghĩa giải cấu trúc để lí giải vấn đề ảnh hưởng Gerffery Hartman lại
xuất phát từ việc cho rằng: “Ngôn ngữ thật ra là một hệ thống mạng chằng chịt, phức
tạp, nghĩa của mỗi từ không phải do tự thân, mà phải được định nghĩa theo những ai nghĩ trước và sau nó, thậm chí với cả hệ thống ngôn ngữ để khẳng định văn bản tác phẩm văn học càng mơ hồ đa nghĩa” [68, tr.155] Chủ nghĩa giải cấu trúc vốn đã cho
tính đa nghĩa của văn bản là do “tính liên văn bản”, nhưng G Hartman có bổ sung thêm là “tính liên văn bản” không phải chỉ có giữa các tác phẩm văn học với nhau, mà
còn giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác nữa, và cả với phê bình: “Một loại
hình nghệ thuật nào cũng dựa vào các loại hình nghệ thuật khác, và cả với phê bình nữa, và được chúng sửa đổi lại” [68, tr.162] Ngoài ra, G.Genette đã mở rộng khái
niệm liên văn bản thành xuyên văn bản (transtextuality) với các khái niệm nhỏ đính kèm: liên văn bản (intertextualité), cận văn bản (paratextualité), siêu văn bản (métatextualité), ngoa dụ văn bản (hypertextualité), kiến trúc văn bản (architextualité)
Trong quá trình điểm lại lịch sử lý thuyết liên văn bản ở trên, chúng tôi nhận thấy mỗi nhà lý luận đều có những quan niệm riêng và đưa ra những lý thuyết riêng
Trang 25cho thuật ngữ này Trong đó có những người có cùng quan điểm với nhau, người đi sau kế thừa và phát triển ý tưởng của người đi trước, góp phần cho lý thuyết này hoàn thiện hơn Nguyễn Văn Thuấn, trong luận án Tiến sĩ của mình, đã cho rằng trên thế giới, về cơ bản, có hai xu hướng khác nhau trong luận giải và thực hành phân tích liên văn bản: ở hướng cấu trúc - trần thuật (Genette và Riffatene là đại diện) và hướng giải cấu trúc - hậu hiện đại (với các đại biểu như Barthes, Derrida, Eco, Kristeva, Bloom)
Ở mỗi hướng, ông đi sâu tìm hiểu quan niệm của một số nhà lý luận tiêu biểu và khái quát lý thuyết của họ như ở hướng cấu trúc - trần thuật thì G Genette với tính xuyên văn bản, M Riffatene và ảo tưởng quy chiếu Còn ở hướng giải cấu trúc - hậu hiện đại thì Mikhail Bakhtin với tính đối thoại, Julia Kristeva với tính liên văn bản, Roland Barthes với tính đa bội
1.1.2 Những khái niệm về liên văn bản
Trước hết, để hiểu đúng về thuật ngữ liên văn bản, chúng tôi nghĩ rằng cần phải
nhắc lại khái niệm văn bản (text) Theo Hoàng Trinh: “Văn bản là một tổ chức gồm
những màng lưới ký hiệu được liên kết với nhau dưới các hình thức khác nhau tùy theo đối tượng phản ánh và mục tiêu mà nó nhằm đạt tới Cái gì được diễn đạt ra, được truyền bá để giao tiếp đều có thể xem là văn bản” [133, tr.57] Như vậy, văn bản được
tạo nên bởi màng lưới ký hiệu, những ký hiệu đó có thể là ngôn từ hoặc phi ngôn từ và
cũng có thể là những biểu tượng đã được mã hóa ý nghĩa Do đó, “nói văn bản theo
nghĩa rộng là tất cả những cái tồn tại trong xã hội chứa đựng những hệ thống ký hiệu nhằm đạt một sự giao tiếp xã hội” [133, tr.57] Đó là văn bản văn hóa, văn bản lịch sử,
hiện thực xã hội, thể chế chính trị,… Những văn bản này chính là hình ảnh của thế giới, là tồn tại xã hội, là sản phẩm do cộng đồng tạo nên, chúng luôn có mối quan hệ
đan dệt lẫn nhau để tạo nên một văn bản khổng lồ là thế giới “Nói theo nghĩa hẹp, văn
bản là một hệ thống những ký hiệu nằm trong khuôn khổ hạn hẹp của một cơ chế nhất định (bài diễn thuyết, thơ, tiểu thuyết, bài báo,…)” [133, tr.57] Văn bản theo nghĩa
hẹp là tất cả những văn bản có ký hiệu là ngôn từ Khác với văn bản theo nghĩa rộng, văn bản loại này mang tính cá nhân và có thể tri giác được
Theo Lê Huy Bắc, “các nhà hậu hiện đại xem thế giới là thế giới của ngôn từ Tất cả đều được “kiến tạo” và hiện diện bởi ngôn từ Vậy nên, mọi tồn tại của thế giới
Trang 26tự nhiên và xã hội đều là “văn bản” và văn bản nào cũng chịu sự chi phối bởi các văn bản khác Chúng không bao giờ có được sự độc lập tuyết đối” [12] Cách hiểu này giống cách hiểu theo nghĩa rộng của Hoàng Trinh Điều đó cho thấy liên văn bản là bản chất của tồn tại, mọi thứ “không có gì là ngoài văn bản” theo cách nói của Jacques Derrida
Có thể nói, kể từ khi J Kristeva đề xuất thuật ngữ liên văn bản cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào cho thuật ngữ này Vì thế, ở đây, chúng tôi cũng sẽ chỉ điểm lại những khái niệm, những cách hiểu được đồng thuận nhiều nhất về liên văn bản
Theo Nguyễn Minh Quân, trong Liên văn bản – sự triển hạn đến vô cùng của tác
phẩm văn học, một cách khái quát, người ta chia ra hai loại liên văn bản: Kinh điển và
Hậu hiện đại Liên văn bản theo quan niệm kinh điển “biểu hiện sự liên hệ trực tiếp
giữa văn bản này và văn bản khác, ví dụ, trên phương diện thực hành, ghi chú rõ ràng nguồn gốc tài liệu tham khảo trong một bài nghiên cứu văn học (hay khoa học), hoặc
sử dụng các điển cố trong Truyện Kiều chẳng hạn” [86] Khái niệm kinh điển về liên
văn bản cho thấy tính liên văn bản vốn đã có từ lâu đời Ngay từ khi con người dùng ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp, họ đã biến các vỏ âm thanh thành những từ ngữ
có giá trị biểu nghĩa, đồng thời quy ước, mã hóa nghĩa của các sự vật hiện tượng thành những biểu tượng, cổ mẫu Trong giao tiếp, con người buộc phải tuân thủ theo những quy ước đó Trong khoa học tự nhiên cũng như xã hội, con người không tránh khỏi việc sử dụng những thuật ngữ khoa học, những dẫn chứng trong trích dẫn của mình
Và trong sáng tác văn học cũng vậy, việc sử dụng những điển tích, điển cố là chuyện
thường thấy của văn học cổ điển Chúng ta có hẳn một cuốn Từ điển điển tích, điển cố
Truyện Kiều là minh chứng cho tính liên văn bản trong văn học trung đại
Trong quan niệm Hậu hiện đại, khái niệm liên văn bản gắn liền với ba tên tuổi Jacques Derrida, Roland Barthes và Julia Kristeva – những lý thuyết gia tiên phong trong trào lưu giải cấu trúc và phê bình hậu hiện đại Nếu Jacques Derrida là người đầu tiên khơi động ý tưởng “không có gì ngoài văn bản” để manh nha những ý thức phôi thai về vai trò của liên văn bản (intertextuality) thì, Roland Barthes mới là người đi đầu trong sự cổ xuý và quảng bá tư tưởng này như một bước đột phá lớn - đưa văn học
Trang 27từ điểm nhìn gò bó và tù hãm dựa trên hệ lý thuyết cấu trúc luận (structualism), sang một cách nhìn rộng hơn, sâu hơn và nhiều tự do hơn của lý thuyết giải cấu trúc (deconstruction) Với quan niệm “không có cái bên ngoài văn bản”, J Derrida muốn
nói rằng, toàn bộ thế giới là một văn bản lớn được cấu thành bởi những mạng lưới văn bản chằng chịt, đan dệt, xuyên thấm vào nhau Điều đó có nghĩa là mọi hiện tượng trong đời sống đều là những văn bản nhỏ kết cấu nên toàn bộ thế giới như một văn bản rộng lớn Quan điểm này của J Derrida trở thành quan điểm chung của trào lưu giải cấu trúc là “Thế giới là một văn bản khổng lồ” Văn bản ở đây không còn được hiểu
bó hẹp là những văn bản ngôn từ mà là những diễn ngôn trong đời sống Mỗi diễn ngôn là một văn bản nhỏ và sự va đập, vỡ vụn, tan loãng, chồng xếp lên nhau của các
diễn ngôn này tạo thành một văn bản khổng lồ là thế giới Như thế, ta có thể hình dung
“ thế giới như một thư viện vĩ đại chứa đựng vô số quyển sách, mỗi quyển sách là một văn bản, mỗi văn bản lại tựa trên các chữ cái, các quy tắc hành ngôn, các diễn ngôn văn hóa, chính trị, xã hội, cứ thế, mọi thứ tạo nên một vòng xoắn ốc đan bện vào nhau,
và tất cả, vừa là đa thể, vừa là nhất thể Liên văn bản, không gì khác, là liên ngôn ngữ, liên bản ngã, liên đới ý thức” [65]
Thuật ngữ liên văn bản do Julia Kristeva đặt ra để chỉ những mối quan hệ khác nhau có thể có của một văn bản cho trước với những văn bản khác Những quan hệ có
tính chất liên văn bản này bao gồm sự nghịch đảo (anagram), sự ám chỉ (allusion), sự
phỏng thuật (adaptation), sự dịch thuật (translation), sự biếm phỏng (parody), sự cắt dán (pastiche), sự mô phỏng (imitation) và những kiểu biến đổi khác J Kristeva quy
chiếu văn bản vào một biểu đồ gồm hai trục: trục ngang (horizontal axis) – thể hiện sự liên kết giữa tác giả và người đọc; và trục đứng (vertical axis) – biểu tượng cho sự liên kết một văn bản này đến những văn bản khác Kết hợp sự quy chiếu của cả hai trục một cách đồng thời lên một văn bản nhất định, nhà phê bình (hay, hẹp hơn, người biết đọc) sẽ tìm thấy một nguyên tắc chung: tất cả mọi văn bản được viết và đọc đều phải
lệ thuộc vào những quy ước đã hiện diện từ trước“mọi văn bản ngay từ khi bắt đầu đã
chịu ảnh hưởng và nằm trong phạm vi tác động của những giải trình ngôn ngữ khác nhau, mà mỗi giải trình ngôn ngữ như thế, luôn luôn chịu chi phối bởi một vũ trụ gồm nhiều văn bản khác” [86] Từ đó, đi xa hơn, bà cho rằng: “Mỗi văn bản là một liên văn
Trang 28bản, ở đó các văn bản khác cùng hiện hữu để góp phần chi phối và làm thay đổi diện mạo của văn bản ấy; mỗi văn bản là một sự hấp thụ và chuyển thể của văn bản khác,
là một “bức khảm các trích dẫn” - ở đó, có vô số những mảnh vụn của các mã ngôn ngữ, các quy ước văn học, các khuôn mẫu nhịp điệu, các hình thức diễn ngôn vốn từng phổ biến trong xã hội” [127, tr.46] Tuy nhiên – theo Kristeva, hầu hết các trích dẫn
đó được nhà văn sử dụng một cách vô thức, nó không được để trong ngoặc kép hoặc trích nguồn nên khó có thể truy nguyên nguồn gốc và mọi công việc truy tìm xuất xứ
của các trích dẫn là vô ích Để tránh việc gắn thuật ngữ tính liên văn bản với những từ ngữ truyền thống như “ảnh hưởng/nguồn gốc”, Kristeva đề nghị dùng thuật ngữ sự
chuyển vị (transposition) để thay thế thuật ngữ tính liên văn bản Sự chuyển vị
được định nghĩa như “một hành trình từ hệ thống kí hiệu này đến hệ thống kí hiệu
khác nh ằm giải cấu trúc vị trí cũ và thể hiện một địa vị mới, sâu sắc hơn” [127,
tr.47] Tức là, tính liên văn bản được hiểu như “một sự chuyển vị của nhiều văn bản,
một liên văn bản trong không gian của một văn bản”, nơi mà “một số phát ngôn, lấy
ra từ những văn bản khác, giao cắt và trung giới hóa một văn bản khác” Ở đây,
“liên văn bản không phải là chuyện văn bản này được nhúng trong văn bản khác mà
là sự chuyển vị của một hay nhiều hệ thống kí hiệu này sang hệ thống kí hiệu khác”
[127, tr.47]
Hai năm sau tiểu luận của Julia Kristeva, Roland Barthes, trong bài viết Cái chết
của tác giả, đã triển khai khái niệm liên văn bản một cách hệ thống và đầy đặn hơn
Barthes không chỉ ủng hộ khái niệm của J Kristeva mà còn phát triển nó theo một hướng rất độc đáo và nêu những luận điểm quan trọng làm cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của lý thuyết liên văn bản R Barthes quan niệm một văn bản thuần tuý là một đơn vị nhỏ trong mạng lưới vô cùng rộng lớn của hằng hà sa số những văn bản khác Xa hơn, Barthes còn nhấn mạnh, văn bản của hôm nay, thực ra, chỉ là sự viết lại của những văn bản đã tồn tại từ trước, những nghi vấn về khởi thuỷ của một tác phẩm dần dần bị bôi xoá và không còn đóng một vai trò quan trọng Theo Roland Barthes,
“Mỗi văn bản là một liên văn bản” Nhận định này cho thấy sự xóa nhòa ranh giới
giữa các văn bản của các tác giả riêng rẽ, giữa văn bản văn học cá nhân và văn bản vĩ
mô truyền thống, giữa các văn bản thuộc thể loại và loại hình nghệ thuật khác nhau
Trang 29(không nhất thiết là mang tính nghệ thuật), giữa văn bản và độc giả, và cuối cùng, giữa các văn bản và hiện thực Chính vì thế, “mỗi văn bản đều như là một tấm vải mới được
dệt bằng những trích dẫn cũ” Nó là “một bức tranh khảm chứa đựng cả một thiên hà các trích dẫn, bất cứ văn bản nào cũng mang dấu vết của sự hấp thụ và chuyển thể từ các văn bản khác” [86] Từ đó, ta thấy văn bản, theo R.Barthes, không phải là một tổ
hợp ngôn ngữ tự trị, cố định mà ngược lại, là không gian đa nguyên chứa đựng vô số các văn bản đến từ vô số các hiểu biết, niềm tin, văn hóa khác nhau Tất cả chúng hòa trộn vào nhau, gối chồng ý tưởng vào nhau và không có một văn bản nào là hoàn toàn độc sáng hay là cội nguồn Ý nghĩa của văn bản, không chỉ có từ chính nó, mà còn nằm ở khoảng giao thoa giữa các văn bản xung quanh Theo đó, không có bất kì văn bản nào tồn đại một cách độc lập mà nó luôn nằm trong mối quan hệ liên văn bản Đó chính là sự giao thoa, ảnh hưởng của văn bản này với văn bản kia (theo chiều đồng đại), của văn bản trước với văn bản sau (theo chiều lịch đại), của văn bản văn hóa – lịch sử, hiện thực xã hội đối với ý thức sáng tạo của nhà văn
Từ quan niệm văn bản là “một bức tranh khảm chứa các trích dẫn”, Roland Barthes đã đưa ra quan niệm “Cái chết của tác giả” Theo ông, trong mỗi văn bản, tác giả không còn là chủ thể phát ngôn tư tưởng, định hướng nhận thức cho người đọc mà tác giả chỉ là “người ghi” Trong sự viết, tác giả không phải là người dùng ngôn ngữ để viết nên tác phẩm mà chính ngôn ngữ đang viết nên tác giả, ngôn ngữ biểu đạt tư tưởng, tình cảm và viết lên con người tinh thần của tác giả Ngôn ngữ là chủ thể phát ngôn chứ không phải nhà văn Bởi khi sáng tác, người viết buộc phải sử dụng những khái niệm, quy ước và biểu tượng của xã hội đã được mã hóa trong ngôn ngữ để hình thành nên tác phẩm Những khái niệm và quy ước đó mang tính độc lập, khách quan
và luôn tồn tại tính đối thoại của các diễn ngôn văn hóa, lịch sử, không phụ thuộc vào
ý muốn chủ quan của người viết Nhiệm vụ của người viết là chỉ thể hiện những hỗn độn của đời sống, tạo ra những khoảng trống văn chương, dành chỗ cho người đọc tự
do khám phá các tầng ý nghĩa của tác phẩm Tác giả không thể và không muốn áp đặt
ý nghĩa tác phẩm lên người đọc Như vậy, theo quan niệm của R Barthes nói riêng và của chủ nghĩa hậu hiện đại nói chung, cùng với cái chết của tác giả là sự lên ngôi của người đọc Thuật ngữ người đọc sáng tạo cũng từ đây mà ra đời Người đọc trong quá
Trang 30trình khám phá tác phẩm giống như tham gia một trò chơi và phải am tường luật chơi Đầu tiên, để có thể nắm bắt được tác phẩm theo tinh thần liên văn bản, người đọc buộc phải được trang bị mã ngôn ngữ, vốn từ vựng, phông nền văn hóa cũng như kiến thức
xã hội,… và khi diễn giải, người đọc có thể viết lại tác phẩm theo nhiều cách Lúc đó,
chính người đọc một lần nữa đã tạo nên một tác phẩm theo tinh thần liên văn bản Cùng với người đọc thông thường còn có một loại siêu độc giả, đó là giới nghiên cứu phê bình văn học Không nằm ngoài luật chơi, những người nghiên cứu phê bình văn chương cũng phải tham gia vào trò chơi liên văn bản thì mới có thể khai mở được tất
cả những ẩn ý, hàm ngôn mà nhà văn mã hóa trong tác phẩm Từ đó ta thấy lý thuyết liên văn bản thật sự là một đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại, nó mang tinh thần của hậu hiện đại, làm rõ hơn cho những đặc điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại
G Genette, một nhà cấu trúc luận lại đề ra khái niệm tính xuyên văn bản với tham
vọng thay thế khái niệm tính liên văn bản do Kristeva đặt ra Ông cho rằng mỗi văn
bản là một palimpsest: “Một bản viết trên miếng da, được viết lần hai, lần viết đầu đã
bị cạo xóa Văn bản sau viết đè lên văn bản trước Nó nhất thiết mang những vết tích của văn bản trước đó và vì thế mà có tính xuyên văn bản (transtextuality)” [127,
tr.28] Xuyên văn bản, theo G Genette có năm tính chất sau: liên văn bản (intertextuality), c ận văn bản (paratextuality), siêu văn bản (metatextuality), kiến trúc v ăn bản (architextuality), ngoa dụ văn bản (hypertextuality) Liên văn bản trong
quan niệm của Genette là mối quan hệ cùng hiện diện giữa hai văn bản hay một vài văn bản trong một văn bản cụ thể Quan niệm này gần với quan niệm của Bakhtin về sự tương tác giữa các thể loại văn học Theo đó, tiểu thuyết có thể thu nạp nhiều thể loại, nhiều văn bản khác nhau trong một chỉnh thể tác phẩm Từ đó, theo Genette, liên văn
bản có ba hình thức biểu hiện là trích dẫn (citation), đạo văn (plagirism) và ám chỉ
(allusion)
Tóm lại, theo L.P.Rjanskaya,“liên văn bản hiểu theo nghĩa rộng nhất có thể
được xác định như là “sự tương tác của văn bản”, nhưng tùy thuộc vào lập trường triết học và nghiên cứu của nhà khoa học mà nội dung cụ thể của nó có thể biến đổi”
[70] Theo đó, liên văn bản là một khái niệm vừa nhằm chỉ tất cả các thủ pháp kiến tạo những mối quan hệ giữa các văn bản văn học (trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt
Trang 31chước, vay mượn), vừa nhằm miêu tả thuộc tính bản thể của mọi văn bản Chính vì liên văn bản là thuộc tính bản thể của mọi văn bản nên theo Nguyễn Văn Thuấn,
“Liên m ạng, liên văn hóa, liên ngành, liên chủ thể, liên ý thức, liên cá nhân là những khái ni ệm gần gũi của tính liên văn bản” [127] Với lý thuyết này, văn bản luôn
tồn tại trong thế đa nguyên, năng sản và luôn hàm chứa tính đối thoại Vì thế, việc tiếp cận văn học từ lý thuyết liên văn bản là một hướng tiếp cận triển vọng bởi nó kích thích tinh thần khám phá khoa học, mở ra khả năng hiểu biết những vỉa tầng văn hóa của người đọc cũng như giúp họ nhận thức sâu sắc hơn hiện thực cuộc sống đa chiều
1.2 Tình hình tiếp nhận và vận dụng lý thuyết liên văn bản ở Việt Nam
Như trên đã nói, liên văn bản là một trong những phát hiện quan trọng của lý thuyết văn học thế kỉ XX Sự xuất hiện của nó đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong việc diễn giải mối liên hệ trong giao tiếp của con người cũng như tạo nên những nhận thức mới về sự tồn tại và vận động của bản chất sự sống và sự thực hành ngôn ngữ Chính vì lẽ đó, lý thuyết liên văn bản không chỉ nhanh chóng được tiếp nhận ở phương Tây mà còn ảnh hưởng lan rộng đến các khu vực khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam
1.2.1 T iếp nhận lý thuyết liên văn bản
Ở Việt Nam, ngay từ những thập niên 70, 80 của thế kỉ XX, một số nhà nghiên cứu văn học lớn, có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu lý thuyết văn học nước ngoài nên đã nhanh chóng nắm bắt được tinh thần của lý thuyết liên văn bản Người đầu tiên có công giới thiệu lý thuyết này vào Việt Nam là Hoàng Trinh Vốn là nhà nghiên cứu văn học phương Tây, nhà lý thuyết và lịch sử văn học, nhà kí hiệu học Việt Nam, ông là người am hiểu lý thuyết văn học phương Tây, đặc biệt nhanh chóng nắm bắt những lý thuyết mới Ngay sau khi tư tưởng của Bakhtin về nguyên tắc đối thoại, tính
đa âm, phức điệu trong tiểu thuyết và thuật ngữ liên văn bản của Kristeva được giới thiệu ở phương Tây, ông đã tìm hiểu và giới thiệu tinh thần của lý thuyết liên văn bản trong cuốn Từ ký hiệu học đến thi pháp học, xuất bản năm 1993 [133] và được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1, năm 1995) Trong cuốn sách này, ở phần Ngôn ngữ -Lời - Ngôn từ - Văn bản, khi làm rõ khái niệm văn bản ông đã viết: “Một văn bản bao
Trang 32giờ cũng kế thừa những văn bản có trước và bao giờ cũng mang nhiều tiếng nói hội nhập vào nhau Đó là tính “liên văn bản” của mọi văn bản” Ông giải thích thêm: “một tác phẩm văn học mang dấu ấn của sự kế thừa và của tính liên văn bản rất rõ ở nhiều chỗ tác phẩm trước đó đã được tác giả sau này đọc, mô phỏng tham khảo hoặc vận dụng” Ông cũng chỉ rõ: “ngay trong một tác phẩm cũng có nhiều tiếng nói: tác giả, quần chúng, thời đại, nhân vật Đó là tính liên văn bản hay tính đối thoại của văn học” Đồng thời, ông còn minh chứng: “lí luận về thi pháp học của Bakhtin (Liên xô) đã chỉ
rõ tính liên văn bản trong tác phẩm của Ra-bơ-le (Rabelais) và Đô-xtôi-ép-xki, tạo ra tính “đa âm” (polyponique) và “tính đối thoại” (dialogique) hết sức chân thực và sống động trong các tiểu thuyết” [133, tr.59] Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Thuấn nhận xét,
“vì thiếu tính lịch sử – hệ thống, lại xuất hiện tiên phong trong một hoàn cảnh văn hóa không thuận lợi nên lí thuyết liên văn bản mà Hoàng Trinh giới thiệu chưa gây được những hiệu ứng đáng kể” [127, tr.14]
Người thứ hai có công giới thiệu lý thuyết liên văn bản vào Việt Nam là Trần Đình Sử Đóng góp lớn của nhà nghiên cứu cho nền lí luận phê bình văn học Việt Nam là những công trình về Thi pháp học Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về công trình Những vấn đề thi pháp Đốt-xtôi-épxki của Bakhtin, Trần Đình Sử đã có
nhắc đến thuật ngữ liên văn bản nhưng do ông chỉ tập trung về thi pháp học nên những vấn đề liên văn bản không được ông đề cập nhiều Một nhà Thi pháp học khác
có công lớn trong việc tiếp nhận và giới thiệu lý thuyết liên văn bản ở Việt Nam là Đỗ
Đức Hiểu Ông là người “chỉ rõ mối quan hệ giữa tính đối thoại và tính liên văn bản,
vận dụng nó một cách nhuần nhị” [127, tr.15] Nếu người tiên phong trong việc tiếp
nhận lý thuyết liên văn bản là Hoàng Trinh còn chưa thống nhất trong việc hiểu cũng như phân biệt tính đối thoại và liên văn bản thì đến Đỗ Đức Hiểu, cách hiểu về tính
đối thoại và liên văn bản đã có sự thống nhất, “theo Đỗ Đức Hiểu, tính đa âm = tính
đối thoại = tính liên văn bản” [127, tr.15] Về sau, trong cuốn Từ điển văn học (Bộ
mới) (2004) do Đỗ Đức Hiểu chủ biên, ở trang 1740 [46], trong mục Tính liên văn
bản, ông đã trình bày ngắn gọn về thuật ngữ liên văn bản Theo ông, thuật ngữ này
“chỉ toàn bộ các mối quan hệ giữa một văn bản với một hay nhiều văn bản khác”
Đồng thời, ông trình bày quan niệm của Bakhtin và Kristeva về liên văn bản Sự xuất
Trang 33hiện của thuật ngữ Liên văn bản trong Từ điển văn học cho thấy, tính liên văn bản đã
được tiếp nhận và phổ biến rộng rãi, trở thành một thuật ngữ có một vị thế nhất định trong từ vựng nghiên cứu – phê bình văn học Việt Nam hiện đại
Có thể nói, việc giới thiệu những lý thuyết mới của văn học phương Tây vào Việt Nam có phần đóng góp không nhỏ của những học giả từng đi học ở nước ngoài
và những người Việt Nam ở nước ngoài như Nguyễn Nam, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Minh Quân,… Những bài viết của họ đã góp phần giới thiệu sâu và chi tiết lý thuyết liên văn bản, cung cấp cho người nghiên cứu nói riêng và người yêu văn chương nói chung một cái nhìn toàn diện và hiểu rõ đặc điểm, tính chất của lý thuyết này Nguyễn Hưng Quốc với các bài viết Mấy vấn đề phê bình và lí thuyết văn học
[87] và Văn bản và Liên văn bản [88] đã giới thiệu nguồn gốc ra đời của khái niệm,
lược sử lý thuyết liên văn bản từ Saussure, Bakhtin đến tư tưởng của Kristeva, M.Foucault, H.Bloom, G.Genette; sự khác biệt giữa liên văn bản và điển cố, điển tích; việc phát hiện ra người đọc và mối liên hệ của tính liên văn bản với chủ nghĩa hậu hiện đại, đặc biệt là hiện tượng giễu nhại hậu hiện đại (pastiche) Như vậy, có thể nói, cho đến thời điểm các bài viết này ra đời thì đây được coi là tài liệu có hệ thống đầu tiên
về lí thuyết liên văn bản được viết bằng tiếng Việt Cùng với các bài viết của Nguyễn
Hưng Quốc, bài viết Liên văn bản – sự triển hạn đến vô cùng của tác phẩm văn học
(2001) của Nguyễn Minh Quân [86] đã trình bày những khái niệm tổng quát của thuật ngữ liên văn bản (Kinh điển và Hậu hiện đại) đồng thời nêu lên những tính chất của liên văn bản: sự cáo chung của chủ thuyết cấu trúc luận, cái chết của tác giả, đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại Từ đó, ông nêu ra một cách đọc mới mang tinh thần hậu hiện đại là cách đọc liên văn bản Theo ông, cách đọc này sẽ làm cho người đọc, nhà phê bình làm giàu thêm kiến thức của mình, lối đọc ấy sẽ giúp phát hiện những tư tưởng thâm thuý, những kỹ thuật cách tân hay những lý thuyết cấp tiến ẩn tàng sau văn
bản văn học Khác với hai học giả trên, Nguyễn Nam trong các bài viết Khoảng trống
văn chương và tiếp cận liên văn bản (Nghiên cứu văn học, số 4/2004) [74], Người đọc am tường, liên tưởng mở rộng, điểm qua mấy hướng tiếp cận liên văn bản ở nước ngoài (Tạp chí Đại học Sài Gòn số chuyên đề 2011) [75], lại đi sâu vận dụng lý thuyết liên văn bản vào phân tích tác phẩm và cho thấy vai trò của người đọc trong việc giải
Trang 34mã bản chất liên văn bản của văn bản Người đọc càng am tường, càng có khả năng liên tưởng thì càng có nhiều khả năng chỉ ra các mối quan hệ liên thuộc giữa các văn bản và từ đó ý nghĩa văn bản càng được mở rộng
Bên cạnh những bài viết của các học giả ở nước ngoài, chúng ta cũng phải kể đến một số công trình dịch thuật của các nhà nghiên cứu trong nước như Lã Nguyên
với bản dịch Văn bản – Liên văn bản – Lý thuyết liên văn bản của nhà nghiên cứu văn học người Nga – G.K.Kosikov [36]; Ngân Xuyên (Phạm Xuân Nguyên) với bản dịch
Liên văn bản – sự xuất hiện của khái niệm về lịch sử và lý thuyết của vấn đề của L.P
Rjanskaya, nhà nghiên cứu văn học người Nga [70]; bản dịch của Đào Tuấn Ảnh,
Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân mục từ Liên văn bản trong sách Các khái niệm và
thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX [3]
Ngoài ra, với một số bài viết quan trọng về lý thuyết liên văn bản như Dẫn luận lí
thuyết liên văn bản (trong sách Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam - Lê Huy Bắc
chủ biên, Nxb Tri thức, 2013, trang 167-192) [126], Nhà phê bình trong thời đại “Tác
giả đã chết”, Văn nghệ trẻ số 13, 2011) [124], Khởi sự của cái chết: văn bản nhấn chìm chủ thể , Văn nghệ Trẻ số 3, 2011) [123], Liên văn bản: từ Mikhail Bakhtin đến Julia Kristeva ( Hội thảo Văn học hậu hiện đại: diễn giải và tiếp nhận, Nxb Văn học,
2013, Trang: 587-609) [125] và công trình Luận án Tiến sĩ Liên văn bản trong sáng
tác Nguyễn Huy Thiệp [126], Nguyễn Văn Thuấn đã thực sự có một cái nhìn hệ thống
về lý thuyết liên văn bản cho đến thời điểm hiện nay
Cùng với thuyết phi trung tâm, liên văn bản là một trong những đặc trưng cơ
bản của chủ nghĩa hậu hiện đại Vì thế, những nhà nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam như Trương Đăng Dung, Lê Huy Bắc,… cũng đã dành không ít tâm sức cho việc trình bày, giới thiệu lý thuyết liên văn bản Trong các công trình về chủ
nghĩa hậu hiện đại như Tác phẩm văn học như là quá trình (Nxb KHXH, Hà Nội, 2004) [17], Khoa học văn học hiện đại – hậu hiện đại (Nghiên cứu văn học, số
8/2011) [18] của Trương Đăng Dung; Văn học hậu hiện đại – lý thuyết và tiếp nhận (Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2015) [11], Liên văn bản hay tiếp nhận của tiếp nhận
(Tạp chí Đại học Văn hiến, số 7, 2015) [12] của Lê Huy Bắc, hai nhà nghiên cứu này
Trang 35đã dành nhiều thời gian tìm hiểu về nguồn gốc và tiến trình hình thành, phát triển của
lý thuyết liên văn bản
Qua những gì vừa trình bày ở trên, chúng tôi nhận thấy, lý thuyết liên văn bản
đã được các nhà lí luận ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu, giới thiệu ngay từ khi nó mới ra đời nhưng số lượng bài viết, bản dịch vẫn còn khá ít so với quy mô của lý thuyết này Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng, với sự lan tỏa và ảnh hưởng của liên văn bản trong sáng tác và phê bình văn học như hiện nay, lý thuyết liên văn bản sẽ còn được đội ngũ lí luận phê bình Việt Nam quan tâm nhiều hơn nữa
1.2.2 Vận dụng lý thuyết liên văn bản trong sáng tác và nghiên cứu văn học
Thực ra tính liên văn bản đã xuất hiện từ trong văn học trung đại ở cách dùng
điển tích, điển cố, cách vận dụng tục ngữ, thành ngữ trong Truyện Kiều, hay ảnh
hưởng văn hóa dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương,… Thế nhưng, những biểu hiện đó chưa nhiều mà một phần, nó nằm trong tính quy phạm, khuôn mẫu trong thi pháp văn học trung đại Chỉ đến khi lý thuyết liên văn bản ra đời ở phương Tây và nhanh chóng ảnh hưởng đến các nước khác thì liên văn bản mới thực sự trở thành một trào lưu, một thủ pháp văn học trong xu hướng đổi mới lối viết của văn học hậu hiện đại Ở Việt Nam, sau năm 1986, trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đã xuất hiện tính liên văn bản với những biểu hiện như đối thoại liên văn bản cùng với các hình thức liên văn bản như ảnh hưởng và đọc sai, trích dẫn và giễu nhại hay sự pha trộn thể loại Song, lúc bấy giờ, Nguyễn Huy Thiệp chưa có ý thức vận dụng thủ pháp này vào trong sáng tác của mình Sau đó, văn học Việt Nam xuất hiện rất nhiều các tác
phẩm viết theo xu hướng truyện cũ viết lại, giả cổ tích, giả lịch sử như một biểu hiện
của sự ảnh hưởng của các văn bản truyền thống (lịch sử, tôn giáo, truyện cổ tích) đến các văn bản mang tinh thần hậu hiện đại Các nhà văn mượn các văn bản truyền thống làm chất liệu, đề tài cho các sáng tác của mình theo tinh thần phi trung tâm, phi thiêng hóa và cốt yếu là dùng cái cũ để nói cái mới Tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác này
là Lê Đạt, Nguyễn Huy Thiệp, Hòa Vang, Lê Minh Hà, Võ Thị Hảo, Nguyễn Xuân Khánh,… Bước sang thế kỉ XXI, đội ngũ các nhà văn thế hệ 6X, nhà văn trẻ thế hệ 7X, 8X, 9X sung sức, năng động, nhanh chóng tiếp thu cái mới đã không ngừng mở rộng biên độ phản ánh hiện thực và đổi mới lối viết Trong xu thế văn hóa nghe nhìn
Trang 36lấn lướt văn hóa đọc, các nhà văn luôn tìm cách đổi mới kĩ thuật viết để mang đến cho người đọc một thực đơn đa dạng nhằm thay đổi “khẩu vị” của bạn đọc Và kĩ thuật liên văn bản được các nhà văn sử dụng như một biện pháp tối ưu Trong các sáng tác của Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Inrasara, Nguyễn Đình Tú, Phan Hồn Nhiên,… người ta nhận thấy các nhà văn luôn có ý thức sử dụng thủ pháp liên văn bản Các biểu hiện của liên văn bản như sự ảnh hưởng của các văn bản hiện thực xã hội, văn bản văn hóa, triết học, tôn giáo,… đến sáng tác văn học hay liên văn bản giữa các tác phẩm văn đều được thể hiện trong sáng tác của các nhà văn này Và
gần đây, tập truyện ngắn Ma nét và tiểu thuyết 3.3.3.9 [Những mảnh hồn trần] của
Đặng Thân đã thể hiện rõ những đặc điểm của liên văn bản như sự hiện diện dày đặc những văn bản khác (cả văn bản văn học, lịch sử, văn hóa, âm nhạc) trong tác phẩm với tinh thần giải thiêng, giễu nhại, lật tẩy; cách sử dụng ngôn từ thông tục, ngôn ngữ tuổi teen và đặc biệt là hình thức kết nối của văn bản viết với văn bản trên internet Đây chính là một lợi thế của văn học mạng nhưng nó cũng phản ánh đúng tinh thần đọc liên văn bản của con người hậu hiện đại trong thời đại công nghệ thông tin Như vậy, mặc dù chưa tạo thành một trào lưu nhưng những tác phẩm của các tác giả kể trên
đã cho thấy tinh thần vận dụng lý thuyết liên văn bản trong sáng tác văn học ở Việt Nam Đó như một nỗ lực cách tân, làm mới mình và làm mới diện mạo văn học nước nhà trong xu thế hội nhập của các nhà văn có ý thức học hỏi, tìm tòi, sáng tạo
Đi cùng với lĩnh vực sáng tác là lĩnh vực phê bình văn học Khi các nhà phê bình được cung cấp những hiểu biết cơ bản về lý thuyết liên văn bản, tác phẩm văn học như mảnh đất màu mỡ để họ ứng dụng, thực hành phân tích những biểu hiện của
tính liên văn bản Trong thơ, các bài viết Liên văn bản (intertext) trong Đàn ghi ta của
Lorca của Lê Huy Bắc và Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo dưới góc nhìn liên
văn bản của Phan Huy Dũng đã nhận ra những ảnh hưởng của văn hóa, lịch sử Tây
Ban Nha cũng như cuộc đời, số phận, âm thanh tiếng đàn ghi ta của thi sĩ Lorca đến
bài thơ của Thanh Thảo Trong văn xuôi, các bài viết Yếu tố liên văn bản trong tiểu
thuyết lịch sử “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo; Yếu tố liên văn bản trong tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam sau 1986 của Nguyễn Văn Hùng đã chỉ ra các mã diễn ngôn văn hóa,
lịch sử như một biểu hiện của liên văn bản trong tác phẩm Hay bài viết Liên văn bản
Trang 37trong tiểu thuyết “Chân dung cát” của Inrasara của Nguyễn Thị Quỳnh Hương đã chỉ
ra sự ảnh hưởng, hiện diện của các văn bản khác (của các tác giả khác và của chính tác giả) trong tác phẩm như một biểu hiện của tính liên văn bản Ngoài ra, còn nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khác đã đi sâu tìm hiểu những biểu hiện của tính liên văn bản trong sáng tác văn học ở Việt Nam
1.3 Văn chương Nguyễn Đình Tú trong dòng chảy văn xuôi đương đại Việt Nam 1.3.1 Cuộc đời và sáng tác Nguyễn Đình Tú
Nhà văn Nguyễn Đình Tú sinh ngày 7/7/1974 tại Kiến An, Hải Phòng Như một cơ duyên, sau khi tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội năm 1996, ông đã tu nghiệp sĩ quan tại trường Quân chính Quân khu 3 trong hai năm 1996 - 1997 Từ năm 1997 đến
2001, ông công tác tại Viện Kiểm sát quân sự Quân khu 3 Sau khi đạt giải nhì truyện ngắn của Tạp chí văn nghệ Quân đội (năm 2000), Nguyễn Đình Tú chuyển về công tác tại Tạp chí này, từ đó chính thức đi vào hoạt động văn học nghệ thuật chuyên nghiệp Ông trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005 Hiện là Phó tổng biên tập tạp chí Văn nghệ quân đội và đang sinh sống tại Hà Nội
Cũng như bao nhà văn khác ở Việt Nam, vốn khởi nghiệp không phải là nhà văn, Nguyễn Đình Tú từng học luật nhưng ông lại chọn mặc áo lính và chuyển sang
nghề văn Chia sẻ về điều này, trong một lần trả lời phỏng vấn, nhà văn đã nói: “Chọn
mặc áo lính vì nhà tôi ở gần Bộ Tư lệnh Quân khu 3, một quân khu rộng lớn, bao gồm hầu hết các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Cũng phải nói thêm rằng cụm từ “sĩ quan quân pháp” rất kích thích tôi, và tôi đã đăng ký vào quân đội khi Bộ Quốc phòng đến trường luật tuyển người” [160] Cũng theo ông chia sẻ, khi công tác trong trong ngành
quân pháp, ông có viết văn và được tạp chí Văn nghệ quân đội “nhấc” về công tác tại tạp chí này Từ đó ông đã bén duyên với văn chương, nguyện làm “người kể chuyện ở
ngã ba đường” để “với tư cách một nhà văn, tôi là người kể chuyện, là bạn đường, là
người đồng hành với bạn đọc, cố gắng bằng câu chuyện của mình, tâm sự một lẽ sống, một lẽ chết hay đơn giản, một tiếng thở dài, để cùng cảm thông và chia sẻ” [160]
Trong cảm nhận của đồng nghiệp, bạn bè, Nguyễn Đình Tú là một con người làm việc
nghiêm cẩn như nhận xét của nhà văn Lê Lựu: "Còn rất trẻ nhưng văn Nguyễn Đình
Tú đã già như một người từng trải, thạo nghề, rất chỉn chu từ ý tưởng, cốt truyện đến
Trang 38cung cách nói năng, hành động của nhân vật, ở anh rất khó bắt bẻ, không thấy sự chông chênh, không thấy độ rung quá nhịp của một trái tim hồi hộp, phấp phỏng Cái
gì cũng đến độ vừa đủ là dừng" [113]
Trưởng thành từ phong trào văn học Tuổi xanh, cho đến nay, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Tú có thể chia thành ba chặng: chặng thứ nhất là những tác phẩm tuổi xanh (chủ yếu in ở các báo dành cho tuổi mới lớn), chặng thứ hai là những tác phẩm già dặn hơn một chút (chủ yếu in ở các báo và tạp chí chuyên về văn học), và chặng thứ ba là tiểu thuyết Ông bắt đầu nghiệp viết bằng truyện ngắn nhưng lại thành
công ở thể loại tiểu thuyết Với cuốn tiểu thuyết đầu tay Hồ sơ một tử tù (2002) đoạt giải thưởng của Nhà xuất bản Công an nhân dân và Hội Nhà văn Việt Nam, được
chuyển thể thành phim truyền hình Lời sám hối muộn màng trong sơri phim Cảnh sát
hình sự, nhà văn mặc áo lính đã thật sự làm lay động trái tim độc giả khi kể về cuộc
đời và quá trình phạm tội của Bạch Đàn dưới góc nhìn đầy tính nhân văn của đạo Phật
Cuốn tiểu thuyết thứ hai, Bên dòng Sầu Diện (2006), mặc dù được tặng thưởng Nhà
xuất bản Thanh niên nhưng chưa đạt được tiếng vang Cho đến khi thực hiện hai “cú đúp” liên tiếp, ba năm với ba cuốn tiểu thuyết trong kế hoạch “Mỗi năm một cuốn sách” là Nháp (2008), Phiên bản (2009), Kín (2010); Hoang tâm (2013), Xác phàm
(2014), Cô Mặc Sầu (2015), Nguyễn Đình Tú thực sự tạo được phong cách sáng tác với những tác phẩm gây được tiếng vang lớn Từ đây, nhà văn quân đội này thực sự trở thành một “hiện tượng” trên văn đàn về sức viết, sức hấp dẫn và sức bán “chạy” của tiểu thuyết và sáng tác của ông trở thành đối tượng thu hút các nhà nghiên cứu, các khóa luận tốt nghiệp và luận văn Thạc sĩ
Sáng tác của Nguyễn Đình Tú đa dạng về đề tài song chủ yếu tập trung vào các mảng đề tài về tội phạm, về án phạt, về nhà tù, về giới trẻ, về thế giới giang hồ trong
xã hội hiện đại Điều này cũng không có gì khó hiểu bởi ông vốn là người học luật và
đã từng hành nghề luật Những kiến thức và trải nghiệm trong ngành luật đã trở thành vốn sống, thành nguồn cảm hứng để nhà văn đi sâu khám phá, thể hiện những góc khuất của đời sống xã hội và con người thời hiện đại Qua những trang văn của mình, nhà văn vừa cho bạn đọc thấy được hiện thực đời sống giới trẻ, quá trình tha hóa và bị
Trang 39tha hóa của một bộ phận tội phạm vừa giúp họ hiểu sâu hơn về đời sống tâm lí của những con người này Văn chương Nguyễn Đình Tú vì thế vừa mang tính dự báo, cảnh tỉnh vừa mang tính nhân văn sâu sắc Không chỉ dừng ở đó, dưới góc nhìn của một nhà
văn quân đội nhưng chưa từng kinh qua chiến tranh, hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác
phàm của ông đã có nhiều thể nghiệm mới khi viết về đề tài chiến tranh, mang đến những cảm giác mới lạ cho người đọc
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Đình Tú
Văn chương suy cho cùng là viết về con người và vì con người Mỗi nhà văn,
khi cầm bút đều xác định cho riêng mình một quan niệm nghệ thuật về con người
Nguyễn Đình Tú không nằm ngoài quy luật đó Đọng lại sau mỗi trang văn của ông là những câu hỏi về cái gọi là kiếp người, về hạnh phúc ở đời, về con đường vào đời của giới trẻ Viết về họ, ông muốn đi sâu khám phá đời sống tâm hồn của con người và ông chợt nhận ra rằng cái con người ta sợ nhất không phải là đói, khát, thất học, bệnh tật hay những tổn thương thực thể, mà là những "hố đen" trong tâm hồn họ Theo ông
lí giải, “hố đen” đó là “nỗi bất hạnh bên trong mỗi cá thể, là cái sự "Khổ" như đạo
Phật đã chỉ ra, là nỗi sợ hãi bản năng muôn thuở của loài người” [153] Con người cứ
loay hoay để thoát khỏi “bể khổ” hòng đạt đến cảnh giới của thiền nhưng chẳng ai thoát được cả Vì thế, ông tự nhận thấy: “Các tiểu thuyết của tôi luôn trào dâng nỗi sợ
hãi vốn được biểu hiện bằng những hành động vượt thoát chính mình Chính trong quá trình vượt thoát ấy, con người ta sa vào trạng thái cô đơn và mềm yếu Văn học chính là sự gọi tên những mềm yếu ấy của con người” [153] Như vậy, con người cô
đơn, lạc loài, sa ngã, phạm tội, con người mang tư tưởng hiện sinh, luôn đi tìm câu hỏi
về ý nghĩa của kiếp người, luôn nỗ lực vượt thoát để tìm lại chính mình là hình tượng con người mà nhà văn Nguyễn Đình Tú luôn nỗ lực xây dựng trong tác phẩm của mình
Hiện thực đời sống muôn màu muôn vẻ, luôn ẩn chứa nhiều vấn đề để nhà văn thỏa sức khám phá, thể hiện Tùy vào cách cảm nhận, trải nghiệm và cái tạng của mình
mà mỗi nhà văn có cách lựa chọn cho mình mảng đề tài phù hợp Biên độ đề tài trong các sáng tác của Nguyễn Đình Tú khá rộng, người ta có thể tìm thấy đủ các yếu tố, từ
Trang 40chuyện thiếu nhi đến tội phạm, chiến tranh và giới tính Đó như một cách để nhà văn thể nghiệm, làm mới mình, tránh được sự nhàm chán nơi độc giả Ông quan niệm:
“Văn chương vốn là cuộc sống, mà cuộc sống thì muôn màu muôn vẻ, là chất liệu phong phú cho sáng tác của nhà văn Nhà văn dĩ nhiên là người sáng tạo rồi, nhưng cuộc sống mới chính là tác nhân gợi nhắc sự sáng tạo không ngừng trong mỗi nhà văn Nhà văn không sáng tạo ra cuộc sống mà chính cuộc sống mới tạo ra nhà văn”
[160] Như vậy, với nhà văn quân đội này, đối tượng nhận thức, phản ánh của văn học
là những gì đang diễn ra trong đời sống Chính đời sống làm nên chất liệu sáng tác của nhà văn và mỗi nhà văn tự định hình mình bằng cách tự lựa chọn cho mình một hay nhiều đối tượng nhận thức, phản ánh Điều quan trọng là nhà văn phải gửi gắm được điều gì qua những đối tượng nhận thức, phản ánh này Trong các bài trả lời phỏng vấn, ông đã bộc lộ những điều mà mình muốn gửi gắm từ các đề tài phản ánh trong tiểu
thuyết của mình Ở đề tài hình sự - tội phạm, ông cho rằng: “Qua các kiểu nhân vật tội
phạm, tôi đã chỉ ra một xã hội với rất nhiều những “vấn đề” của nó, và nó được bạn đọc đồng cảm, chia sẻ” [163] Khi người ta nói tiểu thuyết của ông có nhiều yếu tố sex
và bạo lực, ông cho rằng: “Tác phẩm của tôi không chỉ có bạo lực + sex Đằng sau những cái gọi là bạo lực và sex đó, bạn đọc của tôi có vài ba phút ngồi thẫn thờ rưng rưng nghĩ về kiếp người, thì đó là lúc tôi đã chạm tay đến được cái nghĩa đích thức của hai chữ: Nhà văn!” [159] Hơn hết, ông quan niệm rằng: “Tôi là người bảo thủ, luôn cho rằng văn chương giống như cuộc đời, phải có yếu tố sắc dục, vì thế tôi đặc biệt dụng công khi đưa yếu tố sex vào tác phẩm Chỉ khi nào sex không tồn tại trong đời sống thì nó sẽ không còn được đề cập trong tiểu thuyết của tôi nữa” [159] Khi
viết về giới trẻ đầy những hoài nghi, vỡ mộng, ông cho rằng đó chỉ là “những trạng
huống tinh thần của con người chứ không phải một khúc cắt rời của hiện trạng xã hội
Ở một phương diện nào đó, hoài nghi và vỡ mộng không phải không có ý nghĩa tích cực trong cuộc sống đối với mỗi con người Văn học nói về cái mất mát để giữ gìn, nói
về nước mắt để hạnh phúc, nói về khiếm khuyết để hoàn thiện" [158] Hay khi viết về chiến tranh, điều mà ông muốn nhắn nhủ qua tác phẩm của mình là: “Các thế hệ trước
đã giải quyết xong những vấn đề của thời đại mình, còn thế hệ trẻ bây giờ lại phải đối mặt với những vấn đề mới, và tiểu thuyết đề cập đến một trong những vấn đề ấy Xã